1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại cổ phần gia định chi nhánh hà nội

70 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Công Tác Thẩm Định Tín Dụng Trong Hoạt Động Cho Vay Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Gia Định Chi Nhánh Hà Nội
Tác giả Nguyễn Hoàng Ngọc
Người hướng dẫn TS. Phan Hữu Nghị
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Doanh Nghiệp
Thể loại Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 174,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của NHTMMục tiêu của thẩm định tín dụng là cung cấp thông tin để quyết định chovay và giảm khả năng xảy ra sai lầm dựa trên cơ sở đánh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN GIA ĐỊNH CHI NHÁNH HÀ NỘI

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hoàng Ngọc

Chuyên ngành: Tài chính doanh nghiệp tiếng Pháp

Khóa: 48

Mã sinh viên: CQ482017

Giáo viên hướng dẫn: TS Phan Hữu Nghị

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NHTM: Ngân hàng thương mại

NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần NHNN: Ngân hàng Nhà nước

Trang 3

Mục lục

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT

Trang 4

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NHTMCP GIA ĐỊNH CHI NHÁNH HÀ NỘI 27

2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của NHTMCP Gia Định chi nhánh Hà

2.2 Thực trạng công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại

2.2.1 Cơ sở pháp lý của thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của

2.2.2 Quy trình công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại

2.2.2.3 Thẩm định khả năng thu hồi nợ vay thông qua thông tin có được 33

2.2.2.5 Kết luận, lập tờ trình báo cáo thẩm định và đề xuất cấp tín dụng 362.2.3 Ví dụ minh họa công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại

2.2.4 Đánh giá công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của

3.1.2 Biện pháp tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra 52

Trang 5

3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho

3.2.1 Hoàn thiện quy trình nghiệp vụ tín dụng trong hoạt động cho vay 53

3.2.4 Hoàn thiện thẩm định phương án sản xuất kinh doanh và dự án vay vốn của

3.2.7 Giải pháp về tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát 58

3.3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các bộ ngành có liên quan 59

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

NHTM là tổ chức tài chính trung gian có vai trò quan trọng nhất của nềnkinh tế với các hoạt động rất đa dạng Ngân hàng vừa là tổ chức thu hút tiền tiếtkiệm lớn nhất của nền kinh tế; vừa là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanhnghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước; vừa đóng vai trò tưvấn khi khách hàng cần thông tin tài chính hay muốn lập kế hoạch tài chính

Trong các hoạt động của ngân hàng, tín dụng là hoạt động quan trọng nhất,chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất nhưng đồngthời cũng là hoạt động có rủi ro cao nhất Các rủi ro này, một khi xảy ra, sẽ gâytổn thất làm giảm thu nhập của ngân hàng, trường hợp xấu nhất có thể đẩy ngânhàng đến bờ vực phá sản Do vậy, thẩm định tín dụng là một vấn đề rất phức tạp

và hết sức cần thiết trước khi ngân hàng đồng ý cho khách hàng vay vốn Hiệnnay, nhìn chung, các NHTM Việt Nam đều có tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn ở mức caomột phần là do công tác thẩm định còn chưa thực sự được đảm bảo Điều này gâyảnh hưởng xấu đến thu nhập và khả năng hoạt động an toàn của ngân hàng

Qua quá trình thực tập tại Ngân hàng Gia Định Chi nhánh Hà Nội, tôi nhậnthấy nhu cầu tín dụng ở chi nhánh là rất cao, bởi đây là giai đoạn phục hồi của nềnkinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới vừa qua, với rất nhiều dự án đầu tưthuộc mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề của nền kinh tế Đứng trước thực tế này, vấn

đề thẩm định tín dụng là một vấn đề rất cấp thiết và cần được đặc biệt quan tâm

Vì lý do đó, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Gia Định Chi nhánh Hà Nội” cho chuyên đề thực tập của mình.

Kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương:

Chương 1 Khái quát về thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của NHTM

Chương 2 Thực trạng công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại NHTMCP Gia Định Chi nhánh Hà Nội

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại NHTMCP Gia Định Chi nhánh Hà Nội

Trang 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT

ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM

1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1.1.1 Khái niệm

Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngânhàng sang cho khách hàng (có thể là các doanh nghiệp, hay các thể nhân kháctrong nền kinh tế) trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phínhất định Nó là nguồn cung chủ yếu cho phần lớn nhu cầu tín dụng của toàn bộnền kinh tế Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, nhu cầu vốn đểđầu tư phát triển là ngày càng gia tăng, từ đó, với vai trò của mình, tín dụng ngânhàng đã trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu

Là một loại hình tín dụng, tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chungcủa quan hệ tín dụng, nó chứa đựng ba nội dung:

- Có sự nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sửdụng (cụ thể ở đây là từ ngân hàng sang khách hàng)

- Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn

- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí

NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức đó là:cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá, cho thuê tài chính và cáchình thức khác theo quy định của NHNN Trong các hoạt động cấp tín dụng đó,cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất Trong phạm vichuyên đề này, chúng ta sẽ chỉ xét tín dụng ngân hàng dưới hình thức cho vay

- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp

- Cho vay tiêu dùng cá nhân

- Cho vay bất động sản

Trang 8

- Cho vay nông nghiệp.

- Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu

Dựa vào thời hạn tín dụng, có thể phân chia tín dụng ngân hàng thành cácloại sau:

- Cho vay ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn dưới một năm Mụcđích của loại vay này thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư và tài sản lưuđộng của doanh nghiệp

- Cho vay trung hạn: là loại hình cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm Mụcđích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố địnhcủa doanh nghiệp

- Cho vay dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm Mục đíchcủa loại vay này thường là nhằm tài trợ vốn cho các dự án đầu tư

Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, tín dụng có thể được phân chia

ra thành các loại sau:

- Cho vay không có đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản cầm cố, thếchấp hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thânkhách hàng vay vốn để quyết định cho vay (cho vay tín chấp) Loại hìnhnày thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài

và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chínhlành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng

- Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiềnvay này như là tài sản cầm cố, thế chấp, hay một khoản bảo lãnh của mộtbên thư ba nào khác

Dựa vào phương thức cho vay, tín dụng có thể được phân chia ra thành cácloại sau:

- Cho vay theo món vay: là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn,khách hàng và ngân hàng sẽ thực hiện các thủ tục vay vốn cần thiết và kýkết hợp đồng tín dụng

- Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương thức cho vay mà ngân hàng vàkhách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng – mức dư nợ vaytối đa duy trì trong một thời hạn nhất định Khác với loại vay thông thường,ngân hàng sẽ không xác định kỳ hạn nợ cho từng món vay mà chỉ khốngchế theo hạn mức tín dụng, cũng có nghĩa là, vào một thời điểm nào đó, nếu

dư nợ của khách hàng lên đến mức tối đa cho phép, thì khi đó, ngân hàng sẽkhông phát tiền vay cho khách hàng

Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay, tín dụng ngân hàng được phân chiathành các loại sau:

Trang 9

- Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi cho vay trả nợ một lần khiđáo hạn.

- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp

- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khảnăng tài chính của mình, người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào

1.2 THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM

1.2.1 Khái niệm, mục đích, tầm quan trọng của thẩm định tín dụng

Thẩm định tín dụng là sử dụng các công cụ và kỹ thuật phần tích nhằmkiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một phương án hoặc dự án màkhách hàng đã đề xuất nhằm mục đích phục vụ cho việc đưa ra quyết định tíndụng Khác với lập dự án đầu tư, thẩm định tín dụng cố gắng phân tích và hiểuđược tính chất khả thi thực sự của dự án về mặt kinh tế, và đứng trên góc độ củangân hàng Khi lập dự án, khách hàng, do mong muốn được vay vốn, có thể đã thổphồng và dẫn đến ước lượng quá lạc quan về hiệu quả kinh tế của dự án Do vậy,thẩm định tín dụng cần phải xem xét đánh giá đúng thực chất của dự án Tuynhiên, không phải vì thế mà thẩm định tín dụng ước lượng dự án một cách quákhắt khe, dẫn đến bi quan khiến cho hiệu quả của dự án bị giảm sút quá mức

Mục đích của thẩm định tín dụng là đánh giá một cách chính xác và trungthực khả năng trả nợ của khách hàng để làm căn cứ quyết định cho vay Thẩmđịnh tín dụng là một trong những khâu rất quan trọng, không thể thiếu trong toàn

bộ quy trình tín dụng

Tầm quan trọng của nó được thể hiện ở những điểm sau:

Trước tiên, thẩm định tín dụng giúp đánh giá được mức độ tin cậy củaphương án sản xuất hoặc dự án đầu tư mà khách hàng đã lập và nộp vào ngânhàng khi làm thủ tục vay vốn

Ngoài ra, nhờ thẩm định tín dụng, ngân hàng sẽ phân tích và đánh giá đượcmức độ rủi ro của dự án khi quyết định cho vay

Và trên hết, thẩm định tín dụng giúp cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng

có thể mạnh dạn ra quyết định cho vay và giảm được sự cố xảy ra hai loại sai lầmtrong quyết định cho vay, đó là: cho vay vốn đối với một dự án tồi; và từ chối chovay với một dự án tốt

Do tính chất quan trọng như vậy, thẩm định tín dụng cần phải được xem xét

và chi tiết hóa thành một quy trình riêng, gồm các nội dung cụ thể và phải đượctiến hành một cách kỹ lưỡng, cẩn trọng

Trang 10

1.2.2 Nội dung thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay của NHTM

Mục tiêu của thẩm định tín dụng là cung cấp thông tin để quyết định chovay và giảm khả năng xảy ra sai lầm dựa trên cơ sở đánh giá đúng thực chất củaphương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư và ước lượng hay kiểm soát cácrủi ro ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ khi cho vay Khả năng thu hồi nợ vayphụ thuộc vào các yếu tố sau: tư cách của khách hàng vay vốn, tình hình tài chínhcủa khách hàng, tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tưcủa khách hàng, tài sản đảm bảo nợ vay và khả năng đáp ứng thời hạn vay và nhucầu vay vồn của khách hàng

Do đó, để đảm bảo được mục tiêu thu hồi nợ, thẩm định tín dụng cần tậptrung vào các nội dung chính sau đây:

1.2.2.1 Thẩm định tư cách của khách hàng vay vốn

Mục đích của thẩm định tư cách của khách hàng vay vốn là đánh giá tưcách pháp nhân, tính chất hợp pháp và mức độ tin cậy đối với những thủ tục vay

mà khách hàng phải tuân thủ Chẳng hạn như thẩm định xem khách hàng có thỏamãn các điều kiện vay vốn hoặc thẩm định xem hồ sơ vay vốn của khách hàng cóđầy đủ và hợp pháp hay không

Thẩm định điều kiện vay vốn:

Theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, khách hàng muốn vay vốnngân hàng phải thỏa mãn các điều kiện vay vốn bao gồm:

- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu tráchnhiệm dân sự theo quy định của pháp luật

- Có mục đích vay vốn hợp pháp

- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

- Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư khả thi và

có hiệu quả

- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ

và hướng dẫn của ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thẩm định điều kiện vay vốn, nói tóm lại, đơn giản chỉ là xem xét kỹ lạinhằm phát hiện xem khách hàng có thỏa mãn những điều kiện vay vốn như đãđược chỉ ra trong quy chế tín dụng hay không Trong các điều kiện vay vốn trênđây, thẩm định mục đích sử dụng vốn vay, thẩm định khả năng tài chính và đảmbảo nợ vay, và thẩm định tính khả thi và hiệu quả của phương án sản xuất kinhdoanh hoặc dự án đầu tư là quan trọng nhất Các nội dung này sẽ được xem xét kỹtrong các phẩn dưới đây

Thẩm định mức độ tin cậy của hồ sơ vay vốn:

Trang 11

Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho tổ chức tín dụng giấy đề nghịvay vốn và các tài liệu cẩn thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn Khách hàngphải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tàiliệu gửi cho tổ chức tín dụng Tổ chức tín dụng hướng dẫn các loại tài liệu kháchhàng cần gửi cho tổ chức tín dụng phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng loạikhách hàng, loại cho vay và khoản vay Thông thường, bộ hồ sơ vay vốn gồm có:

- Giấy đề nghị vay vốn

- Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng, chẳng hạn nhưgiấy phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động

- Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc dự án đầu tư

- Báo các tài chính các thời kỳ gần nhất (Thường là ít nhất ba năm gầnnhất)

- Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay

- Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết

Thẩm định hồ sơ vay là xem xét tính chân thực và mức độ tin cậy củanhững tài liệu khách hàng cung cấp cho ngân hàng khi làm hồ sơ vay vốn Ở khíacạnh này, nhân viên tín dụng cần chú ý thẩm định xem các tài liệu quy định trong

hồ sơ vay có đầy đủ và hợp pháp hay không, còn việc đi sâu vào nội dung chi tiếtcác tài liệu quan trọng như báo các tài chính và phương án kinh doanh hay dự ánđầu tư sẽ thẩm định sau

Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan cũng như chủ quan, bản thân kháchhàng cũng không thể đánh giá chính xác được khả năng tài chính của chính mình

Do vậy, thẩm định khả năng tài chính của khách hàng là rất cần thiết Để đảm bảođiều này, khi làm các thủ tục vay, ngân hàng yêu cầu khách hàng cung cấp báo cáotài chính của các kỳ gần nhất Dựa vào những báo cáo tài chính này, nhân viên tíndụng sẽ tiến hành phân tích nhằm thẩm định lại khả năng tài chính của kháchhàng

Trang 12

Thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp cần tập trung vào hai nộidung cơ bản: thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính ; và phân tích cácbáo cáo tài chính của doanh nghiệp.

a Thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính:

Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là một bộ phận bao gồm bốn loạibáo cáo: báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyểntiền tệ và bảng thuyết minh báo cáo tài chính Trên thực tế, không phải doanhnghiệp nào cũng cũng đủ năng lực để lập đầy đủ các loại báo cáo này, do đó, khivay vốn, ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp ít nhất phải cung cấp báo cáo kết quảkinh doanh và bảng cân đối kế toán các thời kỳ gần nhất, cùng với bảng thuyếtminh báo cáo tài chính

Đứng trên góc độ doanh nghiệp, khi cung cấp các báo cáo tài chính chongân hàng, bộ phận kế toán tài chính sẽ cung cấp các bản báo cáo tài chính đượcsoạn thảo nhằm cung cấp thông tin cho bên ngoài, hơn nữa lại nhằm mục đích vayvốn Vì vậy, mục tiêu soản thảo sẽ khách với mục tiêu soạn thảo các báo cáo tàichính phục vụ cho nội bộ doanh nghiệp Điều này làm cho thông tin, số liệu trongcác báo cáo này chưa được đảm bảo, và cần phải được thẩm định về mức độ tincậy

Đối với những khoản vay có giá trị lớn, vì tính chất quan trọng của khoảnvay, ngân hàng có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các báo cáo tài chính đã quakiểm toán Trong trường hợp này, cơ quan kiểm toán sẽ giúp ngân hàng đánh giá

và chịu trách nhiệm về mức độ tin cậy của số liệu trong các báo cáo tài chính

Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng đại đa số các trường hợp vay vốn kháchhàng đều không thể cung cấp các báo tài chính đã qua kiểm toán, và ngay cả khicác báo cáo này đã được kiểm toán, công tác thẩm định mức độ tin cậy của cácbáo cáo tài chính vẫn là công việc thường xuyên và không thể thiếu của các nhânviên tín dụng Các bước tiến hành như sau:

- Nghiên cứu kỹ số liệu của các báo cáo tài chính

- Sử dụng kiến thức kế toán tài chính và kỹ năng phân tích để phát hiệnnhững điểm đáng nghi ngờ hay những bất hợp lý trong các báo cáo tàichính

- Xem xét bảng thuyết minh để hiểu rõ hơn về những điểm đáng ghi ngờtrong báo cáo tài chính

- Mời khách hàng đến thảo luận, phỏng vấn và yêu cầu giải thích về nhữngđiểm đáng nghi ngờ phát hiện được

- Viếng thăm doanh nghiệp để quan sát và nếu cần tận mắt xem lại tài liện

kế toán và chứng từ gốc làm căn cứ lập các báo cáo tài chính

Trang 13

- Kết luận sau cùng về mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính do doanhnghiệp cung cấp.

Để có thể tiến hành tốt những bước trên đây, nhân viên tín dụng cần đượctrang bị kiến thức kế toán tài chính và kỹ năng phân tích Ngoài ra, kinh nghiệmthực tiễn và sự dày dạn trong công việc đóng vai trò quyết định đối với sự thànhcông hay thất bại của công tác thẩm định

b Phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp:

Sau khi thẩm định và đánh giá mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính,bước tiếp theo là phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Mục tiêu củaphân tích báo cáo tài chính ở đây là để thẩm định tình hình tài chính của doanhnghiệp, do đó, không nhất thiếta phải tiến hành tất cả các kỹ thuật phân tích nhưthường thấy trong phân tích báo cáo tài chính mà chỉ cần sử dụng các kỹ thuậtphân tích báo cáo tài chính để thẩm định lại xem tình hình tài chính của doanhnghiệp có lành mạnh hay không Thông thường, có 5 nhóm các tỷ số tài chính cần

phân tích, đó là: các tỷ số thanh khoản, các tỷ số đòn bẩy tài chính, tỷ số khả năng hoàn trả lãi vay, các tỷ số hiệu quả hoạt động và các tỷ số khả năng sinh lời.

(i) Phân tích các tỷ số thanh khoản:

Tỷ số thanh khoản là tỷ số đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn củacông ty Loại tỷ số này gồm có: tỷ sô thanh khoản hiện thời và tỷ số thanh khoảnnhanh, và cả hai loại tỷ số này đều được xác định từ dữ liệu của bảng cân đối kếtoán Hai tỷ số này là rất quan trọng trong việc đánh giá được khả năng thanh toán

nợ của doanh nghiệp

Tỷ số thanh toán ngắn hạn được xác định bằng cách lấy giá trị tài sản lưu

động chia cho giá trị của nợ ngắn hạn phải trả:

Tỷ số thanh toán

Giá trị tài sản lưu độngGiá trị nợ ngắn hạnNếu tỷ số thanh toán ngắn hạn nhỏ hơn 1 thì kết luận khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp là thấp, tài sản của doanh nghiệp không đủ để đảm bảo nợ vay;còn trong trường hợp ngược lại, tỷ số này lớn hơn 1 thì doanh nghiệp đủ khả năngthanh toán

Tuy nhiên, do đặc điểm của từng ngành sản xuất sẽ ảnh hưởng đến việc duytrì tỷ số thanh toán ngắn hạn nên ngoài việc so sánh nó với 1, còn phải lưu ý sosánh với tỷ số thanh khoản bình quân của ngành để hiểu kỹ hơn về khả năng thanhtoán hiện thời của doanh nghiệp

Trang 14

Khi xác định tỷ số thanh toán ngắn hạn, ta có tính cả hàng tồn kho trong giátrị tài sản lưu động đảm bảo cho nợ ngắn hạn Tuy nhiên, trên thực tế, hàng tốnkho kém thanh khoản hơn, do vậy, để tránh nhược điểm này, nên sử dụng tỷ sốthanh khoản nhanh.

Tỷ số thanh toán nhanh được xác định bằng công thức:

Tỷ số thanh toán

Giá trị tài sản lưu động – Giá trị hàng tốn kho

Giá trị nợ ngắn hạnTrong thực tiễn, giá trị tài sản lưu động còn bao gồm cả những tài sản cònkém thanh toán hơn cả hàng tồn kho Do vậy, khi tính toán tỷ số thanh toán nhanh,trên tử số, thay vì lấy giá trị tài sản lưu động trừ đi giá trị hàng tồn kho, có thểcộng dồn giá trị các loại tài sản lưu động có tính thanh khoản cao hơn hàng tồnkho như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán ngắn hạn, v.v

(ii) Phân tích các tỷ số đòn bẩy tài chính:

Tỷ số đòn bẩy tài chính, còn được gọi là tỷ số nợ, là tỷ số đo lường mức độ

sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động của công ty, gồm có: tỷ số nợ so với vốn chủ

sở hữu, tỷ số nợ so với tổng tài sản và tỷ số nợ dài hạn

Tỷ số nợ so với vốn chủ sở hữu đánh giá mức độ sử dụng nợ cũng như khả

năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp Công thức xác định như sau:

Tỷ số so với vốn

Tổng giá trị nợGiá trị vốn chủ sở hữu

Tỷ số này chỉ nên biến động từ 0 đến dưới 1 Nếu tỷ số này bằng hoặc lớnhơn 1, chứng tỏ doanh nghiệp đã quá lệ thuộc vào vốn vay và như vậy, rủi ro củadoanh nghiệp dồn sang ngân hàng là rất lớn

Tỷ số nợ so với tổng tài sản đánh giá mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho toàn

bộ tài sản của doanh nghiệp Công thức xác định như sau:

Tỷ số nợ so với

tổng tài sản =

Tổng giá trị nợTổng tài sảnNếu tỷ số này lớn hơn hoặc bằng 1 có nghĩa là toàn bộ tài sản doanh nghiệpkhông đủ để trả nợ và doanh nghiệp sẽ ngay lập tức phá sản nếu toàn bộ các chủ

nợ đòi nợ cùng lúc Nhìn chung ,tỷ số này chỉ nên biến động từ 0 đến dưới 1

Tỷ số nợ dài hạn xác định bằng cách lấy nợ dài hạn chia cho tổng giá trị

vốn dài hạn của doanh nghiệp, bao gồm nợ dài hạn cộng với vốn chủ sở hữu:

Trang 15

Tỷ số nợ dài hạn = Giá trị nợ dài hạn

Giá trị nợ dài hạn + Giá trị vốn chủ sở hữu

Tỷ số này thể hiện tỷ trọng của nợ dài hạn trong nguồn vốn dài hạn củadoanh nghiệp

Tóm lại, khi cho vay, ngân hàng sẽ không thích cho vay các doanh nghiệp

có tỷ số nợ quá lớn, vì như vậy, khả năng hoàn trả nợ vay sẽ giảm rất nhiều

(iii) Phân tích tỷ số khả năng hoàn trả lãi vay:

Tỷ số khả năng hoàn trả lãi vay là loại tỷ số xác định từ bảng báo cáo kết

quả kinh doanh của doanh nghiệp Loại tỷ số này cũng được gọi là tỷ số trang trảichi phí tài chính, nó phản ánh mối quan hệ giữa khả năng trang trải chi phí và chiphí tài chính mà doanh nghiệp phải gánh chịu Tỷ số khả năng hoàn trả lãi vay là

tỷ số đo lường khả năng sủ dụng lợi nhuận của công ty để thanh toán lãi vay Côngthức xác định như sau:

Tỷ số khả năng

hoàn trả lãi vay =

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Chi phí lãi vay

(iv) Phân tích các tỷ số hiệu quả hoạt động:

Đứng trên góc độ ngân hàng khi phân tích tài chính doanh nghiệp, tathường quan tâm nhiều nhất đến các tỷ số thanh khoản, tỷ số nợ và tỷ số khả nănghoàn trả lãi vay vì các tỷ số này trực tiếp đo lường khả năng thanh toán của nợ vàlãi vay khách hàng Tuy nhiên, để có thể đánh giá một cách chính xác và đầy đủnhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp, cần phải phân tích thêm nhóm tỷ sốhiệu quả hoạt động

Tỷ số hoạt động khoản phải thu – tỷ số này cung cấp cái nhìn sâu vào chất

lượng của khoản phải thu và hiệu quả thu hồi nợ của doanh nghiệp, nó thường

được biểu hiện dước dạng vòng quay khoản phải thu Công thức xác định như sau:

Vòng quay khoản

Doanh thu bán chịu ròngBình quân giá trị khoản phải thu

Từ số liệu vòng quay khoản phải thu, chúng ta có thể xác định được kỳ thu

tiền bình quân tính theo ngày:

Trang 16

quân Số vòng quay khoản phải thu

Tỷ số hoạt động khoản phải trả - tỷ số này đo lường uy tín của doanh

nghiệp trong việc trả nợ đúng hạn Tương tự tỷ số hoạt động khoản phải thu, tỷ số

hoạt động khoản phải trả cũng có thể xác định bằng chỉ tiêu vòng quay khoản phải trả và kỳ trả tiền bình quân:

Số ngày trong năm

Số vòng quay khoản phải thu

Tỷ số hoạt động tồn kho – tỷ số để đánh giá hiệu quả quản lý tồn kho của

doanh nghiệp Tỷ số này có thể được đo lường bằng chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho trong một năm hoặc số ngày tồn kho:

Vòng quay hàng

Giá vốn hàng bánBình quân giá trị hàng tồn kho

Số vòng quay hàng tồn kho

Tỷ số hoạt động tổng tài sản – tỷ số này sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt

động của tổng tài sản của doanh nghiệp nói chung Hiệu quả hoạt động của tổngtài sản được đo bằng chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết bìnhquân mỗi đồng giá trị tài sản của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng doanhthu

Vòng quay tổng

Doanh thu thuầnBình quân giá trị tổng tài sản

(v) Phân tích các tỷ số khả năng sinh lời:

Khả năng sinh lời của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả

nợ và lãi vay Do vậy, khi cho vay, cán bộ tín dụng cần quan tâm đến phân tích

Trang 17

khả năng sinh lời của doanh nghiệp Tùy theo mục tiêu phân tích, có thể sử dụngcác tỷ số sau đây:

Khả năng sinh lời so với doanh thu – tỷ số này đo lường khả năng sinh lời

so với doanh thu Tỷ số này có thể sủ dụng lãi gộp hoặc lợi nhuận ròng để tínhtoán

Tỷ số lãi gộp trên

Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán

Doanh thu thuần

Tỷ số lợi nhuận

ròng trên doanh

thu

Doanh thu thuần

Khả năng sinh lời so với tài sản – tỷ số này đo lường khả năng sinh lời so

với tài sản, hay, nó cho biết mỗi đồng giá trị tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận cho doanh nghiệp

Khả năng sinh lời so với vốn chủ sở hữu – tỷ số này đo lường khả năng

sinh lời so với vốn chủ sở hữu bỏ ra, hay, nó cho biết cứ mỗi đồng vốn chủ sở hữu

bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

Việc tính toán và phân tích các tỷ số tài chính như đã trình bày trên đâychưa phải là mục tiêu sau cùng của công tác thẩm định tình hình tài chính củadoanh nghiệp Sau khi tính toán và phân tích, phải đưa ra đánh giá hay kết luậnchung về tình hình tài chính của doanh nghiệp Muốn làm được như vậy, cần phải

so sánh các tỷ số tài chính xác định trên đây với một số căn cứ để có thể rút ra kếtluận Các căn cứ này có thể là các tỷ số của những thời kỳ trước, của các doanhnghiệp khác có hoàn cảnh tương tự hay so với các tỷ số bình quân của ngành

Trang 18

1.2.2.3 Thẩm định phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư

a Thẩm định phương án sản xuất kinh doanh

Khi vay vốn ngắn hạn, khách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng phương

án sản xuất kinh doanh, trong đó chỉ rõ: tình hình thị trường, dự báo doanh thu,ước lượng chi phí, ước lượng lợi nhuận, đánh giá khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi.Mục đích của việc này là để ngân hàng đánh giá khả năng hoản trả vốn vay củakhách hàng Do vậy, khi lập phương án kinh doanh, doanh nghiệp có xu hướngthổi phồng doanh thu và giảm chi phí sao cho mới nhìn vào thì phương án sản xuấtkinh doanh là rất khả thi và hiệu quả Chính vì thế, cán bộ tín dụng phải phân tích

và thẩm định lại phương án sản xuất kinh doanh xem mức độ tin cậy như thế nào

Có hai vấn đề cơ bản cần lưu ý khi xem xét một phương án sản xuất kinh doanh:

(1) Thẩm định thị trường và dự báo doanh thu

Yếu tố quyết định trước tiên khi thẩm định một phương án sản xuất kinhdoanh là phân tích thị trường và qua đó, dự báo doanh thu Để phân tích tốt tìnhhình thị trường, cán bộ tín dụng phải am hiểu về tình hình thị trường của sản phẩmhoặc ngành sản xuất kinh doanh mà khách hàng đang hoạt động Đó là sự am hiểu

về nhu cầu thị trường, về giá cả và về thị phần của khách hàng mình xem xét cấptín dụng Nếu cần, có thể tham khảo thêm thông tin về nghiên cứu thị trường hoặcthông tin về ngành sản xuất kinh doanh Ngoài ra, ngân hàng nên phân công thêmnhững cán bộ tín dụng chuyên trách theo ngành sản xuất kinh doanh để có thể nắmbắt đầy đủ, kịp thời đặc điểm, tình hình thị trường của ngành sản xuất kinh doanhđó

Qua phân tích và dựa và kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết về tình hình thịtrường của ngành sản xuất kinh doanh mình đang xem xét, cán bộ tín dụng có thểđưa ra đánh giá kết luận về mức độ tin cậy của phương án sản xuất kinh doanh màkhách hàng đã lập Từ đó, đánh giá chung về tính chất khả thi và hiệu quả củaphương án đó

Phân tích tình hình thị trường và dự báo doanh thu mới chỉ thể hiện mộtmặt khi đánh giá tính khả thi của một phương án sản xuất kinh doanh Chỉ khi tiếnhành phân tích và đánh giá cả các khoản mục chi phí, mới có thể đưa ra được đánhgiá toàn diện và chính xác nhất

(2) Thẩm định dự báo các khoản mục chi phí

Để phân tích và đánh giá mức độ tin cậy của các khoản mục chi phí đòi hỏicán bộ tín dụng phải am hiểu về kế toán quản trị, kế toán chi phí và cách tính giáthành sản phẩm Từ đó, có thể đưa ra phán quyết khoản mục chi phí nào là hợp lý,khoản mục chi phí nào là không hợp lý

Ngoài kinh nghiệm và sự am hiểu về ngành, cán bộ tín dụng nên thu thậpthêm thông tin về chi phí của những doanh nghiệp khác trong cùng ngành có quy

Trang 19

mô tương tự để làm cơ sở so sánh Từ đó, đưa ra kết luận về mức độ tin cậy củacác khoản mục chi phí mà khách hàng đã xây dựng trong phương án sản xuất kinhdoanh.

Một điều rất đáng lưu ý khi thẩm định các khoản mục chi phí, đó là thực tếcho thấy rằng, theo các phương pháp kế toán khác nhau sẽ có các kết luận khácnhau đối với một số khoản mục chi phí Thường xảy ra kết luận khác nhau ởnhững khoản mục chi phí sau:

- Chi phí khấu hao: sự khác biệt ở đây đến từ các phương pháp khấu hao

khác nhau Để chứng tỏ cho nhân viên tín dụng biết phương án sản xuấtkinh doanh có hiệu quả cao, doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháptính khấu hao nào giúp tiết kiệm chi phí khấu hao nhiều nhất Ví dụ nhưkéo dài thời gian khấu hao hay hạ tỷ lệ khấu hao

- Chi phí hàng tồn kho: sự khác biệt về chi phí hàng tồn kho thường xảy ra

do sử dụng các phương pháp xác định tồn kho khác nhau Ví dụ nhưphương pháp LIFO tất nhiên sẽ đưa ra những kết luận rất khác về chi phítồn kho so với phương pháp FIFO

Từ việc thẩm định dự báo doanh thu và chi phí, nhân viên tín dụng sẽ đưa

ra được dự báo về kết quả kinh doanh của phương án, qua đó, rút ra kết luận chínhxác và đầy đủ nhất về tính khả thi và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanhcủa khách hàng

b Thẩm định dự án đầu tư

Đối với các khoản tín dụng trung và dài hạn, đại đa số nhằm mục đích tàitrợ cho các dự án đầu tư Do đó, dự án đầu tư là cơ sở quan trọng để ngân hàngxem xét và quyết định có cho doanh nghiệp vay vốn hay không Thẩm tín dụnglúc này, thực chất không gì khác hơn là thẩm định dự án đầu tư Nhiệm vụ củacông tác thẩm định là rà soát, phát hiện những điểm sai sót, những điểm đáng nghingờ, chư rõ ràng của dự án, và cùng với khách hàng thảo luận, từ đó đưa ra kếtluận chính xác nhất về hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án

Mục tiêu của thẩm định khi cho vay tài trợ dự án đầu tư là đánh giá mộtcách chính xác và trung thực khả năng sinh lời của dự án, qua đó, xác định đượckhả năng thu hồi nợ khi ngân hàng cho vay để đầu tư vào dự án đó Để đánh giákhả năng sinh lời của dự án, cần dựa vào các chỉ tiêu NPV, IRR và PP Thế nhưngviệc xác định các chỉ tiêu này tùy thuộc vào mức độ chính xác của ước lượng dòngtiền và lãi suất chiết khấu ; mà độ chính xác của các ước lượng này lại phụ thuộcvào các thông số dự báo thị trường và doanh cũng như các thông số xác định chiphí

Do vậy, công tác thẩm định sẽ bao gồm những nội dung sau:

(1) Thẩm định các thông số dự báo thị trường và doanh thu

Trang 20

Các thông số dự báo thị trường là những thông số dùng làm căn cứ để dựbáo thị trường và thị phần của doanh nghiệp, qua đó, có thể ước lượng được doanhthu của dự án Do vậy, mức độ chính xác của doanh thu ước lượng phụ thuộc rấtlớn vào những thông số này Các thông số thường gặp bao gồm:

- Dự báo tăng trưởng kinh tế

- Dự báo tỷ lệ lạm phát

- Dự báo tỷ giá

- Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu

- Dự báo tốc độ tăng giá

- Dự báo nhu cầu thị trường

- Ước lượng thị phần của doanh nghiệp

- Ngoài ra tùy theo từng dự án, sẽ có nhiều loại thông số dự báo khác nhau

(2) Thẩm định các thông số xác định chi phí

Tương tự như dự báo thị trường và doanh thu, việc dự báo chi phí hoạtđộng của dự án cũng có các thông số dùng làm cơ sở Các thông số này rất đadạng và thay đổi tùy theo đặc điểm công nghệ sử dụng trong từng loại dự án.Thông thường, các thông số này do các chuyên gia kỹ thuật và chuyên gia kế toánước lượng và đưa ra Các thông số thường thấy bao gồm:

- Công suất máy móc thiết bị

- Định mức tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, sử dụng lao động…

- Đơn giá các loại chi phí như lao động, nguyên vật liệu, nhiên liệu, nănglượng…

- Phương pháp, tỷ lệ tính khấu hao

- Ngoài ra, tùy theo từng dự án, còn có nhiều loại thông số dự báo khác

(3) Thẩm định dòng tiền của dự án

Dòng tiền của dự án là dự toán thu chi trong suốt thời gian tuổi thọ của dự

án, nó bao gồm những khoản thực thu (dòng tiền vào), thực chi (dòng tiền ra) của

dự án tính theo từng năm

Thẩm định cách thức xử lý các loại chi phí khi ước lượng dòng tiền:

Chi phí cơ hội: là những khoản thu nhập mà doanh nghiệp bỏ lỡ do phải

sử dụng nguồn lực vào dự án Chi phí này không phải là một khoản thực

Trang 21

chi nhưng vẫn được tính vào dòng tiền vì đó là một khoản thu nhập màdoanh nghiệp mất đi khi thực hiện dự án.

Chi phí chìm: là những chi phí phát sinh trước khi có quyết định thực hiện

dự án Đó là các chi phí đã xảy ra bất chấp việc dự án có được thực hiệnhay không, do vậy, các chi phí này không được tính vào dòng tiền của dự

án Các loại chi phí này có thể kể ra như chi phí nghiên cứu phát triển sảnphẩm, chi phí thuê chuyên gia lập dự án…

Chi phí lịch sử: là chi phí cho những tài sản sẵn có của doanh nghiệp,

được sử dụng cho dự án Chi phí này thực chất là chi phí cơ hội của các tàisản đó

Nhu cầu vốn lưu động: là nhu cầu vốn dự án cần phải chi để tài trợ cho

nhu cầu tồn quỹ tiền mặt, các khoản phải thu, tồn kho sau khi trừ đi cáckhoản bù đắp các khoản phải trả Cần lưu ý rằng chỉ có phần thay đổi vốnlưu động chứ không phải toàn bộ nhu cầu vốn lưu động mới được tính vàodòng tiền của dự án

Nhu cầu vốn lưu động = Tồn quỹ tiền mặt + Khoản phải thu +

+ Tồn kho – Khoản phải trảKhi nhu cầu vốn lưu động tăng thì dự án cần một khoản chi tăng thêm,ngược lại, khi nhu cầu vốn lưu động giảm, dự án sẽ có một khoản thu về:

 Nhu cầu vốn lưu động =  Tiền mặt +  Khoản phải thu +

+  Tồn kho –  Khoản phải trả

Thuế thu nhập doanh nghiệp: là một dòng tiền ra của dự án, được xác

định dựa vào báo cáo kết quả kinh doanh của dự án Thuế thu nhập chịuảnh hưởng bởi phương pháp khấu hao và cơ cấu vốn của dự án

Các chi phí gián tiếp: khi dự án được thực hiện có thể làm tăng chi phí

gián tiếp của công ty, do đó, chi phí tăng thêm này cần phải được tính vàodòng tiền của dự án

Thẩm định cách xử lý lạm phát:

Khi ước lượng dòng tiền của dự án cần ước lượng tỉ lệ lạm phát kỳ vọng, vìlạm phát cao có thể làm cho lợi ích mà dự án mang lại trong tương lai không đủ để

bù đắp khoản đầu tư vào thời điểm hiện tại Thông thường khách hàng hoặc là loại

bỏ yếu tố lạm phát, hoặc là xử lý lạm phát như là yếu tố làm tăng giá bán, qua đó,làm tăng doanh thu mà bỏ qua yếu tố lạm phát làm tăng cả chi phí Do đó, cầnxem xét kỹ lưỡng cách xử lý lạm phát của doanh nghiệp khi lập dự án đầu tư

Hai phương pháp xác định dòng tiền

Dòng tiền của dự án có thể đến từ ba nguồn: dòng tiền hoạt động, dòng tiềnđầu tư và dòng tiền tài trợ, khi thẩm định dòng tiền, dưới góc độ của ngân hàng,

Trang 22

cần loại bỏ ảnh hưởng từ nguồn tài trợ nên không kể đến dòng tiền tài trợ (điềungân hàng quan tâm là dự án có hiệu quả hay không từ bản thân quan hệ giữa chiphí và lợi ích của dự án, chứ không phải từ tác động của đòn bẩy tài chính) Đểước lượng dòng tiền có hai cách: trực tiếp hoặc gián tiếp.

Phương pháp trực tiếp: theo phương pháp này, dòng tiền hoạt động bao

gồm dòng tiền vào từ các hoạt động của dự án và dòng tiền ra chi cho hoạtđộng của dự án

Phương pháp gián tiếp: theo phương pháp này, dòng tiền hoạt động bao

gồm lợi nhuận sau thuế công khấu hao, trừ chi tiếp tục cho đầu tư (nếu có)

và cộng (hoặc trừ) thay đổi nhu cầu vốn lưu động

(4) Thẩm định chi phí sử dụng vốn

Chi phí sử dụng vốn chung của một doanh nghiệp chính là suất sinh lời yêucầu trên tài sản của doanh nghiệp Nếu một doanh nghiệp có vay nợ, cơ cấu vốncủa doanh nghiệp bao gồm một phần là nợ và một phần là vốn chủ sở hữu, thì chiphí sử dụng vốn bình quân sẽ được xác định theo công thức sau:

Trong đó: E là giá thị trường của vốn chủ sở hữu

D là giá trị trường của nợ

Tc là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

RD là chi phí sử dụng nợ

RE là chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu

Để có thể tiến hành thẩm định một cách chính xác chi phí sử dụng vốn của

dự án, nhân viên thẩm định cần phải có kinh nghiệm và am hiểu tình hình cụ thểcủa ngành sản xuất kinh doanh để ước lượng hợp lý về rủi ro của dự án Ngoài ra,trình độ và sự am hiểu về thị trường vốn cũng rất cần thiết trong việc ước lượnglợi nhuận đòi hỏi, từ đó, ước lượng được chi phí sử dụng vốn của dự án

Khi thẩm định chi phí sử dụng vốn của dự án, cần chú ý những sai sót sau:

- Ước lượng chi phí sử dụng vốn mà bỏ qua quan hệ giữa lợi nhuận và rủi

ro, chỉ đơn giản lấy lãi suất vay ngân hàng làm suất chiết khấu

- Ước lượng chi phí sử dụng vốn không xuất phát dựa trên cơ sở lợi nhuậnphi rủi ro (lợi nhuận khi đầu tư vào tín phiếu Kho bạc)

- Ước lượng chi phí sử dụng vốn không dựa trên cơ sở tính trung bình giữacác bộ phận vốn được sử dụng

Trang 23

(5) Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá dự án

Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV)

Chỉ tiêu này thể hiện giá trị tăng thêm mà dự án đem lại cho doanh nghiệp

Nó được tính theo công thức sau:

NPV =

t=o

n NCF t

(1+r ) t

Trong đó: NCFt là dòng tiền ròng năm t

r là tỷ suất chiết khấu của dự án

n là tuổi thọ của dự án

Ý nghĩa:

- NPV > 0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời cao hơn chi phí cơ hội của vốn

- NPV = 0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời bằng chi phí cơ hội của vốn

- NPV < 0 có nghĩa là dự án có suất sinh lời thấp hơn chi phí cơ hội củavốn

Dự án chỉ đáng đầu tư nếu NPV của nó lớn hơn hoặc bằng 0 vì chỉ khi đó,doanh thu từ dự án mới đủ để bù đắp chi phí và mang lại lợi nhuận tăng thêm chonhà đầu tư

Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR)

Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là tỷ suất chiết khấu để NPV của dự án bằng 0 Đểtính tỷ suất hoàn vốn nội bộ, ta lập phương trình sau:

NPV =

t=o

n NCF t

(1+IRR ) t

Sau đó, giải phương trình và tính IRR

Một dự án chỉ được chấp nhận khi tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) lớn hơnhoặc bằng tỷ suất sinh lời yêu cầu (tỷ suất chiết khấu) Suât sinh lời yêu cầu ở đâychính là WACC của dự án

Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn (PP)

Thời gian hoàn vốn là thời gian để dòng tiền tạo ra từ dự án đủ để bù đắpchi phí đầu tư ban đầu Cơ sở để chấp nhận dự án dựa trên cơ sở thời gian hoànvốn là thời gian hoàn vốn (PP) phải thấp hơn hoặc bằng thời gian hoàn vốn yêucầu

Trang 24

Trong đó, n là số năm để dòng tiền tích lũy của dự án vẫn nhỏ hơn 0.

Chỉ số lợi nhuận (PI)

Chỉ tiêu lợi nhuận là tỷ số giữa tổng giá trị hiện tại ròng của lợi nhuận vớitổng giá trị hiện tại ròng của chi phí đầu tư cho dự án Công thức như sau:

Chỉ số lợi nhuận

∑ PV (Lợi nhuận ròng)

∑ PV (Chi phí đầu tư ròng)

Nếu NPV là chỉ tiêu đánh giá số đo tuyệt đối của lợi nhuận, thì PI là số đotương đối, thể hiện lợi nhuận tạo ra từ mỗi đồng chi phí đầu tư vào dự án

(6) Phân tích và kiểm soát rủi ro của dự án

Các bước trên đều được tiến hành trước khi phê duyệt khoản vay, trong khiviệc thu hồi nợ được tiến hành sau khi cho vay nên không ai biết được điều gì sẽxảy ra trong suốt quá trình sử dụng vốn vay Do đó, công tác quản lý và kiểm soátrủi ro của dự án là hết sức cần thiết

Muốn tiến hành tốt công tác này, cần nắm được các kỹ thuật phân tích rủi

ro Dưới đây là các kỹ thuật phân tích thường được sử dụng, từ đơn giản đến phứctạp: phân tích độ nhạy, phân tích tình huống và phân tích mô phỏng

Phân tích độ nhạy:

Đây là kỹ thuật phân tích nhằm thấy được sự ảnh hưởng của các biến độclập lên biến phụ thuộc Ở đây, biến phụ thuộc cần phân tích là NPV và IRR Cácbiến độc lập tác động lên hai chỉ tiêu này là các thông số khi ước lượng chi phí vàdòng tiền, bao gồm:

- Tỷ lệ lạm phát

- Tý giá hối đoái

- Thị phần của doanh nghiệp

- Công suất máy móc, thiết bị

- Sản lượng tiêu thụ

- Đơn giá bán

- Tốc độ tăng giá bán

- Định mức tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, sử dụng lao động

- Đơn giá các loại chi phí như lao động, nguyên vật liệu, nhiên liệu, nănglượng

Trang 25

- Tình huống kỳ vọng: đây là tình huống bình thường mà ta kỳ vọng sẽ xảy

ra trong tương lai

- Tình huống xấu: đây là tình huống có tác động tiêu cực lên NPV và IRR,

khi tình huống này xảy ra, hai chỉ tiêu này sẽ giảm đi

- Tình huống tốt: đây là tình huống có tác động tích cực lên NPV và IRR,

khi tình huống này xảy ra, hai chỉ tiêu này sẽ tăng lên

Kỹ thuật này bổ sung nhược điểm của phân tích độ nhạy ở chỗ nó xem xétđồng thời tác động của nhiều yếu tố, tuy nhiên nó có nhược điểm là vẫn chưa chỉ

ra được xác suất xảy ra các tình huống, và thực tê, kỹ thuật này chỉ có thể xem xétcác tình huống rất hạn chế

Phân tích mô phỏng:

Kỹ thuật phân tích mô phỏng là kỹ thuật hiện đại và phức tạp nhắt, nó khắcphục được những hạn chế của phân tích độ nhạy và phân tích tình huống Phântích mô phỏng cho phép chúng ta phân tích sự tác động của nhiều yếu tố lên NPV

và IRR qua hàng trăm, hàng nghìn tình huống, qua đó, có thể xác định xác suất đểNPV>0 hay IRR>WACC là bao nhiêu

1.2.2.4 Thẩm định tài sản đảm bảo

Tài sản đảm bảo là tài sản của người vay để bảo đảm với người cho vay khingười vay không trả được nợ Do đó, mục tiêu của thẩm định tài sản đảm bảo làđánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng thanh lý của tài sản bảo đảm

nợ vay khi cần thiết Khả năng thanh lý tài sản nói chung phụ thuộc tính chất pháp

lý và giá trị thị trường của nó Chính vì vậy, nội dung của thẩm định tài sản đảmbảo nợ vay tập trung vào khía cạnh pháp lý của tài sản và khả năng thanh lý của tàisản theo giá trị thị trường

a Thẩm định giá trị pháp lý của tài sản đảm bảo

Khi thẩm định giá trị pháp lý của tài sản đảm bảo, cần chia tài sản đảm bảo

có hai loại: tài sản có đăng ký quyền sở hữu (bất động sản, phương tiện vận tải…)

và tài sản không có đăng ký quyền sở hữu (hàng hóa, vàng bạc, ngoại tê…) Ngoài

Trang 26

ra, còn có các loại tài sản đặc biệt có thể có chứng nhận quyền sở hữu, có thểkhông như trái phiếu, cổ phiếu…

Đối với các tài sản có đăng ký quyền sở hữu, khi thẩm định, chỉ cần xemxét tính chân thực của giấy chứng nhận đăng ký sở hữu

Đối với các tài sản không có đăng ký quyền sở hữu, quá trình thẩm định sẽphức tạp hơn Nhân viên tín dụng cần xem xét những tài liệu liên quan đến tài sảnnhư hóa đớn mua hàng, chứng nhận lưu kho, thuê kho, ký gửi hàng hóa… để đánhgiá tính chất sở hữu hợp pháp đối với tài sản này

b Thẩm định giá trị thị trường của tài sản đảm bảo

Để thẩm định giá trị thị trường của tài sản đảm bảo, trước tiên, cần chia tàisản ra thành hai loại: tài sản hữu hình và tài sản vô hình hay tài sản tài chính Sau

đó, sử dụng mô hình chiết khấu dòng tiền để tính toán giá trị thị trường của tài sảnđảm bảo Nguyên tắc chung khi sử dụng mô hình này là:

- Ước lượng dòng tiền kỳ vọng tạo ra từ tài sản

- Ước lượng mức độ rủi ro, dựa vào đó để quyết định tỷ suất chiết khấu chophừ hợp

- Xác định giá trị hiện tại của tài sản trên cơ sở dòng tiền kỳ vọng và tỷ suấtchiết khấu vừa ước lượng

Khi định giá tài sản đảm bảo, nhân viên tín dụng tính toán thu được giá trị

lý thuyết hay giá trị kỳ vọng, đó là giá trị chưa xảy ra Trong khi đó, khi cần thanh

lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ vay, ngân hàng thanh lý tài sản theo giá thịtrường Do đó, rủi ro thanh lý tài sản phụ thuộc nhiều vào độ chênh lệch này

1.2.2.5 Thẩm định khả năng đáp ứng thời hạn vay và nhu cầu của khách

hàng

Trước khi ra quyết định có cho vay hay không, một vấn đề mà ngân hàngcần quan tâm, đó là, xác định nhu cầu vay của khách hàng, thời hạn và phươngthức trả nợ phù hợp

Cho vay từng lần (cho vay ngắn hạn)

Mức cho vay được xác định trên cơ sở nhu cầu vay vốn của từng phương

án, khả năng huy động vốn của ngân hàng, giá trị bảo đảm tín dụng

Xác định nhu cầu vay:

Trang 27

Số vốn cho vay = Nhu cầu vốncho sản xuất

kinh doanh

– Vốn chủ sởhữu – Các nguồnvốn khác Trong đó:

Nhu cầu vốn cho

Số vốn cho vay = Giá trị tài sản đảm

Hạn mức tín dụng là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xácđịnh và thỏa thuận một hạn mức tín dụng – mức dư nợ vay tối đa duy trì trong mộtthời hạn nhất định Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinhdoanh và nhu cầu vay vốn của khách hàng ngân hàng ước lượng hạn mức tín dụngđối với các doanh nghiệp như sau (không kể các công ty tài chính, các tổ chức tíndụng):

Bước1: Xác đinh dự trữ hợp lý cao nhất trong kỳ trước (hoặc cuối kỳ)

Dựa trên dự trữ thực tế cao nhất kỳ trước, loại trừ các dự trữ bất hợp lý

Dự trữ cao nhất

hợp lý kỳ trước = thế cao nhấtDự trữ thực –

Hàng kém chất lượng, chậm luânchuyển, hàng không thuộc đốitượng cho vay của ngân hàngBước 2: Xác định dự trữ cao nhất hợp lý kỳ này

Trang 28

Hạn mức tín dụng

cao nhất trong kỳ =

Dự trữ caonhất hợp lý

kỳ này

– Vốn chủ sởhữu thamgia dự trữ

– khác tham giaCác nguồn

dự trữ

Cho vay trung và dài hạn

Nhu cầu vốn vay = Tổng mức vốn đầutư thực hiện dự án – vốn khác tham gia dự ánVốn tự có và các nguồn

Thời hạn cho vay = Thời gian thi công thực hiệndự án – Thời hạn trả nợ

Thời hạn trả nợ = Số tiền ngân hàng cho vay

Số tiền trả nợ ngân hàng bình quân hàng nămNguồn trả nợ bao gồm: khấu hao tài sản cố định được hình thành bằng vốnvay ngân hàng, lợi nhuận tạo ra từ dự án có thể dùng để trả nợ và các nguồn trả nợkhác

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM

Công tác thẩm định tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố.Việc nghiên cứu kỹ các nhân tố này sẽ góp phần làm cho công tác thẩm định cóhiệu quả cao hơn, mang lại các kết quả chính xác hơn; từ đó, giúp cho ngân hàngđưa ra các quyết định tín dụng đúng đắn nhất Các nhân tố này được chia ra thànhhai nhóm, đó là nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan

1.3.1 Nhóm nhân tố khách quan

Đây là những nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng, ngân hàngchỉ có thể cố gắng khắc phục và thích nghi

1.3.1.1 Các nhân tố từ phía doanh nghiệp đi vay

Hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp là cơ sở quan trọng để ngân hàng tiếnhành thẩm định, do đó, trình độ lập các hồ sơ vay vốn, phương án sản xuất kinhdoanh hay dự án đầu tư của doanh nghiệp yếu kém sẽ ảnh hưởng xấu đến chất

Trang 29

lượng thẩm định của ngân hàng Lúc này, ngân hàng sẽ phải kéo dài thêm thời gianthu thập, tính toán, phân tích các thông tin của doanh nghiệp.

Mặc khác, dù trình độ cán bộ thẩm định có tốt đến đâu cũng khó có thể đi sâu vànắm vững được tình hình nội bộ của doanh nghiệp Do vậy, tính xác thực của các thôngtin mà doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng về tình hình tài chính, tình hình hoạt động,phương án kinh doanh hay dự án đầu tư cũng là một vấn đề ảnh hưởng đến chất lượngcủa công tác thẩm định Như vậy, để công tác thẩm định mang lại kết quả chính xác nhất,việc cung cấp thông tin đúng, đầy đủ, chính xác của doanh nghiệp là rất cần thiết

Tóm lại, sự hợp tác và năng lực thực sự của doanh nghiệp là một sự đảm bảo tốtcho ngân hàng trong công tác thẩm định tín dụng

1.3.1.2 Môi trường kinh tế - xã hội

Mức độ phát triển của kinh tế, xã hội của một quốc gia quy định kinhnghiệm năng lực, trình độ phổ biến của các chủ thể của nền kinh tế, từ đó quyếtđịnh tính minh bạch và độ tin cậy của các thông tin, từ đó ảnh hưởng đến chấtlượng thẩm định Với nền kinh tế chưa phát triển, cơ chế kinh tế thiếu đồng bộcùng với sự bất ổn của các điều kiện kinh tế vĩ mô như ở nước ta hiện nay, việccung cấp những thông tin xác thực phản ánh đúng diễn biến, mối quan hệ thịtrường, những thông tin về dự báo tình hình của nền kinh tế gặp rất nhiều hạn chế.Đồng thời, việc các định hướng, chính sách phát triển kinh tế, xã hội theo vùng,ngành chưa được xây dựng một cách đồng bộ và ổn định cũng là một yếu tố rủi rotrong công tác phân tích, đánh giá của ngân hàng

Ngoài ra, môi trường kinh tế liên tục biến động làm cho công tác nhận định,

dự báo rủi ro của ngân hàng trở nên khó khăn hơn Một khi nhận định của ngânhàng bị sai lệch, các rủi ro tiềm ẩn trở thành hiện thực, nếu không có các biện phápchống đỡ, dự phòng từ trước thì ngân hàng có thể gặp phải rủi ro rất lớn

1.3.1.3 Môi trường pháp lý

Các chính sách, cơ chế quản lý đóng vai trò điều chỉnh, định hướng hoạtđộng của các chủ thể trong nền kinh tế Những khiếm khuyết trong tính hợp lý,đồng bộ và hiệu lực của các văn bản pháp lý của Nhà nước đều tác động xấu đếnchất lượng công tác thẩm định của ngân hàng Sự mâu thuẫn, chồng chéo của cácvăn bản luật, dưới luật về các lĩnh vực, sự thay đổi liên tục những văn bản về quychế quản lý tài chính, tính không hiệu lực của pháp lệnh kế toán thống kê gây khókhăn cho ngân hàng trong việc đánh giá, dự báo rủi ro, hạn chế trong việc thu thậpcác thông tin chính xác phục vụ cho công tác thẩm định (như doanh nghiệp cónhiều loại báo cáo khác nhau cho các mục đích khác nhau)

1.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan

Trang 30

Đây là những nhân tố bên trong, thuộc về nội bộ mà ngân hàng có thể chủđộng kiểm soát, điều chỉnh được.

1.3.2.1 Nhân tố con người

Đây là nhân tố được xem là cơ bản và quan trọng nhất Trong công tácthẩm định tín dụng, cán bộ ngân hàng là người trực tiếp thực hiện Do đó, chấtlượng thẩm định có tốt hay không, mục tiêu thẩm định có đạt được hay không phụthuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ tín dụng Có thể hiểu đây là sự am hiểu vềquy trình, nắm chắc nội dung, kỹ thuật thẩm định của cán bộ tín dụng Bên cạnh

đó, để cho các phân tích được xác thực, yêu cầu đặt ra cho các cán bộ là phải có

sự hiểu biết sâu rộng với các lĩnh vực khác ngoài ngân hàng Đó là những kiếnthức về kinh tế, chính trị, pháp luật Ngoài ra, đối với cán bộ tín dụng, vấn đề đạođức nghề nghiệp cũng là một vấn đề cần coi trọng

1.3.2.2 Công tác tổ chức điều hành

Do thẩm định tín dụng được tiến hành theo nhiều giai đoạn có liên quanchặt chẽ với nhau nên tổ chức công tác thẩm định có ảnh hưởng không nhỏ tới sựthành bại của công việc thẩm định Nếu công tác này được tổ chức một cách khoahọc, hợp lý trên cơ sở phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, có kiểm tra,giám sát chặt chẽ, kết quả thẩm định tín dụng sẽ cao

Mặt khác, phương thức điều hành hợp lý của ban lãnh đạo sẽ là cơ sở đểphát huy năng lực của các cán bộ thẩm định Việc phân định quyền hạn và tráchnhiệm cho từng bộ phận sẽ giúp cho việc thẩm định được chính xác, khách quan

và dễ dàng hơn

1.3.2.3 Quy trình, phương pháp thẩm định

Quy trình và phương pháp thẩm định hợp lý, khoa học sẽ giúp cán bộ tíndụng phân tích, đánh giá hồ sơ vay vốn một cách nhanh chóng, tin cậy, chính xác,tiết kiệm thời gian và chi phí, giúp cho việc ra quyết định cho vay đúng đắn.Ngược lại, quy trình và phương pháp thẩm định không khoa học, nhiều thủ tụcphức tap, rườm rà, gây mất thời gian, tiền bạc và thậm chí còn làm mất cơ hội đầu

tư của khách hàng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng và giảm khả năngcạnh tranh, uy tín của ngân hàng

1.3.2.4 Vấn đề thông tin và xử lý thông tin

Thực chất thẩm định là xử lý thông tin để đưa ra những nhận xét, đánh giá

về dự án; hay thông tin chính là nguyên liệu cho quá trình tác nghiệp của cán bộthẩm định Do đó, số lượng cũng như chất lượng và tính kịp thời của thông tin tácđộng rất lớn đến chất lượng thẩm định.Việc thông thu thập thông tin đúng, đủ,

Trang 31

chính xác sẽ tạo điều kiện cho cán bộ thẩm định đưa ra những nhận xét đánh giáđúng đắn chọn lọc được khách hàng, dự án đầu tư khả thi, đảm bảo an toàn chohoạt động tài trợ của ngân hàng

Trong môi trường kinh doanh năng động và tính cạnh tranh cao như hiệnnay, sự chậm trễ trong việc thu thập, xử lý các thông tin cần thiết sẽ tác động đếnchất lượng thẩm định, quan hệ ngân hàng – khách hàng và có thể gây mất cơ hộitài trợ dự án tốt

1.3.2.5 Trang thiết bị, công nghệ

Vai trò của thông tin rõ ràng là rất quan trọng, song để có thể thu thập, xử

lý, lưu trữ thông tin một cách có hiệu quả, phải kể đến nhân tố thiết bị, kỹ thuật

Hiện nay, công nghệ thông tin được ứng dụng vào ngân hàng đã làm tăngkhả năng thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin Đồng thời hệ thống mạng cũng giúpngân hàng thuận lợi trong việc khai thác và thu thập thông tin Như vậy, các thôngtin đầu vào, đầu ra của việc thẩm định sẽ được cung cấp đầy đủ và kịp thời Nhờ

đó, công tác thẩm định được tiến hành dễ dàng hơn, giảm thiểu rủi ro do sai sóttrong tính toán, tiết kiệm thời gian tạo hiệu quả cao trong thẩm định

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NHTMCP GIA ĐỊNH CHI

NHÁNH HÀ NỘI

2.1 VÀI NÉT VỀ NHTMCP GIA ĐỊNH CHI NHÁNH HÀ NỘI

2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của NHTMCP Gia Định chi

nhánh Hà Nội

NHTMCP Gia Định được thành lập và hoạt động theo giấy phép số0025/NH-GP ngày 22/8/1992 do thống đốc NHNN cấp; giấy phép số 576/GP-UBngày 8/10/1992 do Ủy ban nhân dân TP.HCM cấp Với xuất phát điểm là mộtngân hàng nhỏ trong bối cảnh nước ta đang tiến hành đổi mới nền kinh tế, qua hơn

15 năm hình thành và phát triển, mạng lưới hoạt động của NHTMCP Gia Định đãngày càng mở rộng từ Nam ra Bắc, uy tín của Ngân hàng ngày càng được nângcao, tạo được thương hiệu lớn mạnh trong toàn hệ thống Ngân hàng, thể hiện mộtsức sống tiềm năng, phát triển mạnh và ổn định của Ngân hàng trên thị trườnghôm nay

Những năm gần đây, NHTMCP Gia Định được biết đến là một trong nhữngNHTM phát triển ổn định, bền vững, chất lượng tín dụng tốt Hiện nay với sự hỗtrợ cổ đông chiến lược là Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank)chiếm 30% vốn điều lệ, Ngân hàng Gia Định tiếp tục đẩy mạnh quy mô hoạt độngcũng như phát triển sản phẩm mới có thể sánh ngang và cùng cạnh tranh với cácNHTMCP khác, đồng thời trở thành một trong những NHTM hàng đầu trong cảnước không ngừng đóng góp cho sự phát triển kinh tế của xã hội, cộng đồng

Với lợi thế có các cổ đông pháp nhân là các NHTM, đặc biệt có đối tácchiến lược là Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam cam kết hỗ trợ thiết thực lâudài, Ngân hàng Gia Định định hướng chiến lược phát triển trở thành mộtNHTMCP có quy mô trung bình khá ở Việt Nam với thương hiệu mạnh trong chấtlượng phục vụ khách hàng Chú trọng thu hút khách hàng doanh nghiệp vừa vànhỏ, khách hàng thể nhân Cung cấp các giải pháp dịch vụ có chất lượng cao, đápứng tốt nhu cầu của khách hàng thông qua sự sáng tạo, linh hoạt thường xuyên vànền tảng công nghệ hiện đại Có năng lực cao trong quản trị và điều hành, xâydựng cơ chế quản trị và phương thức điều hành theo mô hình tiên tiến

Trang 33

Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của NHTMCP Gia Định:

Trang 35

2.1.2 Những kết quả đạt được trong những năm gần đây

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu bùng phátmạnh từ cuối năm 2008 đã tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế Việt Namtrong hai năm vừa qua Trong đó, riêng lĩnh vực tài chính tiền tệ chịu ảnh hưởngrất lớn bởi những chính sách ổn định vĩ mô của Nhà nước như chính sách lãi suất,chính sách tỷ giá, chương trình hỗ trợ lãi suất, v.v… Sự biến động liên tục của lãisuất, tỷ giá đã tác động trực tiếp đến thị trường tiền tệ, và đặc biệt là hoạt động củangân hàng Trước tình hình khó khăn chung đó của nền kinh tế, Ngân hàng GiaĐịnh đã phấn đấu và đạt được những kết quả nhất định trong năm vừa qua

Những kết quả cụ thể được thể hiện qua bảng sau đây:

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của NHTMCP Gia Định năm 2009

- Tiền gửi, vay các Tổ

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2009 NHTMCP Gia Định)

Trong năm 2009 vừa qua, hoạt động của Ngân hàng đã đạt được những kếtquả tích cực

Dư nợ tín dụng tăng 82% so với năm trước Số lượng khách hàng đến giaodịch tại các đơn vị không ngừng tăng, lượng tiền gửi thanh toán cũng tăng theo

Chính sách lãi suất được thực hiện một cách linh hoạt, phù hợp diễn biếnthị trường và đảm bảo quy định của NHNN Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế

và dân cư tăng 160% so với năm 2008

Ngày đăng: 11/08/2023, 10:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w