Tình hình phát triển số lượng cơ sở lưu trú và phân theo khu vực: Thành lập từ ngày 9/7/1960, trải qua 60 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo sâu sắc, kịp thời của Đảng, Nhà n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ
TIỂU LUẬN NHÓM
ĐỀ TÀI: HỆ THỐNG CƠ SỞ LƯU TRÚ TẠI HÀ NỘI
*
* *
Môn học : Tổng Quan Cơ Sở Lưu Trú Du Lịch Lớp : 21DKS1
Nhóm : 333
Thành viên :
Đoàn Nguyệt Vinh - 1721031255
Hoàng Đỗ Duy Luận - 1721020886
Huỳnh Chí Hiếu - 1721030910
Lê Phong Phú - 1721031040
Trần Văn Thế Huynh - 1721031510
Lê Thị Quỳnh Trâm - 1721031019
Nguyễn Hoàng Nguyên Tâm - 1721030814
Chu Thị Hà My-1721030512
Nguyễn Mai Linh -1721031478
Nguyễn Thành Vinh - 1721030401
Nguyễn Quốc Thắng - 1721030872
Mỵ Duy Nam-1721030429
Mai Quỳnh Hương 1721031104
Trang 2I Tìm hiểu quá trình phát triển HTCSLTDL ở Việt Nam từ gian đoạn 1960 đến nay :
1 Tình hình phát triển số lượng cơ sở lưu trú và phân theo khu vực:
Thành lập từ ngày 9/7/1960, trải qua 60 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo sâu sắc, kịp thời của Đảng, Nhà nước và Chính phủ cùng sự góp sức của các thế hệ lãnh đạo, công chức, viên chức, người lao động, Du lịch Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào Trong suốt 60 năm qua, ngành Du lịch luôn được Đảng và nhà Nước quan tâm, ở mỗi thời kỳ đều xác định vị trí của Du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phù hợp với yêu cầu cách mạng Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đến nay, ngành Du lịch đã và đang
có đóng góp không nhỏ trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước, bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa dân tộc, quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam tươi đẹp, con người Việt Nam thân thiện, mến khách, yêu chuộng hòa bình đến với bạn bè quốc tế
•Giai đoạn 1960 – 1991: Tập dượt kinh doanh du lịch
Lịch sử phát triển Du lịch Việt Nam được chính thức đánh dấu từ ngày 9/7/1960 với sự kiện Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký Nghị định 26/CP thành lập Công ty Du lịch Việt Nam thuộc Bộ Ngoại thương Ngành Du lịch Việt Nam ra đời khi đội ngũ cán bộ thiếu kinh nghiệm về quản lý và kinh doanh du lịch; cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch chỉ có 9 khách sạn với tổng số 152 buồng nằm rải rác ở các tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh Trong 10 năm đầu tiên sau khi thành lập, Du lịch Việt Nam đã tập trung mọi nguồn lực cho sự hình thành ngành với vị thế của một ngành kinh tế cùng với việc khẩn trương xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch để phục vụ yêu cầu hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Trước yêu cầu thực tế phát triển, ngày 18/8/1969, Hội đồng Chính phủ
đã ban hành Nghị định 145/CP chuyển giao Công ty Du lịch Việt Nam từ Bộ Ngoại thương sang trực thuộc Phủ Thủ tướng để phát huy năng lực độc lập Trong điều kiện rất khó khăn của chiến tranh và qua nhiều cơ quan quản lý, ngành Du lịch đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi thử thách, từng bước mở rộng nhiều cơ sở
du lịch ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tam Đảo, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… Ngành Du lịch đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, phục vụ an toàn,
có chất lượng một lượng lớn khách của Đảng và Nhà nước, các đoàn chuyên gia các nước, đồng thời đón tiếp phục vụ nhu cầu du lịch, tham quan nghỉ mát của cán bộ, bộ đội và nhân dân Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, hoạt động Du lịch dần trải rộng ra các miền Tổ quốc Ngành Du lịch bước vào xây dựng bộ máy tổ chức và đội ngũ lao động, phát triển cơ sở vật chất
kỹ thuật, chuẩn bị điều kiện chuyển dần sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ở giai đoạn này, hòa vào khí thế chung của đất nước, ngành Du lịch đã làm tốt nhiệm vụ tiếp quản, bảo toàn và phát triển các cơ sở du lịch ở các tỉnh, thành phố vừa giải phóng, lần lượt mở rộng, xây dựng thêm nhiều cơ sở mới từ Huế, Đà Nẵng, Bình Định đến Nha Trang, Lâm Đồng, Tp Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Cần Thơ…; từng bước thành lập các doanh nghiệp du lịch nhà nước trực thuộc Tổng cục Du lịch và UBND tỉnh, thành phố và đặc khu
•Giai đoạn 1992 – 2006: Tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới
Trang 3Từ năm 1990, với chính sách mở cửa và hội nhập của Đảng và Nhà nước, đất nước đã chuyển mình bước vào giai đoạn phát triển mới Đây là cơ hội để du lịch phát triển với đúng vai trò là một ngành kinh tế, khác với thời kỳ trước đó, hoạt động du lịch chỉ mang tính chất phục vụ yêu cầu đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong cơ chế bao cấp
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, ngành Du lịch đã khởi sắc, vươn lên đạt được những thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy mô và chất luợng, dần khẳng định vai trò, vị trí của mình Cơ chế chính sách phát triển du lịch từng bước được hình thành, được thể chế hóa bằng văn bản quy phạm phát luật, tạo môi trường cho du lịch phát triển, nâng cao hiệu lực quản lý Cùng với chính sách mở cửa và hội nhập của đất nước, nhận thức về du lịch đã có những thay đổi căn bản Vai trò ngành kinh tế mũi nhọn của Du lịch luôn được thể hiện trong văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng lần VII, VIII và IX Đại hô †i Đảng lần thứ
X tiếp tục khẳng định đẩy mạnh phát triển du lịch, tạo bước đô †t phá để phát triển vượt bâ †c khu vực dịch vụ, góp phần thực hiê †n mục tiêu đưa Việt Nam sớm thoát
ra khỏi tình trạng k‡m phát triển Theo đó, Du lịch được khẳng định là “ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước” (Nghị quyết 45/CP ngày 22/6/1993) và “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa… góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước” (Chỉ thị 46/CT/TW ngày 14/10/1994 của Ban
Bí thư Trung ương Đảng)
Cùng với việc thành lập lại Tổng cục Du lịch năm 1992, chỉ trong thời gian ngắn
hệ thống tổ chức quản lý nhà nước ở các địa phương đã được hoàn thiện, trong đó
có 14 địa phương thành lập Sở Du lịch là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Lâm Đồng, Cần Thơ và Tp Hồ Chí Minh Cũng trong giai đoạn 1992 - 2006, Luật Du lịch đã được xây dựng và được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14/6/2005 tại kỳ họp thứ Bảy và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 Đây là sự kiện đặc biệt quan trọng đối với phát triển của
Du lịch Việt Nam, bởi sau 45 năm xây dựng và phát triển, ngành Du lịch có được khung pháp lý được thể chế bằng luật đầu tiên cho hoạt động của Ngành Cùng với Luật Du lịch, nhiều chính sách hỗ trợ phát triển du lịch đã được xây dựng và ban hành, trong đó tiêu biểu là Chương trình Hành động quốc gia về du lịch, Chương trình hỗ trợ phát triển hạ tầng về du lịch Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch đã được thành lập và chính thức hoạt động năm 1999 đã tạo sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành của Chính phủ và sự phối hợp trong hành động giữa các
Bộ, ngành liên quan để thúc đẩy phát triển du lịch Giai đoạn 1992 - 2006 là khoảng thời gian Du lịch Việt Nam khẳng định được vai trò của ngành kinh tế với việc lần đầu tiên trong lịch sử phát triển đã xây dựng được Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam với tư cách là công cụ quản lý Ngành Trên cơ sở Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam, quy hoạch các vùng du lịch, các trung tâm du lịch, quy hoạch phát triển du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được thực hiện một cách có hệ thống trên phạm vi toàn quốc
Trang 4Những yếu tố trên đây cùng với việc thành lập lại Tổng cục Du lịch đã tạo cơ hội
để ngành Du lịch tự khẳng định được mình và mở ra thời kỳ phát triển “bùng nổ”
du lịch ở Việt Nam với mức tăng trưởng bình quân năm cao trên hai con số Sự phát triển du lịch Việt Nam ở thời kỳ này đã được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) ghi nhận và xếp Việt Nam vào danh sách một trong 7 quốc gia có mức tăng trưởng cao nhất trên thế giới Nếu lấy năm 1990 (khởi đầu thời kỳ đổi mới) dấu mốc lần đầu tiên phát động Năm Du lịch Việt Nam với 250.000 lượt khách quốc tế thì đến năm 2007, Việt Nam đã đón được 4,2 triệu, tăng trên 16,8 lần trong 15 năm Khách du lịch nội địa cũng tăng mạnh liên tục trong suốt giai đoạn này, từ 1,0 triệu lượt năm 1990 đến 2007 đạt con số 19,2 triệu lượt Sự tăng trưởng không ngừng về khách du lịch đã thúc đẩy mở rộng quy mô hoạt động của
Du lịch Việt Nam trên mọi lĩnh vực
•Giai đoạn 2007 – 2019: Khẳng định vai trò ngành kinh tế mũi nhọn
Năm 2007, trong bối cảnh hệ thống quản lý nhà nước được sắp xếp lại theo hướng lập các bộ đa ngành, Tổng cục Du lịch được sáp nhập vào Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hệ thống quản lý nhà nước về du lịch ở các địa phương cũng được sắp xếp lại Giai đoạn này, ngành Du lịch phát triển trong bối cảnh du lịch khu vực và thế giới chịu tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tác động của xung đột chính trị ở một số khu vực và quốc gia, trong đó có vấn đề xung đột ở biển Đông… Du lịch Việt Nam vẫn tiếp tục chủ động thực hiện tốt chức năng quản nhà nước về du lịch với việc xây dựng Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam thời kỳ phát triển mới đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; tiếp tục triển khai Chương trình Hành động quốc gia về du lịch, Chương trình Xúc tiến Du lịch quốc gia, tham mưu ban hành các chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh phát triển du lịch trong giai đoạn mới mà tiêu biểu là việc Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 về “Một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới” Kết quả phát triển ngành Du lịch trong giai đoạn này đạt nhiều thành quả mang tính chất toàn diện, sâu sắc và chuyên nghiệp, khẳng định vai trò là một ngành kinh tế quan trọng của đất nước Tốc độ tăng trưởng khách trung bình ở giai đoạn này luôn đạt nhịp độ 2 con số: 5,049 triệu lượt năm 2010, đến năm 2014 đón xấp xỉ 8 triệu lượt khách quốc tế Về khách nội địa, năm 2010 phục vụ 28 triệu lượt và năm 2014 đạt gần 38 triệu lượt Hoạt động du lịch đem lại nguồn thu đáng kể, đến năm 2014 Du lịch Việt Nam đạt tổng thu 230 nghìn tỷ đồng, đóng góp đáng kể vào cơ cấu nền kinh tế đất nước Nếu như năm 2000, Du lịch Việt Nam đóng góp 3,26% vào GDP cả nước thì đến năm 2014 đã chiếm tới 6% Từ năm 2015 - 2018, khách quốc tế tăng gần 2 lần, từ 8 triệu lượt lên 15,5 triệu lượt, đạt tốc độ tăng trưởng 25,5%/năm và là 1 trong 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới Khách du lịch nội địa tăng 1,4 lần từ 57 triệu lên 80 triệu lượt khách Năm 2019, Du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, năng lực cạnh tranh của Du lịch Việt Nam xếp hạng tăng từ 75/141 quốc gia năm 2016 lên thứ 63/140 quốc gia vào năm 2019 Việt Nam cũng được chọn là điểm đến du lịch, văn hóa, ẩm thực hàng đầu châu Á cùng nhiều giải thưởng danh giá khác Năm 2019 Việt Nam đã đón hơn 18 triệu du khách quốc tế, tăng 16,2% so với năm 2018 Hệ thống hạ tầng du lịch và doanh nghiệp du lịch phát triển nhanh chóng Đến hết năm 2019, cả nước có 2.656 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và hơn 26.000 cơ sở lưu trú du lịch với hơn 550.000 buồng, trong đó hạng cao cấp (từ 3
Trang 5sao đến 5 sao) có trên 900 cơ sở với gần 105.000 buồng Tốc độ tăng trưởng của
hệ thống các cơ sở lưu trú ở phân khúc cao cấp 4-5 sao cùng với sự gia tăng các khu vui chơi giải trí, khu nghỉ dưỡng đã góp phần làm tăng nội lực của điểm đến, nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam, khẳng định thương hiệu theo hướng chất lượng cao và hiện đại Nhiều thương hiệu du lịch quốc tế lớn đều đã hiện diện và hoạt động tại Việt Nam như Melia, HG, Marriott, Accor,
InterContinental, Sheraton… đáp ứng tốt nhu cầu của các đối tượng khách, góp phần phục vụ thành công nhiều sự kiện trong nước và quốc tế như Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF)
2019, Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên lần thứ 2, Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN 2018 (WEF ASEAN 2018), Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc Đội ngũ hướng dẫn viên du lịch với trên 27.100 người được cấp thẻ, trong
đó có 17.230 hướng dẫn viên du lịch quốc tế và 9.146 hướng dẫn viên du lịch nội địa đảm nhận tốt vai trò hướng dẫn, giới thiệu khi du khách đến Việt Nam Đầu tư nước ngoài vào du lịch thời kỳ này có hàng trăm dự án với số vốn lên đến hàng chục tỷ USD, trong đó đầu tư vào các khu nghỉ dưỡng, khách sạn hiện đang là lĩnh vực “nóng”, đặc biệt là tại các địa bàn trọng điểm như Hạ Long, Đà Nẵng, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Ninh Bình, Phú Quốc, Hải Phòng, Côn Đảo, Nha Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Đà Lạt… Các dự án đầu tư không chỉ có mặt ở đô thị mà còn ở các vùng biển, vùng núi, với nhiều hình thức đa dạng Nhiều dự án quy mô lớn đã hoàn thiện và đi vào hoạt động tại các địa phương cũng góp phần thay đổi hình ảnh, nâng cao chất lượng Du lịch Việt Nam Nhiều địa phương đã lựa chọn cho mình các hình thức xúc tiến quảng bá mang dấu ấn riêng bằng các
sự kiện mang tầm quốc tế như Festival Huế, Festival hoa Đà Lạt, Carnaval Hạ Long, cuộc thi bắn pháo hoa quốc tế Đà Nẵng, Lễ hội Hang động Quảng Bình, Lễ hội trên mây Sapa…
Ngành Du lịch đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trên là nhờ có sự quan tâm và đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước về đổi mới, mở cửa và hội nhập, các chủ trương, chính sách, định hướng và giải pháp chiến lược phù hợp với tình hình và xu thế phát triển của thời đại Hình ảnh, vị thế quốc gia không ngừng được cải thiện và nâng cao trên trường quốc tế tạo đà tích cực cho du lịch phát triển Đồng thời, ngành Du lịch có sự chủ động, tích cực và cố gắng nỗ lực của toàn Ngành, đặc biệt là sự năng động của các doanh nghiệp du lịch để nhanh chóng hội nhập và từng bước tiếp cận trình độ khu vực và toàn cầu Quyết tâm chính trị của nhiều địa phương cùng với sự cần cù, sức sáng tạo trong các tầng lớp dân cư đã tạo ra nội lực tăng trưởng chủ yếu
Sau 60 năm hình thành và phát triển, Du lịch Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm đan xen những khó khăn - thuận lợi, cơ hội - thách thức Nhìn vào xu thế phát triển du lịch và nhận thức xã hội, đặc biệt là sự nhìn nhận, quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với vai trò của ngành Du lịch trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung và Chiến lược kinh tế đối ngoại của đất nước nói riêng, sẽ thấy rõ được tương lai của ngành Du lịch và qua đó có được niềm tin, xác định được trách nhiệm về sự phát triển tất yếu của Du lịch Việt Nam trong thời gian tới
Trang 62 Tình hình phát triển lượng khách trong các giai đoạn ( 1960 đến
nay ):
Trong suốt 60 năm qua, ngành Du lịch luôn được Đảng và nhà Nước quan tâm,
ở mỗi thời kỳ đều xác định vị trí của Du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế –
xã hội của đất nước phù hợp với yêu cầu cách mạng Vượt qua nhiều khó khăn,
thách thức, đến nay, ngành Du lịch đã và đang có đóng góp không nhỏ trong phát
triển kinh tế – xã hội đất nước, bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa
dân tộc, quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam tươi đẹp, con người Việt Nam thân
thiện, mến khách, yêu chuộng hòa bình đến với bạn bè quốc tế
Giai đoạn 1960 – 1991: Tập dượt kinh doanh du lịch
196
0 1961 1962 1963 1964 1965 1970 1971 1972 1973 1974 1975 Năm 613
0 7630 8070 8790 10.780 11.850 18.160 12.080 15.860 19.320 26.820 36.910 Sốkhác
h quốc tế
Sau 1975 một loạt các khách sạn, nhà hàng, biệt thự, nhà nghỉ, và cơ sở giải
trí được bàn giao cho địa phương quản lý Các công ty du lịch được thành
lập.
Năm 1986 1987 1988 1989 1990 1991
Số khách du
lịch
54.353 76.283 110.390 187.730 250.000 330.000
Hoạt động du lịch đã mở rộng thêm ra các thị trường du lịch ngoài khối XHCN
như Nhật Bản, Pháp… Hãng du lịch ngoài khối XHCN có quan hệ đầu tiên với
Du lịch Việt Nam là hãng FUJI thuộc Đảng Cộng sản Nhật Bản Có thể nói, đây
là giai đoạn “tập dượt” của Du lịch Việt Nam để bước vào tổ chức kinh doanh,
đặc biệt là kinh doanh du lịch quốc tế một cách bài bản Tuy còn hạn chế nhưng
đây là giai đoạn quan trọng để ngành Du lịch nước ta có được cái nhìn đầy đủ
hơn về bản chất kinh doanh du lịch, về tính liên ngành trong hoạt động du lịch và
sự kết hợp giữa mở rộng kinh doanh du lịch với bảo đảm an ninh quốc phòng như
một nguyên tắc hoạt động của Ngành, đặc biệt trong tiếp cận với kinh doanh du
lịch quốc tế
Giai đoạn 1992 – 2006: Tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới
Từ năm 1990, với chính sách mở cửa và hội nhập của Đảng và Nhà nước, đất
nước đã chuyển mình bước vào giai đoạn phát triển mới Đây là cơ hội để du lịch
phát triển với đúng vai trò là một ngành kinh tế, khác với thời kỳ trước đó, hoạt
động du lịch chỉ mang tính chất phục vụ yêu cầu đối ngoại của Đảng và Nhà nước
trong cơ chế bao cấp
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, ngành Du lịch đã khởi sắc, vươn lên đạt
được những thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy mô và chất
lượng, dần khẳng định vai trò, vị trí của mình Cơ chế chính sách phát triển du
lịch từng bước được hình thành, được thể chế hóa bằng văn bản quy phạm phát
luật, tạo môi trường cho du lịch phát triển, nâng cao hiệu lực quản lý
Trang 7Découvre plus de :
(CS105)
Dethi HSG Nghe An 2013 Tin12 Bang A
LTK- KH khao sat HKII năm học 2021-2022
Cuối-HK2-L8 - This document is used to get premium acess
FILE 20220520 133142 20 HOẰNG HÓA (T5)
1 Market-Leader-Intermediate-3rd-edition-CB
TIỂU LUẬN NHÓM 333 - Market
Suite du document ci-dessous
English (CS105)
6 documents
Accéder au cours
3
3
3
2
176
14
Trang 8m 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 ng
ợng
ách du
h(triệu
ười)
1,35 2,5 4 7 9,5 10,67 11,2 12 13,3 14,2 12,6 13,4 15,93 19,43 21,2
Sang thể kỷ XXI, lượng khách du lịch tăng trưởng ở mức cao Năm 2000 được
coi là “năm du lịch Việt Nam” nên đã thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển mạnh
mẽ
Mặc dù trong năm 2003 trên thế giới búng nổ đại dịch SARS đã ảnh hưởng tác
động rất lớn đến ngành du lịch các nước nên trong năm đó lượng khách du lịch
giảm đáng kể Lượng khách du lịch quốc tế đã giảm từ 2.6 triệu người năm 2002
xuống còn 2.4 triệu người năm 2003 và lượng khách du lịch nội địa cũng giảm
xuống 2 triệu người
Nhưng ngay sau khi đại dịch được khống chế, nước ta được công nhận là một
trong những quốc gia an toàn thì ngành du lịch đã gia tăng mạnh mẽ trở lại
Giai đoạn 2007 – 2022: Khẳng định vai trò ngành kinh tế mũi nhọn
Giai đoạn này, ngành Du lịch phát triển trong bối cảnh du lịch khu vực và thế giới
chịu tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tác động của xung đột chính trị ở
một số khu vực và quốc gia, trong đó có vấn đề xung đột ở biển Đông… Du lịch
Việt Nam vẫn tiếp tục chủ động thực hiện tốt chức năng quản nhà nước về du lịch
với việc xây dựng Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam
thời kỳ phát triển mới
Đội ngũ hướng dẫn viên du lịch với trên 27.100 người được cấp thẻ, trong đó
có 17.230 hướng dẫn viên du lịch quốc tế và 9.146 hướng dẫn viên du lịch nội địa
đảm nhận tốt vai trò hướng dẫn, giới thiệu khi du khách đến Việt Nam Đầu tư
nước ngoài vào du lịch thời kỳ này có hàng trăm dự án với số vốn lên đến hàng
chục tỷ USD, trong đó đầu tư vào các khu nghỉ dưỡng, khách sạn hiện đang là
lĩnh vực “nóng”, đặc biệt là tại các địa bàn trọng điểm như Hạ Long, Đà Nẵng,
Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Ninh Bình, Phú Quốc, Hải Phòng, Côn Đảo, Nha
Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Đà Lạt… Các dự án đầu tư không chỉ có mặt ở đô
thị mà còn ở các vùng biển, vùng núi, với nhiều hình thức đa dạng
Tổng lượng khách du
lịch(triệu người) 23.4 24.2 25 33.049 35.84 36.64 42.572
Du lịch Việt Nam xếp hạng tăng từ 75/141 quốc gia năm 2016 lên thứ 63/141
quốc gia vào năm 2019 Việt Nam cũng được chọn là điểm đến du lịch, văn hóa,
ẩm thực hàng đầu châu Á cùng nhiều giải thưởng danh giá khác Năm 2019 Việt
Nam đã đón hơn 18 triệu du khách quốc tế, tăng 16,2% so với năm 2018 Hệ
thống hạ tầng du lịch và doanh nghiệp du lịch phát triển nhanh chóng Đến hết
năm 2019, cả nước có 2.656 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và hơn 26.000 cơ sở
lưu trú du lịch với hơn 550.000 buồng, trong đó hạng cao cấp (từ 3 sao đến 5 sao)
có trên 900 cơ sở với gần 105.000 buồng Tốc độ tăng trưởng của hệ thống các cơ
sở lưu trú ở phân khúc cao cấp 4-5 sao cùng với sự gia tăng các khu vui chơi giải
trí, khu nghỉ dưỡng đã góp phần làm tăng nội lực của điểm đến, nâng cao năng
Trang 9lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam, khẳng định thương hiệu theo hướng chất
lượng cao và hiện đại
Năm 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 Tổng lượng khách du
lịch ( triệu người) 64.64 72 76.1 95.5 103 59.7 43.8
Riêng năm 2022 chỉ tính đến tháng 4
Đại dịch COVID-19 đã tác động mạnh đến 2,5 triệu lao động trong ngành Du
lịch với 800.000 lao động trực tiếp, trong đó đối tượng bị mất việc, chịu ảnh
hưởng nặng nề nhất là hướng dẫn viên du lịch, nhân viên làm việc tại cơ sở lưu
trú du lịch, khu điểm du lịch, các doanh nghiệp lữ hành, vận chuyển, tàu du lịch,
doanh nghiệp du lịch khác
Nhiều thương hiệu du lịch quốc tế lớn đều đã hiện diện và hoạt động tại Việt
Nam như Melia, HG, Marriott, Accor, InterContinental, Sheraton… đáp ứng tốt
nhu cầu của các đối tượng khách, góp phần phục vụ thành công nhiều sự kiện
trong nước và quốc tế như Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
(APEC), Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF) 2019, Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ –
Triều Tiên lần thứ 2, Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN 2018 (WEF
ASEAN 2018), Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc…
3 Các dịnh vụ ăn uống , bổ sung khác trong các hoạt động kinh
doanh lưu trú :
F&B là một thuật ngữ kinh doanh F&B là từ viết tắt của cụm từ Food and
Beverage Service – dịch vụ nhà hàng và quầy ăn uống Trong một khách sạn thì
F&B Service là một bộ phận chuyên cung cấp các loại đồ ăn cho khách du lịch
khi lưu trú tại khách sạn Có nhiều khách sạn lớn thì họ còn tổ chức kèm tiệc
cưới, tiệc sinh nhật, liên hoan, buffet, tổ chức hội thảo, hội nghị,
Các hình thức F&B gắn liền với khách sạn sẽ phụ thuộc rất nhiều vào quy mô lớn
nhỏ của khách sạn đó F&B mang đến cho khách sạn sự sang trọng, chuyên
nghiệp với nhiều dịch vụ tiện ích
Tầm quan trọng của bộ phận F&B trong khách sạn
Trong khách sạn thì bộ phận F&B đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong thời buổi
thị trường khách sạn, du lịch nghỉ dưỡng mạnh mẽ như hiện nay F&B có nhiệm
vụ gia tăng khách du lịch, nghỉ dưỡng tại khách sạn Đây là bộ phận đóng vai trò
là cầu nối giữa khách sạn và khách du lịch bằng cách khai thác tối đa nhất tiềm
năng của họ
Gia tăng nhu cầu của khách hàng
Bên cạnh việc nghỉ thì nhu cầu ăn uống rất quan trọng Nếu một khách sạn tích
hợp cả việc ăn uống thì quả là tuyệt vời Du khách không phải đi đâu quá xa để
tìm kiếm được một địa điểm ăn uống Nhu cầu của khách càng cao thì việc lựa
chọn những khách sạn có chất lượng dịch vụ tốt, đa dạng nhiều loại hình dịch vụ
để gia tăng nhu cầu là điều cần thiết
Trang 10Tùy từng đẳng cấp của mỗi khách sạn khác nhau thì sẽ có những loại món ăn cũng như cách bài trí các dịch vụ như phòng họp, tiệc khác nhau Có thể đó là những món ăn u, Á, các món ăn truyền thống nếu khách sạn chuyên phục vụ khách du lịch quốc tế
Gia tăng doanh thu
Đúng vậy, nhiệm vụ chính của bộ phận F&B là gia tăng doanh thu cho khách sạn bằng cách thu hút và giữ chân họ Đôi khi khách hàng có lựa chọn nghỉ lại ở khách sạn này hay không không phải vì chất lượng của buồng phòng mà còn cả chất lượng dịch vụ nữa Bộ phận F&B sẽ đóng vai trò nghiên cứu xem tập khách hàng mục tiêu của khách sạn là những ai, với nguồn lực hiện có thì khách sạn có thể phát huy những mặt nào để thu hút khách hàng,
Ở những khách sạn lớn tầm cỡ 4, 5 sao thì bộ phận F&B ngoài việc chuẩn bị những bữa ăn đơn giản thì còn cung cấp các dịch vụ như tiệc cưới, sinh nhật, hội thảo, Sự đa dạng của các dịch vụ giúp cho khách hàng có nhiều lựa chọn khi tới với khách sạn đem đến doanh thu cho khách sạn Trong khách sạn thì quản lý vấn
đề chất lượng dịch vụ chính là công việc của bộ phận F&B
Xây dựng hình ảnh thương hiệu
Bạn đang nghĩ bộ phận F&B còn đảm nhiệm nhiệm vụ marketing cho khách sạn? Đúng rồi đó Chất lượng dịch vụ được quản lý bởi bộ phận F&B có tốt hay không chính là bộ mặt của khách hàng khi nhìn vào Một khách sạn có chất lượng dịch
vụ tốt, đa dạng loại hình ăn uống, nghỉ ngơi, hội họp, thì chắc chắn khách sạn
đó sẽ giữ chân lâu dài Hình ảnh thương hiệu của khách sạn được nâng tầm, mang đến doanh thu nhiều hơn rất nhiều so với trước đó
Tóm lại, bộ phận F&B đóng vai trò vô cùng quan trọng trong khách sạn Đây là
bộ phận không thể thiếu nếu khách sạn muốn phát triển!
4 Sự phân bố các cơ sở lưu trú tại một số trung tâm du lịch lớn ở Việt Nam:
(1)Du lịch Việt Nam thời gian qua có bước tăng trưởng mạnh mẽ, tạo nguồn động lực chủ yếu gia tăng giá trị và kích thích đầu tư vào các cơ sở lưu trú du lịch, đặc biệt là các bất động sản du lịch ở những trung tâm du lịch lớn Những năm gần đây, chúng ta chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc của ngành Du lịch, tác động mạnh mẽ và lan tỏa tới nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, trong đó đặc biệt kích thích đầu tư vào bất động sản du lịch
Lưu trú là một trong những hoạt động quan trọng của du lịch Cơ sở lưu trú du lịch là những đơn vị cung ứng dịch vụ chính của lĩnh vực du lịch: lưu trú và nhiều dịch vụ bổ sung khác, có liên quan trực tiếp đến con người, liên quan đến nhiều ngành nghề Kinh doanh lưu trú du lịch là hoạt động có điều kiện
(2)Năm 1990, cả nước mới có 350 cơ sở lưu trú du lịch với 16.700 buồng thì đến năm 2019 cả nước đã có 30.000 cơ sở lưu trú du lịch với 650.000 buồng Như vậy, sau 30 năm đổi mới và mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới, hệ thống cơ
sở lưu trú du lịch của ngành Du lịch Việt Nam đã tăng 85 lần về số lượng cơ sở lưu trú du lịch và tăng 39 lần về số lượng buồng
Biểu đồ: hệ thống cơ sở lưu trú du lịch Việt Nam giai đoạn 1990-2019