Nội dung Chương 1: Cơ sở lí thuyết 1.1 Khái niệm hiện tượng nhiều nghĩa Là hiện tượng mà những từ có hình thức ngữ âm nhưng có từ 2 nghĩa trở lên, mỗi nghĩa tương ứng với một sự vật, hàn
Trang 1KHOA: NGỮ VĂN
⸺ ⸺ ⸺ ⸺ ⸺ ⸺
BÀI TẬP LỚN
Đề tài:“Trình bày kiến thức về hiện tượng
nhiều nghĩa trong tiếng Việt
Vận dụng kiến thức đó để phân tích các hiện tượng nhiều nghĩa trong tác phẩm văn học
tự chọn”
“TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2”
Trang 2Mục l cụ
Mở đầu 3
Nội dung 3
Chương 1: Cơ sở lí thuyết 3
1.1 Khái niệm hiện tượng nhiều nghĩa 3
1.2 Phân loại các nghĩa trong từ nhiều nghĩa 4
1.2.1 Nhiều nghĩa do hiện tượng lâm thời (Tu từ) 4
1.2.2 Nhiều nghĩa từ vựng 4
1.2.2.1 Nhiều nghĩa biểu vật 4
1.2.2.2 Nhiều nghĩa biểu niệm 5
1.3 Tính hệ thống ngữ nghĩa trong từ nhiều nghĩa 5
Chương 2: Ứng dụng 6
2.1 Hiện tượng nhiều nghĩa trong “Truyện Kiều” và các tác phẩm khác 6
2.1.1 Từ “Xuân” 6
2.1.2 Từ “Hoa” 8
2.1.3 Từ “Bạc” 10
2.2 So sánh hiện tượng nhiều nghĩa trong các từ 11
Bảng thống kê từ “xuân” 11
Bảng thống kê từ “hoa” 11
Phân tích và nhận xét kết quả thống kê 11
2.3 Các hiện tượng đồng âm trong tác phẩm “Truyện Kiều” 12
2.4 Giá trị về nghệ thuật 12
Kết luận 12
Tài liệu tham khảo 13
Trang 3Mở đầu
Tiếng Việt đã là một thứ tiếng giàu đẹp và trong sáng, như nhà văn Đặng Thai Mai đã viết: “Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay …” Tiếng Việt giàu đẹp và trong sáng vì đó là sự kết tinh lịch sử văn hóa bao đời nay của ông cha ta Tâm hồn người dân Việt Nam đẹp nên thứ tiếng đó mang
vẻ đẹp đến lạ kì Thứ ngôn ngữ ấy đã được không ít tác giả nâng lên một tầm cao mới của nghệ thuật ,đặc biệt phải kể đến đại thi hào của dân tộc Nguyễn Du
Ai trong chúng ta cũng từng được lớn lên từ câu Kiều qua lời ru của bà, của mẹ Truyện Kiều dường như đã in sâu vào tiềm thức của người dân Việt
Dù trải qua hàng trăm năm nhưng Truyện Kiều vẫn khẳng định được vị trí của
nó trong thơ ca Việt Nam Một trong những yếu tố làm nên kiệt tác này là biệt tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du Ông vận dụng linh hoạt các từ Hán Việt, thành ngữ, tục ngữ… và hiện tượng đa nghĩa được ông dùng xuyên suốt toàn bộ tác phẩm Cho thấy Chính vì điều này đã tạo nên một sức sống lâu bền, trường tồn mãi với thời gian Để chứng minh rõ hơn về sự phong phú này nên tôi chọn “hiện tượng nhiều nghĩa trong tác phẩm Truyện Kiều” làm
đề tài nghiên cứu Đồng thời qua đó tôi muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc khẳng định vị thế trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Góp phần nâng cao chất lượng trong việc giảng dạy về tác phẩm văn học và tác giả Nguyễn Du
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
1.1 Khái niệm hiện tượng nhiều nghĩa
Là hiện tượng mà những từ có hình thức ngữ âm nhưng có từ 2 nghĩa trở lên, mỗi nghĩa tương ứng với một sự vật, hành động, tính chất nhất định
Ví dụ: Từ “nhà” có các nghĩa sau:
+ Là công trình kiến trúc: nhà trọ, nhà ở,
+ Chỉ mọi người trong gia đình: cả nhà
+ Chỉ các triều đại: Nhà Trần, nhà Lê
+ Chỉ tên gọi trong mối quan hệ vợ chồng: nhà tôi, nhà mình…
• Tại sao một từ có nhiều nghĩa?
- Bởi nó giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là cái vô hạn ở sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan và một bên là cái hữu hạn của các yếu tố ngôn ngữ
Trang 4- Để giải quyết những mâu thuẫn này người ta lấy một vỏ ngữ âm cũ rồi gắn cho nó một sự vật hiện tượng theo một quy luật nào đó, như vậy từ vừa mang
ý nghĩa cũ lại mang một ý nghĩa mới, người ta gọi đây là hiện tượng nhiều nghĩa
1.2 Phân loại các nghĩa trong từ nhiều nghĩa
1.2.1 Nhiều nghĩa do hiện tượng lâm thời (Tu từ)
- Nhiều nghĩa lâm thời là hiện tượng không có sẵn trong cấu trúc ngôn ngữ
mà được hình thành trong từng văn bản (ngôn cảnh) cụ thể Tức là tùy theo từng văn bản trong hoàn cảnh đó thì sẽ sản sinh ra những nghĩa mới, phù hợp với ý đồ của nhà văn
Muốn bay không nhấc nổi mình mà bay”
(Ca dao) Trong ngữ cảnh này thì “con hạc” biểu trưng cho số phận của người con gái Còn nghĩa gốc “con hạc” chỉ một loài chim
- Phương thức thể hiện từ nhiều nghĩa lâm thời rất đa dạng: ẩn dụ, hoán dụ,…
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì Đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào” [1]
Tác giả mượn hình ảnh của mận và đào để bắt đầu về tình yêu đôi lứa: + “Mận” là hình ảnh đại diện cho người con trai (nghĩa gốc: mận là loại quả) + “Đào” là hình ảnh đại diện cho người con gái (nghĩa gốc: đào là loại quả) + “Vườn hồng đã có ai vào hay chưa” : chàng trai muốn hỏi cô gái đã có người thương chưa nếu chưa có hãy cho chàng cơ hội để chàng có thể mang lại hạnh phúc cho cô
1.2.2 Nhiều nghĩa từ vựng
1.2.2.1 Nhiều nghĩa biểu vật
- Khái niệm: Là hiện tượng một từ có thể gọi tên nhiều sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, mỗi tên gọi là một nghĩa biểu vật
Ví dụ: Từ “mũi” có các nghĩa biểu vật
+ Bộ phận cơ quan hô hấp: mũi người, mũi chó, mũi lợn…
+ Bộ phận của vũ khí: mũi dao, múi giáo…
Trang 5+ Bộ phận trước của tàu, thuyền: mũi tàu, mũi thuyền…
+ Phần đất nhô ra ngoài biển: mũi đất
+ Đơn vị quân đội: mũi quân bên trái, mũi quân bên phải
- Đặc điểm của hiện tượng nhiều nghĩa biểu vật: là hiện tượng có tính chất bất định Người ta không thể xác định được vị trí một vỏ ngữ âm có thể gọi tên được bao nhiêu sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Thông thường người ta chỉ làm quen với một số ý nghĩa biểu vật đã được sử dụng một cách quen thuộc
- Phân loại:
+ Loại 1: Nhiều nghĩa biểu vật ngôn ngữ: là hiện tượng chỉ xảy ra trong hệ thống ngôn ngữ đã được cấu trúc hóa
Hiện tượng này mang tính xã hội cao, quen dùng
+ Loại 2: Nhiều nghĩa biểu vật lời nói: Hiện tượng này chỉ xuất hiện trong giao tiếp mang tính cá nhân, có tính chất lâm thời So với hiện tượng nhiều nghĩa biểu vật ngôn ngữ, hiện tượng này có tính chất mới mẻ hấp dẫn hơn
Ví dụ:
1.2.2.2 Nhiều nghĩa biểu niệm
- Khái niệm: Hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm là hiện tượng một từ có nhiều cấu trúc nghĩa biểu niệm, mỗi cấu trúc tương ứng với một hay một số ý nghĩa biểu vật
Ví dụ: Từ “muối” có 2 cấu trúc biểu niệm sau:
+ Nguyên liệu: được lấy từ nước biển bốc hơi, có vị mặn
Biểu vật: muối ăn
+ Hành động (của con người); làm cho thành phẩm lên men
Biểu vật: muối dưa, muối cà
1.3 Tính hệ thống ngữ nghĩa trong từ nhiều nghĩa
1.3.1 Tính hệ thống của các nghĩa trong từ
- Trong một từ nhiều nghĩa, các biểu vật thường chia thành từng nhóm Mỗi nhóm thường xoay quanh 1 cấu trúc biểu niệm nào đó
Ví dụ: Các nghĩa biểu vật của từ “đầu” chia thành 3 nhóm:
+ Bộ phận cơ thể người hoặc động vật: đầu người, đầu gà, đầu lợn… + Bộ phận chỉ vị trí sự vật: đầu cầu, đầu nhà…
+ Bộ phận chỉ vị trí không gian địa lý: đầu làng, đầu thôn, đầu xóm…
- Các nghĩa biểu niệm trong nhóm thường phát triển dựa vào 1 hoặc 1 vài nét nghĩa Nét nghĩa này gọi là nét nghĩa cơ sở
Trang 6Ví dụ: Các nghĩa biểu vật của từ “cánh”: cánh quạt, cánh chim, cánh đồng… được phát triển dựa vào nét nghĩa cơ sở : bộ phận của cơ thể động vật, thực vật, đối xứng 2 bên
Tóm lại, nhờ nét nghĩa cơ sở mà ta có thể tập hợp các nghĩa biểu vật khác nhau về cùng 1 mối liên hệ Nói cách khác, nét nghĩa cơ sở đảm bảo mối liên
hệ giữa các nghĩa khác nhau trong từ nhiều nghĩa Đây chính là dấu hiệu để phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng nghĩa
1.3.2 Sự khác nhau giữa hiện tượng nhiều nghĩa và hiện tượng đồng âm
- từ một nghĩa gốc có thể tạo thành
nhiều nghĩa chuyển
- giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển
luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
- Từ nhiều nghĩa trong nghĩa chuyển
có thể thay thế bằng từ khác
Ví dụ: “Mẹ tôi bị đau chân” (chân: bộ
phận trên cơ thể, tiếp xúc trực tiếp với
mặt đất)
“Chiếc bút ở dưới chân bàn” (chân:
chỉ vật tiếp xúc gần nhất với mặt đất)
- từ cùng âm thanh những nghĩa khác nhau
- hiện tượng chuyển nghĩa của từ làm cho các nghĩa của từ hoàn toàn khác nhau
- Từ đồng âm không thể thay thế trong nghĩa chuyển
Ví dụ: “Tôi có một cái cày” (cày: danh từ)
“Bố tôi đang cày ngoài ruộng” (cày: động từ)
Chương 2: Ứng dụng
2.1 Hiện tượng nhiều nghĩa trong “Truyện Kiều” và các tác phẩm khác Tác phẩm văn học là bức tranh sinh động về đời sống con người Ngôn từ trong văn học phải cô đọng và nhiều lượng ngữ nghĩa Từ ngữ tiếng Việt vốn có khả năng chuyển nghĩa tạo nhiều nghĩa mới nên ngôn từ văn học cũng có tính đa nghĩa Nhờ hiện tượng nhiều nghĩa này mà các tác phẩm văn học trở nên đa dạng, phong phú trong cách dùng từ của dân tộc Việt Trong các tác phẩm văn học hiện tượng đa nghĩa xuất hiện khá nhiều ở trong tác phẩm, điển hình là “Truyện Kiều” của Nguyễn Du Mỗi từ đa nghĩa lại được thi hào đặt vào từng văn cảnh, từng câu thơ tạo ra những nét nghĩa mang những giá trị biểu đạt khác nhau 2.1.1 Từ “Xuân”
Nguyễn Du sử dụng từ “Xuân” 41 lần trong tác phẩm “Truyện Kiều” với
Trang 722 lần chuyển nghĩa từ nghĩa gốc Trước tiên, theo nghĩa gốc thì từ “xuân” là
từ chỉ mùa đầu tiên trong một năm, mang lại không khí tươi vui và tràn đầy sức sống Trước hết, bốn câu thơ mở đầu, với nghệ thuật chấm phá độc đáo tả
ít gợi nhiều, Nguyễn Du đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” [2, tr.84] Câu thơ đầu nhà văn vẽ ra một khung cảnh ngày xuân nhẹ nhàng, trong veo, trải dài khắp muôn nơi Kết hợp với biện pháp đảo ngữ có tác dụng tô đậm thêm màu trắng của hoa lê trên nền cỏ xanh Một bức tranh chấm phá về mùa xuân đẹp như một bức họa dệt gấm thêu hoa, mang đậm hơi thở của hồn xuân đất Việt Cũng viết về “xuân” theo đúng nghĩa gốc vốn có của nó, Nguyễn Du tả: “Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân” và cả mùa xuân trong “Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà” , “Cửa chiều cữ đã cuối xuân” Nói tới không khí náo nhiệt của ngày hội thì ta không thể nào không nhắc tới:
“Xuân ơi xuân, em mới đến dăm năm,
Mà cuộc sống đã tưng bừng ngày hội”
(Tố Hữu - Bài ca mùa xuân 1961)
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”
(Mưa xuân - Nguyễn Bính) Thế nhưng vẫn là từ “xuân” nhưng được thi hào đặt trong một hoàn cảnh khác thì nó lại mang một nét nghĩa hoàn toàn mới Trước hết nó biểu tượng của niềm vui, hạnh phúc Một quy luật của tự nhiên đó là đông qua xuân đến Xuân đến hứa hẹn bao điều an lành, mang đến sự may mắn hạnh phúc , sự khởi đầu cho một năm mới Trong Truyện Kiều, thi sĩ thường dùng từ xuân đi kèm một danh từ Chính điều này nghĩa của từ đó sẽ mang tới một cảm giác
sự vui vẻ, với hi vọng nhưng điều tốt đẹp và may mắn nhất:
“Một tường tuyết trở sương che,
Tin xuân đâu dễ đi về cho năng!”
Bên cạnh đó từ xuân còn chỉ nhan sắc xinh đẹp của người phụ nữ, tuổi trẻ tràn đầy sức sống Nét nghĩa này được Nguyễn Du dùng trong câu thơ sau: “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn”, “Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai”… Với phương thức hoán dụ, đại thi hào đã mượn từ ngày xuân để nhắc đến tuổi thanh xuân
Trang 8và sắc đẹp của Thúy Kiều Nàng sớm dự đoán được kiếp đoạn trường của mình Thanh xuân ngắn ngủi như đã được an bài trước cho tới lúc gia đình gặp biến nàng đã phải trao duyên cho em gái, đành ngậm ngụi chồn vùi tuổi
Xót tình máu mủ, thay lời nước non”
Các yếu tố ngôn từ được huy động cứ thế mà vận hành, dựng lên một thân phận, một chân dung chìm nổi trong xã hội ba đào, đạt đến đỉnh cao nghệ thuật Những biến cố xảy ra trong cuộc đời Thúy Kiều được gắn với từ
“xuân” Từ xuân này được lặp đi lặp lại, quẩn quanh trong cuộc đời của nàng Khi đặt từ “xuân” vào văn cảnh cụ thể, tính đơn nghĩa vốn có của từ được mở
ra thành đa nghĩa và mang giá trị ý nghĩa khác nhau Nhờ có nó mà câu văn tuy ít chữ nhưng đủ ý, vẫn diễn tả trọn vẹn nội dung của câu chuyện Tiếp cận chữ xuân theo chiều hướng này, chúng ta thêm phần thích thú khi câu lục bát dài hàng ngàn câu mà đọc lên ta thấy được điều đặc biệt, không bị trộn lẫn bởi các tác phẩm đồ sộ khác
2.1.2 Từ “Hoa”
Trong tổng số 3254 câu thì có tới 107 lần từ “hoa” xuất hiện Như vậy có thể nói từ “hoa” được tác giả dùng phổ biến, xuyên suốt tác phẩm Về nghĩa gốc, hoa là bộ phận sinh sản của cây hạt kín, có màu sắc và hương thơm Theo nét nghĩa này được sử dụng 59 lần và có 44 loài hoa và cây khác nhau: gồm mai, lan, cúc, sen, hải đường, trà…Nhưng hoa đào là loại hoa được Nguyễn Du đưa vào truyện Kiều nhiều nhất, như trong câu: : “Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây”, “Xót thân liễu yếu thơ đào”, “Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non”… Nói đến loài hoa dân giã, gần gũi với nước ta thì ta không thể không kể đến hoa bèo, được ví trong các câu thơ: “Hoa trôi bèo dạt
đã đành”, “Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng”, “Rồi đây bèo hợp mây tan” Từ tần suất xuất hiện loài hoa nhiều cho tới xuất hiện chỉ duy nhất một câu như loài hoa mẫu đơn: “Ba cây chập lại một cành mẫu đơn”
Thiên nhiên vốn là nguồn cảm hứng vô tận của văn chương, miêu tả cảnh vật như miêu tả tâm trạng con người Thiên nhiên sẽ là một thông điệp, tư tưởng tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm Hoa vừa là đối tượng để miêu tả lại vừa là đối tượng để ký thác Thiền sư Mãn Giác từng miêu tả:
“Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai”
Và cả những loài hoa gắn liền với nông thôn: “Hoa chanh nở giữa vườn
Trang 9chanh”, “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”… Vườn Chủ tịch trong thơ Tố Hữu được miêu tả với nét vừa cao quý,thiêng liêng, vừa bình dị,thân thiết:
“Anh dắt em vào cõi Bác xưa
Đường xoài hoa trắng nắng đu đưa…
Có rào dâm bụt đỏ hoa quê
Như cổng nhà xưa Bác trở về”
(Theo chân Bác – Tố Hữu) Vậy là, chúng ta thấy được tâm hồn tài trí, nghệ thuật văn thơ qua mỹ cảm về hoa Đó là thấy hoa qua người, cũng là thấy người qua hoa Sự xuất hiện của các loài hoa này cho ta thấy sự phong phú, đa dạng góp phần làm nên vẻ đẹp
tự nhiên
Từ nghĩa gốc từ “hoa” được chuyển nghĩa theo nhiều nghĩa khác nhau khi đặt vào từng văn cảnh khác nhau Bác Hồ đã từng ví: “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp Cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp” Vì vậy mà trong câu thơ Kiều, Nguyễn Du viết “có tới 76 trường hợp "hoa" được dùng hoán
dụ với nghĩa chỉ "người đẹp, sắc đẹp, tình yêu”” [3] Hoa là biểu tượng cho cái đẹp, mỗi bông hoa mang một ý nghĩa khác nhau Vẻ đẹp của hoa luôn mê đắm lòng người Từ cổ chí kim hoa đã trở thành một biểu tượng có thể sử dụng làm ẩn dụ nói lên nét đẹp, tính cách con người Hoa gắn liền với những lời ca, bài thơ, đi sâu vào tâm hồn mỗi con người Mỗi bông hoa mang một vẻ đẹp riêng, nói lên cảm xúc, tính cách đặc thù của con người, đặc biệt là người phụ nữ
Thứ nhất, hoa biểu tượng cho cái đẹp, biểu trưng cho sắc đẹp đoan trang, đài cát và xinh đẹp của những người phụ nữ, đặc biệt ở đây chỉ vẻ đẹp tuyệt sắc của Thúy Kiều:
“Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi
Thiếp hồng tìm đến, hương khuê gửi vào”
Màu hoa lê đã đầm đìa giọt mưa”
Đến hoa còn ghen tị sắc đẹp của nàng: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da” Thứ hai, hoa biểu tượng cho tình yêu đôi lứa, ở đây là mối tình của Kiều với
Lời thề thôi đã phụ phàng với hoa”
Trang 10Hay: “Hoa kia đã chắp cánh này cho chưa”
Và cả mô tả tâm trạng của Kiều khi xa Kim Trọng:
“Trông hoa đèn chẳng thẹn thùng lắm ru”
Trong “Truyện Kiều”, dưới nhiều hình thức khác nhau, tình yêu kéo dài từ đầu đến cuối, đa sắc đa màu với những khuôn mặt điển hình bất hủ, từ mối tình đầu e ấp, được dệt bởi mộng và thơ: “Gặp tuần đố lá, thỏa lòng tìm hoa” Hoa là hình ảnh miêu tả số phận của Thúy Kiều Vì hoa chóng nở, sớm tàn
đó là quy luật tất yếu Vì vậy, cái kiếp hồng nhan bạc mệnh ấy của Kiều cũng như quy luật sinh trưởng của một đóa hoa
“Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây”
Khi gặp Mã Giám Sinh, Nguyễn Du viết: “Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng” Giọt nước mắt của người phụ nữ, Kiều khóc cho chính thân phận nàng Thế mới biết kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt giàu có, phong phú đến nhường nào Chỉ một từ “hoa” thôi đã có hàng trăm cách biểu đạt khác nhau, cách nào cũng tinh tế sâu sắc
2.1.3 Từ “Bạc”
Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du cũng gửi gắm nhiều triết lý sâu xa qua thân phận của những hồng nhan: “Rằng hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”
19 lần dùng từ “bạc” để miêu tả cuộc đời đầy sóng gió của Thúy Kiều Hai chữ “bạc mệnh” đã gắn liền trong cuộc sống của nàng Khi tình yêu vừa chớm
nở thì họa ập đến với gia đình Kiều, nàng phải bán mình chuộc cha, phải bội thề với Kim Trọng; phải chịu sự tủi nhục ê chề nơi lầu xanh; bị Sở Khanh lừa gạt,…Một người phụ nữ đẹp cuối cùng phải chịu nhiều khổ đau Dường như cuộc đời đang đùa giỡn, trêu chọc người con gái đẹp ấy một cách quá đà, để
sự chịu đựng, đau đớn như không thể chịu nổi để nàng Kiều, Vương ông phải thốt lên một cách chua xót: “Phận sao phận bạc như vôi” Phải chăng phụ nữ thời nào cũng phải chịu cuộc đời ngang trái, bất công Là một người phụ nữ,
Hồ Xuân Hương cũng thổ lộ:
“Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vôi
Ai biết được lòng dạ con người sâu như thế nào? Nàng Kiều phải chịu sự bạc tình của Sở Khanh Như vậy, bạc là một từ đa nghĩa, thuộc từ loại tính từ để