TỔNG QUAN
Một số khái niệm về thừa cân, béo phì
Khái niệm thừa cân, béo phì
Trong lịch sử tiến hóa của loài người, khả năng “tiết kiệm” mỡ từ những nguồn thực phẩm hạn chế đã là một đặc điểm được tự nhiên chọn lọc, giúp các cá thể có khả năng tích luỹ mỡ tốt hơn chiếm ưu thế trong điều kiện khắc nghiệt thời tiền sử [25] Đến giữa thế kỷ 18, các hậu quả của thừa cân, béo phì bắt đầu được ghi nhận trong y học, mở đường cho sự phát triển nhanh chóng của các nghiên cứu về hóa học, nhiệt động lực học, và dinh dưỡng trở thành một lĩnh vực khoa học chính thống [26] Từ đó, người ta bắt đầu xem thừa cân, béo phì là những nguy cơ đối với sức khoẻ con người Theo các định nghĩa chung nhất được nhiều nhà khoa học đồng thuận, béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ quá mức ở từng phần hoặc toàn bộ cơ thể, làm tăng các nguy cơ về sức khoẻ [27].
1 2 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây thừa cân, béo phì
Thừa cân, béo phì là một bệnh phức tạp, có khả năng tái phát cao, nguyên nhân chính là mất cân bằng năng lượng giữa lượng thức ăn tiêu thụ và năng lượng tiêu hao Thay đổi trong mô hình chế độ dinh dưỡng, như tăng cường thực phẩm giàu lipid, glucid, cùng với giảm hoạt động thể chất do công việc ít vận động, góp phần vào tình trạng béo phì Khoảng 60-80% các ca béo phì xuất phát từ yếu tố chế độ dinh dưỡng, bên cạnh đó các rối loạn chuyển hóa trong cơ thể, liên quan đến hệ thần kinh và các tuyến nội tiết như tuyến yên, tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng và tuyến tụy, cũng đóng vai trò quan trọng Nguyên nhân sâu xa của béo phì còn bao gồm di truyền, sinh lý, tâm lý, yếu tố xã hội, kinh tế, môi trường, hành vi và các tác động chính trị, tất cả đều tác động đa chiều để làm tăng nguy cơ béo phì Thời gian ngủ ngắn và chất lượng giấc ngủ kém cũng liên quan tích cực đến bệnh béo phì Gần đây, đại dịch COVID-19 đã gây ra nhiều hậu quả như căng thẳng, mất việc làm và lối sống ít vận động, làm gia tăng tình trạng béo phì và các vấn đề liên quan.
Hình 1.1 Mô hình tổng hợp nguyên nhân thừa cân, béo phì
Năm 2020, Liên đoàn béo phì thế giới (World Obesity Federation) đã đưa ra mô hình tổng hợp các nguyên nhân của bệnh béo phì, nhấn mạnh rằng béo phì là một căn bệnh mạn tính với nguyên nhân sâu xa hơn những hiểu lầm phổ biến "Những người bị béo phì thường xấu hổ và đổ lỗi cho căn bệnh của họ, do nhiều người, bao gồm cả thầy thuốc và nhà hoạch định chính sách, chưa hiểu rằng béo phì là một bệnh mãn tính thực sự." Các quan niệm sai lầm rằng béo phì chỉ liên quan đến ý chí yếu hoặc lười biếng, thiếu ý chí ăn ít đi và vận động nhiều hơn, làm mất đi nhận thức đúng về nguyên nhân gốc rễ của bệnh.
Tuy vậy, một số yếu tố nguy cơ làm trầm trọng thêm tình trạng TCBP còn được kể đến là các yếu tố:
Khi lớn tuổi, khối lượng cơ giảm dẫn đến giảm chuyển hóa, trong khi lượng mỡ tích tụ lại nhiều hơn, gây ra sự thay đổi tiêu cực đối với năng lượng dự trữ của cơ thể Những điều này làm giảm nhu cầu calo hàng ngày của người cao tuổi Nếu không điều chỉnh lượng calo tiêu thụ phù hợp, nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến thừa cân, béo phì sẽ tăng cao, đặc biệt là ở người trong độ tuổi 50 tại châu Âu và Mỹ Thừa cân và béo phì chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm tuổi này, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tổng thể.
Yếu tố gia đình và di truyền
Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nguy cơ béo phì, đặc biệt khi cha mẹ hoặc nhiều thành viên trong gia đình mắc phải béo phì Nguy cơ này càng gia tăng khi có nhiều cá nhân bị béo phì trong cùng một hộ gia đình, do chế độ ăn uống chung và lối sống không lành mạnh Tuy nhiên, yếu tố di truyền không phải là nguyên nhân chính trong cộng đồng, mà thường liên quan đến môi trường sống, đặc biệt là chế độ dinh dưỡng hàng ngày Hiện nay, có bằng chứng rõ ràng cho thấy béo phì thường phát triển do tác động từ môi trường lên các cá thể có khuynh hướng di truyền, trong đó dinh dưỡng đóng vai trò hàng đầu trong các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến bệnh béo phì.
Nghiên cứu về các cặp song sinh và gia đình cho thấy yếu tố di truyền chiếm từ 40-70% ảnh hưởng đến bệnh béo phì Các yếu tố di truyền này được phân loại dựa trên cơ chế tác động, bao gồm các nhóm gen kích thích cảm giác đói, nhóm liên quan đến tiêu hao năng lượng, nhóm điều hòa chuyển hóa, và nhóm điều chỉnh sự biệt hóa cũng như phát triển tế bào mỡ.
Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng, những người sinh ra nhỏ hoặc lớn so với tuổi thai có nguy cơ mắc bệnh béo phì cao hơn khi trưởng thành Ngoài ra, tăng tần suất tiêu thụ thực phẩm cũng là một yếu tố góp phần vào việc gia tăng tỷ lệ béo phì trong cộng đồng.
Khi cơ thể hấp thụ lượng năng lượng vượt quá nhu cầu, lối sống ít vận động dễ dẫn đến tăng cân Nghiên cứu cho thấy việc tiêu thụ dư thừa chỉ khoảng 70 calo mỗi ngày có thể gây tăng cân, đặc biệt khi ăn những loại thực phẩm giàu năng lượng Để kiểm soát cân nặng hiệu quả, cần duy trì chế độ ăn cân đối và tích cực vận động hàng ngày.
Các thức ăn giàu chất béo thường ngon miệng nên dễ bị tiêu thụ quá mức mà không nhận thức rõ Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Linh (2020) tại Hà Nội cho thấy, đến 94,5% người dân nội thành và 91,8% người dân ngoại thành tin rằng nguyên nhân chính gây thừa cân, béo phì là do chế độ ăn dư thừa Ngoài ra, các thói quen ăn uống không lành mạnh như ăn ngoài gia đình, tăng tiêu thụ thức ăn nhanh và lạm dụng rượu bia đã được xác nhận liên quan đến các trường hợp mắc TCBP.
Yếu tố Hoạt động thể lực
Tỷ lệ thừa cân, béo phì ngày càng cao do tăng tần suất tiêu thụ thực phẩm và giảm hoạt động thể lực Nghiên cứu cho thấy người thừa cân, béo phì thường dành nhiều thời gian xem tivi hơn và ít vận động thể chất hơn so với nhóm có cân nặng bình thường Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Linh (2020) tại Hà Nội, hơn 85% người nội thành và 71,8% người ngoại thành nhận định rằng ít hoạt động thể lực là nguyên nhân chính dẫn đến thừa cân, béo phì.
Các vấn đề nội tiết tố như tuyến giáp hoạt động kém, hội chứng Cushing và hội chứng buồng trứng đa nang có thể gây tăng cân không kiểm soát Ngoài ra, một số loại thuốc như corticosteroid, thuốc chống trầm cảm và thuốc động kinh cũng có thể gây tăng cân Do đó, bệnh lý nội tiết và việc sử dụng thuốc đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng cân.
Hậu quả của thừa cân, béo phì
Cholesterol toàn phần trong máu (TCBP) đã được xác định là một yếu tố nguy cơ chính của các bệnh tim mạch như suy tim, bệnh mạch vành, đột quị, đái tháo đường type 2 và suy giảm chức năng thận Ngoài ra, TCBP còn gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng về mặt tâm lý xã hội, tăng nguy cơ tử vong và ảnh hưởng đáng kể đến kinh tế của người bệnh.
Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, các hậu quả của TCBP trở nên đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt đối với những người béo phì khi nhiễm SARS-CoV-2 Năm 2020, nhà nghiên cứu Fabian Sacnchis cùng các cộng sự đã phát triển một sơ đồ mới nhằm làm rõ các hậu quả của TCBP, trong đó nhấn mạnh tác động nặng nề đối với nhóm bệnh nhân béo phì Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nhận thức và xử lý các vấn đề liên quan đến TCBP trong bối cảnh đại dịch.
Hình 1.2 Hậu quả của Thừa cân, Béo phì [44]
1.3.1 Béo phì đối với bệnh huyết áp, tim mạch
Tăng 10 kg trọng lượng cơ thể làm tăng 12% nguy cơ mắc bệnh mạch vành, đồng thời làm tăng huyết áp tâm thu thêm 3 mmHg và huyết áp tâm trương thêm 2,3 mmHg Theo dữ liệu từ Nghiên cứu Framingham Heart Study, mỗi 1 kg/m² tăng BMI làm tăng nguy cơ suy tim lên 5% ở nam và 7% ở nữ Các nghiên cứu về suy tim cho thấy 32% - 49% bệnh nhân suy tim mắc cao huyết áp, trong khi 31% - 40% bị thừa cân, với suy tim tiến triển sớm hơn 10 năm so với người có BMI bình thường Thời gian mắc cao huyết áp có mối liên hệ chặt chẽ với sự tiến triển của suy tim, khi sau 20 năm béo phì tỷ lệ suy tim tăng 70%, và sau 30 năm tăng đến 90% Nguy cơ tử vong sớm do nhồi máu cơ tim cấp, đột quỵ thiếu máu cục bộ và các bệnh tim mạch khác cũng tăng đáng kể ở phụ nữ trẻ thừa cân, đặc biệt là phụ nữ bị cao huyết áp.
Năm 2015, nghiên cứu của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Ấn Độ (ICMR-INDIAB) cho thấy tỷ lệ huyết áp cao và béo phì trung tâm tại Ấn Độ tăng đáng kể, lần lượt từ 11,8% đến 31,3% và từ 16,9% đến 36,3% Béo bụng là một trong những yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tim mạch tại quốc gia này Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tỷ lệ huyết áp cao ở phụ nữ đã có sự thay đổi rõ rệt với mức tăng cao hơn đáng kể so với nam giới [48].
Tại Việt Nam, nghiên cứu ở người có tỷ số vòng eo/vòng hông (Waist Hip Ratio
- WHR) cao, nhóm thừa cân có nguy cơ THA lên 1,26 lần; nhóm BMI ≥ 25 làm tăng nguy cơ THA trên 2,07 [49] Năm 2015, nghiên cứu trên người trưởng thành từ 40-
69 tuổi cho thấy sự liên quan giữa TCBP và THA với OR=2,0(95% CI:1,4-2,8; p