1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về “quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại” để làm rõ ý nghĩa của nó với việc nâng cao chất lượng học tập

17 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về “quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại” để làm rõ ý nghĩa của nó với việc nâng cao chất lượng học tập
Trường học Trường đại học Đại Nam
Chuyên ngành Triết học Mác – Lênin
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ--- ---TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Đề tài số 3: Vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về “Quy luật từ những thay đổi v

Trang 1

KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

-

-TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

Đề tài số 3: Vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng về “Quy luật từ

những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại” để làm rõ ý nghĩa của nó với việc nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện của sinh viên hiện nay

Họ tên sinh viên: Nguyễn Thu Hà

Mã sinh viên: 1577010045 Lớp: TA15-04

Hà Nội, 2022

Trang 2

A Lời mở đầu 1

B Nội dung chính 2

I Cơ sở lý luận 2

1 Vị trí và vai trò của quy luật lượng – chất 2

2 Các khái niệm, phạm trù liên quan 2

3 Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất 5

4 Ý nghĩa phương pháp luận 6

II Liên hệ thực tiễn 7

III Đề xuất giải pháp 10

C Kết luận 14

Tài liệu tham khảo 15

Trang 3

A Lời mở đầu

Thế giới xung quanh ta luôn vận động và phát triển một cách liên tục với những sự vật, hiện tượng phong phú và đa dạng Với tư cách là một khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật chung nhất, tác động trong toàn bộ các lĩnh vực tự nhiên, xã hội,

tư duy Quy luật lượng – chất là một trong những quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển Những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng có cơ sở tất yếu từ những thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng và ngược lại; những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng trên các phương diện khác nhau

Tri thức là hành trang không thể thiếu của mỗi người Từ khi sinh ra, chúng ta

đã tích lũy tri thức theo từng giai đoạn phát triển: từ những điều cơ bản nhất như ngôn ngữ, đồ vật, màu sắc,… đến những kiến thức về các lĩnh vực trong cuộc sống như văn học, toán học, lịch sử Đặc biệt là những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta được tiếp thu những tri thức cơ bản về cuộc sống trong lĩnh vực tự nhiên và xã hội Bên cạnh đó, mỗi học sinh cũng trang bị thêm cho mình những kiến thức thực tiễn, những kĩ năng mềm cần thiết cho cuộc sống sau này Tuy nhiên, 12 năm học trung học và phổ thông và những năm trên giảng đường đại học vẫn là thời gian quan trọng nhất bởi đó là thời điểm chúng ta trang bị cho mình những kiến thức cơ bản nhất mà mỗi người đều phải biết trong xã hội ngày nay

Vì vậy, bài tiểu luận “Vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng

về Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại để làm rõ ý nghĩa của nó với việc nâng cao chất lượng học tập và rèn

luyện của sinh viên hiện nay” được thực hiện nhằm nghiên cứu những nguyên lý

cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và quy luật lượng – chất nói riêng

Từ đó, liên hệ đến quá trình học tập để có thể hiểu rõ hơn hoạt động này và đưa

ra các phương pháp học tập, nghiên cứu, rèn luyện giúp hoạt động này đạt được hiệu quả cao nhất

Trang 4

B Nội dung chính

I Cơ sở lý luận

1 Vị trí và vai trò của quy luật lượng – chất

Trong phép biện chứng duy vật, quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại (hay được gọi là “Quy luật lượng – chất”) là một trong ba quy luật cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật Quy luật lượng – chất chỉ ra cách thức chung nhất của sự vận động và phát triển, khi cho thấy sự thay đổi về chất chỉ xảy ra khi sự vật, hiện tượng đã tích lũy những thay đổi về lượng đạt đến ngưỡng nhất định

2 Các khái niệm, phạm trù liên quan

a Chất

“Chất” là một phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính quy định khách quan vốn có, vốn đã tồn tại của sự vật, hiện tượng Chất là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng, làm cho sự vật hay hiện tượng là chính bản thân nó, giúp phân biệt với sự vật, hiện tượng khác Chất của sự vật hiện tượng được xác định bởi: các thuộc tính khách quan và cấu trúc của nó Nghĩa là phương thức liên kết các yếu tố cấu thành sự vật

Ví dụ về “chất”: Nguyên tố đồng có nguyên tử lượng là 63,54đvC, nhiệt độ

nóng chảy là 1083, nhiệt độ sôi là 2880°C… Những thuộc tính (tính chất) này nói lên chất riêng của đồng, phân biệt nó với các kim loại khác

Như vậy, chất là cơ sở phân biệt sự khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay có thể nói các sự vật, hiện tượng khác nhau là khác nhau về chất

Tuy nhiên, mỗi sự vật, hiện tượng đều có quá trình tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn, trong từng giai đoạn đó sẽ có những chất riêng Ta có thể hiểu rằng với mỗi sự vật, hiện tượng sẽ có một hoặc nhiều chất chứ không phải chỉ có một chất duy nhất

Ví dụ: Khi ngồi trên ghế giảng đường Đại học, ta mang chất của một người

sinh viên Khi ở trong gia đình, ta mang chất của người con, người cháu Ngoài

ra, khi tham gia tổ chức đoàn thể, xã hội ta sẽ mang chất của một người đoàn viên hay đảng viên

Trang 5

Chất của sự vật còn được quy định bởi phương thức liên kết của các yếu tố tạo thành sự vật (kết cấu của sự vật) Kim cương và than chì đều có cùng thành phần hóa học do các nguyên tố cacbon tạo nên nhưng do phương thức liên kết giữa các nguyên tử cacbon là khác nhauo, vì thế chất của chúng hoàn toàn khác nhau Kim cương rất cứng còn than chì lại mềm

Qua phân tích và tìm hiểu về “chất”, ta nhận thấy chất của sự vật thay đổi sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi các yếu tố cấu thành sự vật hay phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố đó

b Lượng

“Lượng” là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định, khách quan vốn

có của sự vật hay hiện tượng về những mặt như: số lượng, quy mô, trình độ, nhịp độ, tốc độ của các quá trình vận động và phát triển ở bản thân sự vật, hiện tượng Ở lượng có nhiều biểu hiện khác nhau như: số lượng, kích thước, màu sắc, âm thanh, xác suất, mức độ Lượng được thể hiện chính xác bằng con số hoặc bằng đại lượng

Ở mỗi sự vật, hiện tượng có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau Ta xét đến

phân tử nước, gồm hai nguyên tử hidro liên kết với một nguyên tử oxi Lượng nguyên tử hidro và lượng nguyên tử oxi là hai loại lượng tồn tại trong phân tử nước

Bên cạnh đó, lượng được xác định bởi đơn vị đo lường cụ thể với con số chính

xác Ví như, trong lớp Triết học Mác – Lênin, số lượng sinh viên là 51 người Hay, đoạn đường từ nhà đến trường là 10 cây số

Ngoài ra, lượng biểu thị dưới dạng khái quát và phải dùng đến khả năng trừu tượng để nhận thức Mỗi người sẽ có lượng trình độ nhận thức khác nhau, phẩm chất đạo đức là khác nhau

Thêm vào đó, lượng còn được biểu thị bởi những yếu tố bên ngoài như chiều cao của một người, chiều dài của một vật

Trang 6

Không chỉ được biểu thị bởi những yếu tố bên ngoài, lượng còn biểu thị yếu tố

quy định kết cấu bên trong như số lượng nguyên tử của một nguyên tố hóa học Tuy vậy, ta cần hiểu rõ rằng: sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ mang tính tương đối Có những thuộc tính quy định trong mối quan hệ này là chất của sự vật hay hiện tượng, nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng và ngược lại

Ví dụ:

 Số hiệu nguyên tử Z không chỉ là số lượng proton trong mối quan hệ hạt nhân và electron của nguyên tử nguyên tố đó, mà còn là đặc trưng về chất của nguyên tố hóa học trong quan hệ với các nguyên tố của số hiệu nguyên tử khác Khi biết số hiệu nguyên tử, ta có thể suy ra: z=p=e; vị trí của nó trong bảng tuần hoàn và tính chất vật lý hay tính chất hóa học của nguyên tố đó

 Số lượng sinh viên giỏi của một lớp sẽ biểu thị chất học tập giỏi của lớp đó

c Độ

Trước tiên, ta cùng xét đến ví dụ về “Sự chuyển thể từ thể lỏng sang thể khí

và thể rắn của nước” Chúng ta đều biết rằng, nước ở trong trạng thái bình thường từ trên 0°C đến dưới 100°C là thể lỏng Còn đến 100°C sẽ chuyển thành thể khí và dưới 0°C sẽ đóng băng thành thể rắn Chất ở đây là thể lỏng, thể rắn, thể khí Lượng là nhiệt độ của nước Nếu nước nằm trong khoảng nhiệt độ từ trên 0°C đến dưới 100°C sẽ là thể lỏng, bởi trong khoảng nhiệt độ này lượng nhiệt độ của nước chưa thể chuyển sang thể khí hay rắn, và ở khoảng này người

ta gọi đó là độ

“Độ” là khái niệm dùng để chỉ giới hạn hay phạm vi trong đó chất và lượng thống nhất với nhau để cùng quy định sự vật, hiện tượng Ở trong độ, lượng đổi nhưng chất chưa đổi, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng Sự vật, hiện tượng vẫn là chính nó chứ không đổi thành sự vật hay hiện tượng khác

d Điểm nút

Trang 7

Với ví dụ về “Sự chuyển thể từ thể lỏng sang thể khí và thể rắn của nước” đã nêu ở trên, ta nhận thấy khi nhiệt độ của nước đạt tới mức 0°C hoặc 100°C thì nước sẽ bắt đầu chuyển từ thể lỏng sang thể rắn hoặc từ thể lỏng sang thể khí Tại điểm 0°C và 100°C đó, ta gọi là điểm nút

“Điểm nút” được hiểu là điểm giới hạn mà tại đó xảy ra sự thay đổi về chất của sự vật, lượng thay đổi đã đủ để dẫn đến sự thay đổi về chất

e Bước nhảy

Vẫn xét ví dụ trên, nếu lượng nhiệt độ của nước đạt đến điểm nút là 0°C thì chất lỏng chuyển sang chất rắn, còn lượng nhiệt độ của nước đạt đến điểm nút là 100°C thì chất lỏng chuyển sang chất khí Giai đoạn chuyển hóa từ chất lỏng sang chất rắn hay chất khí đó tại lượng nhiệt độ đến điểm nút hay tại thời điểm thay đổi về chất đó ta gọi là bước nhảy

“Bước nhảy” là sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng do những thay đổi

về lượng gây nên Bước nhảy có nhiều loại hình thức Dựa vào thời gian ta có bước nhảy dần dần và bước nhảy tức thời Dựa vào quy mô ta có bước nhảy toàn

bộ và bước nhảy cục bộ

3 Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất

Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng Hai mặt chất và lượng không tách rời nhau trong mỗi sự vật, hiện tượng chúng có tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng Mối quan hệ giữa chất

và lượng được thể hiện ở hai mặt: Lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại

 Lượng đổi dẫn đến chất đổi:

Sự phát triển của sự vật, hiện tượng bao giờ cũng bắt nguồn từ sự thay đổi của

lượng Lượng là yếu tố động, luôn luôn thay đổi (có thể tăng hoặc giảm) Bên cạnh đó, sự thay đổi của lượng diễn ra một cách từ từ, nhỏ nhặt, khó có thể nhận thấy Lượng biến đổi theo cách dần dần và tuần tự

Lượng liên tục thay đổi ở trong độ nhưng chất khi đó chưa thay đổi Khi lượng thay đổi đến gần điểm nút và vượt quá độ sẽ phá vỡ cấu trúc của sự

Trang 8

vật Biến đổi về lượng có xu hướng tích lũy để đạt tới điểm nút.

Chất cũ mất đi, chất mới ra đời Tại điểm nút diễn ra sự nhảy vọt bằng với sự biến đổi về chất và cũng tương đương với cái cũ mất đi Khi đó chất mới sẽ ra đời và thay thế cho chất cũ

Tuy nhiên, có một lưu ý nhỏ rằng, chất mới chỉ có thể ra đời khi có đầy đủ điều

kiện cần và đủ sau: đầu tiên, lượng thay đổi đến điểm nút và vượt quá độ; thứ hai là phải có môi trường tương thích, phù hợp thì chất mới có thể ra đời

 Chất đổi dẫn đến lượng đổi:

Khi chất mới ra đời sẽ dẫn đến sự tự thiết lập của những lượng mới, làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển Ta xét đến trường hợp sau để hiểu rõ hơn về quy luật: khi quả trứng nở ra con gà con (sự biến đổi về chất) thì gà con có những thuộc tính vật lý, thuộc tính hóa học, thuộc tính sinh học khác hẳn với quả trứng và gắn với những thuộc tính mới

đó là những lượng mới Hay sau khi trải qua kì thi trung học phổ thông quốc gia (sự biến đổi về chất), học sinh trở thành sinh viên, khi đó nội dung học, số lượng môn học, phương pháp học, mức độ khó dễ cũng sẽ thay đổi, khác với chương trình trung học phổ thông

Ngoài ra, trước khi chất thay đổi thì chất cũ kìm hãm sự thay đổi của lượng Chất là yếu tố ổn định, khi lượng đổi trong phạm vi độ, chất chưa có biến đổi căn bản Chất đổi chính là sự nhảy vọt tại điểm nút

Biến đổi về chất diễn ra nhanh chóng, đột ngột, căn bản, toàn diện Khi chất

cũ mất đi, lượng được giải phóng sẽ thay đổi quy mô, tốc độ, nhịp độ mới Chất cũ (sự vật cũ) mất đi sẽ được chuyển hóa thành chất mới (sự vật mới) Quá trình trên lặp đi lặp lại nhiều lần tạo thành quy luật lượng – chất Tóm lại, bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất và lượng Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy Đồng thời, chất mới sẽ tác động trở lại lượng và tạo ra những biến đổi mới về lượng của nó Quá trình đó liên tục

Trang 9

diễn ra, tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy

4 Ý nghĩa phương pháp luận

Trước hết, ta hiểu rằng bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại hai mặt chất

và lượng Sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất khi đủ điều kiện

và ngược lại Từng bước tích lũy về lượng mới có thể làm biến đổi về chất Ví như bạn không thể tốt nghiệp Đại học nếu tích lũy chưa đủ lượng kiến thức (hay tín chỉ), bạn cũng không thể no nếu lượng thức ăn nạp vào cơ thể chưa đủ Thứ hai, khi lượng đạt đến điểm nút thì việc thực hiện bước nhảy là yêu cầu khách quan của sự vận động, phát triển ở sự vật, hiện tượng Vì vậy, phải tránh những tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, đốt cháy giai đoạn

Thứ ba, phải có thái độ khách quan, khoa học và quyết tâm thực hiện bước nhảy Trong các lĩnh vực xã hội phải chú ý đến điều kiện chủ quan

Cuối cùng, ta phải nhận thức được phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật, hiện tượng để lựa chọn những phương pháp phù hợp

II Liên hệ thực tiễn

1 Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng trong quá trình tích lũy kiến thức của học sinh, sinh viên

Quá trình học tập của mỗi học sinh là một quá trình dài, khó khăn và cần sự

cố gắng không biết mệt mỏi, không ngừng nghỉ của bản thân mỗi học sinh Quy luật chuyển hóa từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất thể hiện ở chỗ: mỗi học sinh tích lũy lượng (kiến thức) cho mình bằng việc nghe các thầy

cô giảng trên lớp, làm bài tập ở nhà, đọc thêm sách tham khảo,… thành quả của quá trình tích lũy đó được đánh giá qua những bài kiểm tra, những bài thi học kỳ

và kỳ thi tốt nghiệp Khi đã tích lũy đủ lượng tri thức cần thiết, học sinh sẽ được chuyển sang một cấp học mới cao hơn Như vậy, quá trình học tập, tích lũy kiến thức là độ, các bài kiểm tra, các kì thi là điểm nút và việc học sinh được sang một cấp học cao hơn là bước nhảy Trong suốt 12 năm học, học sinh phải thực hiện nhiều bước nhảy khác nhau Trước hết là bước nhảy để chuyển từ một học sinh trung học lên học sinh phổ thông và kỳ thi lên cấp 3 là điểm nút, đồng thời

Trang 10

nó cũng là điểm khởi đầu mới trong việc tích lũy lượng mới (tri thức mới) để thực hiện một bước nhảy vô cùng quan trọng trong cuộc đời: vượt qua kì thi đại học để trở thành một sinh viên Sau khi thực hiện dược bước nhảy trên, chất mới trong mỗi người được hình thành và tác động trở lại lượng Sự tác động đó thể hiện trong lối suy nghĩ cũng như cách hành động của mỗi sinh viên, đó là sự chín chắn, trưởng thành hơn so với một học sinh trung học hay một học sinh phổ thông Và tại đây, một quá trình tích lũy về lượng (tích lũy kiến thức) mới lại bắt đầu, quá trình này khác hẳn so với quá trình tích lũy lượng ở bậc trung học hay phổ thông Bởi đó không đơn thuần là việc lên giảng đường để tiếp thu bài giảng của thầy cô mả phần lớn là sự tự nghiên cứu, tìm tòi, tích lũy kiến thức, bên cạnh những kiến thức trong sách vở là những kiến thức xã hội từ các công việc làm thêm hoặc từ các hoạt động trong những câu lạc bộ Sau khi đã tích lũy được một lượng đầy đủ, các sinh viên sẽ thực hiện một bước nhảy mới, bước nhảy quan trọng nhất trong cuộc đời, đó là vượt qua kì thi tốt nghiệp để nhận được tấm bằng cử nhân và tìm được một công việc Cứ như vậy, quá trình nhận thức (tích lũy về lượng) liên tục diễn ra, tạo nên sự vận động không ngừng trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi con người, giúp con người ngày càng đạt đến trình độ cao hơn, tạo động lực cho xã hội phát triển

2 Sự thay đổi môi trường học tập từ phổ thông lên đại học

Khi bắt đầu bước chân vào cánh cổng Đại học, là sinh viên chắc hẳn sẽ có những bỡ ngỡ, rụt rè, xa lạ thuở ban đầu, bởi môi trường Đại học khác hoàn toàn với “nếp sống” trung học phổ thông vừa trải qua 12 năm cặm cụi đèn sách, chúng ta không hề xa lạ với những môn học như: Toán, Ngữ văn, Lịch sử, Địa

lý, Giáo dục công dân hay Vật lý, Hóa học nhưng đến với Đại học, chúng ta sẽ làm quen với những môn học mới lạ hơn như: Triết học, Quản lý học, Xã hội học và điều đặc biệt là chúng ta chỉ học tập và nghiên cứu trong khoảng thời gian rất ngắn (từ 2 đến 3 tháng) cho mỗi môn học Không như trước đó, chúng

ta làm quen với môn Toán từ cấp 1, môn Vật lý, Hóa học từ cấp 2 cho đến bậc trung học phổ thông ta vẫn tiếp xúc và tìm hiểu về nó Chắc chắn rằng khối lượng kiến thức ở cấp độ Đại học lớn hơn rất nhiều so với khối lượng kiến thức

Ngày đăng: 11/08/2023, 13:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w