1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại Nhđt Pt Đông Đô.docx

65 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại NHĐT&PT Đông Đô
Trường học Nhà Hàng Đầu Tư & Phát Triển Đông Đô
Thể loại khóa luận
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 101,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Tình trạng nợ xấu ở các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ngày càng phức tạp, việc xử lý tình trạng nợ xấu vẫn như bài toá[.]

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Tình trạng nợ xấu ở các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay ngày càng phức tạp, việc xử lý tình trạng nợ xấu vẫn như bài toán hócbúa chưa có lời giải triệt để Một trong những nguyên nhân cơ bản của vấn đề này làcòn thiếu những quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng phùhợp với hoàn cảnh cụ thể của các NHTM Việt Nam và thông lệ, chuẩn mực quốc tế

Sự gia tăng các món nợ xấu tại các NHTM Việt Nam vẫn đang tiếp diễn theo chiềuhướng ngày một nhanh hơn Có rất nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng tài chínhsuy yếu với một nguyên nhân khá phổ biến là doanh nghiệp phải vay ngân hàng quámức trong khi vốn của mình lại đang bị chiếm dụng, các công trình thi công khôngđược thanh toán đúng hạn Thực tế đòi hỏi hệ thống NHTM Việt Nam phải hoànthiện phương pháp phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng để đáp ứng yêucầu nhận diện chính xác chất lượng tín dụng, xác định mức trích lập dự phòng đủ bùđắp sự suy giảm giá trị của các khoản cho vay, từ đó có thể đưa ra giải pháp xử lývấn đề nợ xấu một cách triệt để và thực hiện thành công việc chuyển đổi các báo cáotài chính theo chuẩn mực và hệ thống Kế toán Việt Nam dành cho cácNHTM( VAS) sang các báo cáo tài chính theo Chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS)hay nói khác đi là lập báo cáo tài chính tuân theo IAS

Đây là vấn đề có tính thời sự đang được các nhà lý luận và quản lý quan tâm

Trong qua trình học tập, nghiên cứu thực tế, em đã quyết định chọn đề tài “Hoàn

thiện nghiệp vụ trích lập dự phòng rủi ro theo Chuẩn mực Kế toán Quốc tế tại NHĐT&PT Đông Đô” với mong muốn được góp thêm một tiêng nói cho vấn đề

này

2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu và hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết cơ bản về trích lập dự phòng rủi

ro tín dụng của NHTM

Trên cơ sở phân tích thực trạng về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ở NHĐT&PTĐông Đô trong giai đoạn 2004-2006, rút ra những bất cập và tồn tại, từ đó đề xuất

Trang 2

các giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp trích lập dự phòng rủi ro tín dụng củacác NHTM ở Việt Nam theo Chuẩn mực Kế toán Quốc tế.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của NHTMViệt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế

 Phạm vi nghiên cứu:

Khoá luận chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn nghiệp vụ trích lập dự phòng rủi

ro tín dụng tại NHĐT&PT Đông Đô Trong những năm qua trên cơ sở các thông tin

số liệu của ngân hàng từ năm 2004 đến 2006 và các thông tin khác từ nội bộ ngânhàng

4. Phương pháp nghiên cứu khoá luận

Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu: duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử, thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích, đối chiếu…

5. Kết cấu khoá luận

Ngoài phần mở đầu,kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, bảng chữ viết tắt,khoá luận được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về nghệp vụ trích lập dự phòng rủi ro tíndụng của NHTM

Chương 2: Thực trạng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ở NHĐT&PT Đông

Đô trong giai đoạn 2004-2006

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ trích lập dự phòng rủi ro tín dụngcủa các NHTM theo Chuẩn mực Kế toán Quốc tế

Trang 3

1.1.1.1 Khái niệm và bản chất hoạt động cấp tín dụng của NHTM.

Thuật ngữ “tín dụng” (credit) xuất phát từ chữ la tinh là “credo”- có nghĩa là tintưởng, tín nhiệm Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ này được hiểu theo nhiều nghĩakhác nhau, ngay cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà thuậtngữ tín dụng có một nội dung riêng Vì vậy tuỳ theo góc độ nghiên cứu mà chúng ta

có thể xác định nội dung của thuật ngữ này

Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, tín dụng được xem xét như là một trongnhững chức năng cơ bản của Ngân hàng Vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức nănghoạt động của ngân hàng thì “Tín dụng” được hiểu là một giao dịch về tài sản ( tiềnhoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên

đi vay( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyểngiao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên

đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc là lãi cho bên cho vay khi đếnhạn thanh toán

Từ khái niệm trên ta thấy bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản và cónhững đặc trưng sau:

- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là chovay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản)

Trang 4

- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người

đi vay sử dụng phải có cơ sở đủ tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn

- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác làngười đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc

- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay đượccấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vôđiều kiện

1.1.1.2 Các hình thức cấp tín dụng của NHTM.

Để mở rộng hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của khách hàng, hiệnnay các NHTM không ngừng đa dạng các hình thức cấp tín dụng từ cho vay ngắntrung và dài hạn, bảo lãnh cho khách hàng, chiết khấu các giấy tờ có giá, mua các tàisản để cho thuê tài chính…Sau đây em xin trình bày một số hình thức cấp tín dụng

cơ bản

* Chiết khấu thương phiếu

Chiết khấu thương phiếu là việc người bán( hoặc người thụ hưởng) mang thươngphiếu đến ngân hàng để xin được chiết khấu trước hạn Đây là một hình thức cấp tíndụng của ngân hàng dựa trên sự tín nhiệm giữa ngân hàng va những người kí tên trênthương phiếu

* Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho kháchhàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theothoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Có các hình thức cho vay nhưsau:

- Thấu chi là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn qua đó ngân hàng cho phép người vayđược chi trội ( vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhấtđịnh và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là giới hạn thấu chi

- Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàngđối với những khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện

để được cấp hạn mức thấu chi

- Cho vay theo hạn mức là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấpcho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối

kì Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính

Trang 5

- Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá.Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn Ngân hàng sẽ cho vay để mua hàng vàthu nợ khi doanh nghiệp bán hàng.

- Cho vay trả góp là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trảgốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận

- Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Các tổchức trung gian thường là các tổ đội, hội , nhóm như nhóm sản xuất, hội nôngdân,hội cựu chiến binh, hội phụ nữ…

Cho thuê tài sản(thuê- mua) là hình thức cấp tín dụng bằng cách NHTM mua cáctài sản theo yêu cầu của khách hàng để cho khách hàng thuê Cho thuê tài chính đápứng nhu cầu thuê trong thời gian dài và người đi thuê có quyền mua lại tài sản thuêkhi hết hợp đồng thuê

Bảo lãnh ( tái bảo lãnh)

Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh

về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi kháchhàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết Có các loại bảo lãnh sau:

- Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư (hay chủ thầu) về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm cácquy định trong hợp đồng dự thầu

- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thấtthay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết,gây tổn thất cho bên thứ ba

- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay (bảo lãnh vay vốn) là cam kết của ngânhàng đối với người cho vay (tổ chức tín dụng, các cá nhân…) về việc sẽ trả gốc vàlãi đúng hạn nếu khách hàng ( người đi vay không trả được)

- Bảo lãnh đảm bảo thanh toán là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toántiền theo đúng hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngânhàng không thanh toán đủ

1.1.1.3 Quy trình cấp tín dụng

 Khái quát về nội dụng nghiệp vụ tín dụng của NHTM

Nội dung nghiệp vụ tín dụng của NHTM được thểhiện một cách cụ thể trong cácbước của quy trình tín dụng Vì vậy, phân tích nội dung của nghiệp vụ tín dụng thực

Trang 6

chất là việc tìm hiểu quy trình tín dụng Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyêntắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng.

 Sơ đồ tổng quát về quy trình cấp tín dụng:

Việc cấp tín dụng được coi là một hoạt động kinh doanh đặc biệt quan trọngcủa NHTM và xem đây như một thể thống nhất của hàng loạt hoạt động tác nghiệpcủa nhiều người và có quan hệ đến hệ thống kiểm soát của NHTM và các cơ quanquản lý ngân hàng Từ đó có cách phân chia mà theo đó quy trình tín dụng được chia

thành những giai đoạn sau: lập hồ sơ xin cấp tín dụng; phân tích tín dụng; quyết

định tín dụng; giải ngân ; giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng Các bước của một

quy trình tín dụng được thể hiện trong sơ đồ tổng quát sau:

2 Phân tích tín dụng - Hồ sơ vay từ giai

đoạn 1 chuyển sang.

- Các thông tin bổ sung từ phỏng vấn,

hồ sơ lưu trữ…

Tổ chức thẩm định về các mặt tài chính và phi tài chính do các cá nhân hoặc

bộ phận thẩm định thực hiện.

Báo cáo kết quả thẩm định để chuyển sang

bộ phận có thẩm quyền và quyết định cho vay.

3 Quyết định tín

dụng. - Các tài liệu vàthông tin từ giai đoạn

2 chuyển sang và báo cáo kết quả thẩm định

- Các thông tin bổ sung.

Quyết định cho vay hoặc từ chối của cá nhân hoặc hộ được giao quyền phán quyết.

- Quyết định cho vay hoặc từ chối.

- Tiến hành các thủ tục pháp lý như ký hợp đồng tín dụng, các hợp đồng khác

4 Giải ngân -Quyết định cho vay

và các hợp đồng liên quan.

- Các chứng từ làm

cơ sở giải ngân.

Thẩm định các chứng từ theo các điều kiện của hợp đồng tín dụng.

Chuyển tiền vào tài khoản tiền gửi cho khách hàng hoặc chuyển trả cho đơn vị cung cấp

-Các thông tin khác

- Phân tích hoạt động tài khoản, các báo cáo tài chính, kiểm tra cơ sở của khách hàng.

- Lập các thủ tục để thanh lý tín dụng.

Nguồn: giáo trình tín dụng ngân hàng- Học viện Ngân hàngCách phân đoạn như trên tạo điều kiện cho việc xác định rõ ràng các thao tácnghiệp vụ ở mỗi giai đoạn và phân định trách nhiệm cho các nhân viên thực hiện

Trang 7

Theo sơ đồ trên, các giai đoạn có mối quan hệ qua lại hỗ trợ nhau Kết quả của giaiđoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn tiếp theo và tác động đến chất lượng côngviệc của giai đoạn sau.

- Giai đoạn thứ nhất tạo nguồn thông tin khởi đầu cho giao dịch của khách hàngvới ngân hàng, hình thành những cơ sở pháp lý ban đầu cho quan hệ tín dụng saunày

- Giai đoạn thứ hai đặc biệt quan trọng, bởi vì một khách hàng/khoản tín dụngđược định hình và định tính thoả đáng hay không chủ yếu là trong giai đoạn này

- Giai đoạn thứ ba chiếm vị trí quan trọng nhất trong toàn bộ quy trình tín dụng

vì ra quyết định chính xác giúp cho NHTM tránh được những bất trắc hoặc thiệt hạingoài mong đợi có thể xảy ra sau này

- Giai đoạn thứ tư, thứ năm chỉ được thực hiện khi NHTM chấp nhận cấp tíndụng cho khách hàng Đây là giai đoạn thể hiện hàng loạt các thao tác nghiệp vụ ởcác vị trí khác nhau tại ngân hàng Tại giai đoạn này tổ chức thực hiện đồng bộ vàhiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào kết quả của giai đoạn ba và trình độ tácnghiệp và kiểm soát của nhân viên và nhà quản trị ngân hàng

 Việc xây dựng các quy trình tín dụng hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệuquả của hoạt động quản trị nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao doanh lợi choNHTM Về khía cạnh quản trị, việc xây dựng quy trình tín dụng hợp lý sẽ có các tácdụng sau:

- Dựa vào quy trình tín dụng , NHTM sẽ thiết lập các thủ tục hành chính chophù hợp với những quy định của luật pháp và đảm bảo mục tiêu an toàn trong kinhdoanh

- Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc xây dựng một mô hình tổ chức thíchhợp tại NHTM

- Quy trình tín dụng là quy phạm nghiệp vụ bắt buộc thực hiện trong nội bộ mộtNHTM và thường được in thành văn bản, hoặc sổ tay nhằm hướng dẫn việc thựchiện thống nhất những nghiệp vụ tín dụng tại ngân hàng

- Quy trình tín dụng là cơ sở để kiểm soát tiến trình cấp tín dụng và điều chỉnhchính sách tín dụng cho phù hợp với thực tiễn

Trang 8

1.1.2 Rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM

1.1.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng của NHTM.

Tín dụng là một trong những hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất trong cáchoạt động kinh doanh ngân hàng Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm rủi

- Rủi ro tín dụng là rủi ro khi tài sản hoặc khoản vay của NHTM trở thànhkhông thể truy đòi được đối với trường hợp hoàn toàn không trả được nợ, hay là rủi

ro từ việc thanh toán nợ vay chậm hơn so với thời hạn vay quy định trong hợp đồngtín dụng

Qua ba cách định nghĩa rủi ro tín dụng ở trên ta thấy được bản chất của rủi rotín dụng là cả hai trường hợp không trả được nợ vay và chậm trả các khoản nợ sovới thời hạn vay quy định trong hợp đồng tín dụng đều làm suy giảm giá trị hiện tạitài sản có của ngân hàng, do vậy mà làm giảm đi khả năng thanh toán của NHTM

là quản trị rủi ro tín dụng Việc quản trị rủi ro tín dụng đòi hỏi phải có “triết lý tíndụng” rõ ràng nhằm đặt ra những mức độ ưu tiên về quản lý đối với từng thị trường.Triết lý tín dụng của ngân hàng có thể là sự tập trung vào việc thực hiện thống nhấtdanh mục cho vay với chất lượng cao nhất dựa trên những tiêu chuẩn đảm bảo mangtính chặt chẽ hoặc có thể là sự tập trung vào mở rộng thị phần một cách mạnh mẽ vớinhững tiêu chuẩn đảm bảo linh hoạt Triết lý cho vay của ngân hàng được hình thành

Trang 9

trong chính sách cho vay chính thức bằng văn bản Sau đó, triết lý tín dụng và chínhsách cho vay phải được hỗ trợ và trao đổi bởi một văn hoá tín dụng hợp lý Một vănhoá cho vay hiệu quả tồn tại khi hành vi thực tế của tất cả các cá nhân trong tổ chứctín dụng tương tự với suy nghĩ của lãnh đạo Cuối cùng văn hoá tín dụng được phảnánh trong các hệ thống và thủ tục của tổ chức cho vay để thực hiện suy nghĩ của lãnhđạo và giảm thiểu lỗi và các quyết định cho vay chất lượng kém.

- Quản trị rủi ro tín dụng có thể được chia làm bốn bước như sau:

Xác định và nhận dạng rủi ro: Bước này đối với hoạt động tín dụng được hiểu là quátrình đánh giá thẩm định, giám sát khoản vay của NHTM hay chính là nội dung

bước hai và bước năm của quy trình tín dụng đã được đề cập ở mục 1.1.1.3 Ở đây

chỉ nêu ra khái quát một số nguyên nhân thông thường dẫn đến rủi ro tín dụng như:+ Đánh giá quá cao và không quản lý hợp lý tài sản thế chấp, không thể đánhgiá được

+ Giải ngân trước khi hoàn thành chứng từ

+ Cán bộ tín dụng thực hiện khoản vay một cách không hợp lý, bỏ qua uỷ bancho vay, chỉ dựa vào quan hệ giữa cán bộ tín dụng và người đi vay

+ Khoản vay thực hiện với doanh nghiệp mới có chủ sở hữu - người lãnh đạothiếu kinh nghiệm

+ Cho vay mới đối với giá trị cao hơn nhưng không có thêm tài sản thế chấp.+ Đảo nợ để trả khoản nợ lãi

+ Không phân tích lưu chuyển tiền mặt và khả năng trả nợ của người vay

+ Cán bộ tín dụng không thể kiểm tra tình trạng khoản vay thường xuyên

+ Vốn không được sử dụng như dự kiến, chuyển sang sử dụng vào mục đích cánhân của người đi vay( không cố gắng xác định mục đích xin vay của khách hàngvay)

+ Vốn được sử dụng ngoài khu vực thị trường thông thường của ngân hàng,chất lượng trao đổi thông tin với khách hàng kém

+ Kế hoạch trả nợ không rõ ràng và không được quy định bằng văn bản

+ Không thể nhận hoặc không thường xuyên báo cáo tài chính của người đivay

Trang 10

+ Không quản lý được tài sản thế chấp vì người vay gây khó khăn về mặt pháplý.

+ Ngân hàng không tuân theo những chính sách và thủ tục chính thức của mình.+ Chủ tịch ngân hàng quá độc đoán trong việc thông qua khoản vay

+ Bỏ qua tình trạng thấu chi, không coi đó là một tín hiệu của vấn đề tài chínhchủ yếu của người vay

+ Không thể thanh tra tài sản kinh doanh của người đi vay

+ Cho vay dựa trên giá trị sổ sách giả của doanh nghiệp, không kiểm toán vàxác minh báo cáo tài chính của người vay

+ Không thể thu thập hoặc bỏ qua những báo cáo của văn phòng thông tin tíndụng hoặc những nguồn tham khảo tín dụng khác

+ Không thể đòi lại khoản vay hoặc nhanh chóng bù đắp bằng tài sản thế chấpkhi tình trạng suy giảm trở nên không thể cứu vãn

Mặc dù không phải tất cả những lý do trên đều trực tiếp liên quan đến chứcnăng cho vay của ngân hàng , nhưng chúng gây nên sự điều chỉnh trong danh mụccho vay, nguồn gốc của rủi ro tín dụng của NHTM

- Đo lường rủi ro: Để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong các quyết định chovay, các ngân hàng cần có các phương pháp nhằm xác định khả năng trả nợ củakhách hàng Các nhà kinh tế, các ngân hàng và các nhà phân tích đã sử dụng nhiều

mô hình khác nhau để đánh giá rủi ro tín dụng cho các khoản tín dụng Dưới đây làmột số mô hình tiêu biểu:

+ Mô hình chất lượng: trong trường hợp các thông tin có liên quan đến chấtlượng người vay vốn không được công bố rộng rãi , các NHTM phải thu thập thôngtin từ các nguồn đơn lẻ như các hồ sơ về tín dụng và tiền gửi, hoặc mua thông tin từcác nguồn bên ngoài như các tổ chức phân loại và đánh giá khách hàng Nhữngthông tin này giúp NHTM đánh giá xác suất rủi ro của người đi vay và trên cơ sở đóđịnh giá các khoản vay hoặc các khoản nợ một cách chính xác Các yếu tố cần thuthập và xử lý có thể được chia làm hai nhóm: các yếu tố liên quan đến người đi vayvốn ( danh tiếng, cơ cấu vốn, mức độ biến động của thu nhập, tài sản thế chấp); cácyếu tố liên quan đến thị trường( chu kì kinh doanh, mức lãi suất)

Trang 11

+ Các mô hình tính điểm tín dụng : thường sử dụng các số liệu phản ánh đặcđiểm của người vay để tính toán xác suất của rủi ro tín dụng hoặc để phân loại kháchhàng căn cứ vào mức độ rủi ro được xác định Mô hình tính điểm tín dụng được bao

gồm bốn loại sau: mô hình xác suất tuyến tính; mô hình logít, mô hình probit, mô

hình phân biệt tuyến tính Bằng việc lựa chọn và kết hợp các đặc điểm tài chính và

kinh doanh của người vay, các tổ chức tín dụng có thể xác định mức ảnh hưởng củacác nhân tố đến rủi ro tín dụng, có căn cứ chính xác hơn trong việc sàng lọc các đơnxin vay, tính toán chính xác hơn mức dự trữ cần thiết cho các rủi ro tín dụng

Thực tế các mô hình trên đây không hề loại trừ lẫn nhau, nên NHTM có thể

sử dụng nhiều mô hình để phản ánh rủi ro tín dụng từ nhiều góc độ khác nhau Điểmmấu chốt này trong phương pháp luận về đo lường rủi ro tín dụng cũng chính là điềucốt lõi được đề cập trong IAS 39, và đây cũng là vấn đề được đề cập trong khoá luậnnhằm đưa ra những kiến nghị làm cơ sở sửa đổi phương pháp trích lập dự phòng rủi

ro tín dụng của NHTM ở Việt Nam

- Điều tiết rủi ro tín dụng

Thực chất của việc điều tiết rủi ro là đối phó với rủi ro Để đối phó với rủi rotín dụng, chúng ta có hai nhóm biện pháp cơ bản sau đây:

+ Nhóm biện pháp điều tiết rủi ro tín dụng chủ động(là những biện pháp đểphân tán và hạn chế rủi ro tín dụng) bao gồm: biện pháp đưa ra hạn mức tín dụng đốivới khách hàng và hạn mức tín dụng thuộc quyền phán quyết của cán bộ tín dụng,các cấp cán bộ quản trị ngân hàng , đa dạng hoá danh mục đầu tư để phân tán rủi ro;biện pháp tăng cường hoạt động dịch vụ ít rủi ro của NHTM để tăng thu nhập thaythế cho hoạt động tín dụng chứa nhiều rủi ro; sử dụng các công cụ tài chính phái sinh+ Nhóm biện pháp điều tiết rủi ro tín dụng thụ động (là việc tăng cường khảnăng chịu đựng rủi ro của NHTM) bao gồm: biện pháp tăng vốn tự có của NHTM;biện pháp dự phòng rủi ro tín dụng đầy đủ; biện pháp tăng cường lợi nhuận để lạihàng năm

Như vậy, có thể thấy nghiệp vụ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là biện phápđiều tiết rủi ro tín dụng thuộc nhóm biện pháp thụ động Tính thụ động này là nguồngốc của tính chất chưa xác định của các khoản dự phòng rủi ro tín dụng hay nói cách

Trang 12

khác là những khoản này không chắc chắn về mặt thời gian hoặc giá trị Vì vậy, sựphức tạp trong việc đưa ra cách trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là không thể tránhkhỏi.

- Giám sát rủi ro: mỗi khi rủi ro tín dụng phát sinh, cho dù ở đâu, nguyên nhânnào, trong lĩnh vực hoạt động nào thì nó cũng phải được nhận diện kịp thời, phải cóbút toán vào sổ sách theo dõi thích hợp, sau đó được giám sát, theo dõi diễn biến chặtchẽ và có biện pháp xử lý thích hợp

Phân tích và làm rõ bản chất của nghiệp vụ tín dụng của NHTM và rủi ro tíndụng là cơ sở để nghiên cứu vấn đề quan trọng là nghiệp vụ trích lập dự phòng rủi rotín dụng của NHTM

1.2 Nghiệp vụ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của NHTM.

1.2.1 Khái niệm về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng:

Theo quan điểm về dự phòng rủi ro tín dụng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế

số 39 (IAS 39) thì Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là biện pháp phòng ngừa rủi

ro tín dụng bằng cách xác định và trích lập ra một khoản tiền dự phòng để bù trừ các thay đổi về giá trị khấu hao và lưu chuyển tiền tệ của những khoản cho vay được trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

Khoản tiền dự phòng ở trong khái niệm trên là khoản tiền dự phòng rủi ro tín

dụng cho các khoản tín dụng nội bảng( không bao gồm các khoản tín dụng ngoại

bảng) Theo quan điểm của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 37(IAS 37) thì Một

khoản dự phòng rủi ro tín dụng ngoại bảng là một khoản nợ của tổ chức tín dụng phải trả có giá trị và thời gian không chắc chắn Các khoản dự phòng rủi ro tín dụng

ngoại bảng có thể được phân biệt với các khoản nợ phải trả khác như lãi dự trả, phảitrả trích trước do có sự không chắc chắn về thời gian và giá trị của khoản thanh toántrong tương lai Nhìn chung, tất cả các khoản dự phòng đều mang tính chất chưa xácđịnh bởi vì những khoản này không chắc chắn về mặt thời gian và giá trị Tuy nhiên,trong phạm vi đề tài này, thuật ngữ “ Chưa xác định – contingent” được sử dụng chocác khoản nợ và tài sản không được ghi nhận do:

- Sự tồn tại của những khoản tài sản và nợ phải trả này sẽ được xác nhận bởinhững sự kiện không chắc chắn và không thể kiểm soát được trong tương lai

Trang 13

- Chúng không đáp ứng các tiêu chí cho việc ghi nhận.

Giá trị khấu hao (Amortised cost): Là giá trị của tài sản hoặc công nợ tài chính ghi

nhận ban đầu trừ các khoản thanh toán tiền gốc nếu có, cộng hoặc trừ các khoảnkhấu hao luỹ kế của phần chênh lệch giữa giá trị ghi nhận ban đầu và giá trị đáo hạn

và trừ đi các khoản giảm giá trị do giảm giá hoặc không thể thu hồi được

Lưu chuyển tiền tệ trong khái niệm trên là các luồng tiền vào trong tương lai có thể

thu được từ khoản cho vay Để trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, các luồng tiền này

sẽ được đưa về hiện tại bằng phương pháp chiết khấu luồng tiền (cashflow discount)

và sử dụng lãi suất chiết khấu là lãi suất thực tế (effective interest rate) Phương pháp

này còn được gọi là Phương pháp lãi suất thực tế (effective interest method) –

phương pháp tính khấu hao dựa trên lãi suất thực tế của tài sản hoặc công nợ tàichính

Lãi suất thực tế (effective interest rate): Là lãi suất sẽ chiết khấu chính xác trở về giá

trị thuần ghi sổ hiện tại của tài sản hay công nợ tài chính các luồng thanh toán tiềnmặt dự kiến trong tương lai cho tới ngày đáo hạn hoặc ngày định giá kế tiếp giá trịthị trường

Theo quan điểm về dự phòng rủi ro tín dụng của Chuẩn mực Kế toán ViệtNam(VAS) thì trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là biện pháp phòng ngừa rủi ro tíndụng bằng cách trích lập một khoản tiền để dự phòng những tổn thất có thể xảy ra dokhách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòngrủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tíndụng

1.2.2 Tính tất yếu của việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của NHTM.

Như vậy, hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh ngân hàng nóichung luôn gắn liền với rủi ro Rủi ro tín dụng tồn tại không chỉ giới hạn ở hoạt độngcho vay truyền thống mà còn tiềm ẩn ở các hoạt động mang tính chất tín dụng khácnhư bảo lãnh,L/C, cho thuê tài chính và các nghiệp vụ phái sinh khác

Ngày nay, hoạt động tín dụng trong ngân hàng vẫn là hoạt động kinh doanhchiếm tỷ trọng lớn nhất Tỷ trọng cho vay trên tổng tài sản bình quân của các NHTMViệt Nam luôn chiếm từ 60- 70% Điều này được thể hiện trong bảng dưới đây

Trang 14

Bảng 1.1 Tỷ trọng dư nợ cho vay trên tổng tài sản của một số NHTM Việt Nam

Vì thế, rủi ro tín dụng là vấn đề được đặc biệt quan tâm không chỉ trong phạm

vi một NHTM đơn lẻ mà kể cả trong toàn bộ nền kinh tế

Muốn hạn chế rủi ro tín dụng đòi hỏi phải quản trị rủi ro tín dụng Trong quảntrị rủi ro tín dụng có hai nhóm biện pháp là chủ động và thụ động Chủ động đối phóvới rủi ro là tốt nhưng đối với loại hình rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn nhiều yếu tốkhông xác định thì việc áp dụng nhóm biện pháp chủ động không thôi là chưa đủ.Trong thực tế, không một NHTM nào có thể tính toán đo lường được một cáchchính xác tuyệt đối những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng của mình để

mà chủ động quản trị chúng Vì vậy, để hỗ trợ tích cực cho việc quản trị rủi ro tíndụng , các NHTM cần phải có những khoản dự trữ bù đắp cho các khoản tổn thất cóthể xảy ra này, hay nói cách khác các NHTM cần phải lập dự phòng rủi ro tín dụngcho chính mình Có thể nói trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là một “điều kiện đủ”

để các NHTM giải được “phương trình quản trị rủi ro tín dụng” của mình

Thông qua nghiệp vụ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng , các NHTM khôngchỉ củng cố vững chắc việc quản trị rủi ro tín dụng của mình mà còn gián tiếp gópphần đảm bảo sự ổn định, tăng trưởng và phát triển của toàn bộ nền kinh tế

Trang 15

1.2.3 Nội dung nghiệp vụ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo Quyết định

493/2005/ QĐ – NHNN

Đối tượng được trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

Là các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam trừ ngân hàng chính sách Xã hội,phải thực hiện việc trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụngtrong hoạt động ngân hàng

Trường hợp chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam muốn thực hiệnviệc trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo quy định của Ngân hàng nướcngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải trình NHNN chính sách trích lập dựphòng của ngân hàng nước ngoài để xem xét quyết định Chi nhánh ngân hàng nướcngoài chỉ được phép thực hiện việc phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi rotín dụng theo quy định của Hội sở chính Ngân hàng nước ngoài sau khi được NHNNchấp thuận bằng văn bản

Thời điểm trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

Theo điều 3 của quyết định 493/2005/QĐ- NHNN thì thời điểm trích lập dựphòng rủi ro tín dụng được quy định như sau:

- Ít nhất mỗi quý một lần, trong thời gian 15 ngày làm việc đầu tiên của thángtiếp theo, tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ gốc và trích lập dự phòng rủi rođến thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng của quý ( tháng) trước

- Riêng đối với quý IV, trong thời gian 15 ngày làm việc đầu tiên của tháng 12

tổ chức tín dụng thực hiện việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro đến thờiđiểm cuối ngày 30 tháng 11

Các loại dự phòng rủi ro tín dụng.

Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN ra đời ngày 22 tháng 4 năm 2005, là bước ngoặt

về việc ban hành quy định về trích lập dự phòng rủi ro của NHNN NHNN đã cóbước tiến xa, gần hơn với chuẩn mực Kế toán Quốc tế về trích lập dự phòng rủi rotín dụng Theo quyết định 493 thì dự phòng rủi ro tín dụng gồm hai loại dự phòng

Đó là dự phòng chung và dự phòng cụ thể

Trang 16

- Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể cáckhoản nợ để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra Tại điều 8 trong quyết định

493 quy định số tiền dự phòng cụ thể phải trích được tính theo công thức sau:

R= Max { 0, (A- C)} rTrong đó: R :Số tiền dự phòng cụ thể phải trích

A: Giá trị của khoản nợC: Giá trị của tài sản đảm bảor: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thểTrong đó: giá trị của tài sản đảm bảo (C) được xác định trên cơ sở tích số giữa

tỷ lệ áp dụng với:

- Giá trị thị trường của vàng

- Mệnh giá của trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, và các loại giấy tờ cógiá của các tổ chức tín dụng

- Giá trị thị trường của Chứng khoán của Doanh nghiệp và của các TCTD khác

- Giá trị của tài sản đảm bảo là động sản, bất động sảnvà các tài sản bảo đảmkhác ghi trên hợp đồng bảo đảm, hợp đồng cho thuê tài chính

Tỷ lệ tối đa áp dụng để xác định giá trị của tài sản bảo đảm được quy định nhưsau:

Số dư trên tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm bằng đồng

Việt Nam tại TCTD

100%

Tín phiếu kho bạc,vàng, số dư trên tài khoản tiền gửi,

Sổ tiết kiệm bằng ngoại tệ tại các TCTD

95%

Trang 17

Trái phiếu Chính phủ:

- Có thời hạn còn lại từ một năm trở xuống

- Có thời gian từ 1 đến 5 năm

- Có thời hạn còn lại trên 5 năm

Bất động sản ( gồm: nhà ở của dân có giấy tờ hợp

pháp hoặc bất động sản gắn liền với quyền sử dụng

Theo quy định tại điều 9 của quyết định 493/2005/QĐ- NHNN thì khoản tiền tổchức tín dụng thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trịcủa các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 và các khoản cam kết ngoại bảng

 Cơ sở trích lập dự phòng

Cơ sở trích lập dự phòng rủi ro tín dụng không chỉ là thời gian quá hạn của khoản nợ

mà còn kèm theo sự đánh giá về khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi đối với kháchhàng vay Do đó việc trích lập dự phòng rủi ro theo quyết định 493 trở lên chính xáchơn, hiệu quả hơn cho việc phòng chống những rủi ro tín dụng có thể xảy ra đối vớingân hàng Quyết định này đưa ra hai sự lựa chọn về việc phân loại tài sản Có tríchlập dự phòng rủi ro tín dụng cho các ngân hàng

1.2.3.1 Sự lựa chọn thứ nhất: các NHTM có thể phân loại nợ và trích lập dự phòng

rủi ro tín dụng như sau:

 Nhóm 1 ( Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ

cả gốc và lãi đúng thời hạn

Trang 18

- Các khoản nợ mà khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn đã được

cơ cấu lại tối thiểu trong vòng một năm đối với các khoản nợ trung và dài hạn , 3tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn và được TCTD đánh giá là có khả năng trả đẩy

đủ nợ gốc và lãi đúng hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại

 Nhóm 2 ( Nợ cần chú ý) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn trước 90 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu

lại

- Các khoản nợ còn trong hạn của một khách hàng nhưng do có một khoản nợ

bất kỳ đã phân vào nhóm 2

Các khoản nợ mà TCTD có đủ cơ sở đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng

bị suy giảm và TCTD quyết định phân vào nhóm 2

 Nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn

đã cơ cấu lại

- Các khoản nợ còn lại chưa thuộc nhóm 3 của một khách hàng nhưng do cómột khoản nợ bất kỳ được phân vào nhóm 3

- Các khoản nợ mà TCTD có đủ cơ sở đánh giá là khả năng trả nợ của kháchhàng bị suy giảm và cần phân vào nhóm nợ 3

 Nhóm 4( nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thờihạn đã cơ cấu lại

- Các khoản nợ còn lại chưa thuộc nhóm 4 của một khách hàng nhưng do cómột khoản nợ đã phân vào nhóm 4

 Nhóm 5( nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

- Các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý

Trang 19

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn

đã cơ cấu lại

- Các khoản nợ còn lại chưa phân vào nhóm 5 của một khách hàng nhưng do

có một khoản nợ đã bị phân vào nhóm 5

1.2.3.2 Sự lựa chọn thứ hai: Đối với các tổ chức tín dụng cơ đủ khả năng và điều

kiện thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính thì tiến hành phân loại nợtheo phương pháp này Để thực hiện phân loại nợ theo phương pháp này đòi hỏiTCTD phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, và hệ thông xếp hạng tíndụng chỉ được thực hiện sau khi được sự chấp thuận của NHNN Hàng năm TCTDphải thực hiện đánh giá lại hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dựphòng rủi ro để phù hợp với tình hình thực tế và các quy định của pháp luật Nhữngsửa đổi điều chỉnh chính sách dự phòng rủi ro tín dụng phài được NHNN chấp thuậnbằng văn bản

Cụ thể các nhóm nợ được phân loại như sau:

 Nhóm 1 ( Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ được đánh giá là có khảnăng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi đúng hạn

 Nhóm 2 ( Nợ cần chú ý) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khảnăng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năngtrả nợ

 Nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh gíá làkhông có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Và được đánh giá là có khảnăng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

 Nhóm 4 ( nợ nghi ngờ) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năngtổn thất cao

 Nhóm 5(nợ có khả năng mất vốn) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá

là không còn khả năng thu hồi, mất vốn

Trong cả hai sự lựa chọn trên thì tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cụ thể đối với cácnhóm nợ đều như sau:

Trang 20

Nhóm 3( nợ dưới tiêu chuẩn) 20

- Trích lập dúng thời điểm quy định

- Trường hợp số tiền phải trích lập dự phòng lớn hơn số tiền dự phòng hiện cóthì tổ chức tín dụng phải trích thêm phần chênh lệch thiếu

- Trường hợp số tiền dự phòng phải trích lập nhỏ hơn số tiền dự phòng hiện cònthì TCTD phải hoàn lại phần chênh lệch thừa để giảm số tiền dự phòng đã trích

1.3 Nội dung nghiệp vụ trích lập dự phòng rủi ro theo IAS 39.

1.3.1 Những yêu cầu của IAS 39.

IAS 39 là chuẩn mực kế toán Quốc tế quy định về ghi nhận và xác định giá trịcông cụ tài chính, trong đó có quy định về việc trích lập dự phòng rủi ro giảm giá trịcông cụ tài chính ( bao gồm cả các khoản cho vay) IAS 39 – phiên bản ngày31/3/2004 quy định rằng khi đến ngày lập bảng tổng kết tài sản, các doanh nghiệpcần phải đánh giá xem xét các dấu hiệu, bằng chứng khách quan về sự suy giảm giátrị của một hoặc một nhóm tài sản tài chính của mình Nếu có bằng chứng kháchquan về sự suy giảm giá trị xuất hiện thì các doanh nghiệp cần phải xác định đượcgiá trị suy giảm là bao nhiêu?

Một hoặc một nhóm các tài sản tài chính bị suy giảm giá trị và những khoản

lỗ do suy giảm giá trị được ghi nhận khi và chỉ khi có những bằng chứng khách quanxuất hiện sau lần ghi nhận đầu tiên của tài sản Và sự suy giảm giá trị này phải cóảnh hưởng đến luồng tiền vào dự kiến trong tương lai của một hoặc một nhóm cáctài sản tài chính này với mức độ có thể đo lường được một cách tin cậy Thực tế, rất

có khả năng sẽ không thể xác định được những sự kiện riêng rẽ, đơn lẻ gây nên sựsuy giảm giá trị của tài sản tài chính Tổn thất dự tính do những sự kiện trong tươnglai sẽ không được ghi nhận dưới bất kỳ hình thức nào Những bằng chứng khách

Trang 21

quan về sự suy giảm giá trị của một hoặc một nhóm các tài sản tài chính là những dữliệu có thể quan sát được dành cho những người nắm giữ tài sản Chúng bao gồmnhững dấu hiệu sau đây:

- Người vay gặp phải những khó khăn nghiêm trọng về tài chính

- Người vay vi phạm hợp đồng tín dụng Ví dụ như trường hợp người vaykhông thanh toán gốc hoặc lãi vay đúng hạn

- Người cho vay gia hạn nợ cho người đi vay bởi những lý do về mặt pháp lýhay kinh tế có liên quan tới việc tình hình tài chính của người đi vay gặp phải khókhăn

- Người đi vay sắp bị phá sản hoặc phải tiến hành cải tổ về tài chính

- Thị trường hoạt động của công cụ tài chính biến mất do những khó khăn vềmặt tài chính của người phát hành công cụ tài chính đó

- Những dữ liệu có thể nhận biết được cho thấy có sự suy giảm có thể đo lườngđược của luồng tiền vào dự tính trong tương lai từ một nhóm các tài sản tài chính kể

từ lần ghi nhận đầu tiên, mặc dù sự suy giảm này chưa thể xác định cụ thể được đốivới các tài sản tài chính riêng biệt trong nhóm Những dữ liệu này là:

 Những thay đổi bất lợi trong trạng thái thanh toán của người đi vay đối vớinhững tài sản tài chính trong nhóm Ví dụ như việc người vay sử dụng hết hạn mứcvay của mình, trì hoãn việc thanh toán hay đến hạn không thanh toán nợ

 Những điều kiện kinh tế địa phương hay quốc gia có ảnh hưởng tới khả năng trả

nợ của người đi vay tác động làm cho người đi vay không trả được nợ đối với các tàisản tài chính trong nhóm Ví dụ như tỷ lệ thất nghiêp, sự sụt giảm giá trị của tài sảncầm cố thế chấp…

Nếu có bằng chứng khách quan về sự suy giảm giá trị của những khoản vay và phảithu hoặc những tài sản tài chính giữ đến khi đáo hạn ghi nhận theo giá trị khấu hao,

số tiền tổn thất sẽ được đo lường chính bằng phần chênh lệch giữa giá trị ghi nhậncủa tài sản và giá trị hiện tại của luồng tiền vào dự tính trong tương lai ( loại trừ đinhững khoản tổn thất tín dụng trong tương lai chưa được ghi nhận) được chiết khấutheo lãi suất thực tế theo ghi nhận ban đầu của tài sản tài chính Số tiền tổn thất nàyphải được ghi nhận vào tài khoản lãi/ lỗ

Trang 22

Nếu trong giai đoạn tiếp theo, số giá trị suy giảm bị giảm xuống và sự sụtgiảm này là do những bằng chứng khách quan xuất hiện sau lần ghi nhận suy giảmgiá trị ( ví dụ như là sự cải thiện về tỷ lệ nợ của người đi vay), thì sự ghi nhận giảmgiá trị trước đây cần phải được điều chỉnh bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua tàikhoản giảm trừ Sự điều chỉnh này không được làm cho giá trị ghi nhận của tài sảntài chính bị suy giảm giá trị vượt quá giá trị khấu hao chưa được ghi nhận Số tiềnđiều chỉnh phải được ghi nhận vào tài khoản lãi/ lỗ.

Đối với riêng các khoản cho vay và phải thu ( những tài sản tài chính được ghinhận theo) sẽ được đo bằng cách sử dụng lãi suất thực tế - là lãi suất thực tế của tàisản tài chính theo hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ… bởi vì nếu dùng lãi suất thịtrường sẽ phải tuân thủ nguyên tắc đo lường theo giá trị hợp lý của công cụ tài chínhtrong khi đây lại là các tài sản tài chính được ghi nhận theo giá trị khấu hao Nếunhư kỳ hạn của khoản vay hoặc phải thu, những khoản đầu tư giữ đến khi đáo hạnđược gia hạn lại hay tái cơ cấu lại do tình hình tài chính của người vay gặp khó khăn, thì sự suy giảm giá trị của công cụ tài chính sẽ được đo lường theo lãi suất thực tếban đầu của hợp đồng tín dụng hay khế ước giải ngân ( trước khi gia hạn nợ hoặc tái

cơ cấu lại thời hạn trả nợ) Nếu những khoản cho vay, phải thu và khoản đầu tư tàichính giữ đến khi khi đáo hạn có lãi suất thay đổi theo thời gian, thì tỷ lệ chiết khấudùng để xác định tổn thất do suy giảm giá trị của chúng sẽ là lãi suất thực tế hiện thờiđược xác định trong hợp đồng tín dụng , khế ước giải ngân,… Việc tính toán giá trịhiện tại của luồng tiền vào ước tính trong tương lai của những tài sản tài chính đượcbảo đảm bằng tài sản thế chấp sẽ xác định được luồng tiền vào là giá trị thu hồi tốithiểu từ việc xiết nợ( giao bán tài sản đảm bảo) cho dù khả năng xiết nợ là có haykhông có Và điểm cuối cùng phải chú ý trong mục này là việc xác định khả năngsuy giảm giá trị ở đây phải tiến hành đối với toàn bộ số dư nợ tín dụng chịu rủi rochứ không chỉ riêng đối với những khoản tín dụng có chất lượng kém

Để phục vụ cho mục đích đánh giá sự suy giảm giá trị chung, các tài sản tàichính được nhóm lại thành một nhóm trên cơ sở những đặc tính rủi ro tín dụng tươngđồng ( thể hiện khả năng hoàn trả toàn bộ số tiền vay của người đi vay theo đúng kỳhạn được xác định trong hợp đồng tín dụng) Những đặc tính được lựa chọn sẽ ảnh

Trang 23

hưởng tới luồng tiền vào dự kiến trong tương lai từ nhóm các tài sản tài chính nàyqua việc cho biết khả năng trả nợ của người đi vay và chúng sẽ được phân tích vàđánh giá Tuy nhiên khả năng không thu hồi được nợ và những thống kê về tổn thât

khác sẽ thay đổi trong nhóm giữa những tài sản tài chính được xem xét riêng biệt về

khả năng suy giảm giá trị và được kết luận là không bị suy giảm giá trị và những tài sản tài chính chưa được xem xét riêng biệt về khả năng suy giảm gí trị và được kết luận là có thể bị suy giảm giá trị Nếu doanh nghiệp không thể sắp xếo các tài sản tài

chính thành nhóm có đặc tính rủi ro tín dụng tương đồng thì không phải tiến hànhđánh giá sự suy giảm giá trị của những tài sản tài chính này theo nhóm Luồng tiềnvào dự kiến trong tương lai của một nhóm tài sản tài chính có những đặc tính rủi rotín dụng tương đồng sẽ được ước tính trên cơ sở kinh nghiệm lịch sử về tổn thất tíndụng Nhứng kinh nghiệm lịch sử này được điều chỉnh trên cơ sở những dữ liệu cóthể quan sát thấy trong hiện tại nhằm mục đích không bỏ qua những ảnh hưởng của

những điều kiện phát sinh trong hiện tại không ảnh hưởng tới giai đoạn trước đó mà

những kinh nghiệm lịch sử được tạo nên và loại bỏ những ảnh hưởng của những điềukiện trong giai đoạn lịch sử đó mà hiện thời không tồn tại Về tính toán giá trị suygiảm chung cũng tương tự như phương pháp tính giá trị suy giảm của tài sản tàichính nói chung

Có thể nói đây chính là phần cơ sở lý luận cốt lõi của đề tài để từ đó đưa ranhững giải pháp hoàn thiện phương pháp trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trongkinh doanh ngân hàng theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế

1.3.2 Nội dung của IAS 39: “các công cụ tài chính: ghi nhận và xác định giá trị”

IAS 39 là một trong 41 Chuẩn mực Kế toán Quốc tế được xây dựng, ban hànhnăm 1998 và hoàn thiện qua các năm 2003 và 2004 bởi Uỷ ban Chuẩn mực Kế toánQuốc tế (IASB), một tổ chức độc lập được tài trợ bời Chính phủ của các nước pháttriển IAS 39 mới được áp dụng tại Châu Á ( Hồng Kông, Mã Lai, Philipin vàSingapo) và tại Úc từ ngày 1/1/2005 Việc áp dụng IAS vào thực tiễn là tương đốiphức tạp Chuẩn mực này xây dựng những nguyên tắc cơ bản cho việc ghi nhận, xácđịnh giá trị và công bố thông tin về các công cụ tài chính trong báo cáo tài chính.,

Trang 24

IAS 39 dựa trên việc sử dụng giá trị hợp lý – giá trị tài sản mà trong đó người mua vàngười bán sẵn sàng trao đổi, khi hạch toán kế toán các công cụ tài chính, đặc biệt đốivới bên tài sản của Bảng cân đối kế toán.

Nội dung của IAS 39 có thể được chia ra làm bốn phần cơ bản là: Ghi nhận tàisản tài chính, xác định giá trị tài sản tài chính, suy giảm giá trị tài sản tài chính ( đã

đề cập ở phần 1.2.4.1) , nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro

 Ghi nhận tài sản tài chính

Tất cả các tài sản tài chính và công nợ tài chính ( bao gồm cả công cụ phái sinh) cầnđược ghi nhận khi doanh nghiệp trở thành một bên trong hợp đồng liên quan đếncông cụ tài chính Đối với việc mua hoặc bán các tài sản tài chính mà thông lệ thịtrường quy định thời gian cố định giữa ngày giao dịch và ngày thanh toán thì có thểghi nhận theo ngày giao dịch hoặc ngày thanh toán Lãi suất thường không đượctính dự thu giữa ngày giao dịch và ngày thanh toán Tài sản tài chính được chia ralàm năm loại:

 Giá trị tài sản hoặc công cụ nợ tài chính thông qua giá trị hợp lý Lãi- Lỗ ,gồm có hai loại:

- Tài sản hoặc công nợ tài chính giữ để kinh doanh: Là tài sản hoặc công nợ tài

chính được mua hoặc tạo ra chủ yếu cho mục đích thu lợi nhuận từ các biến độngngắn hạn của giá cả hoặc lợi nhuận của người giao dịch Ví dụ: Kinh doanh tráiphiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc hay cổ phiếu

- Bất kỳ công cụ tài chính nào khác được xếp vào loại tài sản tài chính này.

Tài sản tài chính giữ đến khi đáo hạn : Là tài sản tài chính có các

khoản chi trả cố định hoặc có thể xác định được và có ngày đáo hạn cố định mà cácdoanh nghiệp có dự kiến và khả năng cầm giữ cho tới khi đáo hạn Các khoảnkhông phải là khoản vay hay phải thu tạo ra tại doanh nghiệp Ví dụ: công trái giữcho tới khi đáo hạn, trái phiếu giữ tới khi đáo hạn ,…

Các khoản cho vay và phải thu khởi tạo bởi doanh nghiệp: Là tài sản

tài chính do doanh nghiệp tạo ra nhờ cung cấp tiền, hàng hoá hoặc dịch vụ trực tiếptới khách hàng nợ và không phải là các khoản được tạo ra với mục đích để bán ngayhoặc bán trong thời gian ngắn để có thể được phân loại là khoản giữ để kinh doanh

Trang 25

Tài sản tài chính sẵn sàng để bán: Là những tài sản tài chính không

phải là phái sinh và không thuộc các nhóm đã nêu trên Ví dụ: cổ phiếu không phảigiữ để đầu cơ

 Xác định giá trị tài sản tài chính:

 Xác định giá trị ban đầu của tài sản và công nợ tài chính

Khi ghi nhận ban đầu một tài sản hoặc công nợ tài chính, doanh nghiệp phảixác định giá trị của tài sản hoặc công nợ tài chính đó bằng chi phí tại giá trị hợp lý

Chi phí giao dịch phải được tính vào giá trị ghi nhận ban đầu của tất cả cáccông cụ tài chính

 Xác định giá trị tiếp theo

Sau khi đã được ghi nhận ban đầu, các công cụ tài chính, trong đó bao gồm cảcác công cụ phái sinh cần phải được xác định lại giá trị và ghi nhận trên sổ sách kếtoán

- Đối với các công cụ tài chính giữ để kinh doanh: giá trị tiếp theo được ghi nhận làgiá trị hợp lý Phần chênh lệch giữa hai giá trị ghi sổ và giá trị hợp lý được ghi nhậnvào lãi/ lỗ thuần trong kỳ

- Đối với các công cụ tài chính giữ đến khi đáo hạn, các khoản cho vay và phải thukhởi tạo từ doanh nghiệp: giá trị tiếp theo được ghi nhận là giá trị khấu hao có tínhđến khả năng giảm giá Giá trị khấu hao của tài sản tài chính là giá trị ghi nhận banđầu của tài sản hoặc công nợ tài chính trừ đi tiền gốc( nếu có), cộng hoặc trừ cáckhoản khấu hao luỹ kế của phần chênh lệch giữa giá trị ghi nhận ban đầu và giá trịđáo hạn, và trừ đi khoản ghi giảm giá trị do giảm giá hoặc không thể thu hồi được

- Đối với các công cụ tài chính giữ để bán: giá trị tiếp theo được ghi nhận là giá trịthực tế, giá trị thị trường Tuy nhiên đối với một số công cụ không được bán rộng rãitrên thị trường và không thể xác định được giá trị hợp lý thì sẽ ghi nhận theo giá trịkhấu hao

Chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị tiếp theo có thể được ghi nhận ngay vào báocáo lãi/lỗ hoặc ghi nhận vào vốn chủ sở hữu cho tới khi tài sản đó được bán

 Kế toán phòng ngừa rủi ro suy giảm giá trị của công cụ tài chính

Trang 26

IAS 39 có đề câp đến hai cách phòng ngừa rủi ro cơ bản để từ đó có liên quan đến lýluận về nghiệp vụ trích lập dự phòng rủi ro:

 Phòng ngừa rủi ro đối với giá trị hợp lý: là phòng ngừa rủi ro của tàisản hay nợ đã được ghi nhận

 Phòng ngừa rủi ro đối với lưu chuyển tiền tệ: là phòng ngừa rủi rocủa lưu chuyển tiền tệ liên quan đến:

- Tài sản nợ đã được ghi nhận

 Những quy định sau áp dụng cho phòng ngừa rủi ro đối với lưu chuyểntiền tệ:

- Phần lãi hay lỗ từ các công cụ dự phòng được coi là có hiệu quả được ghi nhậntrực tiếp vào vốn chủ sở hữu thông qua thay đổi báo cáo về vốn chủ sở hữu Phầnkhông hiệu quả được báo cáo vào kết quả kinh doanh

- Nếu cam kết chắc chắn hay giao dịch dự đoán được phòng ngừa rủi ro làm phátsinh việc ghi nhận tài sản hay nợ, thì lãi hay lỗ trước đây đã được ghi nhận vào vốnchủ sở hữu cần được đưa ra và chuyển vào định giá ban đầu của chi phí mua khoảntài sản hay nợ đó

- Đối với phòng ngừa rủi ro lưu chuyển tiền tệ không làm phát sinh tài sản hay nợ, lãihay lỗ ghi nhận vào vốn chủ sở hữu cần được chuyển vào kết quả kinh doanh khigiao dịch diễn ra

 Giảm giá trị tài sản tài chính

Trang 27

Một vài tài sản tài chính hay một nhóm tài sản tài chính bị suy giảm giá trị , có nghĩa

là giá trị thu hồi được thấp hơn giá trị sổ sách của tài sản tài chính và khoản lỗ do sựsuy giảm này được ghi nhận khi và chỉ khi có bằng chứng khách quan về việc suygiảm giá trị do kết quả của một hay nhiều sự kiện xảy ra sau ghi nhận ban đầu của tàisản tài chính và bằng chứng về sự thua lỗ đó phải ước tính được một cách đáng tincậy

1.4 Sự khác biệt trong phương pháp trích lập dự phòng rủi ro theo quyết định 493/2005/ QĐ- NHNN và theo IAS 39.

Qua tìm hiểu nội dung của quyết định 493 và IAS 39 ta thấy có sự khác biệt vềphương pháp trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ở một số điểm sau

Thứ nhất: Theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán quốc tế số 39 (IAS39), tất cảcác tài sản tài chính phải được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý (là giá trị mà mộttài sản có thể được trao đổi hoặc một khoản nợ có thể được tất toán giữa các bên cóđầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá) Việc các NHTM Việt Nam chưa thựchiện ghi nhận tài sản tài chính theo IAS 39 đã dẫn đến:

- Số dự phòng rủi ro tín dụng được ghi nhận theo VAS thường nhỏ hơn số dựphòng rủi ro tín dụng theo IAS 39 do việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theoVAS chưa sử dụng phương pháp lãi suất thực tế để xác định luồng tiền chiết khấutrong việc ghi nhận sự suy giảm giá trị của các khoản cho vay và tạm ứng kháchhàng IAS 39 yêu cầu tính dự phòng rủi ro tín dụng bằng phần chênh lệch giữa giá trịghi sổ và giá trị hiện tại của dòng tiền ước tính thu hồi trong tương lai chiết khấu theo

tỷ lệ lãi suất gốc, bao gồm giá trị thu hồi của tài sản đảm bảo (nếu có) Tuy nhiên,việc xác định số dự phòng rủi ro tín dụng theo IAS 39 tại các NHTM Việt Nam hiệnnay còn gặp những hạn chế nhất định do tình trạng thông tin bất cân xứng, hệ thốngchấm điểm tín dụng nội bộ chưa hoàn thiện và chương trình phần mềm tin học củacác ngân hàng chưa đáp ứng được việc tính toán luồng tiền chiết khấu theo lãi suấtthực tế của từng khế ước nhận nợ, từng hợp đồng tín dụng Để áp dụng được IAS 39trong việc xác định số dự phòng rủi ro tín dụng , cần phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng

để làm sao vừa đảm bảo các yêu cầu cơ bản của IAS39, vừa phù hợp với hoàn cảnhthực tế của các NHTM Việt Nam

Trang 28

- Giá trị trái phiếu Chính phủ đặc biệt của các NHTM Nhà nước ghi nhận theoVAS cao hơn ghi nhận theo IAS do VAS ghi nhận theo mệnh giá bằng giá trị cấpvốn của Bộ Tài Chính, cộng thêm số lãi dự thu ở mức 3,3% theo phương phápđường thẳng, trong khi IAS ghi nhận theo giá trị hợp lý Từ việc vốn chủ sở hữu ghinhận theo VAS và IAS khác nhau dẫn đến sự phản ánh hệ số an toàn vốn tối thiểutheo VAS và IAS cũng khác nhau.

Thứ hai: Các NHTM Nhà nước không trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đối vớicác khoản cho vay theo chỉ định, theo kế hoạch Nhà nước và các khoản nợ khoanh,trong khi chưa có văn bản nào khẳng định Chính phủ sẽ chịu bù đắp hoàn toàn rủi rocho các khoản cho vay này Việc này đã dẫn đến số dự phòng rủi ro tín dụng theoVAS thấp hơn nhiều so với IAS

Thứ ba: Trong quyết định 493 đã đề cập đến việc trích lập dự phòng dựa vào cảyếu tố định tính và định lượng cụ thể là thời gian quá hạn của khoản vay, giá trị tàisản đảm bảo, loại tài sản đảm bảo Tuy nhiên, vẫn chưa bắt buộc áp dụng theophương pháp định tính Còn theo IAS 39, số dự phòng cần trích lập lại phải phụthuộc vào sự tổng hợp của cả hai loại chỉ tiêu định tính và định lượng là tình hình tàichính, khả năng trả nợ,lãi suất chiết khấu, giá trị tài sản đảm bảo, loại tài sản đảmbảo

Thứ tư: việc trích lập dự phòng theo quyết định 493 ít nhiều mang tính chủ quan

vì trong thực tế có nhiều khoản vay chưa đáo hạn đã cần phải trích lập dự phòng rủi

ro , còn cơ sở để trích lập dự phòng của IAS 39 là chất lượng của món vay hay là cácdấu hiệu của rủi ro mang tính chất định tính, chất lượng của tài sản đảm bảo mangtính khách quan và phù hợp với thực tế

Tóm lại, trong chương 1 đã nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề về tín dụng

và rủi ro tín dụng của NHTM, sự cần thiết phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng,nội dung của quyết định 493/2005/ QĐ- NHNN, nội dung của IAS 39 và nêu lên sựkhác biệt trong việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng giữa hai phương pháp

Trang 30

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH ĐÔNG ĐÔ.

2.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG.

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển NHĐT&PT chi nhánh Đông Đô.

Chi nhánh NHĐT&PT Đông Đô được thành lập trên cơ sở nâng cấp phòng Giaodịch 2(14 Láng Hạ), đi vào hoạt động từ 31/07/2004 theo Quyết định số 191/ QĐ-HĐQT ngày 05/07/2004 của Hội đồng quản trị Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam, làmột trong những cơ sở tiên phong đi đầu trong hệ thống NHĐT&PT Việt Nam chútrọng triển khai nghiệp vụ bán lẻ, lấy phát triển dịch vụ và đem lại tiện ích cho kháchhàng làm nền tảng; hoạt động theo mô hình giao dịch một cửa với quy trình nghiệp

vụ ngân hàng hiện đại và công nghệ tiên tiến , theo đúng dự án hiện đại hoá ngânhàng Việt Nam hiện nay

Việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đông Đô phù hợp vớitiến trình thực hiện chương trình cơ cấu lại , gắn liền với đổi mới toàn diện và pháttriển vững chắc với nhịp độ tăng trưởng cao, phát huy truyền thống phục vụ đầu tưphát triển; đa dạng hoá khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế, phát triển và nângcao chất lượng sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, nâng cao hiệu quả an toàn hệ thốngtheo đòi hỏi của cơ chế thị trường và lộ trình hội nhập, làm nòng cốt cho việc xâydựng tập đoàn tài chính đa năng, vững mạnh và hội nhập quốc tế

2.1.2 Mô hình tổ chức của NHĐT&PT chi nhánh Đông Đô

Mô hình tổ chức của chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đông Đô đượcxây dựng theo mô hình hiện đại hoá ngân hàng, theo hướng đổi mới và tiên tiến, phùhợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của chi nhánh.Ban giám đốc quản lý toán bộmọi mặt hoạt động kinh doanh của đơn vị Ngân hàng mình thông qua việc quản lýtất cả các phòng ban tại chi nhánh,các phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm, trong đóđiều hành hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Đông Đô là giám đốc chinhánh Giúp việc cho Giám đốc điều hành chi nhánh có hai Phó Giám đốc, hoạtđộng theo sự phân công ,uỷ quyền của Giám đốc chi nhánh theo quy định.Các phòng

Trang 31

Ban giám đốc: ban giám đốc gồm có giám đốc và 2 phó giám đốc.

Ban giám đốc trực tiếp ra quyết định thi hành quản lý hoạt động của cácphòng ban trong chi nhánh Giám đốc là người trực tiếp ra quyết định kinh doanh, kýcác văn bản , các hợp đồng liên quan đến hoạt động toàn chi nhánh NHĐT&PTĐông Đô Giám đốc cũng uỷ quyền cho các phó giám đốc ký duyệt một số văn bản,chứng từ liên quan đến hoạt động của chi nhánh trong phạm vi nhất định

Trang 32

- Phòng tổ chức hành chính: là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức cán

bộ và đào tạo tại chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước và quyđịnh của NHĐT&PT Việt Nam Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụhoạt động kinh doanh tại chi nhánh Thực hiện công tác bảo vệ, an ninh, an toàntrong toàn chi nhánh

- Phòng tín dụng: là phòng có chức năng trực tiếp giao dịch với khách hàng là các

doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ, xử lý cácnghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế độ ,thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHĐT&PTVN và của NHNN

- Phòng dịch vụ khách hàng: là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với các

khách hàng là cá nhân để huy động vốn bằng VNĐ và ngoại tệ; xử lý các nghiệp vụliên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với chế độ và thể lệhiện hành của NHNN và hướng dẫn của NHĐT&PTVN; hướng dẫn và quản lýnghiệp vụ tiền gửi dân cư đối với các quỹ tiết kiệm, điểm giao dịch

- Phòng thanh toán quốc tế: là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ về

tài trợ thương mại tại chi nhánh theo quy định của NHĐT&PTVN.Phòng thanh toánquốc tế có nhiệm vụ như: Thực hiện nghiệp vụ tài trợ thương mại theo hạn mứcđược cấp; thực hiện nghiệp vụ mua bán ngoại tệ; phối hợp với phòng kế toán giaodịch thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài, tư vấn khách hàng sử dụng các sản phẩmtài trợ thương mại…

- Phòng kế toán tài chính: là phòng thực hiện công tác quản lý tài chính và thực

hiện nhiệm vụ chi tiêu nội bộ tại chi nhánh theo quy định,phản ánh các tài khoản vềnguồn vốn và sử dụng vốn , tài khoản thanh toán , tài khoản thu nhập, chi phí, tàikhoản phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, tài khoản ngoại bảng , phản ánh tất cảcác hoạt động kinh doanh của chi nhánh

- Phòng điện toán: thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán

tại chi nhánh Bảo trì, bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệthống mạng, máy tính của toàn chi nhánh

Ngày đăng: 11/08/2023, 16:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Quy trình tín dụng tổng quát - Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại Nhđt Pt Đông Đô.docx
Bảng 1.1 Quy trình tín dụng tổng quát (Trang 6)
Bảng 1.1 Tỷ trọng dư nợ cho vay trên tổng tài sản của một số NHTM Việt Nam - Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại Nhđt Pt Đông Đô.docx
Bảng 1.1 Tỷ trọng dư nợ cho vay trên tổng tài sản của một số NHTM Việt Nam (Trang 14)
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của NHĐT&PT chi nhánh Đông Đô. - Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại Nhđt Pt Đông Đô.docx
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của NHĐT&PT chi nhánh Đông Đô (Trang 34)
Bảng 2.2    Tình hình cho vay vốn của NHĐT&PT Đông Đô - Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại Nhđt Pt Đông Đô.docx
Bảng 2.2 Tình hình cho vay vốn của NHĐT&PT Đông Đô (Trang 36)
Bảng 2.3: Cơ cấu dư nợ tín dụng theo kỳ hạn. - Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại Nhđt Pt Đông Đô.docx
Bảng 2.3 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo kỳ hạn (Trang 37)
Bảng 2.5 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế - Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại Nhđt Pt Đông Đô.docx
Bảng 2.5 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế (Trang 39)
Bảng 2.6 Cơ cấu d nợ quá hạn qua các năm - Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại Nhđt Pt Đông Đô.docx
Bảng 2.6 Cơ cấu d nợ quá hạn qua các năm (Trang 40)
Đồ thị 2.2 Cơ cấu d nợ quá hạn qua các năm - Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại Nhđt Pt Đông Đô.docx
th ị 2.2 Cơ cấu d nợ quá hạn qua các năm (Trang 41)
Bảng 2.7 Cơ cấu d nợ quá hạn phân theo thành phần kinh tế - Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại Nhđt Pt Đông Đô.docx
Bảng 2.7 Cơ cấu d nợ quá hạn phân theo thành phần kinh tế (Trang 42)
Bảng 2.8 Kết quả phân loại nợ dựa theo điều 7 quyết định 493 năm 2005, năm 2006 - Hoàn Thiện Nghiệp Vụ Trích Lập Dự Phòng Rủi Ro Theo Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Tại Nhđt Pt Đông Đô.docx
Bảng 2.8 Kết quả phân loại nợ dựa theo điều 7 quyết định 493 năm 2005, năm 2006 (Trang 45)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w