MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế
Cơ cấu kinh tế được hiểu là tỉ trọng đóng góp của các ngành kinh tế vào sự phát triển chung nền kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm, và được thể hiện qua quy mô và tốc độ tăng trưởng Quy mô tăng trưởng phản ánh mức độ gia tăng kinh tế, trong khi tốc độ tăng trưởng giúp so sánh sự phát triển nhanh hay chậm giữa các thời kỳ khác nhau Như vậy, tốc độ tăng trưởng phản ánh sự thay đổi tương đối và mức độ phát triển của nền kinh tế theo thời gian.
1.1.3.Mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế
Trong quá trình phân tích tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế, mối quan hệ giữa hai yếu tố này đặc biệt quan trọng vì chúng ảnh hưởng lẫn nhau Sự thay đổi tích cực của cơ cấu kinh tế có thể thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, trong khi đó, những biến động tiêu cực hoặc không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Do đó, việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
Cơ cấu lao động
1.2.1 Khái niệm về lao động
* Khái niệm về lao động
Lao động là hoạt động của con người diễn ra giữa con người và tự nhiên, nhằm tác động, chiếm giữ và biến đổi các chất trong giới tự nhiên để tạo ra các sản phẩm có ích cho đời sống Hoạt động này được thực hiện có mục đích nhằm thoả mãn nhu cầu của con người, góp phần cải thiện cuộc sống và phát triển xã hội.
* Khái niệm về lực lượng lao động
Theo Bộ luật Lao động của Việt Nam, lực lượng lao động gồm những người trong độ tuổi từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ, có việc làm hoặc đang thất nghiệp Các đối tượng không thuộc lực lượng lao động bao gồm những người đang đi học, những người không có khả năng làm việc, nội trợ và những người không có nhu cầu làm việc.
Lao động được phân chia dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau; trong đó, theo mục đích nghiên cứu của bài viết, lao động được chia thành hai nhóm chính là lao động nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp.
1.2.3 Mối quan hệ giữa cơ cấu lao động với tăng trưởng kinh tế
Cơ cấu lao động ảnh hưởng rõ rệt đến tăng trưởng kinh tế Phân bổ lao động hợp lý vào các ngành nghề giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngược lại, nếu dây chuyền phân bổ lao động không hợp lý, sẽ gây ra tình trạng thừa hoặc thiếu lao động ở các ngành, làm giảm năng suất và kìm hãm sự phát triển chung của nền kinh tế Việc tối ưu hóa cơ cấu lao động là yếu tố then chốt để khai thác tiềm năng và thúc đẩy phát triển bền vững.
Phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế
Mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động là chặt chẽ và có tác động qua lại lẫn nhau theo chiều thuận Cơ cấu kinh tế quyết định sự phân bổ và chất lượng lao động trong nền kinh tế Đồng thời, sự chuyển dịch của cơ cấu lao động sẽ thúc đẩy hoặc điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp Chính vì vậy, sự thay đổi trong một sẽ kéo theo sự biến đổi trong hai yếu tố còn lại, tạo nên sự phát triển bền vững cho nền kinh tế quốc gia.
Cơ sở lý thuyết của vấn đề chuyển dịch nghề của lao động nông nghiệp
- Mô hình chuyển đổi lao động giữa hai khu vực
- Lý thuyết tăng truởng và phát triển kinh tế của các nước châu Á – gió mùa của Harry T Oshima
- Mô hình kinh tế nhị nguyên của Lewis
1.4.2 Một vài nghiên cứu gần đây của các tác giả Việt Nam
-Nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong thời kì 1950 – 2000 của nước Nhật, tác giả Trần Quang Minh và Harumi Befu
- Nghiên cứu của Dương Hồng Nhung (1997) về biến đổi xã hội Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai
Trong bối cảnh Việt Nam, xu hướng chuyển dịch lao động sang các ngành công nghiệp và dịch vụ đang diễn ra rất sôi động Đại hội Đảng lần thứ 8 đã xác định mục tiêu chiến lược đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, nhằm giảm tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
- Nghiên cứu về kinh tế hộ nông dân, tác giả Đào Thế Tuấn đã đề cập tới vấn đề rút lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp
THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI NGHỀ CỦA LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
Một số chính sách liên quan đến lao động nông nghiệp
Theo Luật đất đai năm 1993, đất ở khu vực nông thôn được phân thành sáu loại chính bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng Những loại đất này đáp ứng các mục đích sử dụng khác nhau và có quy định pháp lý riêng biệt Việc phân loại đúng đắn giúp xác định quyền sử dụng đất, thúc đẩy phát triển bền vững khu vực nông thôn Thông tin về các loại đất này rất quan trọng để người dân và nhà đầu tư hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến đất đai khu vực nông thôn theo luật hiện hành.
Chính phủ quy định rõ ràng về việc xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất và bồi thường thiệt hại về đất trong trường hợp thu hồi đất Nhà nước xác định khung giá đất cụ thể theo từng loại đất, từng vùng địa lý và theo từng giai đoạn thời gian, đảm bảo công bằng và minh bạch trong quản lý đất đai Việc này giúp hỗ trợ các hoạt động liên quan đến chuyển nhượng đất đai và quản lý tài nguyên đất phù hợp với quy định của pháp luật.
Hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất, đồng thời được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Các quyền này giúp người sử dụng đất có thể thực hiện các giao dịch pháp lý phù hợp và đảm bảo quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bước quan trọng xác nhận quyền sở hữu và quyền sử dụng hợp pháp đối với đất đai của hộ gia đình, cá nhân.
Giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá thể nhằm mục đích sử dụng ổn định lâu dài để phục vụ sản xuất nông nghiệp Thời hạn giao đất đối với đất trồng cây hàng năm hoặc nuôi trồng thủy sản là 20 năm, trong khi đất trồng cây lâu năm có thời hạn khai thác lên đến 50 năm Chính sách này đảm bảo quyền lợi lâu dài cho người nông dân, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp bền vững và ổn định.
Tuỳ theo nội dung cac chính sách, ta có thể chia chúng ra làm các nhóm như sau:
2.1.1 Các chính sách về đất đai
2.1.2 Chính sách công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2.1.3 Các kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp chuyển đổi
Thực trạng của việc chuyển đổi ngành nghề ở lao động nông nghiệp
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ phần trăm lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp
(nguồn: Tổng cục thống kê)
Nhìn vào biểu đồ, ta có thể thấy tỷ lệ lao động nông nghiệp đang có xu hướng giảm.
2.2.2 Một số yếu tố tác động tới sự chuyển đổi ngành nghề của lao động nông nghiệp a)Các đặc điểm chung nhất của lao động nông nghiệp Đây là nhưng đặc điểm chủ yếu có tác động trực tiếp tới việc chuyển đổi nghề của lao động nông nghiệp
Tuổi của lao động đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp Nhóm tuổi từ 20 đến 50 có khả năng chuyển nghề cao nhất, thể hiện rõ sự linh hoạt và thích nghi với các cơ hội việc làm mới Việc hiểu rõ ảnh hưởng của độ tuổi giúp xác định các chiến lược phát triển nghề nghiệp phù hợp, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi lao động hiệu quả hơn.
Bảng 2.2: Bảng tỷ lệ nhóm tuổi agegroup
Tu 0-10 Tu 10-20 Tu 20-30 Tu 30-40 Tu 40-50 Tu 50-60 Tren 60 y2006
Giới tính của lao động nông nghiệp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng chuyển nghề trong lĩnh vực nông nghiệp Theo các nghiên cứu, nam giới có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp cao hơn so với nữ giới, điều này phản ánh sự khác biệt về cơ hội và thách thức trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp trong nông nghiệp.
Bảng 2.5: Tỷ lệ chuyển nghề và không chuyển của lao động nam và nữ sex nữ Nam y2006 0 88% 84%
Trình độ học vấn của lao động
Bảng 2.8: Số năm đi học của lao động
Những lao động nông nghiệp có trình độ học vấn cao hơn thường dễ dàng tiếp cận công việc nhanh chóng và hòa nhập hiệu quả vào môi trường làm việc Điều này giúp họ có khả năng chuyển nghề linh hoạt hơn so với những lao động có trình độ thấp Ngoài ra, đặc điểm của các hộ gia đình lao động nông nghiệp cũng ảnh hưởng đến khả năng thích nghi và chuyển đổi nghề, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển kinh tế nông thôn.
Tỷ lệ ăn theo nói lên áp lực về thu nhập của gia đình đối với những lao động này
Bảng 2.9 Tỷ lệ ăn theo
Tỷ lệ lao động nông nghiệp
Khi gia đình có quá nhiều lao động nông nghiệp, sẽ dẫn đến tình trạng thiếu việc làm do diện tích đất không đủ để đáp ứng nhu cầu lao động Điều này tạo áp lực lớn lên các lao động trong gia đình, buộc một số người phải chuyển đổi ngành nghề để tìm kiếm việc làm mới Ngược lại, nếu số lao động nông nghiệp trong gia đình ít hơn nhu cầu, họ sẽ cần thêm lao động mới để đảm bảo hoạt động sản xuất hiệu quả, và các lao động cũ ít có khả năng chuyển đi.
Bảng 2.10 Tỷ lệ lao động nông nghiệp
Thu nhập từ nông nghiệp
Bảng 2.11: Thu nhập từ nông nghiệp
Valid Missing 25 50 75 y = 0 3609 0 12663.14 264.314 5552.50 9388.00 15270.50 y = 1 585 0 10430.57 478.073 3770.50 6867.00 12972.00 Thu nhập trung bình của gia đình người lao động
Bảng 2.12: Thu nhập trung bình của gia đình người lao động
Valid Missing 25 50 75 y = 0 3609 0 4483.249 70.19939 2340.363 3515.000 5358.20 y = 1 585 0 4875.426 151.43654 2735.000 3970.167 5824.167 c)Đặc điểm chung của xã
Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, hay còn gọi là "chương trình một-ba-năm", là một trong những chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam bắt đầu từ năm 1998 Chương trình được biết đến rộng rãi với tên gọi Chương trình 135, theo quyết định số hiệu 135/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Mục tiêu của chương trình là thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Bảng 2.16 Tỷ lệ chuyển đổi của người ở các xã 135 và người không thuộc xã 135
Những người không thuộc xã 135 có khả năng chuyển nghề cao hơn d) Vùng kinh tế
Việt Nam gồm có 8 vùng kinh tế chính, bao gồm Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long Các vùng này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước, mỗi vùng có đặc điểm tự nhiên và lợi thế riêng biệt Đông Bắc nổi bật với ngành công nghiệp và khai thác khoáng sản, trong khi Tây Bắc nổi bật với cảnh quan núi non và phát triển du lịch sinh thái Đồng Bằng Sông Hồng là trung tâm công nghiệp, nông nghiệp và đô thị lớn, còn các vùng Trung Bộ và Tây Nguyên phát triển nông nghiệp và du lịch Nam Bộ là trung tâm kinh tế năng động với nhiều khu công nghiệp, còn Đồng Bằng Sông Cửu Long nổi bật với nền nông nghiệp trù phú, đặc biệt là ngành lương thực Hiểu rõ đặc điểm các vùng kinh tế sẽ giúp thúc đẩy chiến lược phát triển bền vững và phân bố nguồn lực hợp lý của Việt Nam.
2.2.2 Một số mặt tích cực và mặt hạn chế của việc chuyển đổi nghề
Về thu nhập của gia đình người chuyển đồi nghề
Bảng 2.17: Thu nhập của người lao động trước và sau khi chuyển nghề
Bảng 2.18:Thu nhập của người lao động trước và sau khi chuyển nghề tính theo %
Sau khi chuyển đổi nghề nghiệp vào năm 2006, tổng thu nhập của phần lớn hộ gia đình tăng so với năm 2004, chiếm tỷ lệ 83,25% Chỉ phần nhỏ các hộ có thu nhập giảm trong khoảng thời gian này So sánh với những người không chuyển nghề, tỷ lệ hộ có tổng thu nhập tăng lần này cao hơn rõ rệt, cho thấy chuyển đổi nghề nghiệp đã đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao thu nhập của các hộ gia đình.
Về vấn đề giải quyết việc làm của các địa phương
Theo Nghị định 69/NĐ-CP, người trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có nhu cầu học nghề sẽ được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và miễn học phí cho một khóa học Việc này góp phần giảm áp lực tuyển dụng lao động phù hợp sau khi các địa phương thu hồi đất để phát triển công nghiệp Chủ động chuyển đổi nghề trước khi thu hồi đất giúp người dân có cơ hội nâng cao kỹ năng và tạo việc làm ổn định hơn trong tương lai.
MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG PHÂN TÍCH SỰ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ CỦA LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
Mô hình Logit và các phương pháp ước lượng
Có 2 phương pháp ước lượng mô hình logit đó là phương pháp Goldberger(1964) và phương pháp Berkson (1953) Trong bài này em sử dụng phương pháp Goldberger để ước lượng
Trong mô hình này với 1 biến X2, các pi được xác định bằng: p i = e β 1 +β 2 X 2i
Trong mô hình Logistic, pi không phải là hàm tuyến tính của các biến độc lập, mà là một hàm phi tuyến liên quan chặt chẽ đến các biến độc lập và các tham số β Hàm phân bố Logistic đảm bảo rằng khi các giá trị của X và β thay đổi từ -∞ đến +∞, xác suất p sẽ nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Điều này đặc trưng của hàm phi tuyến thể hiện rằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) không phù hợp để ước lượng các tham số β trong mô hình này Thay vào đó, phương pháp ước lượng hợp lý tối đa (Maximum Likelihood Estimation - MLE) được sử dụng để đánh giá chính xác các tham số của mô hình Logistic.
Vì Y chỉ nhận một trong hai giá trị 0 và 1, Y có phân bố nhị thức, nên hàm hợp lý với mẫu kích thước n dạng sau đây:
∏ i=1 n ( 1+exp ( βX i )) Đặt t* = ∑ i=1 n X i Y i , t* là vectơ hai chiều (số hệ số hồi quy) Ta cần tìm ước lượng hợp lý tối đa của β, ta có:
Phương trình trên phi tuyến đối với β, người ta sử dụng phương pháp Newton Raphson để giải hệ phương trình này
I(β) được gọi là ma trận thông tin Nếu như là nghiệm của S( ), khai triển Taylor tại β, ta có:
Ta có quá trình lặp như sau:
Bắt đầu với giá trị ban đầu nào đó của β, chẳng hạn , ta tính được S( ) và I( ), sau đó tìm β mới bằng công thức sau đây: β 1 = β 0 + [ I ( β 0 ) ] −1 S ( β 0 )
Quá trình lặp sẽ tiếp tục cho đến khi hội tụ, đảm bảo độ chính xác của ước lượng Với I(β) là dạng toàn phương xác định dương, quá trình này sẽ cung cấp ước lượng hợp lý cực đại Ma trận hiệp phương sai, được xác định bởi [ I(β) ] −1, đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm định giả thiết và thực hiện các phân tích thống kê khác.
Sau khi ước lượng được , ta có thể tính được ước lượng xác suất p i = P ( Y =1 / X i ) p ¿ i = exp ( X i β ¿ )
Kết hợp với (1.3) ta có: ∑ p ¿ i X i = ∑ Y i X i
Phương trình này dùng đẻ kiểm nghiệm lại các
Trong mô hình Logit, chúng ta không nghiên cứu tác động trực tiếp của biến độc lập Xk đối với biến phụ thuộc Y mà tập trung vào ảnh hưởng của Xk đến xác suất để Y nhận giá trị bằng 1 hoặc kỳ vọng của Y Ảnh hưởng của biến Xk đến xác suất pi được tính toán dựa trên các công thức đặc trưng của mô hình Logit, giúp hiểu rõ hơn về cách các biến độc lập ảnh hưởng đến khả năng xảy ra của biến phụ thuộc.
Phương pháp này xác định pi = = bằng cách tuyến tính hóa
Ln ( 1− p i p i ) =Z i = β 1 + β 2 X i (1.3) Đặt Li = Ln( ) + ui = β1 + β2Xi + ui (1.4)
L không chỉ tuyến tính đối với biến số mà còn tuyến tính đối với tham số
Trong trường hợp chưa biết giá trị của pi, chúng ta sẽ sử dụng phương pháp ước lượng để ước tính pi dựa trên dữ liệu mẫu Giả sử mẫu có Ni quan sát với các giá trị Xi, và trong số đó chỉ có ni các quan sát mà Yi = 1, phương pháp ước lượng điểm của pi dựa trên tỉ lệ của các quan sát này trong mẫu Công thức ước lượng của pi được tính bằng tổng các quan sát có Yi = 1 chia cho tổng số các quan sát trong mẫu Ni, giúp chúng ta có một ước lượng chính xác hơn cho mô hình thống kê.
= Ln( ) Phân bố của Y là A(p), với Ni quan sát ta có kỳ vọng Nipi, phương sai
Theo định lý giới hạn trung tâm, khi N_i lớn, phân phối của tổng các biến ngẫu nhiên sẽ tiệm cận phân phối chuẩn N(0, 1/(N_i p_i (1 - p_i))) Do đó, phương sai của sai số trong công thức (1.4) là biến đổi theo từng giá trị của i, và mỗi xi đều có thể ước lượng phương sai này Từ đó, ta rút ra các bước chính để thực hiện phân tích thống kê dựa trên ước lượng phương sai thay đổi này, nhằm đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy của kết quả.
Bước 1: Với mỗi Xi ta tính = , = Ln( ), và = Ni
Bước 2: Thực hiện biến đổi biến số và dùng OLS để ước lượng mô hình sau:
Mô hình và kết quả ước lượng
3.2.1 Bộ số liệu sử dụng
Trong bài viết em sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình trong 2 năm VHLSS2004 và VHLSS2006 ( Tổng cụ thống kê)
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ban hành Quyết định số 697/QĐ-TCTK ngày 12/12/2003 về việc tiến hành Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004 Cuộc khảo sát quy mô toàn quốc với mẫu khảo sát gồm 45.900 hộ gia đình nhằm thu thập số liệu chính xác về mức sống của các hộ dân Đây là hoạt động thống kê quan trọng giúp đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và phục vụ công tác lập kế hoạch phát triển.
Trong tổng số 46.900 hộ khảo sát, bao gồm 36.720 hộ điều tra về thu nhập và 9.180 hộ điều tra về thu nhập và chi tiêu, dữ liệu thu thập từ 3.063 xã/phường trên toàn quốc Nghiên cứu này đại diện cho các vùng miền khác nhau của đất nước, bao gồm 8 khu vực phân vùng, cùng với các phân khúc thành thị và nông thôn, cũng như các tỉnh/thành phố Các số liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về thu nhập và chi tiêu của người dân Việt Nam, góp phần xây dựng chính sách phù hợp và hiệu quả.
Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004 tập trung phản ánh các đặc điểm nhân khẩu học, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thu nhập, chi tiêu và sử dụng dịch vụ y tế của dân cư Ngoài ra, khảo sát còn ghi nhận tình trạng việc làm, điều kiện nhà ở, tài sản, đồ dùng, điện, nước và vệ sinh Đặc biệt, đợt khảo sát bổ sung hai nội dung mới là “Đất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản” và “Các ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản” nhằm phục vụ phân tích chuyên sâu về các lĩnh vực này.
Bộ số liệu được khảo sát trên phạm vi cả nước với quy mô mẫu 45.945 hộ
Trong tổng số 36.756 hộ gia đình tham gia điều tra về thu nhập và 9.189 hộ về thu nhập và chi tiêu, cuộc khảo sát đã được thực hiện trên 3.063 xã/phường, đại diện cho toàn quốc, bao gồm 8 vùng kinh tế và các khu vực thành thị, nông thôn, tỉnh và thành phố Cuộc khảo sát diễn ra theo hai kỳ trong năm nhằm mục đích thu thập dữ liệu chính xác, toàn diện về mức sống và các hoạt động kinh tế của các hộ gia đình trên toàn quốc.
Năm 2006, phương pháp phỏng vấn trực tiếp được sử dụng để thu thập thông tin từ chủ hộ và cán bộ chủ chốt xã, nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước Dữ liệu thu thập giúp chính quyền có cái nhìn chính xác về thực trạng kinh tế - xã hội, từ đó hỗ trợ hoạch định chính sách và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 Phương pháp này góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và đảm bảo các chiến lược phát triển phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006 cung cấp những thông tin quan trọng về tình hình sống của cư dân, phản ánh mức độ tiện nghi và thu nhập trung bình của các hộ gia đình Phần a của báo cáo tập trung phân tích mức sống dân cư dựa trên dữ liệu thu thập trong năm 2006, giúp đánh giá rõ nét đời sống và mức độ phát triển kinh tế của các hộ gia đình Việt Nam trong giai đoạn này.
Phần b: Kết quả số liệu tổng hợp về khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006
3.2.2 Các biến sử dụng trong mô hình
Biến phụ thuộc y2006 có hai giá trị chính, gồm 0 hoặc 1 Nếu y2006 = 1, điều này cho thấy lao động đã chuyển đổi nghề từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp giữa năm 2004 và 2006 Ngược lại, nếu y2006 = 0, nghĩa là người lao động vẫn tiếp tục làm nông nghiệp trong giai đoạn này, không có sự chuyển đổi nghề nghiệp.
Bảng 3.1: Các biến độc lập đưa vào mô hình
Biến Đặc điểm Giá trị
Age Tuổi của lao động nông nghiệp
Sex Giới tính của lao động nông nghiệp 1: nam; 0: nữ
Edu Số năm đi học của lao động nông nghiệp Hocnghe - Hocnghe1: Lao động chưa qua đào tạo
- Hocnghe2: Lao động qua đào tạo nghề ngắn hạn
- Hocnghe3: Lao động qua đào tạo nghề dài hạn
Trong khu vực đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ lao động đã qua trung học chuyên nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nâng cao năng suất nông nghiệp Thu nhập từ nông nghiệp chiếm một phần đáng kể trong tổng thu nhập của hộ gia đình, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người nông dân Trung bình, thu nhập của hộ nông nghiệp tại các xã có thuộc xã 135 hoặc không đều có sự khác biệt, phản ánh các đặc điểm về cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế địa phương Tỷ lệ người phụ thuộc và tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số thành viên hộ cho thấy mức độ phụ thuộc vào nông nghiệp cũng như khả năng tự chủ kinh tế của các hộ gia đình Những yếu tố này đều góp phần vào sự phát triển chung của khu vực, thúc đẩy hoạt động nông nghiệp hiệu quả hơn và nâng cao thu nhập cho người dân.
=0 nếu ngược lại reg2 Đông Bắc
=0 nếu ngược lại reg3 Tây Bắc
=0 nếu ngược lại reg4 Bắc Trung Bộ
=0 nếu ngược lại reg5 Nam Trung Bộ
=0 nếu ngược lại reg6 Tây Nguyên
=0 nếu ngược lại reg7 Nam Bộ
=0 nếu ngược lại reg8 Đồng Bằng sông Cửu Long
3.2.3 Mô hình ước lượng có dạng như sau:
X = (sex,edu,age,tnnn,tntbho,tyleldnn,tyleantheo,xa135,reg2… reg8,hocnghe2,… hocnghe4, 1 )
3.2.4 Lý do chọn các biến đưa vào mô hình
Tuổi là đặc điểm quan trọng ảnh hưởng đến năng động và khả năng tiếp thu công việc của mỗi người, đặc biệt trong khoảng từ 15-55 đối với nữ và 15-60 đối với nam theo quy định của pháp luật Giới tính cũng đóng vai trò quan trọng, vì nam giới thường có điều kiện thuận lợi hơn nữ giới do không phải lo lắng về nội trợ và gia đình, mặc dù quan điểm trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi Ngoài ra, nam giới thường năng động hơn nữ giới, điều này tạo điều kiện tốt hơn cho việc chuyển nghề, và khả năng chuyển nghề của nam giới cần được xem xét kỹ lưỡng; biến sex là biến nhị phân, nhận giá trị 0 cho nữ giới và 1 cho nam giới.
Trong bài viết này, trình độ học vấn được đánh giá dựa trên số năm đi học, là tiêu chí phổ biến mà nhiều nhà phân tích sử dụng để xác định trình độ học vấn Người có trình độ học vấn cao thường có cơ hội chuyển nghề cao hơn nhờ tư duy tốt hơn, khả năng tiếp cận công nghệ mới nhanh chóng và dễ dàng hơn được nhà tuyển dụng ưa chuộng.
Biến số năm đi học có giá trị từ 0 đến 16, trong đó giá trị 16 thể hiện người lao động đã hoàn thành trình độ đại học Không có giá trị nào vượt quá 16, đồng nghĩa với việc không xét đến các bằng cấp thạc sĩ hay tiến sĩ, vì phân tích tập trung vào lao động nông nghiệp chứ không toàn bộ lực lượng lao động trong cả nước.
Biến tỷ lệ ăn theo thể hiện tỷ lệ người không lao động so với tổng số người trong hộ gia đình, phản ánh áp lực của gia đình lên những lao động nông nghiệp Chỉ số này đang được quan tâm để đánh giá xem áp lực phải nuôi dưỡng gia đình có ảnh hưởng ra sao đến quá trình chuyển đổi lao động Khi tỷ lệ này tăng cao, nghĩa là áp lực nuôi dưỡng người không lao động lớn hơn, đòi hỏi các lao động nông nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn trong việc duy trì sinh kế.
Về thu nhập từ nông nghiệp của hộ đương nhiên thu nhập từ nông nghiệp cao sẽ khuyến khích người nông dân gắn bó hơn với nông nghiệp.
Thu nhập trung bình hộ dùng để phản ánh mức thu nhập trung bình của các hộ có người lao động nông nghiệp vào năm 2004, ảnh hưởng đến khả năng chuyển đổi nghề nghiệp của lao động nông nghiệp Mức thu nhập trung bình của hộ giúp đánh giá sự khác biệt giữa hộ giàu và hộ nghèo, từ đó xác định hộ nào có khả năng chuyển nghề cao hơn Đây là yếu tố quan trọng trong việc xem xét xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp trong nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ gia đình.
Trong các hộ gia đình có diện tích đất canh tác hạn chế, việc có quá nhiều người lao động trong nông nghiệp có thể dẫn đến thiếu việc làm phù hợp Tỷ lệ lao động nông nghiệp cao tạo áp lực gia tăng số lượng lao động trong ngành này, tuy nhiên việc tạo thêm việc làm trong nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi các hộ phải tìm kiếm việc làm ngoài nông nghiệp để đảm bảo sinh kế Đào tạo nghề và tạo việc làm ổn định cho nông dân đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an sinh xã hội, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi đất đai do quá trình CNH-HĐH diễn ra mạnh mẽ Nhiều địa phương đã mở các lớp dạy nghề cho nông dân để nâng cao kỹ năng và tạo điều kiện chuyển đổi nghề nghiệp hiệu quả Việc học nghề trở thành vấn đề cấp thiết, góp phần nâng cao khả năng chuyển nghề của lao động nông thôn Trong phân tích biến học nghề, lao động chưa qua đào tạo (học nghề 1) đóng vai trò làm cơ sở so sánh khả năng chuyển nghề so với lao động đã qua đào tạo, qua đó ảnh hưởng đến chính sách giáo dục dạy nghề và quyết định mở rộng quy mô đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp.
Nước ta được chia thành 8 vùng kinh tế, mỗi vùng có điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau, tạo nên sự đa dạng và đặc trưng riêng biệt Các chỉ tiêu đánh giá phát triển vùng giúp so sánh sự tiến bộ của các khu vực trong quốc gia Đặc biệt, vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là những trung tâm kinh tế chủ lực của đất nước.
Kết quả ước lượng
Sau khi đã xác định xong được biến độc lập và biến phụ thuộc em tiến hành ước lượng bằng mô hình logit cho kết quả như sau
Bảng 3.2 Kết quả ước lượng
_cons -.0995935 3038965 -0.33 0.743 -.6952197 4960328 hocnghe4 5300203 3717524 1.43 0.154 -.198601 1.258642 hocnghe3 1.427113 5343539 2.67 0.008 379799 2.474428 hocnghe2 5633566 359177 1.57 0.117 -.1406173 1.267331 reg8 1090656 1464062 0.74 0.456 -.1778852 3960164 reg7 0926888 1866314 0.50 0.619 -.273102 4584797 reg6 -1.0113 2952639 -3.43 0.001 -1.590007 -.432594 reg5 0225574 1939773 0.12 0.907 -.3576311 4027458 reg4 -.8587279 1788326 -4.80 0.000 -1.209233 -.5082224 reg3 -1.098869 2758578 -3.98 0.000 -1.63954 -.5581978 reg2 -.7496774 163282 -4.59 0.000 -1.069704 -.4296505 xa135 -.6352498 1354036 -4.69 0.000 -.9006359 -.3698637 tyleantheo -.2504965 1061157 -2.36 0.018 -.4584794 -.0425136 tyleldnn -1.316787 2820105 -4.67 0.000 -1.869518 -.7640567 tntbho 0000419 0000178 2.35 0.019 6.96e-06 0000768 tnnn -.00003 5.66e-06 -5.30 0.000 -.0000411 -.0000189 age -.0264712 0036226 -7.31 0.000 -.0335714 -.019371 edu 0876184 0169304 5.18 0.000 0544354 1208013 sex 2831236 0965012 2.93 0.003 0939847 4722625 y2006 Coef Std Err z P>|z| [95% Conf Interval]
Log likelihood = -1519.0656 Pseudo R2 = 0.1035 Prob > chi2 = 0.0000
LR chi2(18) = 350.85 Logistic regression Number of obs = 4194
Y2006 = 1-@CLOGISTIC(-(-0.1 + 0.28*SEX + 0.09*EDU - 0.026*AGE - 0.00003*TNNN +0.00004*TNTBHO - 1.32*TYLELDNN - 0.25*TYLEANTHEO - 0.64*XA135 - 0.75*REG2 - 1.1*REG3 - 0.86*REG4 +0.02*REG5 - 1.01*REG6 + 0.09*REG7 + 0.11*REG8 + 0.56*HOCNGHE2 + 1.43*HOCNGHE3 + 0.53*HOCNGHE4))
Do các hệ số của các biến reg5,reg7,reg8,hocnghe2,hocnghe4 không khác 0 với mức ý nghĩa 5% nên ta viết lại mô hình:
Y2006 = 1-@CLOGISTIC(-(-0.1 + 0.28*SEX + 0.09*EDU - 0.026*AGE - 0.00003*TNNN +0.00004*TNTBHO - 1.32*TYLELDNN - 0.25*TYLEANTHEO - 0.64*XA135 - 0.75*REG2 - 1.1*REG3 - 0.86*REG4 - 1.01*REG6 +1.43*HOCNGHE3 ))
Nhận xét về mô hình
Dựa trên bảng ước lượng, các biến reg5, reg7, reg8, hocnghe2 và hocnghe4 đều không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%, cho thấy không ảnh hưởng đáng kể đến mô hình Trong khi đó, các biến còn lại đều đạt ý nghĩa thống kê, xác định được vai trò quan trọng trong phân tích Việc xác định biến có ý nghĩa giúp nâng cao độ chính xác của mô hình dự báo và tối ưu hóa chiến lược nghiên cứu.
-Dấu của các hệ số hoàn toàn phù hợp với thực tế
Kết quả ước lượng hoàn toàn phù hợp với các phân tích thống kê ở trên
Theo mô hình logit ảnh hưởng của biến Xk tới pi được tính bằng với Xk là các biến liên tục
Bảng 3.3: Tính ảnh hưởng biên trung bình của các biến độc lập lên biến y2006
Delta- method dy/dx Std Err z P>z
Conf Interval] edu 0.009681 0.001866 5.19 0 0.006024 0.013338 age -0.00298 0.000412 -7.25 0 -0.00379 -0.00218 tnnn -3.27E-06 6.18E-07 -5.29 0 -4.48E-06 -2.06E-06 tntbho 4.60E-06 1.94E-06 2.37 0.018 7.91E-07 8.42E-06 tyleldnn -0.14291 0.030954 -4.62 0 -0.20358 -0.08225 tyleantheo -0.02442 0.011658 -2.1 0.036 -0.04727 -0.00157
Từ bảng 3.2 và bảng 3.3 ta đưa ra một số nhận xét
Về biến giới tính (sex), nữ giới có xu hướng chuyển nghề ít hơn so với nam giới, phản ánh đặc tính sinh học của giới Nam giới thường thể hiện sự năng động, linh hoạt hơn trong lựa chọn nghề nghiệp, trong khi nữ giới ít có xu hướng thay đổi nghề nghiệp hơn do các yếu tố sinh học và xã hội Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của yếu tố sinh học đến hành vi nghề nghiệp của từng giới.
Tuổi càng cao thì khả năng chuyển đổi của người đó càng giảm, vì những người lớn tuổi thường có xu hướng giữ nguyên trạng hơn so với người trẻ Tuổi tác ảnh hưởng đến tâm lý và quyết định, khiến họ muốn ổn định và tránh rủi ro khi thay đổi môi trường hoặc công việc Do đó, tuổi tác là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng chuyển đổi và thích nghi trong cuộc sống cũng như công việc.
Những người có số năm đi học nhiều hơn thường sở hữu trình độ học vấn cao hơn và có xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp nhiều hơn so với những người có ít năm học tập Điều này cho thấy rằng trình độ học vấn nâng cao giúp người lao động linh hoạt hơn trong việc thay đổi lĩnh vực làm việc để phù hợp với sở thích và thị trường việc làm Vì vậy, việc đầu tư vào giáo dục không chỉ nâng cao kiến thức mà còn mở ra nhiều cơ hội nghề nghiệp mới, thúc đẩy sự thay đổi và phát triển cá nhân trong quá trình sự nghiệp.
Người được đào tạo nghề dài hạn có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp cao hơn so với người không được đào tạo nghề, giúp nâng cao cơ hội việc làm bền vững Trong khi đó, các hình thức đào tạo nghề ngắn hạn và trung học chuyên nghiệp dường như không mang lại sự khác biệt rõ rệt về khả năng chuyển đổi nghề nghiệp Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của các chương trình đào tạo nghề dài hạn trong việc nâng cao kỹ năng và tăng khả năng thích ứng của người lao động với thị trường lao động.
+ Về thu nhập từ nông nghiệp(tnnn): nếu thu nhập từ nông nghiệp càng cao thì làm giảm khả năng chuyển nghề của lao động
+ Về thu nhập trung bình của hộ (tntbho) có ảnh hưởng làm tăng khả năng chuyển đổi nghề
+ Về tỷ lệ lao động nông nghiệp trong gia đinh (tyleldnn): Tỷ lệ này càng cao thì càng làm giảm khả năng chuyển đổi nghề
Tỷ lệ người ăn theo trên số người có việc làm (tyleantheo) thể hiện gánh nặng kinh tế mà mỗi người lao động phải đối mặt Khi gánh nặng này càng lớn, tức là càng nhiều người phụ thuộc vào thu nhập của một cá nhân, thì khả năng chuyển nghề hoặc thay đổi công việc của người lao động càng giảm đi Điều này cho thấy rõ mối liên hệ giữa gánh nặng kinh tế và sự linh hoạt trong thị trường lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thích nghi và phát triển của người lao động trong điều kiện kinh tế hiện nay.
+ Xã 135 là những xã xa xôi, kinh tế kém pháp triển do vậy những người mà thuộc xã 135 ít có cơ hội, điều kiện để chuyển nghề hơn
Các vùng kinh tế ngoài vùng Đồng Bằng Sông Hồng, như Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, có khả năng chuyển nghề thấp hơn so với các vùng này Trong khi đó, các vùng còn lại cho thấy khả năng chuyển nghề tương đương nhau, cho thấy sự phân hóa về khả năng thích nghi nghề nghiệp giữa các vùng kinh tế của đất nước.
Một số kiểm định liên quan đến mô hình
3.5.1 Kiểm định về tính hợp lý của mô hình
Sau khi hoàn thiện mô hình, chúng ta tiến hành kiểm định tính hợp lý của mô hình bằng phương pháp kiểm định Log-Likelihood Các giả thiết để thực hiện kiểm định này bao gồm việc xác định mô hình phù hợp với dữ liệu và kiểm tra các giả thuyết về độ phù hợp của mô hình Việc kiểm định Log-Likelihood giúp đảm bảo mô hình phản ánh chính xác các mối quan hệ trong dữ liệu và hỗ trợ quyết định về việc chấp nhận hay loại bỏ mô hình.
H0: Mô hình đưa ra là hợp lý
H1: Mô hình được đưa ra không hợp lý
Sau khi tiên hành kiểm định, ta thu được kết quả sau:
Dựa trên kết quả phân tích, có thể kết luận rằng mô hình được xây dựng hợp lý và chính xác Các biến được đưa vào trong mô hình thể hiện ý nghĩa thực tế và có giá trị lý luận rõ ràng Điều này chứng minh rằng mô hình phản ánh đúng các yếu tố quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu Việc xác định các biến phù hợp góp phần nâng cao độ tin cậy và khả năng ứng dụng của mô hình trong thực tế.
3.5.2.Kiểm định về hệ số của các biến hocnghe
Từ bảng ước lượng, ta chỉ mới có thể so sánh khả năng chuyển đổi nghề của người học nghề ngắn hạn, dài hạn và trung học chuyên nghiệp so với người chưa qua đào tạo Tuy nhiên, chưa thể so sánh trực tiếp giữa các hình thức đào tạo này với nhau Để thực hiện so sánh các hệ số của các biến, chúng ta sử dụng kiểm định Wald Để thuận tiện hơn trong việc so sánh, ta sắp xếp hệ số của các biến học nghề theo thứ tự tăng dần, giúp dễ dàng nhận diện mức độ ảnh hưởng của từng loại hình đào tạo đối với khả năng chuyển đổi nghề.
Bảng 3.4: Hệ số của các biến hocnghe trong mô hình đã được sắp xếp theo thứ tự tăng dần từ trái sang phải hocnghe4 hocnghe2 hocnghe3
Kiểm định Wald như sau:
H 0 : β i =ββ j (Có thể coi khả năng chuyển nghề giữa các mức học nghề là như nhau)
H 1 : β i ≠ββ j (Khả năng chuyển nghề giữa các mức học nghề là khác nhau)
Bảng 3.5: Ma trận kiểm định sự bằng nhau của các hệ số học nghề hocnghe2 hocnghe3 hocnghe4
Dựa trên mức xác suất sau khi kiểm định sự bằng nhau của các hệ số, chúng ta có thể kết luận rằng không có đủ cơ sở để khẳng định hệ số của việc học nghề nào lớn hơn các hệ số còn lại Điều này cho thấy các hệ số liên quan đến các chương trình học nghề đều không khác biệt rõ ràng về mặt thống kê Kết luận này giúp đảm bảo tính công bằng và khách quan trong việc đánh giá hiệu quả các khóa học nghề khác nhau.
Chúng tôi kết luận rằng khả năng chuyển đổi nghề nghiệp giữa người học nghề ngắn hạn, học nghề dài hạn và trung học chuyên nghiệp là không có sự khác biệt rõ ràng Điều này cho thấy mọi đối tượng đều có cơ hội linh hoạt trong việc chuyển đổi ngành nghề phù hợp với nhu cầu và năng lực của bản thân Việc nâng cao kỹ năng và kiến thức của các nhóm học nghề này sẽ giúp gia tăng khả năng thích nghi và phát triển nghề nghiệp một cách bền vững, phù hợp với xu hướng thị trường lao động hiện nay.
3.5.3 Kiểm định về hệ số của các biến reg
Xem xét khả năng chuyển nghề giữa các vùng còn lại với nhau
Bảng3.6: Ma trận kiểm định sự bằng nhau của các hệ số của các vùng
H 0 : β i =ββ j (Có thể coi khả năng chuyển nghề giữa các vùng kinh tế là như nhau)
H 1 : β i ≠ββ j (Khả năng chuyển nghề giữa các vùng kinh tế là khác nhau)
Dựa trên các mức xác suất phân bố, ta có thể xác định các vùng có hệ số không khác nhau, bao gồm Đông Bắc – Tây Bắc, Đông Bắc – Bắc Trung Bộ và Đông Bắc – Tây Nguyên Các phân tích này giúp phân vùng rõ ràng các khu vực có khả năng biến đổi đồng đều, hỗ trợ cho các dự báo khí tượng và quy hoạch phát triển Việc kết hợp kết quả ước lượng với các mức xác suất này giúp nâng cao độ chính xác trong việc đánh giá xu hướng thời tiết và các hiện tượng bất thường xảy ra tại các vùng miền.
Tây Bắc – Bắc Trung Bộ
Nam Trung Bộ - Nam Bộ
Nam Trung Bộ - Đồng Bằng Sông Cửu Long
So với vùng Đồng Bằng Sông Hồng có vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung
Khả năng chuyển nghề của vùng Bộ và Tây Nguyên thấp hơn so với các vùng còn lại, trong khi các vùng khác có khả năng chuyển nghề tương đương nhau Để dễ dàng đánh giá sự khác biệt về khả năng chuyển nghề giữa các vùng lớn hơn hoặc nhỏ hơn, chúng ta có thể dựa trên dữ liệu trong bảng phân tích đi kèm Việc so sánh này giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng trong khả năng thích nghi nghề nghiệp của các khu vực khác nhau.
Bảng 3.7: Hệ số của các biến reg trong mô hình đã được sắp xếp theo thứ tự tăng dần từ trái sang phải
Vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ có khả năng chuyển nghề khá giống nhau, nhưng khác với các vùng như Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long Theo bảng 3.9, khả năng chuyển nghề của các vùng này thấp hơn so với các khu vực còn lại, thể hiện mức độ linh hoạt trong chuyển đổi ngành nghề còn hạn chế.
Vùng Nam Trung Bộ có khả năng chuyển đổi cao hơn so với người dân thuộc các vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên Trong khi đó, mức độ chuyển đổi của vùng này thấp hơn so với vùng Đồng Bằng Sông Hồng, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các khu vực về khả năng thích ứng và chuyển đổi.
Vùng Đồng Bằng Sông Hồng có số người chuyển đổi nghề nghiệp nhiều nhất trong các khu vực, cho thấy sự di chuyển lao động đáng kể tại đây Tiếp theo là các vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, Nam Trung Bộ, và Nam Bộ, thể hiện xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp ngày càng đa dạng Trong khi đó, các vùng Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, Tây Nguyên và Tây Bắc có tỷ lệ chuyển đổi nghề thấp hơn, phản ánh đặc thù kinh tế và cơ cấu lao động của từng khu vực Những số liệu này giúp hiểu rõ hơn về xu hướng phát triển của thị trường lao động theo từng vùng miền của Việt Nam.
Chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp của người lao động khác nhau tùy theo vùng Tại các trung tâm kinh tế lớn, nơi chính phủ đầu tư nhiều, người lao động ít có lý do để thay đổi nghề nghiệp Ngược lại, ở các vùng nghèo, do thiếu việc làm, họ thường quyết định chuyển đổi nghề nghiệp và di cư đến các khu vực phát triển hơn để cải thiện đời sống.
Các khu vực có cơ sở hạ tầng và sự phát triển chung tương đồng thường đối mặt với quá trình chuyển đổi nghề nghiệp mang tính tương tự nhau Ví dụ, vùng Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long có đặc điểm đất đai trù phú, màu mỡ, bằng phẳng, khiến cho lao động trong các khu vực này thường chuyển đổi nghề nghiệp một cách đồng bộ Trong khi đó, khu vực Tây Bắc Bộ và Tây Nguyên gồm các cao nguyên không bằng phẳng, phù hợp với trồng cây công nghiệp lâu năm, dẫn đến các lao động nông nghiệp ở đây ít chuyển đổi nghề hơn do đặc trưng của cây công nghiệp là cây lau năm, yêu cầu chăm sóc lâu dài.
3.5.4 Bảng sau đây cho phép đánh giá chất lượng dự báo của mô hình
Bảng 3.8: Tỷ lệ dự báo đúng của mô hình
False - rate for classified - Pr( D| -) 13.71%
False + rate for classified + Pr(~D| +) 51.72%
False - rate for true D Pr( -| D) 97.61%
False + rate for true ~D Pr( +|~D) 0.42%
Trong bài viết này, chúng tôi xác định ngưỡng cắt xác suất 0.5 để phân loại dự báo nghề nghiệp Cụ thể, những người có mức xác suất dự báo lớn hơn hoặc bằng 0.5 được coi là có khả năng chuyển nghề, trong khi những người có mức xác suất nhỏ hơn 0.5 được xem là không chuyển nghề Phương pháp này giúp đánh giá chính xác hơn về xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp dựa trên các yếu tố dự báo đã được xác định Việc sử dụng ngưỡng 0.5 là tiêu chuẩn phổ biến trong phân tích dự báo khi xác định ranh giới giữa các nhóm khác nhau của đối tượng nghiên cứu.
Mô hình dự báo có tỷ lệ chính xác đạt 86.03%, trong đó khả năng dự đoán đúng của nhóm không chuyển nghề là 99.58%, cho thấy độ chính xác cao trong việc dự đoán những người không chuyển nghề Tuy nhiên, tỷ lệ dự đoán đúng đối với nhóm chuyển nghề chỉ là 2.39%, cho thấy mô hình còn hạn chế trong việc xác định chính xác những người chuyển nghề Do đó, mô hình này hiệu quả trong việc dự báo những người không chuyển nghề hơn là dự báo người chuyển nghề.
3.5.5 Sử dụng đường hồi quy ROC để phân tích về tỉ lệ đúng của mô hình Đường hồi quy ROC như sau:
Bảng 3.9 trình bày Đường ROC, gồm hai phần chính: đường thẳng phân giác góc 45 độ thể hiện ước lượng chính xác, cho thấy nếu ước lượng đúng thì hệ số hồi quy sẽ nằm trên đường này Đường in đậm thể hiện đường hồi quy thực tế, phản ánh xác suất dự báo đúng của mô hình, trong đó phần nằm phía trên biểu thị những dự đoán sai lệch Tỷ lệ chính xác của ước lượng này đạt 73.22%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ thực tế, chứng tỏ các ước lượng phù hợp và đáng tin cậy trong thực tế.
Phân tích độ nhạy của mô hình
Đồ thị trên cho thấy với mức xác suất cắt khoảng 0.2 thì mô hình độ nhạy của dự báo và các giá trị đặc trưng là như nhau
Một vài kết luận rút ra từ mô hình
Việc chuyển nghề của lao động chịu tác động bởi nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn Thu nhập từ nông nghiệp và thu nhập bình quân của gia đình cũng ảnh hưởng đến khả năng chuyển nghề của người lao động Ngoài ra, điều kiện của địa phương nơi họ sinh sống, bao gồm vùng miền và xã, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thay đổi nghề nghiệp.
Kết quả ước lượng cho thấy nữ có khả năng chuyển nghề thấp hơn nam giới Người lao động trong độ tuổi từ 25 đến 40 có khả năng chuyển nghề cao nhất Số năm đi học càng nhiều giúp tăng khả năng chuyển nghề của lao động Thu nhập từ nông nghiệp và thu nhập bình quân của gia đình càng cao sẽ giảm khả năng chuyển nghề Những người sinh sống ở xã loại 1, 3, 5 có khả năng chuyển nghề thấp hơn so với các vùng khác Vùng Đồng Bằng Sông Hồng ghi nhận số người chuyển nghề nhiều nhất, tiếp theo là các vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và Nam Bộ.
0 00 0 25 0 50 0 75 1 00 S en si tiv ity /S pe ci fic ity
Trung Bộ, Nam Bộ, cuối cùng lần lượt là các vùng Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, TâyNguyên và Tây Bắc
Một số kết quả dự báo
Dưới đây là dự báo khả năng chuyển đổi nghề nghiệp của một người thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, không thuộc xã 135, có hơn 12 năm học, và trong độ tuổi từ 25 đến 40 Xác suất chuyển đổi nghề (p) cho người này đã được tính dựa trên các đặc điểm như tính cách, trình độ học vấn, môi trường sống và sở thích nghề nghiệp Các yếu tố như vùng đồng bằng sông Hồng, số năm học, và nhóm tuổi đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng chuyển đổi nghề của họ Kết quả dự báo cho thấy cơ hội thích nghi và thay đổi nghề nghiệp của người này có thể cao hoặc thấp tùy vào các đặc điểm cụ thể đã xét.