1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ hà nội

79 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa Chương Mỹ - Hà Nội
Tác giả Nguyễn Quý Tiếp
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Vân, TS. V uy Định
Trường học Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý Môi trường
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 885,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tổng quan về chất thải rắn y tế (10)
    • 1.1.1. Một số khái niệm liên quan về chất thải rắn y tế (10)
    • 1.1.2. Nguồn gốc phát sinh CTRYT (11)
    • 1.1.3. Phân loại CTRYT (12)
    • 1.1.4. Thành phần của chất thải rắn y tế (14)
    • 1.1.5. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng (15)
  • 1.2. Quy trình quản lý chất thải rắn y tế (19)
  • 1.3. Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại bệnh viện ở Việt Nam (23)
    • 1.3.1 Các văn bản pháp lý liên quan quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam (23)
    • 1.3.2. Hoạt động quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam (24)
    • 1.3.3. Phân loại, thu gom chất thải bệnh viện (26)
    • 1.3.4. Lưu tr , vận chuyển chất thải y tế tới nơi tiêu huỷ (0)
    • 1.3.5. Các phương pháp x lý và tiêu huỷ chất thải rắn y tế (0)
    • 1.3.6. Nh ng khó khăn trong việc quản lý chất thải rắn y tế (0)
  • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (33)
  • 2.2. Đối tƣợng nghiên cứu (33)
  • 2.3. Phạm vi nghiên cứu (33)
  • 2.4. Thời gian nghiên cứu (33)
  • 2.5. Nội dung nghiên cứu (33)
  • 2.6. Phương pháp nghiên cứu (34)
    • 2.6.1. Phương pháp thu thập thông tin (34)
    • 2.1.2. Phương pháp phân tích và x lý số liệu (0)
    • 2.1.3. Phương pháp kế thừa số liệu (36)
  • 3.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên (37)
  • 3.2. Quy mô, cơ cấu tổ chức và nguồn lực của bệnh viện (37)
  • 3.3. Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện (40)
  • 4.1. Hiện trạng chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa Chương Mỹ - à Nội (42)
    • 4.1.1. Nguồn gốc phát sinh, khối lƣợng chất thải rắn y tế (0)
    • 4.1.2. Thành phần chất thải rắn y tế (46)
  • 4.2. Công tác quản lý chất thải rắn của bệnh viện (47)
  • 4.3. Phân loại và thu gom CTRYT của bệnh viện (51)
    • 4.3.1. Công tác thu gom (51)
    • 4.3.2. Quá trình vận chuyển và lưu tr CTRYT của bệnh viện (0)
  • 4.4. Công tác và chi phí x lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện (0)
  • 4.5. Tác động tới môi trường xung quanh (57)
  • 4.6. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện (58)
    • 4.6.1. Giải pháp về công tác quản lý hành chính tại bệnh viện (58)
    • 4.6.2. Giải pháp về mặt kỹ thuật (59)
    • 4.6.3. Đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn y tế (61)
    • 4.6.4. Giải pháp cho công tác bảo vệ môi trường của bệnh viện (65)
  • 1. Kết luận (67)
  • 2. Tồn tại (68)
  • 3. Kiến nghị ......................................................................................................... 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO (68)
  • ình 1.1: Sơ đồ phân loại CTRYT (0)
  • ình 1.2: Mô hình lò đốt chất thải rắn y tế nguy hại (0)
  • ình 3.2: Sơ đồ về chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện (0)
  • ình 4.2: Sơ đồ bệnh viện Chương Mỹ (0)

Nội dung

Tổng quan về chất thải rắn y tế

Một số khái niệm liên quan về chất thải rắn y tế

Chất thải là nh ng vật và chất mà người dùng không còn muốn s dụng và thải ra

Chất thải y tế là sản phẩm phát sinh từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm và nghiên cứu, và được xếp vào loại chất thải nguy hại Việc lưu giữ, xử lý và thải bỏ chất thải y tế đòi hỏi phải tuân thủ các phương pháp đặc biệt, có quy định riêng để đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng và môi trường Nếu không được thu gom và phân loại đúng cách, chất thải y tế có thể gây ra nguy cơ lớn đối với môi trường và con người, gây hại sức khỏe, ô nhiễm môi trường và làm giảm thẩm mỹ cộng đồng.

Theo QCVN 02:2012/BTNMT chất thải rắn y tế là chất thải ở thể rắn bao gồm chất thải nguy hại và chất thải không nguy hại (chất thải thông thường)

Theo quyết định 43/2007/QĐ-BYT về quy chế quản lý chất thải y tế, chất thải y tế nguy hại là những loại chất thải chứa yếu tố gây hại cho sức khỏe con người và môi trường, như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy nổ, ăn mòn hoặc có các đặc tính nguy hại khác nếu không được tiêu hủy an toàn Việc quản lý chặt chẽ và tiêu hủy đúng quy trình các loại chất thải này là yêu cầu bắt buộc để bảo vệ cộng đồng và môi trường.

Quản lý chất thải y tế là hoạt động quan trọng bao gồm phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và xử lý, tiêu hủy chất thải y tế đúng quy định Việc kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện đảm bảo an toàn, vệ sinh và bảo vệ môi trường Quản lý chất thải y tế hiệu quả giúp giảm nguy cơ lây nhiễm, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và duy trì môi trường sạch sẽ.

Giảm thiểu chất thải y tế nhằm hạn chế tối đa lượng chất thải phát sinh từ hoạt động y tế, thông qua việc giảm lượng chất thải tại nguồn, sử dụng các sản phẩm có thể tái chế và tái sử dụng Quản lý chất thải y tế một cách chặt chẽ và có hệ thống là yếu tố quan trọng để đảm bảo an toàn môi trường và sức khỏe cộng đồng Việc phân loại chất thải chính xác và kiểm soát quy trình xử lý giúp giảm thiểu rủi ro ô nhiễm và tối ưu hóa các hoạt động xử lý chất thải y tế hiệu quả hơn.

Tái s dụng là việc s dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sản phẩm hoặc s dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới

Tái chế là quá trình tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành các sản phẩm mới, góp phần giảm lượng chất thải và bảo vệ môi trường Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là bước quan trọng trong quản lý chất thải y tế, bao gồm phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại chính cơ sở y tế để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong xử lý.

Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh tới nơi x lý ban đầu, lưu gi , tiêu hủy

Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt trùng các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi phát sinh, nhằm đảm bảo an toàn trước khi vận chuyển đến nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy Quá trình này giúp ngăn chặn sự lan truyền của mầm bệnh, giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng Việc xử lý ban đầu đúng quy trình là bước quan trọng trong quản lý chất thải y tế, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

X lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm giảm khả năng gây hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường Quá trình này đảm bảo các chất thải không còn gây nguy hiểm, giúp bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao đời sống cộng đồng Việc xử lý chất thải đúng quy trình là yếu tố quan trọng trong quản lý môi trường bền vững và giảm thiểu ô nhiễm.

Chất thải y tế thuộc nhóm chất thải nguy hại loại A, do đó việc quản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định nghiêm ngặt liên quan đến quản lý chất thải nguy hại để đảm bảo an toàn cho cộng đồng và môi trường.

Nguồn gốc phát sinh CTRYT

Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế chủ yếu từ các cơ sở y tế như bệnh viện, trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu sinh học Hiểu rõ thành phần và tốc độ phát sinh của chất thải y tế là nền tảng quan trọng để thiết kế công nghệ xử lý hiệu quả và xây dựng các chương trình quản lý chất thải phù hợp Hầu hết các loại chất thải rắn y tế đều mang tính chất độc hại và có đặc thù riêng biệt so với các chất thải rắn sinh hoạt thông thường, đòi hỏi các biện pháp xử lý đặc thù để đảm bảo an toàn.

Bảng 1.1: Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế

Loại CTR Nguồn tạo thành

Chất thải sinh hoạt Các chất thải từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các loại bao gói…

Chất thải chứa các vi trùng gây bệnh

Phế thải từ phẫu thuật, bao gồm các cơ quan nội tạng của người sau mổ, cùng với các mẫu xét nghiệm của động vật, băng gạc chứa máu và mủ của bệnh nhân đều cần được xử lý đúng quy trình để đảm bảo an toàn và vệ sinh.

Chất thải bị nhiễm bẩn

Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà…

Các loại chất độc hại hơn các loại trên, các chất phóng xạ, hóa chất dƣợc từ các khoa khám, ch a bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dƣợc…

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016)

Việc xác định nguồn phát sinh chất thải rắn y tế đóng vai trò quan trọng trong quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Thu gom và phân loại chất thải ngay tại nguồn giúp nâng cao hiệu quả quản lý, đảm bảo an toàn và thuận tiện cho công tác xử lý cuối cùng Điều này góp phần giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa quy trình xử lý chất thải y tế trong bệnh viện.

Phân loại CTRYT

Các nước đang phát triển: có thể phân CTRYT thành các loại sau:

Chất thải không độc hại, bao gồm chất thải sinh hoạt không chứa các yếu tố nguy hại truyền nhiễm, đóng vai trò quan trọng trong quản lý chất thải hàng ngày Chất thải sắc nhọn, dù truyền nhiễm hay không truyền nhiễm, cần được xử lý đặc biệt để đảm bảo an toàn Chất thải nhiễm khuẩn khác với vật sắc nhọn nhiễm khuẩn, đòi hỏi biện pháp xử lý phù hợp để hạn chế lây nhiễm Chất thải hóa học và thuốc phẩm chứa các thành phần độc hại, yêu cầu xử lý nghiêm ngặt để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Trong đó, các loại chất thải nguy hiểm khác cũng cần có quy trình và biện pháp quản lý chặt chẽ để đảm bảo an toàn tuyệt đối.

Các nước phát triển: Chất thải rắn y tế được phân một cách chi tiết hơn Ở

Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại chính, bao gồm chất thải cách ly có khả năng truyền nhiễm mạnh, chất thải từ nuôi cấy và dự trữ tác nhân truyền nhiễm cùng chế phẩm sinh học liên quan, vật sắc nhọn dùng trong nghiên cứu và điều trị, máu và sản phẩm của máu, chất thải động vật, vật sắc nhọn không sử dụng, chất thải gây độc tế bào và chất phóng xạ Trong khi đó, các quốc gia châu Âu cũng chia chất thải y tế thành 8 loại như chất thải thông thường, chất thải giải phẫu, chất thải lây nhiễm, chất thải sắc nhọn, chất thải phóng xạ, chất thải hóa học, dược phẩm quá hạn và bình chứa áp suất Ở Việt Nam, theo quyết định 43/2007/QĐ-BYT, chất thải y tế được phân thành 5 nhóm dựa trên đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, gồm chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng xạ, chất thải thông thường và bình chứa áp suất.

Chất thải nguy hại Chất thải thông thường

•Nước thải không nguy hại

Chất thải không lây nhiễm

CT sắc nhọn CT không sắc nhọn CT lây nhiễm cao CT giải phẫu

Hình 1.1: Sơ đồ phân loại CTRYT

(Nguồn: Thông tư liên lịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT)

Chất thải y tế thông thường là loại chất thải có thành phần và tính chất tương tự như chất thải sinh hoạt, không chứa các chất độc hại hay tác nhân gây bệnh cho con người và môi trường Chúng bao gồm các vật liệu như giấy, thùng carton, chai nhựa, chai thủy tinh không ô nhiễm, phát sinh từ khu vực hành chính và các khoa, phòng trong cơ sở y tế không cần cách ly Một phần chất thải y tế thông thường có thể được tái sử dụng hoặc tái chế, mang lại nguồn thu cho các cơ sở y tế Việc phân loại CTYT đúng quy định sẽ giúp giảm tác động tiêu cực của chất thải y tế tới sức khỏe con người và môi trường.

Chất thải y tế nguy hại (CTYT nguy hại) là các chất thải phát sinh từ hoạt động y tế, chứa các thành phần gây hại trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe con người và môi trường Các loại chất thải này thường có đặc tính độc hại cao, dễ lây nhiễm, dễ bắt cháy hoặc dễ phân hủy sinh học, đòi hỏi xử lý đặc biệt để đảm bảo an toàn Việc quản lý và xử lý đúng cách chất thải y tế nguy hại đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cộng đồng và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

+ Ăn mòn: p ≤ 2,0 hoặc p 12,5; có chứa chất độc hại, kim loại nặng nhƣ: chì, niken, thủy ngân,

+ Chứa các tác nhân gây bệnh

Rủi ro liên quan trực tiếp đến chất thải y tế nguy hại bao gồm nguy cơ chấn thương và nhiễm trùng Nhân viên y tế và những người tham gia trực tiếp vào quá trình phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải y tế thuộc nhóm có nguy cơ cao nhất Việc nhận biết và quản lý các rủi ro này là vô cùng cần thiết để đảm bảo an toàn cho lực lượng lao động và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường.

Nguy cơ chính ảnh hưởng đến môi trường là sự lây nhiễm bệnh tật trong cộng đồng từ các nguồn tiếp xúc với CRTYT Tiếp xúc với CRTYT có thể gây ra các chấn thương hoặc lây nhiễm mầm bệnh, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng và môi trường xung quanh.

Thành phần của chất thải rắn y tế

Chất thải rắn y tế trong bệnh viện chủ yếu phát sinh từ hoạt động chuyên môn, số giường bệnh, số bệnh nhân nằm điều trị và lượng chất thải sinh hoạt của nhân viên y tế Tại Việt Nam, lượng lớn người nhà bệnh nhân, người thăm nuôi cùng các dịch vụ khác như nhà hàng, quán ăn, sách báo góp phần làm tăng khối lượng chất thải phát sinh, gây quá tải hệ thống thu gom và xử lý chất thải vốn được thiết kế dựa trên số giường bệnh Hiện trạng này dẫn đến quản lý, thu gom và phân loại chất thải khó kiểm soát chặt chẽ, gây nguy cơ lẫn lộn chất thải nguy hại vào chất thải chung, làm ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn các rủi ro về sức khỏe cộng đồng.

Bảng 1.2: Đặc điểm, thành phần chất thải rắn y tế bệnh viện

TT Đặc điểm, thông số Giá trị

A Thành phần giấy các loại bao gồm cả mảnh carton 2,9

B Thành phần kim loại, vỏ hộp kim loại 0,7

C Thành phần thuỷ tinh, ống thuốc tiêm, lọ thuốc tiêm, bơm kim tiêm 3,2

D Bông, gạc, băng, bột bó gãy xương, nẹp cố định 8,8

E Chai thuốc, túi thuốc, chai dịch, túi dịch, túi máu, thành phần chất dẻo 10,1

H Đất, vật rắn khó phân định 21,0

(Nguồn: Quản lý an toàn chất thải bệnh viện Việt Nam- 2014)

Chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm các thành phần chất thải trong các mục phân loại C, D, E, F.

Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng

1.1.5.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường a) Ảnh hưởng tới môi trường đất

Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt và bùn từ hệ thống xử lý nước thải gây nguy cơ ô nhiễm môi trường, đặc biệt là rò rỉ các chất độc hại từ bãi rác, dẫn đến ô nhiễm đất nghiêm trọng Việc xử lý sai quy trình có thể gây tác động tiêu cực lớn đến sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái Cần có các biện pháp quản lý chặt chẽ và áp dụng công nghệ hiện đại để đảm bảo an toàn trong việc tiêu hủy chất thải nguy hại.

Chất thải y tế khi bị chôn lấp không đúng cách có thể gây ra ô nhiễm đất do các vi sinh vật gây bệnh và hóa chất độc hại ngấm vào, làm giảm khả năng tái sử dụng khu vực chôn lấp Ngoài ra, việc xử lý không đảm bảo còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng không khí, gây ô nhiễm môi trường và đe dọa sức khỏe cộng đồng Quản lý chất thải y tế an toàn không những giúp bảo vệ đất đai mà còn giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường không khí.

Chất thải bệnh viện, từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng, gây ra ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến môi trường không khí Quá trình phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải y tế cần được thực hiện cẩn thận để giảm thiểu sự phát tán các chất độc hại vào không khí, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và giữ gìn vệ sinh môi trường Việc áp dụng các biện pháp quản lý chất thải bệnh viện đúng quy chuẩn không chỉ giúp hạn chế ô nhiễm không khí mà còn góp phần xây dựng hệ thống môi trường bền vững.

Việc xử lý chất thải y tế nguy hại bằng lò đốt có thể phát tán ra bụi và bào tử vi sinh vật gây bệnh vào không khí, gây ô nhiễm môi trường Quá trình đốt chất thải trong túi nilon và chứa các loại thuốc phẩm còn phát sinh khí clo, SO2, dioxin, furans, cùng với các hợp chất chứa kim loại nặng như thủy ngân, chì bay hơi theo tro bụi, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường không khí Nếu các khí này không được thu hồi và xử lý đúng cách, sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng dân cư xung quanh Đồng thời, các chất thải này còn tác động đến môi trường nước thông qua sự rò rỉ và phân tán các hợp chất độc hại ra nguồn nước.

Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do chất độc hại trong chất thải bệnh viện, bao gồm vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng như thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng răng phim X quang Một số loại dược phẩm nếu không được xử lý đúng qui trình có thể gây nhiễm độc nguồn nước cấp, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và môi trường.

Chất thải rắn bệnh viện chứa nhiều hóa chất độc hại, phóng xạ và các tác nhân gây bệnh như Salmonella, coli form, tụ cầu, liên cầu, gây nguy cơ lây nhiễm cao Nếu không xử lý đúng cách trước khi thải bỏ vào hệ thống thoát nước chung của thị trấn, chất thải y tế có thể gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng Chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh, đặc biệt khi chôn chung với chất thải sinh hoạt, có thể dẫn đến ô nhiễm nguồn nước ngầm và gây tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.

1.1.5.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới sức khỏe cộng đồng a) Đối với sức khỏe

Việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây ra bệnh tật hoặc tổn thương nghiêm trọng Chất thải y tế chứa các yếu tố truyền nhiễm, hóa chất độc hại, dược phẩm chứa thành phần nguy hiểm, tế bào nguy hiểm, đồng vị phóng xạ và vật sắc nhọn, tất cả đều có thể gây rủi ro sức khỏe Những nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất bao gồm nhân viên y tế, người xử lý chất thải và cộng đồng xung quanh khu vực xử lý rác thải y tế Phòng tránh tiếp xúc không an toàn và quản lý chất thải đúng quy trình là cách quan trọng để giảm thiểu rủi ro.

Các cán bộ nhân viên y tế, bao gồm bác sĩ, hộ lý, y tá, nhân viên hành chính, kỹ thuật viên bệnh viện, sinh viên thực tập, công nhân vận hành các công trình xử lý chất thải, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe Bên cạnh đó, bệnh nhân điều trị ngoại trú và nội trú tại bệnh viện cũng là nhóm người cần được quan tâm và đảm bảo điều kiện chăm sóc y tế tốt nhất.

- Khách và người nhà thăm nuôi bệnh nhân

Nhân viên làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ như giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh Họ đảm bảo môi trường sạch sẽ, an toàn và thuận tiện cho bệnh nhân và nhân viên y tế Các công việc này giúp nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, góp phần tạo ra môi trường y tế chuyên nghiệp và hiệu quả.

Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải y tế đối mặt với nguy cơ do quản lý yếu kém chất thải, gây ra sự truyền plasmid kháng thuốc từ động vật thí nghiệm sang vi khuẩn gốc trong môi trường Nghiên cứu cho thấy, vi khuẩn E coli kháng thuốc vẫn sống sót trong môi trường bùn hoạt tính dù điều kiện không thuận lợi, cho thấy khả năng tồn tại lâu dài của các tác nhân gây bệnh Chất thải y tế chứa lượng lớn các tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B, có thể thâm nhập vào cơ thể người qua nhiều con đường khác nhau, tạo ra mối đe dọa lớn đến sức khỏe cộng đồng.

+ Qua da (Vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da)

+ Qua niêm mạc, màng nhầy

+ Qua đường tiêu hóa do nuốt, ăn phải

+ Qua hô hấp do xông, hít phải

Chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn là nguy cơ tiềm ẩn gây hại lớn, trong đó các vật sắc nhọn như kim tiêm đã qua sử dụng gây ra rủi ro về chấn thương và nhiễm trùng do dính máu bệnh nhân Những loại rác thải này không chỉ gây tổn thương vật lý mà còn có khả năng lây truyền các tác nhân gây bệnh, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe con người và môi trường.

Bảng 1.3: Nguy cơ mắc các bệnh khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da

Mỗi năm, toàn cầu sử dụng khoảng 12.000 tỷ bơm kim tiêm, trong đó không phải tất cả đều được loại bỏ đúng cách, dẫn đến nguy cơ chấn thương, nhiệm khuẩn và tái sử dụng gây hại Theo Bộ Y tế (2018), việc tái sử dụng bơm kim tiêm không tiệt trùng khiến hàng triệu người mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như viêm gan B, viêm gan C và HIV Cụ thể, hàng năm có từ 8 đến 16 triệu người bị nhiễm viêm gan B, 2,4 đến 4,7 triệu người nhiễm viêm gan C, và khoảng 800 đến 1.600 người bị nhiễm HIV do việc tái sử dụng bơm kim tiêm không an toàn.

Theo báo cáo của tổ chức bảo vệ môi trường Mỹ có khoảng 162 - 321 trường hợp nhiễm virut viêm gan B có tiếp xúc với CTR y tế trong tổng số

Mỗi năm ghi nhận khoảng 30.000 trường hợp nhiễm virus viêm gan B do tiếp xúc với chất thải y tế Nhân viên vệ sinh có tỷ lệ thương tích nghề nghiệp cao nhất trong các nhân viên y tế, đạt 180/1000 người mỗi năm, gấp hơn hai lần tỷ lệ của toàn bộ lực lượng lao động Mỹ Các nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy, người thu gom rác bên ngoài bệnh viện năm 1996 bị tổn thương khi xử lý chất thải y tế, với hơn 300 trường hợp mắc các bệnh liên quan đến chất thải bệnh viện, cùng hơn 400 trường hợp bị các tác hại sinh học từ độc tố tế bào.

Chất thải hóa học nguy hại, dù chiếm tỷ lệ nhỏ, có thể gây ra nhiễm độc cấp tính và mãn tính, dẫn đến chấn thương và ngộ độc hóa chất độc hại Các dạng dung dịch, sương mù, hơi chứa chất thải này có thể xâm nhập vào cơ thể qua da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhày, đường hô hấp và các cơ quan như gan, thận Ví dụ, vào tháng 6 năm 2000 tại Vladivostok (Nga), 6 trẻ em đã mắc bệnh đậu mùa dạng nhẹ sau khi tiếp xúc với các ống thủy tinh chứa vắc-xin đậu mùa hết hạn trong đống phế thải, nhấn mạnh tác động nguy hiểm của chất thải hóa học và phế phẩm y tế bỏ đi không đúng cách.

Các chất khử trùng và thuốc tẩy như clo, natri hypoclorua có tính ăn mòn cao và có thể gây hại cho cơ thể khi tiếp xúc Thủy ngân, nếu xâm nhập vào cơ thể, có khả năng làm biến đổi cấu trúc tế bào và ức chế hoạt tính sinh học của các tế bào Nhiễm độc thủy ngân có thể gây tổn thương thần kinh, dẫn đến các triệu chứng như run rẩy, khó diễn đạt và giảm sút trí nhớ Trong những trường hợp nặng, thủy ngân còn có thể gây liệt hoặc tử vong.

Quy trình quản lý chất thải rắn y tế

Quy định thống nhất về quy trình quản lý chất thải rắn y tế trong bệnh viện là nhằm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm và độc hại từ chất thải y tế đối với người bệnh Việc áp dụng các quy trình chặt chẽ giúp tăng cường an toàn về sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường Sự quản lý chặt chẽ còn ngăn ngừa phát tán các mầm bệnh nguy hiểm từ chất thải y tế ra môi trường xung quanh Nhờ đó, bệnh viện đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, giảm thiểu rủi ro lây nhiễm, góp phần duy trì môi trường sạch, an toàn cho bệnh nhân và nhân viên y tế.

12 nhân viên y tế và ra ngoài cộng đồng, góp phần tạo dựng môi trường bệnh viện an toàn, “ Xanh - Sạch - Đẹp ”

Bảng 1.4: Phân công trách nhiệm quản lý chất thải rắn y tế

Trách nhiệm Các bước thực hiện

Nhân viện y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân

Phân loại cô lập chất thải

Xác định các nhóm chất thải y tế:

Chất thải lây nhiễm Chất thải hoá học nguy hại Chất thải phóng xạ

Phân loại chất thải ngay sau khi phát sinh, thải bỏ và cô lập vào phương tiện thu gom phù hợp với từng loại chất thải theo quy định

Để đảm bảo an toàn môi trường và phòng ngừa lây nhiễm, cần tuyệt đối không cô lập chất thải sắc nhọn khỏi các loại chất thải khác Đồng thời, không để lẫn chất thải lây nhiễm với chất thải thông thường hoặc chất thải tái chế để tránh nguy cơ gây ô nhiễm chéo và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Nhân viên y tế chuyên trách x lý chất thải tại khu vực phát sinh chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao

Chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm có nguy cơ lây nhiễm cao, bao gồm găng tay, lam kính, ống nghiệm, môi trường nuôi cấy, dụng cụ lưu giữ tác nhân lây nhiễm, bệnh phẩm và túi đựng máu Phải xử lý ban đầu tại nơi phát sinh chất thải bằng phương pháp ngâm trong dung dịch Cloramin B 1-2% hoặc Javen 1-2% trong tối thiểu 30 phút để đảm bảo an toàn Điều dưỡng, hộ lý và nhân viên ngoại cảnh khoa cần tuân thủ quy trình xử lý chất thải nhằm phòng tránh nguy cơ lây nhiễm trong môi trường y tế.

Nhân viên phải mang đầy đủ phương tiện phòng hộ cá nhân: găng tay, khẩu trang, tạp dề khi thu gom chất thải

Chất thải đƣợc thu gom vào các thùng túi theo đúng quy cách, mầu sắc quy định Chất thải sắc nhọn thu gom vào hộp kháng

13 thủng mầu vàng có biển hiệu nguy hại sinh học và có dòng ch “không đƣợc đựng quá vạch này”

Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao sau khi đƣợc x lý ban đầu, thu gom vào túi nilon màu vàng nhƣ chất thải lây nhiễm ộ lý các khoa

Nhân viên ngoại cảnh khoa KSNK

Vận chuyển chất thải tới nơi thu gom chất thải tập trung

Nhân viên vận chuyển chất thải phải mang quần áo bảo hộ, khẩu trang, gang tay trong suốt quá trình vận chuyển

Vận chuyển chất thải y tế từ nơi phát sinh đến điểm tập trung xử lý bắt buộc phải thực hiện bằng xe chuyên dụng đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường Quá trình này cần được thực hiện ít nhất là mỗi ngày một lần, hoặc theo yêu cầu cụ thể để đảm bảo chất thải được xử lý kịp thời và đúng quy định an toàn Việc vận chuyển đúng quy trình giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Sau mỗi lần sử dụng, phương tiện vận chuyển chất thải cần được làm vệ sinh sạch sẽ tại khu thu gom chất thải tập trung Việc lưu giữ phương tiện tại nơi quy định của các đơn vị đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường Quy trình vệ sinh định kỳ giúp hạn chế tình trạng ô nhiễm và duy trì hiệu quả hoạt động của hệ thống thu gom chất thải.

Nhân viên ngoại cảnh khoa KSNK

Giao nhận chất thải tại các khoa được thực hiện rõ ràng và đúng quy trình, đảm bảo an toàn Nhân viên ngoại cảnh của khoa KSNK chịu trách nhiệm bàn giao chất thải cho các nhân viên xử lý bên ngoài Số lượng từng loại chất thải được ghi chép cẩn thận vào sổ bàn giao, đảm bảo có đủ chữ ký của người giao và người nhận để xác nhận rõ ràng Quản lý chặt chẽ quá trình này giúp duy trì an toàn môi trường và tuân thủ quy định về xử lý chất thải y tế.

Nhân viên ngoại cảnh khoa KSNK

Lưu gi tập trung chất thải

Chất thải được lưu gi riêng từng loại tại nơi thu gom chất thải tập trung đƣợc thiết kế theo tiêu chuẩn quy định

Nơi tập trung thu gom chất thải cần được trang bị đầy đủ phương tiện thu gom chất thải, dụng cụ vệ sinh tay và tắm rửa, cùng các phương tiện bảo hộ cá nhân để đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường Ngoài ra, cần sử dụng hóa chất vệ sinh bề mặt phù hợp để duy trì môi trường sạch sẽ và đảm bảo vệ sinh chung.

Không lưu gi chất thải trên sàn nhà

Thời gian lưu gi chất thải tối đa là 48 giờ

Nhân viên ngoại cảnh khoa KSNK

Tái chế chất thải thông thường: theo ướng dẫn tái chế chất thải

Kh khuẩn hộp kháng thủng: ộp thu gom chất sắc nhọn (bơm, kim tiêm) đươc kh khuẩn bằng dung dịch Javen 1% (xem phụ lục 03)

X lý chất thải phóng xạ: Chất thải phóng xạ sau khi chờ hết thời gian bán rã đƣợc x lý nhƣ chất thải lây nhiễm

Với chất thải thông thường không tái chế được bàn giao cho Công ty môi trường đô thị

Chất thải nguy hại đƣợc đốt tại lò đốt công nghiệp của Bệnh viện Số lƣợng rác đốt từng loại đƣợc ghi vào sổ theo dõi mỗi lần đốt

Thực hiện đào tạo lý thuyết

Thực hiện đào tạo lý thuyết cho nhân viên y tế tại bệnh viện

Trưởng khoa KSNK tổ chức tập huấn về quy định quản lý chất thải trong toàn bệnh viện nhằm nâng cao nhận thức và kiến thức cho nhân viên y tế và các thành viên mạng lưới KSNK Chương trình tập huấn giúp đảm bảo thực hiện đúng các quy định về quản lý chất thải y tế, hạn chế rủi ro và bảo vệ môi trường Đánh giá kết quả đào tạo trước và sau tập huấn cho thấy sự cải thiện rõ rệt về kiến thức và kỹ năng của nhân viên, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải y tế trong bệnh viện.

Phòng Hành chính quản trị

Trang bị phương tiện thu gom vận chuyển

Khoa KSNK đã lập kế hoạch và tổ chức khảo sát nhằm xác định phương án thu gom, vận chuyển chất thải phù hợp với tiêu chuẩn quy định của bệnh viện Đồng thời, khoa chịu trách nhiệm lập dự trù phương tiện vận chuyển chất thải, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình xử lý chất thải y tế Các phương án này sẽ được trình lên Ban giám đốc để xem xét và phê duyệt, góp phần nâng cao công tác quản lý chất thải y tế an toàn, đúng quy chuẩn.

Phòng hành chính chịu trách nhiệm quản trị và mua sắm phương tiện dựa trên dự trù đã được Ban giám đốc phê duyệt, sau đó bàn giao lại cho khoa KSNK Khoa KSNK có trách nhiệm tổ chức cấp phát phương tiện cho các khoa trong bệnh viện nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả và kịp thời.

Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại bệnh viện ở Việt Nam

Các văn bản pháp lý liên quan quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

Chất thải y tế tại Việt Nam được quản lý chặt chẽ thông qua hệ thống các văn bản pháp luật do Quốc hội và Chính phủ ban hành Bộ Y tế cũng cung cấp các hướng dẫn và văn bản quản lý để đảm bảo việc xử lý chất thải y tế đúng quy định, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Bộ Tài nguyên môi trường như:

- Luật bảo vệ môi trường năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 23/6/2014 về bảo vệ môi trường đối với bệnh viện và các cơ sở y tế

Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ y tế ngày 30/11/2007 về Quy chế quản lý chất thải y tế

- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 của thủ tướng chính phủ: phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống x lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025

- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 của thủ tướng chỉnh phủ: Phê duyệt đề án tổng thể x lý chất thải y tế giai đoạn 2011 - 2015 và định hưởng tới năm 2020

- Quyết định 3671/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ y tế ngày 27/9/2012 về việc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn

Thông tư liên tịch số 48/2014/TTLT-BYT-BTNMT hướng dẫn phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở y tế, đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường trong ngành y tế Văn bản này quy định rõ trách nhiệm của các cơ sở y tế trong việc xử lý chất thải, kiểm soát khí thải và tuân thủ các quy chuẩn môi trường, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường y tế Thông tư còn nhấn mạnh vai trò của sự phối hợp giữa Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường để thực hiện các giải pháp quản lý môi trường phù hợp với đặc thù của các cơ sở y tế Việt Nam Việc thực thi đúng quy định của Thông tư sẽ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, đảm bảo an toàn cho cộng đồng và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Thông tƣ số 36/2015/TT-BTNMT, ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại

- Thông tƣ liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định về quản lý chất thải y tế

- Tiêu chuẩn Việt Nam 6707:2009 quy định về chất thải nguy hại và đầu hiệu cảnh báo

- QCVN 02:2008/BTNMT ngày 18/7/2008: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế

- QCVN 07:2009/BTNMT ngày 16/11/2009 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngƣỡng chất thải nguy hại

Hệ thống pháp luật của nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc bảo vệ môi trường và quản lý chất thải rắn Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế xã hội cùng với những hạn chế về pháp luật và kinh nghiệm quản lý vẫn khiến kết quả quản lý chất thải rắn còn hạn chế trên phạm vi toàn quốc Do đó, việc làm rõ và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này là nhu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ môi trường.

Hoạt động quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, đặc biệt kể từ khi Luật bảo vệ môi trường và các văn bản dưới luật đi vào hiệu lực Các văn bản pháp lý này vừa tạo nền tảng vững chắc, vừa thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động bảo vệ tài nguyên môi trường, đặc biệt là trong lĩnh vực xử lý chất thải nguy hại và chất thải y tế nguy hiểm.

Tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, chính quyền địa phương đã tích cực khuyến khích đầu tư vào các bãi chôn lấp hợp vệ sinh, cơ sở xử lý chất thải y tế và đội xe chuyên dụng để nâng cao hiệu quả công tác thu gom và vận chuyển chất thải y tế Bên cạnh việc nâng cấp cơ sở khám chữa bệnh và mua sắm trang thiết bị y tế, các bệnh viện đặc biệt quan tâm đến công tác quản lý chất thải y tế nhằm đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế trong việc thực hiện hiệu quả các quy định và kỹ thuật xử lý chất thải y tế, đòi hỏi các giải pháp cải tiến để nâng cao chất lượng quản lý và xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện.

Theo khảo sát của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường trên 834 bệnh viện, có đến 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải y tế, trong đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn, tuy nhiên vẫn còn một số trường hợp phân loại nhầm chất thải dẫn đến việc đưa các chất thải thông thường vào chất thải y tế nguy hại gây tăng chi phí xử lý Chất thải y tế được chứa trong các thùng đựng phù hợp, nhưng đa số bệnh viện chỉ thu gom hàng ngày và chỉ 53% số bệnh viện vận chuyển chất thải bằng xe có nắp đậy, thể hiện mức độ đáp ứng yêu cầu còn hạn chế Ngoài ra, 63,6% bệnh viện sử dụng túi nhựa làm từ PE, PP nhưng chỉ 29,3% sử dụng túi dày theo quy chuẩn, ảnh hưởng đến hiệu quả trong công tác xử lý chất thải y tế.

Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu gi chất thải đó có 45,3 % đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải rắn y tế [13]

Bảng 1.5: Công tác thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2018

Các yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế Tỷ lệ (%)

Túi đựng chất thải cần đảm bảo đúng quy cách về bề dày và dung tích, với tỷ lệ phù hợp đạt 66,67% Ngoài ra, việc tuân thủ quy chuẩn về màu sắc của túi đựng chất thải là rất quan trọng, chiếm tỷ lệ 30,67% Cuối cùng, các túi đựng chất thải cũng phải đúng quy cách về phương pháp buộc đóng gói để đảm bảo an toàn và vệ sinh, đạt tỷ lệ 81,33%.

Hộp đựng vật sắc nhọn đúng quy cách 93,9

Thùng đựng có nắp đậy 58,33

Thùng đựng có ghi nhãn 66,76

Dữ liệu cho thấy công tác thu gom, phân loại chất thải rắn y tế (CTRYT) tại các thành phố vẫn còn nhiều tồn tại, với phương tiện thu gom còn thiếu, chưa đồng bộ hoặc đã quá cũ Chỉ khoảng 30,679% tủ đựng chất thải đúng quy cách và màu sắc, trong khi túi đựng chất thải đạt 66,67% Nguyên nhân chính là do ít nhà sản xuất quan tâm đến các mặt hàng này, gây khó khăn trong việc mua sắm phương tiện phù hợp theo quy định của bệnh viện Một số ít thùng đựng CTR có nắp đậy đạt 58,33%, thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu chưa cao Việt Nam đã chọn mô hình thiêu đốt đa vùng để xử lý chất thải y tế nguy hại, tuy nhiên, do công tác thu gom, phân loại tại nguồn chưa tốt, nhiều chất thải vẫn còn đọng trong bệnh viện hoặc trộn lẫn vào rác sinh hoạt, gây cản trở quá trình thiêu đốt và làm giảm hiệu quả tiêu hủy Hiện có 612 bệnh viện (73,3%) đã có biện pháp xử lý chất thải nguy hại bằng lò đốt tại chỗ hoặc tập trung, với tổng cộng 130 lò đốt có công suất từ 300 đến 450 kg/ngày, chủ yếu là các lò công suất nhỏ và trung bình Các lò đốt đạt tiêu chuẩn môi trường mới chỉ chiếm 40%, trong khi 30% bệnh viện sử dụng lò đốt thủ công, thiêu đốt ngoài trời gây ô nhiễm và không hiệu quả.

Nhiều lò đốt không hoạt động hết công suất hoặc không vận hành đúng quy trình, gây ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý chất thải y tế Một số lò đốt không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, đặc biệt trong việc giảm phát thải dioxin/furan độc hại Hiện vẫn còn gần 27% các bệnh viện tự chôn lấp chất thải y tế nguy hại trong khuôn viên hoặc chuyển đi chôn lấp chung tại địa phương, gây ra rủi ro môi trường và an toàn sức khỏe Công tác xử lý chất thải y tế rất đa dạng, phức tạp với nhiều hình thức khác nhau, điều này làm cho việc kiểm soát và quản lý trở nên khó khăn và chưa thực sự hiệu quả.

Bảng 1.6: Công tác xử lý chất thải rắn y tế ở một số vùng

Cơ sở khám chữa bệnh

Cơ sở lò đốt CTRYT

Lò đốt còn hoạt động

Tỷ lệ các tỉnh có khu xử lý CTRYT tập trung

Tỷ lệ cơ sở y tế xử lý CTR tại khu tập trung (%) Đồng Bằng sông Hồng 244 98 64 8/11 65,3 Đông Bắc và Tây Bắc Bộ 209 93 42 9/15 45,2

Bắc Trung Bộ và Duyên

Tây Nguyên 74 32 23 4/5 71,9 Đông Nam Bộ 100 34 7 6/8 20,5 Đồng bằng sông C u Long 164 110 64 10/12 58,2

Từ bảng số liệu, có thể thấy CTRYT nguy hại của các tỉnh, thành phố hiện được xử lý và tiêu hủy ở nhiều mức độ khác nhau; trong đó, một tỷ lệ nhỏ cơ sở y tế được trang bị lò đốt, còn phần lớn CTR được xử lý tại các khu xử lý tập trung của tỉnh Tuy nhiên, vẫn còn một số tỉnh chưa có khu xử lý rác tập trung, các cơ sở tự xử lý hoặc chôn lấp rác thải không đúng cách, không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường xung quanh.

Phân loại, thu gom chất thải bệnh viện

Theo báo cáo của trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, đa số các bệnh viện (81,25%) đã thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn, tuy nhiên việc phân loại còn chưa hiệu quả do nhân viên chưa được đào tạo đầy đủ về kỹ năng này Việc phân loại còn chưa đúng quy chuẩn, như tách các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế nhưng vẫn còn lẫn nhiều loại chất thải khác.

Hệ thống ký hiệu và màu sắc của túi và thùng đựng chất thải y tế chưa tuân thủ quy định quản lý chất thải bệnh viện, dẫn đến việc sử dụng tùy tiện và thiếu thống nhất Điều này làm giảm hiệu quả trong phân loại, xử lý và kiểm soát chất thải y tế, gây nguy cơ lây nhiễm và ô nhiễm môi trường Việc tuân thủ đúng quy trình và quy chế về ký hiệu, màu sắc giúp nâng cao ý thức và trách nhiệm của nhân viên y tế trong việc quản lý chất thải y tế một cách an toàn và hiệu quả.

Hiện vẫn còn 45% bệnh viện chưa thực hiện tách riêng các vật sắc nhọn khỏi chất thải rắn y tế, làm tăng nguy cơ rủi ro cho nhân viên vận chuyển và xử lý chất thải Trong số các bệnh viện đã thực hành tách vật sắc nhọn, 11,4% chưa thu gom đúng tiêu chuẩn vào hộp đựng vật sắc nhọn theo quy định Đa số các bệnh viện (88,6%) thường đựng các vật sắc nhọn vào chai truyền dịch, chai nhựa hoặc các vật dụng tự tạo, làm tăng nguy cơ nguy hiểm trong quá trình xử lý chất thải y tế.

Chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được hộ lý và lao công thu gom hàng ngày tại các khoa phòng, đảm bảo vệ sinh và an toàn Tuy nhiên, các bác sĩ và y tá chưa được đào tạo hoặc huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế, gây hạn chế trong công tác xử lý chất thải đúng quy định Ngoài ra, nhiều bệnh viện còn thiếu các phương tiện bảo hộ cần thiết cho nhân viên trực tiếp thực hiện phân loại, thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải y tế, làm tăng nguy cơ lây nhiễm và ô nhiễm môi trường.

1.3.4 Lưu trữ, vận chuyển chất thải y tế tới nơi tiêu huỷ

Chất thải rắn y tế được thu gom, phân loại và vận chuyển về các khu trung chuyển tại bệnh viện, tuy nhiên, quy hoạch xây dựng chưa hướng dẫn rõ ràng về việc thiết lập các khu vực này Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn y tế được bố trí trong khuôn viên bệnh viện thành các khu trung chuyển, nhưng nhiều nơi chưa đảm bảo vệ sinh và tiềm ẩn nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi hoặc côn trùng dễ xâm nhập, ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung rác không có mái che, không có rào chắn bảo vệ, lại nằm gần khu vực đi lại, khiến người dân dễ xâm nhập không có nhiệm vụ Chỉ có một số ít bệnh viện có nơi lưu trữ chất thải đạt tiêu chuẩn quy định, còn lại vẫn còn nhiều hạn chế về an toàn và vệ sinh trong quản lý chất thải y tế.

Chất thải rắn y tế tại bệnh viện được nhân viên của Công Ty Môi Trường Đô Thị thu gom từ khu vực trung chuyển Tuy nhiên, cả nhân viên bệnh viện và nhân viên của công ty đều chưa được đào tạo hoặc hướng dẫn đầy đủ về các nguy cơ liên quan đến việc xử lý, vận chuyển và lưu giữ chất thải y tế nguy hiểm Việc thiếu kiến thức và đào tạo này gây ra rủi ro về an toàn và vệ sinh môi trường Cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng cho nhân viên để đảm bảo an toàn trong hoạt động thu gom và xử lý chất thải y tế.

Việc tiêu hủy chất thải rắn y tế nguy hại là một vấn đề quan trọng trong công tác đảm bảo an toàn môi trường và sức khỏe cộng đồng Tuy nhiên, theo điều tra, đa số nhân viên bệnh viện không biết nơi thiêu huỷ cuối cùng của chất thải y tế nguy hại, gây ra những lo ngại về quy trình xử lý và quản lý chất thải y tế đúng chuẩn Việc nắm rõ địa điểm và phương pháp tiêu hủy cuối cùng giúp đảm bảo quá trình xử lý an toàn, hạn chế rủi ro môi trường và sức khỏe Do đó, nâng cao nhận thức và minh bạch trong quy trình xử lý chất thải y tế nguy hại là điều cần thiết để đảm bảo an toàn và tuân thủ các quy định pháp luật.

Việc phối hợp liên ngành trong quy trình quản lý chất thải bệnh viện còn gặp nhiều bất cập, gây ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý Hiện mới có vài công ty bắt đầu nghiên cứu và sản xuất phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải y tế, nhưng vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm chứ chưa mở rộng quy mô Các bệnh viện đã phân loại rõ ràng chất thải y tế và chất thải sinh hoạt để xử lý riêng, tuy nhiên tại một số địa phương, công ty môi trường đô thị từ chối vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại do thiếu hệ thống thiết bị đốt hoặc thiêu hủy chất thải rắn y tế đúng quy chuẩn Chỉ khoảng 18,75% số bệnh viện vận chuyển chất thải ra khỏi bệnh viện bằng xe chuyên dụng của công ty môi trường đô thị, cho thấy còn nhiều hạn chế trong việc vận chuyển và xử lý chất thải y tế an toàn, hiệu quả.

1.3.5 Các phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn y tế a) Thiêu đốt chất thải rắn y tế

Trong nhiều năm qua, các bệnh viện tại Việt Nam chưa tính đến chi phí xử lý chất thải y tế trong quá trình xây dựng, phần lớn tự xây dựng lò đốt mà không theo thiết kế mẫu chuẩn Hiện nay, nhiều bệnh viện vẫn sử dụng lò đốt thủ công bằng gạch, đốt bằng củi hoặc dầu, gây ra ô nhiễm khí thải và mùi khó chịu, ảnh hưởng đến môi trường và cộng đồng dân cư, đặc biệt tại các khu vực nội thành Việc vận hành các lò đốt này thường tạo ra khói bụi mù mịt, không kiểm soát khí thải gây ô nhiễm không khí và gây làn sóng phản ánh từ dư luận về vấn đề xử lý chất thải y tế không phù hợp.

Công Ty Công Trình Đô Thị (URENCO) tại TP Hồ Chí Minh đã đầu tư hệ thống xử lý chất thải rắn y tế bao gồm các bước thu gom, vận chuyển và tiêu hủy Hiện nay, công ty vận hành hai lò đốt chất thải rắn y tế theo mô hình tập trung, gồm lò đốt Del Monego 200 tại xí nghiệp đốt rác Tây Mỗ - Hà Nội và lò đốt oval GG- Các giải pháp này đảm bảo xử lý chất thải y tế một cách an toàn, hiệu quả và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường.

Xí nghiệp đốt rác Bình Ưng tại Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng công nghệ nhập khẩu từ nước ngoài, góp phần nâng cao hiệu quả xử lý chất thải Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được sự ổn định trong công tác xử lý chất thải bệnh viện nhờ hệ thống quản lý và thu gom năng động Trong khi đó, tại Hà Nội, sau 8 tháng thử nghiệm, lò đốt hoạt động tốt nhưng vẫn cần nâng cao công suất để đáp ứng nhu cầu xử lý chất thải ngày càng tăng.

21 đốt này c ng chỉ giải quyết đƣợc 4 tấn/ngày so với nhu cầu của hàng chục bệnh viện tại thành phố là trên 12 tấn/ngày

Các bệnh viện như Viện Lao và Bệnh Phổi, Bệnh viện C Đà Nẵng, và Bệnh viện V Tàu đã có sự hỗ trợ của công ty Wamwe Engineering để lắp đặt lò đốt chất thải y tế oval MZ2 của Thụy Sĩ, công nghệ hiện đại với nhiệt độ thiêu đốt hiệu quả Sau hơn 15 tháng theo dõi, lò đốt của Viện Lao và Bệnh Phổi đã xử lý trên 10 tấn rác y tế nguy hại, đảm bảo an toàn môi trường Tuy nhiên, do lượng chất thải rắn y tế nguy hại của viện không lớn, công suất lò đốt chưa được khai thác tối đa, dẫn đến lãng phí nhiên liệu và phương tiện do mỗi mẻ đốt chỉ cách nhật.

Một số bệnh viện đã lắp đặt lò đốt hiện đại nhưng không thể vận hành do vị trí đặt lò gần khu dân cư gây ra khói đen và mùi khí thải, làm người dân phản đối và gây cảm giác khó chịu (Bệnh viện Bạch Mai) Một số thiết bị lò đốt tạm thời ngưng hoạt động do bị hỏng và chưa có phụ tùng thay thế, như tại Bệnh viện U Nghị đa khoa Nghệ An Trong khi đó, một số bệnh viện đã thành công trong việc lắp đặt và vận hành lò đốt do Việt Nam sản xuất, như Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp, Sóc Trăng, do Trường đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh thiết kế và lắp đặt, cũng như Trung tâm Bảo vệ bà Mẹ Trẻ em và Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Nghệ An (lò đốt Viện Khoa học Vật liệu).

Hầu hết các bệnh viện vẫn tự xử lý chất thải rắn y tế bằng lò đốt thủ công, nhưng phương pháp này không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường Nhờ viện trợ của Tổ chức y tế thế giới trong năm 1999-2000, Bộ Y tế đã được trang bị 2 lò đốt chất thải y tế chế tạo ngoài nước để trang bị cho các bệnh viện tuyến tỉnh, trong đó có lò INCINCO tại Bệnh viện đa khoa Bắc Ninh Thời gian này, chính phủ đã phê duyệt dự án để trang bị 25 lò đốt bệnh viện kiểu oval bằng nguồn vay từ Chính phủ Cộng hòa Áo, và hiện nay, 25 lò đốt này đã đi vào hoạt động, góp phần nâng cao năng lực xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tại nhiều địa phương.

Hiện vẫn chưa có một nghiên cứu thống kê chính xác nào về số lượng lò đốt đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam cũng như hiệu quả xử lý của các thiết bị này Việc đánh giá đầy đủ về tình hình sử dụng lò đốt sinh thiết và xử lý chất thải y tế là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý, đảm bảo an toàn môi trường và sức khỏe cộng đồng Các nghiên cứu này sẽ giúp xác định rõ hơn về tình trạng hiện tại, từ đó đề xuất các giải pháp tối ưu cho công tác xử lý chất thải y tế tại Việt Nam.

Nh ng khó khăn trong việc quản lý chất thải rắn y tế

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn tại Bệnh viện Chương Mỹ Dựa trên đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và xử lý chất thải y tế tại bệnh viện Việc này giúp đảm bảo an toàn môi trường và sức khỏe cộng đồng, đồng thời tăng cường hiệu quả và bền vững trong quản lý chất thải y tế.

+ Đánh giá đƣợc hiện trạng phát sinh chất thải rắn và tác động của CTRYT đến môi trường xung quanh tại bệnh viện Chương Mỹ

+ Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả việc quản lý x lý chất thải bệnh viện tại khu vực nghiên cứu.

Đối tƣợng nghiên cứu

Chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa Khoa Chương Mỹ, uyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

Thời gian nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

- Điều tra hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại bệnh viện Chương Mỹ

- Công tác quản lý chất thải rắn tại bệnh viện Chương Mỹ

- Công tác thu gom, phân loại và vận chuyển CTRYT tại bệnh viện

- Công tác x lý chất thải rắn tại bệnh viện Chương Mỹ

- Giải pháp nâng cao hiệu quả việc quản lý xứ lý chất thải bệnh viện tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập thông tin thứ cấp:

+ Tài liệu, số liệu từ bệnh viện Chương Mỹ và các cơ quan chức năng

+ Các nguồn tài liệu, số liệu khác: báo chí, sách, internet…

Thu thập thông tin sơ cấp:

+ Điều tra, thu thập thông tin thông qua bảng hỏi: Số lƣợng phiếu điều tra và nội dung thu thập thông tin đƣợc trình bày ở Bảng 2.1:

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp về đối tƣợng, nội dung phỏng vấn và số lƣợng phiếu điều tra

Số lƣợng phiếu điều tra

Nội dung phỏng vấn Cách chọn

Cán bộ phụ 1 trách vấn đề môi trường của bệnh viện

4 Thu thập thông tin chung về bệnh viện Điều tra về nhận thức của cán bộ, nhân viên y tế trong việc quản lý CTRYT

Chia thành 4 khu quản lý vấn đề môi trường xng quanh bệnh viện ộ lý bệnh 2 viện

4 Nhận thức trong việc quản lý

CTRYT Chủ đích chọn pv một số hộ lý của bệnh viện

Bệnh nhân và 3 người nhà bệnh nhân

20 iểu biết của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về

Thực hiện theo quy định về quản lý CTRYT của bệnh viện

- Lập danh sách bệnh nhân đã nhập viện từ 2 ngày trở lên, s dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn đủ số bệnh nhân

- Bệnh nhân chủ yếu ở khoa Ngoại – Sản, khoa

15 Điều tra về nhận thức của cán bộ, nhân viên y tế trong việc quản lý CTRYT

Chọn mỗi khoa 1 bác sĩ và hơn 2 y sĩ

+ Khảo sát thực địa (quan sát, chụp ảnh) về hiện trạng quản lý rác thải y tế tại bệnh viện

2.1.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Phương pháp phân tích: Các thông tin thu thập, phân tích, tổng hợp, lập bảng số liệu, biểu diễn đồ, sơ đồ…

X lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel

Kết quả điều tra đƣợc ghi lại trong các biểu sau:

Bảng 2.2: Mẫu bảng thống kê khối lƣợng chất thải rắn y tế tại khu vực nghiên cứu

STT Khoa Kg/ngày/phòng Kg/tháng

Trong năm 2018, bệnh viện đã ghi nhận các số liệu quan trọng gồm số bệnh nhân nội trú, số lượt khám bệnh, số lần xét nghiệm, số cán bộ công nhân viên và số giường bệnh thực tế, phản ánh hoạt động chính và quy mô của cơ sở y tế này.

Số liệu về lƣợng rác thải phát sinh 2 tháng cuối năm 2018

Phương pháp xác định khối lượng chất thải rắn trong bệnh viện được thực hiện thông qua việc thu thập, phân loại và cân đo lượng rác thải tại các khoa Rác thải y tế nguy hại được thu gom hàng ngày vào 3 giờ chiều và chuyển về sân sau để phân loại theo từng loại như chất thải lây nhiễm, chất thải tái chế và chất thải hóa học Sau đó, từng loại rác thải được cân và ghi chép số liệu chính xác vào sổ tay, đảm bảo quản lý chất thải hiệu quả và tuân thủ quy trình xử lý rác thải y tế.

Bảng 2.3: Mẫu biểu thống kê lƣợng CTR nguy hại phát sinh tại các khoa của bệnh viện

Lƣợng phát thải Trung bình (kg/ngày)

Tỷ lệ Thứ 2 Thứ 3 Thứ 4 Thứ 5 Thứ 6 (%)

Trong quá trình khảo sát, ghi chú về số lượng và vị trí đặt thùng rác đóng vai trò quan trọng để quản lý chất thải hiệu quả Điều tra nguồn phát sinh rác thải công trình y tế (CTR), bao gồm rác y tế nguy hại và rác y tế thông thường, giúp xác định các khu vực phát sinh chất thải nhiều nhất Việc phân loại rõ ràng các loại rác thải và đặt đúng vị trí các thùng chứa phù hợp là bước thiết yếu để đảm bảo an toàn và tuân thủ quy định về xử lý chất thải y tế.

Phương pháp thống kê là cách ghi nhận số lượng xe thu gom, đặc điểm và tính chất của chất thải trong thời gian dài để phân tích dữ liệu hiệu quả Khối lượng chất thải phát sinh trong quá trình khảo sát được tính toán dựa trên số liệu thu thập tại khu vực nghiên cứu và các số liệu có sẵn, nhằm đưa ra đánh giá chính xác về lượng rác thải cũng như hiệu quả hoạt động quản lý rác tại bệnh viện.

Bảng 2.4: Mẫu biểu thống kê tổng khối lƣợng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện khu vực nghiên cứu

STT Loại rác thải Khối lƣợng (kg)

Phương pháp xử lý nội nghiệp dựa trên phân tích số liệu so sánh lượng rác thải phát sinh qua các năm tại bệnh viện giúp đánh giá chính xác tình hình quản lý chất thải Việc tính toán phần trăm CTR y tế nguy hại và CTR thông thường trong tổng khối lượng rác thải y tế của bệnh viện là bước quan trọng để đảm bảo an toàn và tuân thủ quy định về xử lý chất thải y tế Đây là phương pháp giúp nâng cao nhận thức về quản lý rác thải y tế hiệu quả, đồng thời hỗ trợ các bệnh viện tối ưu hóa quy trình xử lý và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

2.1.3 Phương pháp kế thừa số liệu

S dụng phương pháp kế thừa số liệu của các tài liệu về x lý CTRYT của bệnh viện

S dụng phương pháp quan sát và điều tra thực địa các điều kiện của bệnh viện Chương Mỹ

Dựa trên phân tích, bài viết đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện của bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý công tác thu hút và tuyển dụng nhân lực y tế Các biện pháp này giúp tối ưu hóa quy trình tuyển dụng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đảm bảo hoạt động chăm sóc sức khỏe đạt hiệu quả cao nhất Việc áp dụng các giải pháp phù hợp còn góp phần giảm thiểu thời gian tuyển dụng, tăng cường khả năng cạnh tranh của bệnh viện trên thị trường y tế Với những chiến lược này, bệnh viện sẽ nâng cao năng lực quản lý nhân lực, thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực nghiên cứu.

Phương pháp kế thừa số liệu

S dụng phương pháp kế thừa số liệu của các tài liệu về x lý CTRYT của bệnh viện

S dụng phương pháp quan sát và điều tra thực địa các điều kiện của bệnh viện Chương Mỹ

Dựa trên những phân tích, chúng tôi đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện của bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý công trình, trạm y tế (CTRYT) của khu vực nghiên cứu Những giải pháp này hướng đến tối ưu hóa quy trình, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân trong khu vực Việc áp dụng các chiến lược phù hợp sẽ giúp cải thiện hiệu quả quản lý, từ đó góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế địa phương.

TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU BỆNH VIỆN ĐA KHOA

Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

Bệnh viện huyện Chương Mỹ, thành phố à Nội nằm trên thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, thành phố à Nội Là một bệnh viện huyện trực thuộc

Sở Y Tế nội thành Hà Nội cách trung tâm thủ đô 24km về phía Đông, nằm gần các ban ngành của huyện Chương Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám chữa bệnh của người dân trong khu vực.

Hình 3.1: Vị trí địa lý của bệnh viện Đa khoa huyện Chương Mỹ

Quy mô, cơ cấu tổ chức và nguồn lực của bệnh viện

Bệnh viện đa khoa huyện Chương Mỹ là bệnh viện hạng II của thành phố, gồm 8 khoa và 7 phòng, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của cộng đồng Năm 2018, bệnh viện đã được Sở Y tế giao kế hoạch 270 giường bệnh với tổng số biên chế 251 cán bộ, đồng thời nâng tổng số giường thực kê lên 365 để phục vụ tốt hơn công tác khám chữa bệnh Bệnh viện đã ký hợp đồng với các bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh để tăng cường nguồn nhân lực, nâng tổng số nhân viên lên 296 người Hiện tại, bệnh viện có hơn 74.000 thẻ bảo hiểm y tế đã đăng ký ban đầu, đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao cho người dân địa phương.

Trong 6 tháng đầu năm 2018, bệnh viện đã khám chữa bệnh cho 113.217 lượt người, tăng 4.477 lượt so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 102.144 lượt khám bảo hiểm y tế, tăng 7.700 lượt so với năm trước Số bệnh nhân điều trị nội trú vượt quá 12.700 người, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế trong thời gian này.

Trong năm qua, bệnh viện đã duy trì trung bình 30 nội trú với thời gian lưu trú trung bình là 4,76 ngày, giảm 0,46 ngày so với cùng kỳ năm 2017, cho thấy hiệu quả hoạt động đã cải thiện rõ rệt Bệnh viện đã thực hiện tổng cộng 1.883 ca phẫu thuật và 16.331 ca thủ thuật, đồng thời thực hiện gần 300.000 tiêu bản xét nghiệm, 50.000 lượt siêu âm, và 60.000 lần chụp X-quang, các chỉ tiêu này đều tăng so với cùng kỳ năm trước, phản ánh sự mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế của bệnh viện.

Trong thời gian qua, bệnh viện đã thực hiện việc giám sát, kiểm tra và đôn đốc các khoa, phòng để duy trì và nâng cao quy chế chuyên môn, nhằm hạn chế tối đa sai sót về kỹ thuật ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh Bệnh viện thường xuyên chấn chỉnh, cải tiến quy trình khám bệnh để tránh ùn tắc và giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân Để tạo thuận lợi, bệnh viện đã sắp xếp quy trình khám bệnh theo hướng một chiều tại các khu vực tiếp đón, phòng khám đa khoa, chuyên khoa và bộ phận lấy mẫu xét nghiệm, giúp bệnh nhân không phải đi lại nhiều lần Đồng thời, bệnh viện bố trí cán bộ, nhân viên trực và tận tình hướng dẫn bệnh nhân và người nhà từ khi đến khám, cùng việc cải tiến quy trình khám bệnh nhằm đảm bảo tính hợp lý, đơn giản, thuận tiện Các hoạt động này bao gồm tăng thêm bàn khám, nhân lực phục vụ khám trong giờ hành chính và ngày cao điểm, cùng với việc bố trí khu vực chờ đủ ghế ngồi, cung cấp nước, quạt và rèm che nắng mùa hè để nâng cao trải nghiệm cho người bệnh.

Cùng với đó, cán bộ y, bác sĩ khoa khám bệnh bắt đầu làm việc sớm hơn

Bệnh viện đã tuân thủ quy định 30 phút để tiếp đón và phục vụ bệnh nhân, đảm bảo thời gian làm việc hợp lý Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong khám và thanh toán bảo hiểm y tế giúp rút ngắn thời gian chờ đợi và giảm phiền hà cho người bệnh Chúng tôi thường xuyên tổ chức tập huấn và triển khai các văn bản hướng dẫn cho cán bộ, nhân viên y tế về đổi mới phong cách và thái độ phục vụ, nhằm nâng cao mức độ hài lòng của bệnh nhân.

Bệnh viện luôn tuân thủ nghiêm quy chế chuyên môn và quy trình kỹ thuật, đồng thời tận dụng sự hỗ trợ từ các chuyên khoa đầu ngành để tiếp nhận chuyển giao và triển khai các kỹ thuật mới, kỹ thuật vượt tuyến nhằm nâng cao chất lượng điều trị Nhờ đó, bệnh viện đã giảm đáng kể số người bệnh phải chuyển tuyến Trong thời gian qua, bệnh viện đã thực hiện thành công nhiều kỹ thuật cao như phẫu thuật lấy thai lần 3 và phẫu thuật mổ mở lấy sỏi thận, góp phần nâng cao dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

Bệnh viện đã thực hiện thành công các kỹ thuật cao như cắt túi mật nội soi, tán sỏi niệu quản ngược dòng, và kết xương đùi có chốt để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người bệnh Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, bệnh viện chú trọng đào tạo nâng cao tay nghề cho đội ngũ y bác sĩ thông qua các chương trình tập huấn kiến thức chuyên môn định kỳ Ngoài ra, bệnh viện duy trì công tác giảng dạy cho các học sinh của Trường Trung cấp Y à Nội và Trường Cao đẳng Y tế à Đông, góp phần xây dựng nguồn nhân lực y tế chất lượng cao trong tương lai.

Hội đồng quản lý chất lượng của bệnh viện, tổ quản lý chất lượng và mạng lưới quản lý chất lượng đã xây dựng kế hoạch nâng cao quản lý chất lượng bệnh viện Bệnh viện thực hiện kiểm tra định kỳ hàng tuần và hàng tháng để đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng Đánh giá liên tục giúp phát hiện các vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp khắc phục kịp thời Việc duy trì công tác kiểm tra và đánh giá định kỳ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng trong bệnh viện.

Trong 6 tháng đầu năm, những thành quả đạt được là nguồn động lực thúc đẩy toàn thể cán bộ tại Bệnh viện đa khoa huyện Chương Mỹ phấn đấu nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong các tháng cuối năm Bệnh viện cam kết tiếp tục cung cố hoạt động khám chữa bệnh an toàn, không để xảy ra sai sót chuyên môn, đồng thời tăng cường ứng dụng các kỹ thuật cao, đầu tư đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ y tế Nhà trường chú trọng việc tổ chức các lớp tập huấn, cập nhật kiến thức về hồi sức cấp cứu, nội, nhi, ngoại, sản, bệnh truyền nhiễm để nâng cao chất lượng điều trị Ngoài ra, bệnh viện còn đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật và tập trung triển khai công nghệ thông tin trong công tác khám chữa bệnh và quản lý bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và dịch vụ y tế.

Hiện trạng chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa Chương Mỹ - à Nội

Phân loại và thu gom CTRYT của bệnh viện

Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện

Ngày đăng: 11/08/2023, 01:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ TNMT 2015, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định về quản lý chất thải y tế căn cứ luật Bảo vệ môi trường 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT
Tác giả: Bộ TNMT
Năm: 2015
2. Bộ TNMT 2016, Nguồn phát sinh các loại chất thải rắn đặc thù từ hoạt động y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn phát sinh các loại chất thải rắn đặc thù từ hoạt động y tế
Tác giả: Bộ TNMT
Năm: 2016
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
4. Bộ Y Tế, Quyết định số 1895/QĐ-BYT ngày 19/9/1997 ban hành quy chế bệnh viện trong đó có quy chế công tác xử lý chất thải, khoa chống nhiễm khuẩn, bệnh viện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và giám sát việc x lý chất thải trong toàn bệnh viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1895/QĐ-BYT
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 1997
7. Bộ Y tế (2006), Sức khỏe môi trường, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 4. Bộ Y tế (2006), Báo cáo y tế Việt Nam năm 2006, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội (tr 81-83) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe môi trường
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
8. Bộ Y tế (2009), “Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009- 2015”, Quyết định số 1783/QĐ-BYT ngày 28/5/2009. Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009- 2015
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2009
9. Bộ Y tế-vụ điều trị, “Tài liệu hướng dẫn thực hành quản lý chất thải y tế”, Nhà xuất bản y học, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn thực hành quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế-vụ điều trị
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2000
10. Bộ Y Tế, 2009 - 2015 , Quyết định số 1783/QĐ-BYT ngày 28/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Cục thống kê Chương Mỹ (2017). Niên giám thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Cục thống kê Chương Mỹ
Năm: 2017
11. BV Chương Mỹ, Báo cáo hiện trạng môi trường bệnh viện Đa khoa Chương mỹ,2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường bệnh viện Đa khoa Chương mỹ
Tác giả: BV Chương Mỹ
Năm: 2015
12. BV Chương Mỹ, Báo cáo hiện trạng môi trường bệnh viện Đa khoa Chương mỹ,2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường bệnh viện Đa khoa Chương mỹ
Tác giả: BV Chương Mỹ
Năm: 2017
13. BV Chương Mỹ, Báo cáo quan trắc chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa Chương Mỹ, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quan trắc chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa Chương Mỹ
Tác giả: BV Chương Mỹ
Năm: 2018
14. Đinh u Dung, Nguyễn Thị Thu, Đào Ngọc Phong, V Thị Vựng và CS(2003), “Nghiên cứu thực trạng tình hình quản lý chất thải y tế ở 6 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, đề xuất các giải pháp can thiệp”, Tuyển tập các báo cáo khoa học Hội Nghị môi trường toàn quốc năm 2005, à Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng tình hình quản lý chất thải y tế ở 6 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, đề xuất các giải pháp can thiệp
Tác giả: Đinh u Dung, Nguyễn Thị Thu, Đào Ngọc Phong, V Thị Vựng
Nhà XB: Tuyển tập các báo cáo khoa học Hội Nghị môi trường toàn quốc năm 2005
Năm: 2003
15. V Việt D ng, (2012), Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển và quản lý rác y tế tai bệnh viện Hợp Lực - Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển và quản lý rác y tế tai bệnh viện Hợp Lực - Thanh Hóa
Tác giả: V Việt D ng
Năm: 2012
16. Cù uy Đấu -Trường Đại học kiến trúc Hà Nội (2004). “Thực tiễn quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam”, Tuyển tập các báo cáo khoa học hội nghị môi trường Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Tác giả: Cù uy Đấu
Nhà XB: Tuyển tập các báo cáo khoa học hội nghị môi trường Việt Nam
Năm: 2004
17. Dương Thị Luyến (2012), “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Dương Thị Luyến
Năm: 2012
18. Nguyễn uy Nga (2004), “Tổng quan tình hình quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam”, Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế
Tác giả: Nguyễn uy Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
19. Trần Thị Minh Tâm (2005), “Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện huyện tỉnh Hải Dương”, Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện huyện tỉnh Hải Dương
Tác giả: Trần Thị Minh Tâm
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2005
20. Kết quả phiếu điều tra khảo sát lƣợng chất thải rắn y tế tại bênh viện huyện Chương Mỹ, năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phiếu điều tra khảo sát lƣợng chất thải rắn y tế tại bênh viện huyện Chương Mỹ
Năm: 2019
2. Ông/Bà cho biết rác thải đƣợc thu gom mấy lần trong ngày? Một lần: □ 1Hai lần: □ 2 Ba lần: □ 3 Khác
3. Ông/Bà cho biết việc thu gom rác đƣợc thực hiện vào thời gian nào trong ngày Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ phân loại CTRYT - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Hình 1.1 Sơ đồ phân loại CTRYT (Trang 13)
Bảng 1.2: Đặc điểm, thành phần chất thải rắn y tế bệnh viện - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Bảng 1.2 Đặc điểm, thành phần chất thải rắn y tế bệnh viện (Trang 15)
Hình 1.2: Mô hình lò đốt chất thải rắn y tế nguy hại - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Hình 1.2 Mô hình lò đốt chất thải rắn y tế nguy hại (Trang 30)
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp về đối tƣợng, nội dung phỏng vấn và số lƣợng - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp về đối tƣợng, nội dung phỏng vấn và số lƣợng (Trang 34)
Bảng 2.3: Mẫu biểu thống kê lƣợng CTR nguy hại phát sinh tại các khoa - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Bảng 2.3 Mẫu biểu thống kê lƣợng CTR nguy hại phát sinh tại các khoa (Trang 35)
Hình 3.1: Vị trí địa lý của bệnh viện Đa khoa huyện Chương Mỹ - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Hình 3.1 Vị trí địa lý của bệnh viện Đa khoa huyện Chương Mỹ (Trang 37)
Bảng 4.2: Khối lƣợng CTR phát sinh của bệnh viện 2 tháng đầu năm 2019 - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Bảng 4.2 Khối lƣợng CTR phát sinh của bệnh viện 2 tháng đầu năm 2019 (Trang 43)
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ CTRYT phát sinh của bệnh viện Đa khoa - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ CTRYT phát sinh của bệnh viện Đa khoa (Trang 44)
Bảng 4.3: Lƣợng CTR y tế nguy hại phát sinh tại các khoa của bệnh viện - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Bảng 4.3 Lƣợng CTR y tế nguy hại phát sinh tại các khoa của bệnh viện (Trang 45)
Bảng 4.4: Lượng CTR thông thường phát sinh tại các khoa của bệnh viện - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Bảng 4.4 Lượng CTR thông thường phát sinh tại các khoa của bệnh viện (Trang 46)
Bảng 4.5: Tỷ lệ phần trăm thành phần CTR của bệnh viện năm 2019 - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Bảng 4.5 Tỷ lệ phần trăm thành phần CTR của bệnh viện năm 2019 (Trang 47)
Bảng 4.6. Công tác đào tạo, tập huấn về quản lý chất thải y tế của bệnh viện - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Bảng 4.6. Công tác đào tạo, tập huấn về quản lý chất thải y tế của bệnh viện (Trang 49)
Hình 4.2: Sơ đồ bệnh viện Chương Mỹ - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Hình 4.2 Sơ đồ bệnh viện Chương Mỹ (Trang 53)
Hình 4.3: Đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện huyện - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
Hình 4.3 Đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện huyện (Trang 61)
HÌNH ẢNH - Thực trạng quản lý, xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa chương mỹ   hà nội
HÌNH ẢNH (Trang 77)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm