1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần chứng ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bsc)

77 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Tăng Cường Quản Trị Rủi Ro Trong Hoạt Động Kinh Doanh Tại Công Ty Cổ Phần Chứng Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam (BSC)
Tác giả Nguyễn Thị Mai Anh
Người hướng dẫn Th.s. Vũ Thị Thúy Nga
Trường học Học viện tài chính
Chuyên ngành Ngân hàng – Bảo hiểm
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 637,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể từ khi TTCK Việt Nam chính thức được khai sinh với sự ra đời của TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh vào ngày 2072000 và phiên giao dịch đầu tiên được tổ chức vào ngày 2872000 với hai mã cổ phiếu là REE và SAM, cho đến nay, TTCK Việt Nam đã đón nhận 325 doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, 382 doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và 509 doanh nghiệp giao dịch chứng khoán tại sàn UPCOM. Điều này cho thấy vai trò của các trung gian tài chính nói chung và các công ty chứng khoán ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Họ tên sinh viên: NGUYỄN THỊ MAI ANH

Khoa: Ngân hàng – Bảo hiểm Chuyên ngành: Đầu tư tài chính

Lớp: CQ55/19.01 Mã sinh viên: 17523402011626

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Vũ Thị Thúy Nga

Đơn vị thực tập: CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG NGÂN HÀNG ĐẦU

TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BSC)

Đề tài:

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT

TRIỂN VIỆT NAM (BSC)

HÀ NỘI, 04/2021

Trang 2

Chuyên ngành: Đầu tư tài chính

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GIẢI PHÁP GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BSC)

Đơn vị thực tập: Công ty cổ phần chứng Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt

Nam (BSC)Giảng viên hướng dẫn: Ths Vũ Thị Thúy NgaSinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mai Anh

Hà Nội, 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Mai Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CTCK VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CTCK 8

1.1 Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán 8

1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán 8

1.1.2 Mô hình tổ chức của công ty chứng khoán 8

1.1.3 Hoạt động kinh doanh chủ yếu của các công ty chứng khoán 10

1.1.4.Vai trò của CTCK 17

1.2 Những vấn đề cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán 20

1.2.1 Khái niệm và phân loại rủi ro trong HĐKD của CTCK 20

1.2.1 Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán 21

1.2.2 Khái niệm và sự cần thiết phải tăng cường QTRR trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán 24

1.1.5 Quy trình QTRR trong HĐKD của các CTCK 25

1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QTRR trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán 34

1.1.7 Kinh nghiệm QTRR của các CTCK trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với các CTCK ở Việt Nam 35

Kết luận chương 1 42

Trang 5

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNGKINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ

VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BSC) 432.1 Khái quát về Công ty cổ phần chứng Ngân hàng đầu tư và Phát triển ViệtNam (BSC) 432.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty 442.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh tại Công ty cổ phần chứng Ngân hàng đầu

tư và Phát triển Việt Nam (BSC) thời gian qua 492.2.1 Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 492.2.2 Bảng cân đối kế toán 492.3 Thực trạng quản trị rủi ro tại Công ty cổ phần chứng Ngân hàng đầu tư vàPhát triển Việt Nam (BSC) 512.3.1 Khung pháp lý về QTRR đối với các CTCK ở Việt Nam 512.3.2 Thực trạng QTRR tại Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng đầu tư vàPhát triển Việt Nam (BSC) 512.3.3 Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý rủi ro của công ty cổ phần chứngkhoán BSC 56CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONGHOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG NGÂNHÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BSC) 603.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần chứngkhoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) 603.1.1 Định hướng phát triển của TTCK Việt Nam trong 5 năm tới 60

Trang 6

3.1.2 Mục tiêu và định hướng phát triển hoạt dộng kinh doanh của Công ty cổ

phần chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BSC) 63

3.2 Giải pháp tăng cường QTRR trong hoạt động kinh doanh chứng khoán tại CTCP chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 65

3.2.1 Giải pháp quản trị theo nghiệp vụ phát sinh rủi ro 65

3.2.2 Giải pháp quản trị theo nguồn gốc phát sinh rủi ro 68

3.3 Kết luận 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

 CTCK: Công ty chứng khoán

 UBCK: Ủy ban chứng khoán

 UBCKNN: Ủy ban chứng khoán nhà nước

 NHTM: Ngân hàng thương mại

 KDCK: Kinh doanh chứng khoán

 DNNN: Doanh nghiệp nhà nước

 HNX: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

 HSX: Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh

 VKD: Vốn khả dụng

 ATTC: An toàn tài chính

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ khi TTCK Việt Nam chính thức được khai sinh với sự ra đời củaTTGDCK Tp Hồ Chí Minh vào ngày 20/7/2000 và phiên giao dịch đầu tiênđược tổ chức vào ngày 28/7/2000 với hai mã cổ phiếu là REE và SAM, cho đếnnay, TTCK Việt Nam đã đón nhận 325 doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịchchứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, 382 doanh nghiệp niêm yết trên sở giaodịch chứng khoán Hà Nội và 509 doanh nghiệp giao dịch chứng khoán tại sànUPCOM Điều này cho thấy vai trò của các trung gian tài chính nói chung vàcác công ty chứng khoán ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển củanền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, trong những ngày đầu thành lập, các công tychứng khoán được mọc lên một cách khá dễ dàng như một trào lưu mà khôngđược tính đến hậu quả lâu dài và kết quả là có không ít các công ty chứng khoán

bị thua lỗ dẫn đến phá sản.dẫn đến phải tái cơ cấu hoặc sáp nhập với CTCKkhác

Hiện nay, trong quá trình tái cấu trúc các công ty chứng khoán được BộTài Chính thực hiện nhằm mục đích nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực tàichính, quản trị doanh nghiệp và khả năng kiểm soát rủi ro của các công ty chứngkhoán Trên cơ sở đó, từng bước thu hẹp số lượng các công ty chứng khoán,đồng thời tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý, giám sát đối với hoạt độngcông ty chứng khoán Do vậy, để có thể trụ vững trên thị trường thì các công tychứng khoán phải thực hiện quá trình cổ phần hóa và tiên quyết phải xây dựngđược một chiến lược QTRR rõ ràng và hiệu quả

Xuất phát từ vai trò của hoạt động QTRR đối với các doanh nghiệp vàđặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, ngày26/03/2013, UBCKNN đã ban hành quyết định 105/QĐ-UBCK về việc thiết lập

và vận hành hệ thống quản trị rủi ro cho CTCK Đây là cơ sở để các CTCK ápdụng và thiết lập hệ thống QTRR phù hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động kinhdoanh Tuy nhiên, việc triển khai vấn đề này tại các CTCK đang gặp nhiều khó

Trang 9

khăn, hệ thống QTRR chưa phát huy được tối đa vai trò của nó trong khi đưavào hoạt động tại các công ty chứng khoán Từ lý do trên, đề tài “ Giải pháptăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại Công ty cổ phần chứngNgân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC)” được thực hiện nhằm tìm ranhững hạn chế trong quá trìnhđánh giá thực trạng QTRR tại Công ty cổ phầnchứng Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) và các biện phápđề xuấtcác giải pháp nhằm tăng cường QTRR tại công ty.

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về CTCK và QTRR trong hoạtđộng kinh doanh tại CTCK

- Phân tích thực trang QTRR trong hoạt động kinh doanh tại CTCP chứngkhoán Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam

- Đưa ra những biện pháp nhằm tăng cường QTRR tại BSC cũng như ởcác CTCK khác

3 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu : Thực trạng QTRR và những biện pháp tăngcường công tác QTRR tại CTCP chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam

- Phạm vi nghiên cứu : Nghiên cứu thực trạng QTRR tại CTCP chứngkhoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong giai đoạn 2018 - 2020thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp để QTRR trong hoạt động KDCKđược thực hiện có hiệu quả

- Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đềtài vận dụng các phương pháp khoa học gồm: phương pháp thống kê, tổng hợp,phân tích và hệ thống sơ đồ, bảng biểu để trình bày các nội dung lý luận va thựctiễn; phương pháp so sánh…Các phương pháp trên được sử dụng kết hợp nhằmmục đích xem xét, đánh giá các vấn đề về đối tượng nghiên cứu của đề tài

Trang 10

4 Kết cấu đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và danh mục bảng, biểu

đồ, sơ đồ, đề tài được kết cấu làm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về CTCK và QTRR trong HĐKD tại

các CTCK

- Chương 2: Thực trạng QTRR trong hoạt động kinh doanh tại CTCP

chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

- Chương 3: Giải pháp tăng cường QTRR trong hoạt động kinh doanh tại

CTCP chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CTCK CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA

CTCKCÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.1 Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán

1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán là một trong các chủ thể tham gia kinh doanhchứng khoán với vai trò là tổ chức trung gian trong các giao dịch trên TTCK, lànơi kết nối và thực hiện giao dịch giữa người mua và người bán Bên cạnh đó,CTCK còn là trung gian về thông tin, chuyên cung cấp các thông tin tư vấn, cácsản phẩm nghiên cứu nhằm hỗ trợ nhà đầu tư chọn lựa các chứng khoán chodanh mục đầu tư của mình

Cụ thể, công ty chứng khoán là tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnhvực chứng khoán thông qua việc thực hiện một hoặc vài dịch vụ chứng khoánvới mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận

Theo thông tư số 210/2012/TT-BTC ngày 30/11/2012 hướng dẫn vềthành lập CTCK: “ CTCK là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán,thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tựdoanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứngkhoán.”

1.1.2 Mô hình tổ chức của công ty chứng khoán

Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai mô hình tổ chức của công ty chứngkhoán:

Mô hình công ty đa năng: Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại

hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinhdoanh tiền tệ Mô hình này chia thành hai loại:

Trang 12

 Loại đa năng một phần: Các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoánphải lập công ty độc lập tách rời Mô hình này còn được gọi là mô hình ngânhàng kiểu Anh.

 Loại đa năng hoàn toàn: các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán,kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ Mô hình này còn được gọi là

mô hình ngân hàng kiểu Đức

Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vựckinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có khảnăng chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán Mặt khác, ngân hàng

sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh chứng khoán Tuy vậy, mô hình này cũng bộc lộ một số hạn chế như: không phát triểnđược thị trường trái phiếu vì các ngân hàng có xu hướng bảo thủ và thích hoạtđộng cho vay hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu Đồng thời, cácngân hàng cũng dễ gây lũng đoạn thị trường và các biến động trên thị trườngchứng khoán nếu có, sẽ ảnh hưởng mạnh tới hoạt động kinh doanh tiền tệ củangân hàng do không tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh này Do những hạnchế như vậy, nên sau khi khủng hoảng thị trường tài chính 1929 - 1933, cácnước đã chuyển sang mô hình chuyên doanh, chỉ có một số thị trường (như Đức)vẫn còn áp dụng mô hình này

Mô hình công ty chuyên doanh: Theo mô hình này, hoạt động chuyên

doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vựcchứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứngkhoán

Mô hình này khắc phục được hạn chế của mô hình đa năng: giảm rủi ro cho

hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán kinh doanhchuyên môn hóa, thúc đẩy sự phát triển thị trường chứng khoán Mô hình nàyđược áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ, Nhật và các thị trường mới nổinhư Hàn Quốc, Thái Lan…

Trang 13

Ngày nay, với sự phát triển của thị trường chứng khoán, để tận dụng thếmạnh của lĩnh vực tiền tệ và lĩnh vực chứng khoán, các quốc gia có xu hướngnới lỏng ngăn cách giữa hoạt động tiền tệ và chứng khoán, bằng cách cho phéphình thành mô hình công ty đa năng một phần, các NHTM thành lập công ty con

để chuyên kinh doanh chứng khoán Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định củapháp luật, các NHTM muốn tham gia kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoánđều phải thành lập các CTCK độc lập

1.1.3 Hoạt động kinh doanh chủ yếu của các công ty chứng khoán

1.1.3.1 Các nghiệp vụ chính:

Nghiệp vụ môi giới chứng khoán:

MGCK là hoạt động trung gian mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, làm dịch vụ nhận các lệnh mua, lệnh bán chứng khoán của khách hàng, chuyển các lệnh mua bán đó vào Sở giao dịch chứng khoán và hưởng hoa hồng môi giới Nghiệp vụ môi giới, do đó còn được hiểu là làm đại diện – được quyền thay mặt khách hàng mua bán một hoặc một số loại chứng khoán.

Hoạt động môi giới tuân theo một số nguyên tắc: ký kết hợp đồng dịch vụvới khách hàng, mở tài khoản chứng khoán cho khách hàng, nhận các lệnh muahoặc bán của khách hàng, thanh toán và quyết toán các doanh vụ, cung cấp cácgiấy chứng nhận chứng khoán

Nghề môi giới chứng khoán đòi hỏi những phẩm chất, đạo đức nghề nghiệpcao với chất lượng công việc tốt Kỹ năng của người môi giới thể hiện qua cácnội dung sau:

- Kỹ năng truyền đạt thông tin: Điểm cơ bản trong hoạt động môi giới là

quyền lợi của khách hàng phải được đạt lên hàng đầu, sau đó mới tới quyền lợicủa chính mình

- Kỹ năng tìm kiếm khách hàng: Người môi giới có thể kiếm khách hàng

thông qua: qua CTCK hoặc các tài khoản chuyển nhượng lại, những lời giới

Trang 14

thiệu khách hàng, mạng lưới kinh doanh, chiến dịch viết thư, hội thảo, gọi điệnlàm quen…

Trong hoạt động môi giới chứng khoán:

- Quyết định mua bán là do khách hàng đưa ra và người môi giới phải

thực hiện theo lệnh đó

- Người môi giới (có thể là công ty chứng khoán) đứng tên mình thực hiện

các giao dịch theo lệnh của khách hàng;

- Việc hạch toán các giao dịch phải được thực hiện trên các khoản thuộc

do họ không phải là nhà chuyên nghiệp trong lĩnh vực phát hành chứng khoán

Do đó, phát hành thông qua tổ chức bảo lãnh thường là cách thức được chọn lựa

để đảm bảo đợt phát hành thành công

Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh tham gia một

cách trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình phát hành chứng khoán nhằm tư vấn tài chính cho nhà phát hành, giúp nhà phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong thời gian sau đợt phát hành chứng khoán.

Các chủ thể tham gia nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán gồm:

- Tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán: là đơn vị nhận chào bán

chứng khoán cho tổ chức phát hành hoặc mua chứng khoán của tổ chức pháthành nhằm bán số chứng khoán đó ra công chúng

Tùy thuộc vào luật pháp từng nước có thể có rất nhiều loại hình công ty

có thể cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, song một công tymuốn cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán thì phải là một tổ chức

Trang 15

tài chính có tiềm lực tài chính mạnh Thông thường, tổ chức bảo lãnh là cácngân hàng đầu tư, các công ty chứng khoán hay các ngân hàng thương mại đanăng.

- Tổ hợp bảo lãnh phát hành

Lượng vốn huy động của một đợt phát hành chứng khoán là khá lớn, nhất

là trong trường hợp chào bán công khai chứng khoán ra công chúng, do đó,không chỉ một tổ chức bảo lãnh phát hành mà có thể là tổ hợp bảo lãnh bao gồmnhiều tổ chức bảo lãnh sẽ nhận bảo lãnh cho toàn bộ đợt phát hành để việc phânphối chứng khoán được nhanh chóng, hiệu quả và phân tán rủi ro

Trường hợp là tổ hợp bảo lãnh thì các đơn vị tổ chức bảo lãnh thành viên sẽ

ký một hợp đồng thành lập tổ hợp bảo lãnh, hợp đồng quy định rõ tổ chức bảolãnh nào sẽ đóng vai trò là tổ chức bảo lãnh chính ( Syndicate manager), quyđịnh rõ quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức bảo lãnh chính cũng như các đơn

vị bảo lãnh thành viên như tổ chức bảo lãnh chính được phép thay mặt các đơn

vị bảo lãnh phát hành khác trong tổ hợp để giải quyết các vấn đề này sinh trongquá trình thực hiện phân phối chứng khoán, cho phép tổ chức bảo lãnh chính cóquyền quyết định các công việc chính trong quá trình bảo lãnh và phân phốichứng khoán như phân bổ số chứng khoán cần phát hành cho các thành viên,phân bổ bổ sung chứng khoán sau khi một hay một số thành viên của tổ hợpkhông bán hết số chứng khoán theo thỏa thuận từ trước, thay đổi hoa hồng chiếtkhấu

- Đại lý phân phối

Tổ hợp bảo lãnh lựa chọn một nhóm các công ty để làm đại lý phân phốichứng khoán, tổ chức được chọn thường là các CTCK có nghiệp vụ tự doanhchứng khoán Tổ chức bảo lãnh sẽ phân chia số chứng khoán cho các đại lý phânphối theo tỷ lệ đã cam kết trước đó Do chỉ đóng vai trò đại lý nên các đại lýphân phối sẽ không gánh chịu rủi ro của đợt phát hành chứng khoán, các đại lýphân phối chỉ đơn thuần mua (hoặc nhận bán) chứng khoán từ tổ chức bảo lãnh

Trang 16

chính hay các đơn vị bảo lãnh thành viên rồi bán lại (phân phối) chứng khoánnày ra công chúng.

Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều phương thức bảo lãnh phát hànhchứng khoán, chủ yếu gồm:

- Bảo lãnh theo phương thức cam kết chắc chắn: Theo phương thức này, tổ

chức bảo lãnh sẽ nhận mua toàn bộ số chứng khoán mới phát hành của tổ chứcphát hành theo giá thỏa thuận Mức giá thỏa thuận là mức giá chiết khấu so vớimức giá chào bán ra công chúng (POP), sau đó, tổ chức bảo lãnh phát hành sẽbán các chứng khoán này ra thị trường theo giá POP Giá POP là mức giá đã xácđịnh được qua quá trình tư vấn, nếu là phát hành chứng khoán ra công chúng giáPOP đã được ghi trong bản cáo bạch

- Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: Là phương thức bảo lãnh mà tổ

chức bảo lãnh cam kết nếu chứng khoán không được bán hết, tổ chức bảo lãnh

sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại của tổ chức phát hành, sau đó bán ra côngchúng

- Bảo lãnh theo phương thức cố gắng tối đa: Là phương thức bảo lãnh mà

tổ chức bảo lãnh đóng vai trò như một đại lý phát hành và cam kết sẽ cố gắn bánđược nhiều nhất số chứng khoán ra công chúng theo mức giá đã xác định quaquá trính tư vấn Số chứng khoán không bán hết được trả về cho tổ chức pháthành và tổ chức bảo lãnh nhận được hoa hồng bảo lãnh trên số chứng khoán bánđược hoặc trên số vốn huy động được

- Bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không: Phương thức này thường

được áp dụng trong trường hợp tổ chức phát hành cần huy động một lượng vốntối thiểu để phục vụ cho kế hoạch sản xuất kinh doanh Tổ chức phát hành yêucầu một mức bán chứng khoán (mức vốn huy động ) nhất định, nếu tổ chức bảolãnh không bán được trên mức này, toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ, tiền đặtmua chứng khoán được trả cho các nhà đầu tư và tổ chức bảo lãnh không nhậnđược bất cứ một khoản hoa hồng nào Như vậy, để nhận được hoa hồng bảolãnh, tổ chức bảo lãnh phải bán được ít nhất số đã cam kết

Trang 17

- Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa: Là phương thức kết hợp

giữa phương thức cố gắng cao nhất và tất cả hoặc không Theo phương thứcnày, tổ chức phát hành yêu cầu một mức bán tối thiểu, nếu bán dưới mức tốithiểu đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ, nếu bán vượt trên mức tối thiểu tổ chức bảolãnh được phép bán đến mức tối đa quy định

Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán

Tự doanh là việc CTCK mua và bán chứng khoán cho chính mình

Hoạt động tự doanh là hoạt động mua đi bán lại chứng khoán, nói cáchkhác là hoạt động kinh doanh nhằm thu chênh lệch giá (do mua thấp bán cao) vàhưởng các khoản thu nhập khác từ đầu tư chứng khoán Hoạt động tự doanh củaCTCK được thực hiện qua cơ chế giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán hoặcthị trường phi tập trung ( thị trường OTC) Trên thị trường chứng khoán tậptrung, lệnh giao dịch chứng khoán của công ty chứng khoán được thực hiệntương tự như lệnh của khách hàng song lệnh của khách hàng được ưu tiên thựchiện trước Trên thị trường OTC, hoạt động tự doanh có thể được thực hiện trựctuyến giữa công ty chứng khoán với các đối tác hoặc qua hệ thống giao dịch tựđộng, hoặc qua hoạt động nhà tạo thị trường Hoạt động tự doanh mang tính đầu

cơ cao

Tác động tích cực của hoạt động tự doanh là :

- Khi khối lượng mua bán chứng khoán tăng lên, thì sẽ tạo điều kiện cho

thị trường sôi động

- Tăng tính thanh khoản cho thị trường.

Hạn chế của hoạt động tự doanh là các CTCK có thể sử dụng các hoạtđộng bị cấm như thao túng thị trường, thông đồng với nhau làm tăng giá hoặcgiảm giá chứng khoán để kiếm chênh lệch giá, gây tổn hại cho đông đảo các nhàđầu tư nhỏ

Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán

Dịch vụ tư vấn đầu tư là dịch vụ có tính phí thông qua một số loại đầu tưđặc biệt, hoặc là chỉ cung ứng tư vấn qua bản tin, dịch vụ quản lý tiền khách

Trang 18

hàng Các hoạt động dịch vụ tư vấn đầu tư do các tổ chức xếp loại, ví dụ nhưHulbert Rating, để đánh giá về các đề xuất đầu tư của các bản tin tư vấn đầu tưkhác nhau

Tư vấn đầu tư chứng khoán là các hoạt động tư vấn liên quan đến chứng khoán hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích, đưa ra lời khuyên có liên quan đến chứng khoán hoặc thực hiện một số công việc có tính chất dịch vụ cho khách hàng Tư vấn đầu tư bao gồm tư vấn mua bán chứng

khoán, tạo dựng danh mục đầu tư và quản trị điều hành tài sản đầu tư Theo Luậtchứng khoán Việt Nam, Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứngkhoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích vàkhuyến nghị liên quan đến chứng khoán

Hoạt động tư vấn đòi hỏi nhiều kiến thức và kỹ năng chuyên môn màkhông đòi hỏi vốn lớn Đây là hoạt động nghiệp vụ có sự quản lý chặt chẽ và cóyêu cầu cao khi hành nghề vì tính chất đặc thù của kinh doanh chứng khoán

Hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư chứng khoán nói riêng cần tớihoạt động tư vấn đầu tư, vì các nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư cá nhân, không có

đủ thông tin, thời gian và trình độ để theo dõi, nắm bắt và hiểu biết thông tin.Ngay cả các tổ chức phát hành cũng không phải lúc nào cũng có đủ khả năng vàtrình độ để lựa chọn phương án phát hành phù hợp Mặt khác, có nhiều loại hìnhđầu tư đòi hỏi phải phù hợp với mục đích, phong cách, giới tính…của nhà đầutư

1.1.3.2 Các nghiệp vụ phụ trợ

Lưu ký chứng khoán

Là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho kháchhàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoándựa trên tài khoản lưu ký chứng khoán

Quản lý danh mục đầu tư

Là hoạt động quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán vànắm giữ các chứng khoán vì quyền lợi của khách hàng Đây là một dạng nghiệp

Trang 19

vụ tư vấn của CTCK nhưng ở mức độ cao hơn vì trong hoạt động này, kháchhàng ủy thác cho CTCK thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lượchay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận Hoạt động quản kýDMĐT có thể được CTCK cung cấp cả cho nhà đầu tư cá nhân cũng như các tổchức đầu tư Dịch vụ này có thể được CTCK cung cấp cho khách hàng một cáchđộc lập hoặc được tích hợp cùng với một hoạt động chính của công ty như hoạtđộng môi giới, phân tích… CTCK có được cung cấp dịch vụ quản lý DMĐT haykhông, mức độ cũng như tính chất của hoạt động này thế nào phụ thuộc vào môhình hoạt động CTCK trên thị trường và các quy định pháp lý liên quan Bởi vìhoạt động này có thể làm phát sinh xung đột lợi ích như lợi ích của công ty vớilợi ích khách hàng, lợi ích giữa nhà đầu tư thông thường và lợi ích của nhà đầu

tư được CTCK cung cấp dịch vụ quản lý DMĐT

Quản lý thu nhập chứng khoán

Hoạt động này của CTCK xuất phát từ hoạt động quản lý hộ chứngkhoán cho khách hàng Khi thực hiện quản lý hộ, công ty phải tổ chức theo dõitình hình thu lãi chứng khoán khi đến hạn để thu hộ rồi gửi báo cáo cho kháchhàng Tuy nhiên, trên thực tế, các CTCK thường không trực tiếp quản lý mà sẽlưu ký tại trung tâm lưu giữ chứng khoán

Hoạt động tín dụng chứng khoán

Với các TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ MGCK cho khách hàng

để hưởng hoa hồng, CTCK còn triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán đểkhách hàng thực hiện giao dịch bán khống chứng khoán hoặc cho khách hàngvay tiền để khách hàng thực hiện hoạt động mua ký quỹ

Cho vay là hình thức cấp tín dụng của CTCK cho khách hàng của mình

để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật thế chấp chokhoản vay Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần giá trị lượng chứng khoán đặtmua, phần còn lại sẽ do CTCK ứng trước tiền thanh toán Đến kỳ hạn thỏathuận, khách hàng phải hoàn trả đủ số vốn gốc vay cùng lãi cho CTCK Trường

Trang 20

hợp khách hàng không trả được nợ, công ty sẽ phát mãi chứng khoán đã mua đểthu hồi nợ

Quản lý quỹ đầu tư, quỹ tín dụng chứng khoán

Ở một số TTCK, pháp luật còn cho phép CTCK được thực hiện nghiệp

vụ quản lý quỹ đầu tư, quỹ đầu tư chứng khoán Theo đó, CTCK cung cấp dịch

vụ quản lý quỹ và sử dụng vốn tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào chứngkhoán và các tài sản khác trên thị trường theo mục tiêu đã xác định CTCK đượcthu phí quản lý quỹ đầu tư

1.1.4.Vai trò của CTCK

Hoạt động của thị trường chứng khoán trước hết cần những người môigiới trung gian, đó là các công ty chứng khoán – một định chế tài chính trên thịtrường chứng khoán, có nghiệp vụ chuyên môn, đội ngũ nhân viên lành nghề và

bộ máy tổ chức phù hợp để thực hiện vai trò trung gian môi giới mua – bánchứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả nhà đầu tưlẫn tổ chức phát hành

Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng Nhờ các công tychứng khoán mà chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới nhà đầu tư và

có tính thanh khoản, qua đó huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vàonhững nơi sử dụng có hiệu quả

Với những đặc điểm trên, công ty chứng khoán có vai trò quan trọng đốivới những chủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán

- Đối với các tổ chức phát hành:

Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng khoán của các TCPH là huyđộng vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán Vì vậy, thông qua hoạtđộng đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai tròtạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành

Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán lànguyên tắc trung gian Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà

Trang 21

phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua cáctrung gian mua bán Các công tychứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho

cả nhà đầu tư và nhà phát hành Và khi thực hiện công việc này, công ty chứngkhoán đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường chứngkhoán

- Đối với các nhà đầu tư:

Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mụcđầu tư, công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch,

do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư Đối với hàng hoá thông thường, muabán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán Tuy nhiên,đối với thị trường chứng khoán, sự biến động thường xuyên của giá cả chứngkhoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí,công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư Nhưngthông qua các công ty chứng khoán, với trình độ chuyên môn cao và uy tínnghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệuquả

- Đối với thị trường chứng khoán:

Đối với thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán thể hiện hai vai tròchính:

 Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường Giá cả chứng khoán là dothị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua vàngười bán phải thông qua các công ty chứng khoán vì họ không được tham giatrực tiếp vào quá trình mua bán Các công ty chứng khoán là những thành viêncủa thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấugiá Trên thị trường sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà phát hànhđưa ra mức giá đầu tiên Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giaodịch đều có sự tham gia định giá của các công ty chứng khoán

Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điềutiết thị trường Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích

Trang 22

của chính mình, nhiều công ty chứng khoán đã giành một tỷ lệ nhất định cácgiao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường.

 Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính

Thị trường chứng khoán có vai trò là môi trường làm tăng tính thanhkhoản của các tài sản tài chính Nhưng các công ty chứng khoán mới là ngườithực hiện tốt vai trò đó vì công ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thịtrường Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh pháthành, chứng khoán hoá, các công ty chứng khoán không những huy động mộtlượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăngtính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán quađợt phát hành sẽ dược mua bán giao dịch trên thị trường cấp 2 Điều này làmgiảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư Trên thị trường cấp 2, do thựchiện các giao dịch mua và bán các công ty chứng khoán giúp người đầu tưchuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại Những hoạt động đó cóthể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính

- Đối với các cơ quan quản lý thị trường :

Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứngkhoán cho các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó Các công tychứng khoán thực hiện được vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh pháthành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thựchiện các giao dịch trên thị trường Một trong những yêu cầu của thị trườngchứng khoán là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới sự giám sát củacác cơ quan quản lý thị trường Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệthống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vìcông ty chứng khoán cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động Cácthông tin công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giaodịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu trái phiếu và tổ chứcphát hành, thông tin về các nhà đầu tư…Nhờ các thông tin này, các cơ quan

Trang 23

quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường.

Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư,các nhà phát hành đối với các cơ quan quản lý thị trường và đối với thị trườngchứng khoán nói chung Những vai trò này được thể hiện thông qua các nghiệp

vụ hoạt động của công ty chứng khoán

1.2 Những vấn đề cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán

1.2.1 Khái niệm và phân loại rủi ro trong HĐKD của CTCK

1.2.1.1 Khái niệm rủi ro trong HĐK của CTCK

Rủi ro là một thuật ngữ khó đạt được sự thống nhất về mặt khái niệm docác cách tiếp cận khác nhau Nói đến rủi ro, người ta thường liên tưởng đến điều

gì đó không tốt, không mong đợi sẽ xảy ra Các biến cố này xảy ra một cáchngẫu nhiên, không ai biết trước được theo từ điển Tiếng Việt phổ thông “ rủi ro

là điều không lành mạnh, không tốt bất ngờ xảy ra” Theo nhiều nhà phân tích,rủi ro chỉ phát sinh khi một sự không chắc chắn về mất mát sẽ xảy ra

Thực tế, cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro Địnhnghĩa về rủi ro rất phong phú và đa dạng, nhưng tựu trung lại có thể chia thànhhai trường phái lớn:

Trường phái truyền thống, rủi ro được xem là những thiệt hại, mất mát,

nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều khôngtốt có thể xảy ra cho con người Đối với một doanh nghiệp thì đó là sự tổn thất

về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến Rủi rocòn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh,sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp

Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự không chắc chắn hay một tình

trạng bất ổn có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu

Trang 24

cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát cho con người nhưng cũng

có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro,người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêucực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai

Trong hoạt động của một doanh nghiệp, rủi ro trở thành “từ khóa” quantrọng bậc nhất Rủi ro và thời gian là hai yếu tố song sinh không thể tách rờinhau được Các quyết định kinh doanh, quyết định tài chính ngày hôm nay bắtbuộc phải tính đến những thu nhập đạt được trong tương lai Tuy nhiên, trongtương lai lại luôn có sự biến động, những yếu tố bất ngờ có thể xảy ra và làmcho kết quả thu được không đạt được như dự tính Điều đó cũng có nghĩa là cácquyết định tài chính nhất thiết sẽ hàm chứa các rủi ro nào đó, 99.9% các trườnghợp rủi ro này khác 0

Như vậy, rủi ro được xem xét như là khả năng xuất hiện các kết quả thực

tế không giống như dự đoán Thuật ngữ rủi ro được sử dụng với ý nghĩa như là

sự không chắc chắn ở thời điểm hiện tại về kết quả sẽ đạt được trong tương lai

Hiện nay, đa phần tiếp cận khái niệm rủi ro theo quan điểm hiện đại Xuất

phát từ các quan điểm trên có thể hiểu rủi ro trong kinh doanh chứng khoán là

những sự kiện không chắc chắn có thể xảy ra trong HĐKD, gây ảnh hưởng bất lợi đến việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh của công ty.

Về cơ bản, đối với CTCK, ngoài lợi nhuận, rủi ro có thể ảnh hưởng đến tàisản, uy tín, đạo đức, thiệt hại nhân sự, nghiệp vụ, giá trị và hình ảnh của công ty

1.2.1 Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán

Rủi ro trọng yếu

Theo quyết định 105/QĐ-UBCK ngày 26 tháng 02 năm 2013, các rủi rotrọng yếu được định nghĩa như sau:

Rủi ro thị trường

Là rủi ro làm thay đổi các giá trị tài sản đang sở hữu theo chiều hướng

bất lợi Rủi ro phát sinh do sự biến động của thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá

cả hàng hóa và dịch vụ, cạnh tranh và các điều kiện vĩ mô của nền kinh tế làm

Trang 25

ảnh hưởng bất lợi đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của công tychứng khoán Cụ thể:

 Rủi ro lãi suất: Là những tổn thất tiềm tàng mà CTCK phải gánh chịu

khi lãi suất thị trường biến động Khi lãi suất thị trường thay đổi, nó ảnh hưởngđến CTCK trên hai khía cạnh: về thu nhập từ các dịch vụ trung gian tài chínhnhư môi giới, bảo lãnh phát hành và thu nhập từ hoạt động đầu tư của công tyvào các tài sản, chứng khoán trên thị trường

 Rủi ro sức mua: Là biến động sức mua của dòng tiền do tác động của

lạm phát gây ra Nếu chỉ số giá hàng tiêu dùng tăng lên, mức thu nhập đối vớichứng khoán cũng đòi hỏi phải tăng lên Điều đó sẽ tác động đến giá của cácloại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu và cổ phiếu công ty, từ đó sẽ ảnh hưởng đếnhoạt động kinh doanh của công ty

 Rủi ro tỷ giá: Là rủi ro làm thay đổi giá trị do sự biến động thực tế của

tỷ giá khác biệt so với mức tỷ giá kỳ vọng Điều này có thể dẫn đến sức ép thayđổi lãi suất và tâm lý thoái vốn đầu tư gây ra rủi ro lãi suất và rủi ro thị trường

 Rủi ro thông tin: Là những rủi ro bắt nguồn từ việc thiếu thông tin,

thông tin không chính xác, kịp thời dẫn đến việc đầu tư kinh doanh không hiệuquả Trên thực tế, rủi ro trên TTCK nói chung và hoạt động kinh doanh chứngkhoán nói riêng có nguồn gốc từ số lượng và chất lượng thông tin từ thị trường,

từ tổ chức phát hành, từ nhà đầu tư nhằm cung cấp các dịch vụ KDCK tốt nhấtcho khách hàng và cho chính bản thân công ty

 Rủi ro thanh toán

Là rủi ro xảy ra khi đối tác không thể thanh toán đúng hạn hoặc không thể chuyển giao tài sản đúng hạn như cam kết Rủi ro nảy sinh trong quá trìnhcung cấp dịch vụ ký quỹ ( margin) cho khách hàng, nhiều công ty đã phải chấpnhận khoản lỗ lớn vì nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu thị giá thấp hơn giá gốckhi khách hàng chối bỏ trách nhiệm nộp thêm tiền vào tài khoản

 Rủi ro thanh khoản

Trang 26

Là rủi ro xảy ra khi công ty chứng khoán không thể thanh toán các nghĩa vụ tài chính đến hạn hoặc không thể chuyển đổi các công cụ tài chính thành tiền mặt với giá trị hợp lý trong ngắn hạn do thiếu hụt thanh khoản trong thị trường. Rủi ro xuất hiện trong trường hợp CTCK bị thiếu hụt số dư tiền haychứng khoán trên tài khoản để thanh toán cho các giao dịch trong ngày do chophép khách hàng sử dụng đòn bẩy tài chính cao nhưng mất khả năng thanh toán;cũng có trường hợp công ty muốn gia tăng lợi nhuận trong khi nguồn tài chínhhạn hẹp bằng cách vay vốn ngân hàng phục vụ hoạt động cho vay kí quỹ, trườnghợp này rủi ro của CTCK sẽ lớn hơn do sử dụng đòn bẩy tài chính; dùng tiền vàchứng khoán trong tài khoản ít giao dịch để bù đắp giao dịch tạm thời, điều nàyhết sức rủi ro khi khách hàng giao dịch trở lại hay rút tiền

 Rủi ro hoạt động

Là rủi ro xảy ra do lỗi kỹ thuật, lỗi hệ thống và quy trình nghiệp vụ, lỗi con người trong quá trình tác nghiệp, hoặc do thiếu vốn kinh doanh phát sinh từ các khoản chi phí, lỗ từ hoạt động đầu tư hoặc do các nguyên nhân khách quan khác

 Rủi ro pháp lý

Là rủi ro phát sinh từ việc không tuân thủ các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh, và từ việc hủy bỏ hợp đồng do hợp đồng bất hợp pháp, vượt quá quyền hạn, thiếu sót các điều khoản hoặc chưa hoàn thiện các tiêu chuẩn, hoặc do các nguyên nhân khác Đó có thể là sự thất bại trong việc

ký một hiệp định quan trọng, sự thay đổi nội các, sự xuất hiện hay bãi bỏ mộtchính sách mới, sự thay đổi pháp luật

 Các rủi ro khác

Rủi ro kinh doanh:

Là những rủi ro về sự không ổn định của thu nhập trong hoạt động kinh doanh của CTCK do những thay đổi bất lợi trong kinh doanh Nguyên nhân phát

sinh rủi ro là từ tình hình hoạt động kinh doanh của CTCK, rủi ro kinh doanh cóthể làm giảm lợi nhuận của CTCK Rủi ro kinh doanh bao gồm rủi ro nội tại-

Trang 27

loại rủi ro này phát sinh trong quá trình vận hành hoạt động của công ty và rủi robên ngoài- những rủi ro nằm ngoài khả năng kiểm soát của công ty Rủi ro bênngoài phụ thuộc vào các yếu tố như môi trường kinh doanh bên ngoài của

CTCK, chi phí sử dụng vốn vay, vay nợ…

thay đổi chủ của CTCK

1.2.2 Khái niệm và sự cần thiết phải tăng cường QTRR trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán

Theo PMI (Viện Quản lý Dự án, tên tiếng Anh là Project ManagementInstitute, là một tổ chức chuyên nghiệp phi lợi nhuận dành riêng cho phát triểntiến bộ quản lý dự án tiên tiến nhất Đây là hiệp hội hàng đầu thế giới của

các nhà quản lý dự án chuyên nghiệp) thì “QTRR là sự xác định, đá hn g giá và

ưu tiên rủi ro bởi việc sử dụng kết hợp các nguồn lực kinh tế để điều khiển, quan sát và tối thiểu hóa khả năng ảnh hưởng của những sự kiện không may hoặc tìm được cơ hội từ những rủi ro”.

COSO (là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận

khi lập báo cáo tài chính) thì cho rằng “ QTRR là một quá trình, có được kết quả

nhờ ban giám đốc, ban quản trị đã áp dụng những chiến lược mà họ đã thiết kế

để xác định các sự kiện tiềm ẩn có thể ảnh hưởng tới công ty, quản trị nó trong

“khẩu vị rủi ro”, đưa ra các biện pháp đề phòng hợp lý để rủi ro không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu của công ty”.

Tại Việt Nam, theo quyết định 428/QĐ-UBCK ngày11tháng7 năm

2013 ban hành Quy chế hướng dẫn thiết lập, vận hành hệ thống quản trị rủi

ro cho công ty quản lý quỹ và công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ tự quản

lý (sau đây gọi là Quy chế quản trị rủi ro) thì Khẩu vị rủi ro (risk appetite) là

Trang 28

các loại hình rủi ro và mức rủi ro mà công ty hoặc khách hàng ủy thác sẵn sàngchấp nhận để đạt được mục tiêu đầu tư Khẩu vị rủi ro được thể hiện cả định tính

và định lượng, bao gồm cả khẩu vị rủi ro cấu thành và rủi ro tổng hợp

Tựu trung lại thì QTRR trong HĐKD của CTCK có thể được định nghĩa

là quá trình , nhận diện, phòng ngừa và xử lý rủi ro nhằm giảm thiểu tổn thất mà rủi ro gây ra, đảm bảo HĐKD của công ty được duy trì ổn định và phát triển.

QTRR trong các CTCK phải xem xét đến cả những khía cạnh tích cực

và tiêu cực của rủi ro Nói cách khác, QTRR được sử dụng để đánh giá các cơhội có tác động tích cực cũng như quản trị những nguy cơ có tác động tiêu cựcđến CTCK QTRR không chỉ được áp dụng theo một cách chung chung mà nóphải được xây dựng ngay từ việc đưa ra chiến lược ban đầu, cho đến các quytrình và nghiệp vụ thực hiện của CTCK Việc tìm ra điểm cân bằng để lựa chọn

xử lý các loại rủi ro có khả năng gây ra tổn thất lớn nhưng chưa chắc chắn đãxảy ra và các loại rủi ro có nhiều khả năng xảy ra nhưng không gây ra tổn thấtlớn luôn là mối lo ngại của các nhà QTRR bởi trên thực tế rất khó có thể lườngtrước được hậu quả nếu như xử lý rủi ro không đúng cách

Việc cần thiết phải tăng cường QTRR trong HĐKD của CTCK để nâng

cao khả năng ngăn ngừa và phòng tránh rủi ro; thông qua đó, nâng cao hiệu quả

sử dụng các nguồn lực của CTCK Thêm vào đó là để hạn chế, giảm thiểu cáctác động bất lợi, những hậu quả phát sinh do rủi ro gây ra, duy trì hoạt động bìnhthường của CTCK cũng như của toàn xã hội; đảm bảo cho CTCK không bị cácthiệt hại xuất hiện từ các rủi ro thuần túy, ngăn cản việc thực hiện mục tiêu

chiến lược mà công ty đã đặt ra

1.1.5 Quy trình QTRR trong HĐKD của các CTCK

Bước đầu tiên trong quy trình QTRR đó là xây dựng chính sách QTRR, em cần

bổ sung thêm bước này

1.1.5.1 Xác định rủi ro

Nhận diện rủi ro là quá trình xác định một cách liên tục và có hệ thống cácrủi ro trong hoạt động của CTCK

Trang 29

Sự nhận diện và thừa nhận nguồn gốc thiệt hại từ các tình huống khôngđoán trước được là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động QTRR, của các nhàQTRR Có một số kỹ thuật chính để thực hiện nhận diện rủi ro là:

- Bản khảo sát và checklist rủi ro

Các checklist phải được chuẩn bị trước, hay nói cách khác là phải có sẵnkhi thực hiện nhận diện rủi ro trong hoạt động của CTCK Bản khảo sát vàchecklist rủi ro thường phải trả lời được các câu hỏi: CTCK có thể gặp phải cácloại rủi ro nào? Tổn thất bao nhiêu? Tần suất xuất hiện rủi ro trong một khoảngthời gian nhất định? Biện pháp phòng ngừa, tài trợ rủi ro? Kết quả cần đạt đượccủa hoạt động QTRR? Rủi ro chưa xuất hiện nhưng có thể xuất hiện? Lý do?Đánh giá, đề xuất đối với công tác QTRR

- Nhận diện rủi ro thông qua sử dụng các BCTC

Việc phân tích BCTC có thể là một công cụ hữu ích trong việc giúp nhàquản trị rủi ro nhận diện một cách có hệ thống các rủi ro của công ty và để đảmbảo rằng các thành phần, hạng mục quan trọng không bị bỏ sót trong checklist.Các tài liệu chủ yếu được sử dụng là:

+ Bảng cân đối kế toán

+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

+ Thuyết minh báo cáo tài chính

Ngoài ra, hoạt động nhận diện rủi ro còn có thể thực hiện bởi các phươngpháp khác như: Phương pháp lưu đồ, phương pháp được thực hiện dựa trên quátrình xây dựng lưu đồ trình bày tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh củaCTCK Lưu đồ phản ánh, xem xét các hoạt động nội bộ của CTCK theo tiếntrình Lưu đồ hướng đến việc phát hiện ra tất cả những sự việc bất ngờ, ngẫunhiên có thể gây gián đoạn các quá trình của CTCK Những sự việc bất ngờ nàybao gồm cả sự hư hại của một tài sản quan trọng sẽ làm sản xuất đình trệ khi nó

bị tổn hại hay bị mất đi các mảng dịch vụ cung cấp một nhóm hoặc một cá nhânquan trọng do bị chết hoặc mất khả năng làm việc hoặc xin nghỉ việc Khi được

Trang 30

mở rộng ra để bao hàm cả các dòng hàng hóa, dịch vụ từ khách hàng và các nhàcung cấp, thì phương pháp lưu đồ có thể làm nổi bật các rủi ro có thể xảy ra,những rủi ro có thể phá vỡ các hoạt động cũng như giảm sút lợi nhuận củaCTCK.

Một phương pháp khác cũng có thể áp dụng là Thanh tra hiện trường/nghiên cứu tại chỗ, được thực hiện dựa trên hoạt động quan sát, theo dõi trựctiếp các hoạt động kinh doanh của CTCK, từ đó thực hiện phân tích đánh giá cáchoạt động, nhận diện các rủi ro mà CTCK có thể gặp phải

1.1.5.2 Đo lường rủi ro

Đo lường rủi ro là việc đánh giá mức độ nghiêm trọng của rủi ro để đưa

ra thứ tự ưu tiên đối phó Để đo lường rủi ro, CTCK có thể kết hợp phương pháp

đo lường định lượng và phương pháp đo lường định tính

Để xác định phân phối xác suất của những biến cố này, nhà quản trị rủi rothường sử dụng hai phương pháp đó là xây dựng các mô hình tính xác suất xảy

ra tổn thất trên cơ sở các số liệu quá khứ về tổn thất đó và sử dụng các mô hìnhgiả lập ( simulation model)

Phương pháp định tính:

Đây là phương pháp dựa vào đánh giá của các chuyên gia để từ đó xếphạng rủi ro và đưa ra một báo cáo tổng hợp Phương pháp này thường được sửdụng đối với những rủi ro khó lường

Phương pháp này giải quyết được hai vấn đề của phương pháp đo lườngđịnh lượng Đầu tiên là việc nó có thể đánh giá được các rủi ro khó đo lường.Thứ hai, khi môi trường kinh doanh thay đổi, phương pháp này cho kết quả

Trang 31

nhanh hơn mô hình định lượng Khác với mô hình định lượng, mô hình định tínhkhông đưa ra một giá trị tuyệt đối của tổn thất gây ra bởi một loại rủi ro nào đó

mà chỉ theo dõi sự biến đổi của các yếu tố này

Hạn chế của mô hình định tính là nhận xét, đánh giá, xếp hạng và chấmđiểm rủi ro đều là chủ quan Do vậy, các nhà quản trị luôn khuyến khích kết hợphai phương pháp định tính và định lượng Có thể nói, việc kết hợp giữa cácphương pháp định lượng và định tính là căn bản để đo lường rủi ro trong tươnglai

Bất kỳ rủi ro nào gây ra thiệt hại tương ứng với thảm họa tài chính nghiêmtrọng sẽ được xếp vào cùng một loại và không có bất kỳ sự phân biệt nào giữacác rủi ro trong loại này Việc đánh giá từng rủi ro trong từng nhóm này đòi hỏiphải xác định được giá trị thiệt hại phát sinh từ rủi ro đó và cũng đòi hỏi phảixác định được khả năng công ty có chịu đựng được những thiệt hại đó haykhông Việc xác định khả năng chịu đựng được rủi ro đó của công ty bao gồmviệc đo lường mức độ thiệt hại không được bảo hiểm mà có lẽ phải gánh chịu

mà không phải sử dụng tới tín dụng, và xác định mức tín dụng tối đa của CTCK

Cách xác định giá trị một số loại rủi ro trong HĐKD của CTCK

- Giá trị rủi ro hoạt động

Rủi ro hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán được xác địnhbằng 25% chi phí duy trì hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán trongvòng mười hai (12) tháng liền kề tính tới tháng gần nhất, hoặc 20% Vốn phápđịnh theo quy định của pháp luật, tùy thuộc vào giá trị nào lớn hơn

Chi phí duy trì hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán được xácđịnh bằng tổng chi phí phát sinh trong kỳ, trừ đi:

• Chi phí khấu hao;

• Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn;

• Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn;

• Dự phòng phải thu khó đòi

Trang 32

Trường hợp tổ chức kinh doanh chứng khoán hoạt động dưới một (01)năm, rủi ro hoạt động được xác định bằng ba (03) lần chi phí duy trì hoạt độngbình quân hàng tháng tính từ thời điểm tổ chức kinh doanh chứng khoán đi vàohoạt động, hoặc 20% Vốn pháp định, tùy thuộc vào giá trị nào lớn hơn.

- Giá trị rủi ro thị trường

Kết thúc ngày giao dịch, tổ chức kinh doanh chứng khoán phải xác định giátrị rủi ro thị trường đối với các tài sản của tổ chức kinh doanh chứng khoán.Rủi ro thị trường phải được xác định đối với các tài sản sau:

• Chứng khoán trên tài khoản tự doanh (đối với công ty chứng khoán cónghiệp vụ tự doanh), tài khoản giao dịch chứng khoán (đối với công ty quản lýquỹ, công ty chứng khoán không có nghiệp vụ tự doanh), kể cả số chứng khoántrong quá trình nhận chuyển giao từ bên bán;

• Chứng khoán nhận hỗ trợ từ các cá nhân, tổ chức khác theo quy định củapháp luật, bao gồm chứng khoán đi vay cho bản thân tổ chức kinh doanh chứngkhoán, chứng khoán đi vay thay mặt cho các cá nhân, tổ chức khác;

• Chứng khoán của khách hàng mà tổ chức kinh doanh chứng khoán nhậnlàm tài sản bảo đảm, sau đó được tổ chức kinh doanh chứng khoán sử dụng,hoặc tái cầm cố, ký quỹ hoặc cho một bên thứ ba vay phù hợp với quy định củapháp luật;

• Tiền, các khoản tương đương tiền, công cụ chuyển nhượng, các loại giấy

tờ có giá thuộc sở hữu của tổ chức kinh doanh chứng khoán;

• Chứng khoán mà tổ chức kinh doanh chứng khoán bảo lãnh phát hànhtheo hình thức cam kết chắc chắn chưa phân phối và chưa nhận thanh toán đầy

đủ trong thời gian bảo lãnh phát hành

Công thức xác định giá trị rủi ro thị trường:

Giá trị rủi ro thị

Vị thếròng x Giá tài sản x

Hệ số rủi ro thịtrường Giá trị rủi ro thị trường của mỗi tài sản sẽ phải điều chỉnh tăng thêm trongtrường hợp tổ chức kinh doanh chứng khoán đầu tư quá nhiều vào tài sản đó,ngoại trừ chứng khoán đang trong thời gian bảo lãnh phát hành theo hình thức

Trang 33

cam kết chắc chắn, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh.Giá trị rủi ro được điều chỉnh tăng theo nguyên tắc sau:

Tăng thêm 10% trong trường hợp giá trị của khoản đầu tư này chiếm từ 10%tới 15% Vốn chủ sở hữu của tổ chức kinh doanh chứng khoán;

Tăng thêm 20% trong trường hợp giá trị của khoản đầu tư này chiếm từ 15%tới 25% Vốn chủ sở hữu của tổ chức kinh doanh chứng khoán;

Tăng thêm 30% trong trường hợp giá trị của khoản đầu tư này chiếm từ 25%trở lên Vốn chủ sở hữu của tổ chức kinh doanh chứng khoán

Tổ chức kinh doanh chứng khoán phải điều chỉnh tăng thêm các khoản cổ tức,trái tức, giá trị quyền ưu đãi nếu phát sinh (đối với chứng khoán), hoặc lãi chovay (đối với tiền gửi và các khoản tương đương tiền công cụ chuyển nhượng,giấy tờ có giá) vào giá tài sản khi xác định giá trị rủi ro thị trường

Giá trị rủi ro thị trường đối với số chứng khoán chưa phân phối hết từ các Hợpđồng bảo lãnh phát hành theo hình thức cam kết chắc chắn được xác định theotheo công thức sau:

x Giábảolãnhpháthành

– Giátrị tàisảnbảođảm(nếucó)

} X Hệ

sốrủiropháthành

x { Hệ sốrủi rothịtrường

+ (Giá bảolãnh pháthành – Giágiao dịch)(nếu dương)

}

Giá bảo lãnhphát hành

Trang 34

toán

- Giá trị rủi ro thanh toán

Kết thúc ngày giao dịch, tổ chức kinh doanh chứng khoán phải xác địnhgiá trị rủi ro thanh toán đối với các hợp đồng, giao dịch sau:

• Tiền gửi có kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng, các khoản cho vay đối với các

tổ chức, cá nhân khác;

• Hợp đồng vay, mượn chứng khoán phù hợp với quy định của pháp luật;

• Hợp đồng bán có cam kết mua lại chứng khoán phù hợp với quy định củapháp luật;

• Hợp đồng mua có cam kết bán lại chứng khoán phù hợp với quy định củapháp luật;

• Hợp đồng cho vay mua ký quỹ chứng khoán phù hợp với quy định củapháp luật;

• Hợp đồng bảo lãnh phát hành ký với các tổ chức khác trong tổ hợp bảolãnh phát hành theo hình thức cam kết chắc chắn mà tổ chức kinh doanh chứngkhoán là tổ chức bảo lãnh phát hành chính;

• Các khoản phải thu đã quá hạn, kể cả trái phiếu đáo hạn, các giấy tờ cógiá, công cụ nợ đã đáo hạn mà chưa được thanh toán, các khoản phải thu của tổchức kinh doanh chứng khoán, các khoản phải thu cho khách hàng trong hoạtđộng môi giới bán chứng khoán;

• Tài sản quá thời hạn chuyển giao, kể cả chứng khoán trong hoạt độngkinh doanh của tổ chức kinh doanh chứng khoán, chứng khoán của khách hàngtrong hoạt động môi giới chứng khoán

Đối với các hợp đồng theo, giá trị rủi ro thanh toán trước thời hạn nhậnchuyển giao chứng khoán, tiền và thanh lý hợp đồng, được xác định như sau:Giá trị rủi ro

thanh toán =

Hệ số rủi ro thanhtoán theo đối tác x

Giá trị tài sản tiềm ẩn rủi

ro thanh toán Đối với các khoản phải thu quá hạn, chứng khoán chưa nhận chuyển giao đúnghạn, kể cả chứng khoán, tiền chưa nhận được từ các giao dịch, hợp đồng đáohạn, giá trị rủi ro thanh toán được xác định theo nguyên tắc sau:

Trang 35

Giá trị rủi ro

thanh toán =

Hệ số rủi ro thanhtoán theo thời gian x

Giá trị tài sản tiềm ẩnrủi ro thanh toán Giá trị tài sản bảo đảm tính giảm trừ được xác định như sau:

Giá trị tài sản

Khối lượngtài sản x Giá tài sản x

(1- Hệ số rủi rothị trường) Giá trị rủi ro thanh toán phải được điều chỉnh tăng thêm trong các trườnghợp sau:

• Tăng thêm 10% trong trường hợp giá trị khoản cho vay đối với một tổchức, cá nhân và nhóm tổ chức, cá nhân liên quan (nếu có), chiếm từ 10% tới15% Vốn chủ sở hữu;

• Tăng thêm 20% trong trường hợp giá trị khoản cho vay đối với một tổchức, cá nhân và nhóm tổ chức, cá nhân liên quan (nếu có), chiếm từ 15% tới25% Vốn chủ sở hữu;

• Tăng thêm 30% trong trường hợp giá trị khoản cho vay đối với một tổchức, cá nhân và nhóm tổ chức, cá nhân liên quan (nếu có), hoặc một cá nhân vàcác bên liên quan tới cá nhân đó (nếu có), chiếm từ 25% Vốn chủ sở hữu trở lên

• Trường hợp đối tác đã hoàn toàn mất khả năng thanh toán, toàn bộ khoảnthiệt hại tính theo giá trị hợp đồng phải được giảm trừ đi từ Vốn khả dụng

1.1.5.3 Theo dõi rủi ro

Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các chiến lược, các chương trình hành động, công cụ, kỹ thuật… nhằm ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi của rủi ro đối với công ty

Các biện pháp kiểm soát có thể chia thành hai nhóm cơ bản sau:

-Né tránh rủi ro

Đây là biện pháp mà nhà quản trị tìm cách phát hiện những dự án kinhdoanh có nguy cơ xảy ra rủi ro cao để tránh cho công ty không tham gia vào, dovậy không phải chịu rủi ro

-Ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro

Đây là nhóm giải pháp nhằm giảm tối đa các rủi ro có thể mang lại chocông ty, bao gồm các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro Ngăn ngừa rủi

Trang 36

ro là biện pháp nhằm ngăn chặn các nguyên nhân gây ra rủi ro, khiến cho rủi rokhông thể xảy ra Tuy nhiên, do không phải rủi ro nào cũng ngăn chặn được, vìvậy, nhà quản trị sẽ giảm thiểu số lần xảy ra rủi ro.

1.1.5.4 Báo cáo rủi ro

Hoạt động kiểm soát rủi ro không thể giúp CTCK tránh được mọi rủi ro.Khi rủi ro xảy ra, CTCK phải có một sự chuẩn bị về mặt tài chính đủ lớn đểgiảm thiểu tổn thất Biện pháp để tài trợ rủi ro bao gồm:

Chấp nhận rủi ro, lập quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra Chấp nhận rủi ro là biện pháp không thể tránh khỏi để không bỏ lỡnhững cơ hội kiếm lời Trong trường hợp này, nhà quản trị phải dự phòng cácnguồn lực tài chính để không ảnh hưởng tới HĐKD chung của công ty Tuynhiên, khi mức dự phòng không đủ lớn để có thể bù đắp thiệt hại do rủi ro gây rathì nhà quản trị cần phải kết hợp với biện pháp khác, đó là chuyển giao rủi ro

Chuyển giao rủi ro

Để chuyển giao rủi ro, công ty đòi hỏi phải tham gia vào các hợp đồngđặc biệt nhằm chuyển giao phần rủi ro mà mình không muốn gánh chịu sangnhững chủ thể sẵn sàng nhận thêm rủi ro để lấy một khoản thu nhập Chuyểngiao rủi ro là biện pháp nhằm đưa mức độ rủi ro mà công ty có thể đối mặt lênmức có thể chấp nhận được chứ không phải biện pháp nhằm triệt tiêu rủi ro.Thông thường, chi phí chuyển giao rủi ro cũng tương ứng với mức độ rủi ro nênbiện pháp này không phải giải pháp tối ưu

1.1.5.5 Xử lý rủi ro

Bước này nhằm đánh giá lại toàn bộ quá trình xác định rủi ro, phân tíchrủi ro, đánh giá rủi ro, kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro có được thực hiện đúngkhông CTCK cần theo dõi thường xuyên việc tuân thủ chính sách đã đặt ra vềrủi ro và tiêu chuẩn khắc phục rủi ro để tìm ra những khâu cần chấn chỉnh Quátrình giám sát và tổng kết nhằm đảm bảo:

- Các biện pháp áp dụng mang lại kết quả như dự kiến

Trang 37

- Quy trình áp dụng và thu thập thông tin để đánh giá rủi ro là phù hợp

- Kiến thức bổ sung giúp ra quyết định tốt hơn và xác định bào học nào nên

áp dụng để phục vụ việc đánh giá và quản trị rủi ro trong tương lai

1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QTRR trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán.

1.1.6.1 Nhân tố chủ quan

- Nhận thức của ban quản lý về vai trò QTRR

Đây là nhân tố vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quảhoạt động QTRR trong hoạt động KDCK Nếu ban lãnh đạo có nhận thức đúngđắn về QTRR, họ sẽ chú trọng xây dựng chiến lược QTRR hợp lý, xây dựng cơcấu tổ chức, cơ cấu nhân sự phù hợp để QTRR đạt được các mục tiêu đề ra

- Sự kết hợp giữa các đơn vị trong hoạt động QTRR

Trong CTCK, QTRR trước hết thuộc về nhiệm vụ của HĐQT, Ban giámđốc của công ty Sau đó là nhiệm vụ của mỗi người, từ trưởng phòng, phó phòngcho tới cả những nhân viên cấp dưới Hệ thống QTRR chỉ có thể đạt hiệu quảnếu có sự phối hợp nhịp nhàng với nhau trong quá trình xử lý các vấn đề phátsinh

- Hạ tầng thông tin phục vụ cho hoạt động QTRR KDCK:

Nguồn thông tin đầu vào bao gồm các thông tin lịch sử, hiện tại và tươnglai về thị trường kinh tế tài chính vĩ mô, môi trường đầu tư, chính sách của nhànước, tình hình ngành kinh doanh, tình hình sản xuất kinh doanh cũng như tìnhhình tài chính của các doanh nghiệp… Đây là nguồn thông tin nhằm phục vụcho việc tư vấn đầu tư cho khách hàng, tư vấn tài chính cho doanh nghiệp và là

cơ sở để chính CTCK thực hiện hoạt động tự doanh cho mình

- Công nghệ kỹ thuật:

Sử dụng các sản phẩm công nghệ hiện đại sẽ hỗ trợ đắc lực cho hoạtđộng kinh doanh chứng khoán trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn Bên cạnh đó,các công cụ còn giúp hỗ trợ về khai thác thông tin, cập nhật thông tin và tìnhhình kinh doanh của công ty để sớm phát hiện rủi ro và đo lường những rủi ro có

Trang 38

thể xảy đến, đồng thời xây dựng các phương án chủ động đối phó với những rủi

ro ấy

- Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ:

Đây là nhân tố mấu chốt trong công tác QTRR Khi tất cả nhân viêntrong công ty đều nhận thức được tầm quan trọng của QTRR và góp sức để côngtác QTRR được tiến hành thuận lợi thì sẽ giúp cho công ty rất nhiều trong việcđẩy lùi những yếu kém và mang lại kết quả tích cực cho QTRR

1.1.6.2 Nhân tố khách quan

- Từ thị trường: Sự thay đổi của các vấn đề kinh tế vĩ mô ( chu kỳ kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, thiên tai,…) hay sự thay đổi các chính sách kinh tế của Nhà nước ( chính sách đầu tư, chính sách tiền tệ, thuế…) đều tác động đến TTCK và hiệu quả QTRR của các CTCK

- Từ khách hàng, đối tác kinh doanh: Rủi ro từ khách hàng, đối tác không thực hiện hợp đồng đã ký kết sẽ gây tổn thất cho CTCK

- Từ ban quản lý của CTCK: CTCK chịu hoạt động kiểm tra, giám sát từ cơquan quản lý trực tiếp là UBCKNN, Sở Giao dịch chứng khoán, trung tâm lưu

ký chứng khoán Vì vậy, nếu những quy định, chính sách của các cơ quan quản

lý trên phù hợp, kịp thời sẽ hỗ trợ rất tốt cho QTRR tại các CTCK Ngược lại,nếu các chính sách, chế độ không phù hợp sẽ cản trở hoạt động, gây khó khăncho các CTCK thực hiện công tác QTRR

1.1.7 Kinh nghiệm QTRR của các CTCK trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với các CTCK ở Việt Nam

A Kinh nghiệm của Mỹ

Theo pháp luật Hoa Kỳ, công ty chứng khoán tồn tại qua hai loại hìnhhoạt động là công ty môi giới và ngân hàng đầu tư Công ty môi giới là công tygóp vốn hoặc công ty cổ phần có chức năng cung cấp các dịch vụ mua bánchứng khoán trên thị trường thứ cấp cho khách hàng Ngân hàng đầu tư là công

ty hoạt động chủ yếu trên thị trường sơ cấp với tư cách người trung gian giữanhà phát hành và người đầu tư, làm nhiệm vụ giúp các doanh nghiệp, chính phủ

Ngày đăng: 11/08/2023, 16:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động của công ty - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần chứng ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bsc)
2.1.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động của công ty (Trang 50)
Bảng 3: Bảng cân đối kế toán của công ty giai đoạn 2018- 2020 - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần chứng ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bsc)
Bảng 3 Bảng cân đối kế toán của công ty giai đoạn 2018- 2020 (Trang 54)
Hình 1: Hệ thống quản trị rủi ro của BSC - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần chứng ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bsc)
Hình 1 Hệ thống quản trị rủi ro của BSC (Trang 56)
Sơ đồ 2. Cơ cấu tổ chức của Bộ phận Kiểm soát Rủi ro - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần chứng ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bsc)
Sơ đồ 2. Cơ cấu tổ chức của Bộ phận Kiểm soát Rủi ro (Trang 59)
Bảng 4: Các chỉ têu tài chính chủ yếu - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần chứng ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bsc)
Bảng 4 Các chỉ têu tài chính chủ yếu (Trang 61)
Bảng 5: Tỷ lệ an toàn tài chính của công ty BSC từ năm 2018-2020 - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần chứng ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bsc)
Bảng 5 Tỷ lệ an toàn tài chính của công ty BSC từ năm 2018-2020 (Trang 62)
Hình 1: Hệ thống quản trị rủi ro của BSC - Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần chứng ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bsc)
Hình 1 Hệ thống quản trị rủi ro của BSC (Trang 63)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w