MỤC LỤC MỞ ĐẦU.................................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................... 1 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................... 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 3 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ............................................................. 3 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận .......................................................... 3 6. Kết cấu của tiểu luận .............................................................................................. 4 Chương 1. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM................................................................................................................. 5 1.1. Tư tưởng Hồ Chí Mình về công tác tôn giáo ...................................................... 5 1.2. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo trong thời kì đổi mới ........... ............................................................................................................ 8 Chương 2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HIỆN ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................................................ 11 2.1. Đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh ..................................................... 11 2.2. Mục tiêu của đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh .................................. 13 2.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay ....................................................................................................... 15 2.4. Đóng góp của tôn giáo cho nhà nước .................................................................... 17 2.5. Những mặt hạn chế và khắc phục ......................................................................... 18 2.6. Ý nghĩa của đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh ................................... 21 2.7. Trách nhiệm của sinh viên trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo ........... .................................................................................................................. 22 KẾT LUẬN ............................................................................................................... 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................... 23 0 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí có đường bờ biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới về văn hóa và tôn giáo. Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em. Mỗi một dân tộc có tín ngưỡng tôn giáo riêng. Người Việt thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng làng, thờ những người có công với cộng đồng, của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số theo Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo. Với loại hình đa tôn giáo, ở nước ta hiện nay có 6 tôn giáo ngoại nhập và 6 tôn giáo nội sinh với 33 tổ chức đã được công nhận tư cách pháp nhân, hoạt động hợp pháp dưới sự bảo hộ của pháp luật. Các tôn giáo ngoại nhập vào Việt Nam là Phật giáo, Đạo Công giáo, Đạo Hồi, Đạo Tin lành, Đạo Minh Sư, Đạo Baha’i. Ngoài ra còn có các tôn giáo nội sinh như Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ra đời năm 1849 tại Tây An cổ tự, Chợ Mới, An Giang; Đạo Tứ ân hiếu nghĩa ra đời tháng 51867 tại Cù lao Ba, An Phú, An Giang; Đạo Minh Lý (còn gọi là Minh lý đạo tam tông miếu) ra đời năm 1924 tại miền Nam; Đạo Cao đài ra đời 15101926 (AL) tại Tây Ninh; Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam ra đời năm 1934 tại Sa Đéc Đồng Tháp; Phật giáo Hoà Hảo có nguồn gốc giáo lý từ đạo Phật nhưng được lược hoá, địa phương hoá cho phù hợp với trình độ lối sống của người dân địa phương. Phật giáo Hoà Hảo ra đời năm 1939 tại làng Hoà Hảo, Tân Phú, An Giang. Từ sự đa dạng tôn giáo hiện nay ở Việt Nam, chúng ta thấy được sự khác biệt từ nguồn gốc, cơ sở đức tin cho tới lịch sử quá trình tồn tại và phát triển,... đã nói lên tính đa dạng và phức tạp trong cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam. Hiện nay, công cuộc xây dựng CNXH của nước ta đang đứng trước nhiều thử thách. Các thế lực thù địch chống đối Việt Nam đã công khai ý đồ chuyển hoá chế độ chính trị ở Việt Nam. Chúng triệt để lợi dụng vấn đề tôn giáo và dân tộc để chống phá ta. Mục tiêu cuối cùng của chúng là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xoá bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Từ những vấn đề trên, nhóm chúng em quyết định lựa chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về việc thực hiện đoàn kết tôn giáo hiện nay” nhằm đưa ra cái 1 nhìn khách quan về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam đồng thời đề cao việc vận dụng và kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng và giữ gìn tinh thần đoàn kết tôn giáo nói chung và đoàn kết dân tộc nói riêng. Bài tiểu luận sẽ giúp người đọc hiểu rõ về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam và chỉ ra những điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo cùng những giải pháp để củng cố tinh thần đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay. 2.Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài Mục đích Tìm hiểu và góp phần làm sáng tỏ hơn những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu, làm sáng tỏ quá trình Đảng và Nhà Nước cùng với nhân dân vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái giữa các tôn giáo đang tồn tại ở nước ta hiên nay. Trên cơ sở đó tổng kết những thành tựu, nêu lên những hạn chế, rút ra những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện công cuộc xây dựng tinh thần đoàn kết giữa các tôn giáo ở nước ta hiện nay. Để đạt được những mục đích nêu trên, tiểu luận cần thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể như sau: Trình bày có hệ thống các quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay. Trình bày quá trình Đảng và Nhà Nước cùng nhân dân tiếp thu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay. Đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay của Đảng và Nhà Nước cùng với nhân dân. Rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn trong việc thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay. 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận Đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo, tiểu luận đi sâu nghiên cứu về vấn đề thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay của Đảng và Nhà Nước cùng với nhân dân. Phạm vi nghiên cứu Tiểu luận tập trung nghiên cứu quan điểm của tư tưởng Hồ Chí trong việc thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay. 4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết tôn giáo; các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà Nước ta hiện nay. Phương pháp nghiên cứu Tiểu luận đã áp dụng hai phương pháp nghiên cứu chính đó là phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin và các quan điểm có giá trị phương pháp luận của Hồ Chí Minh. Phương pháp cụ thể: vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết, phương pháp nghiên cứu lịch sử thuộc về phương pháp nghiên cứu lý thuyết, bên cạnh đó nhóm chúng em còn sử dụng phương pháp phân tích – tổng kết kinh nghiệm đối với việc nghiên cứu thực tiễn và ứng dụng. 5.Ý nghĩa khoa học và thức tiễn của tiểu luận Tiểu luận góp phần cung cấp và làm rõ hơn những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay, phục vụ cho các cơ quan, đơn vị và cá nhân có nhu cầu tìm hiểu về các nội dung này. Trình bày sâu sắc, có hệ thống quá trình Đảng và Nhà Nước cùng với nhân dân vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề đoàn kết tôn giáo góp phần vào việc nghiên cứu, tổng kết về vấn đề tôn giáo trong giai đoạn hiện nay. Đánh giá, tổng kết quá trình thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quá trình trên. 3 Ngoài ra, tiểu luận còn có thể là tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu về quá trình thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay cho các đơn vị nghiên cứu. 6. Kết cấu của tiểu luận Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, tiểu luận được chia làm 2 chương, 7 tiết. Chương 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. 4 Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo Việt Nam là một Quốc gia có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài với đặc điểm có nhiều dân tộc cùng chung sống, nhiều tôn giáo cùng tồn tại. Năm 1858, tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược Việt Nam. Sau khi dập tắt được các phong trào yêu nước của nhân dân ta, chúng đã từng bước thiết lập bộ máy cai trị. Dựa trên cơ sở về địa lý, dân tộc, tôn giáo chúng thực hiện chính sách chia để trị với mục đích là gây chia rẽ, thù hằn dân tộc nhằm phá vỡ sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, làm cho dân tộc ta không đủ sức chống lại chúng. Nhận thức được điều này, ngay từ đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa MácLênin về tôn giáo một cách sáng tạo, hình thành nên tư tưởng về công tác tôn giáo phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam, góp phần bổ sung và làm phong phú thêm kho tàng lý luận chủ nghĩa MácLênin. Là một người yêu nước, với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, hướng tới giải phóng con người. Vì vậy, công tác tôn giáo ở Việt Nam cũng không ngoại lệ mà phải hướng theo mục tiêu trung tâm là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo có thể khái quát thành một số nội dung chính như sau: 1.1.1. Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng của nhân dân Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng dân chủ tiến bộ của phương Tây, trong các quyền đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Từ những quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo, Hồ Chí Minh đã hình thành nên quan điểm về công tác tôn giáo. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền lý luận với thực tiễn về công tác tôn giáo trong hoạt động cách mạng, nguyên tắc nền tảng này được Đảng và Nhà nước ta áp dụng xuyên suốt từ trước đến nay. Ngày 391945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”. Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Người 5 chỉ đạo biên soạn khẳng định: “Nhân dân có quyền tự do tín ngưỡng”. Chính cương của Mặt trận Liên Việt, ở điểm 1 điều thứ 7 khẳng định: “tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng của mọi người”. Điều 8 trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, cũng khẳng định: “tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của mọi người dân”. Qua những đó chứng minh, Hồ Chí Minh tôn trọng quyền tự do tôn giáo của nhân dân. Năm 1951, để chống lại luận điệu cộng sản là vô gia đình, vô đạo và vô Tổ quốc, thậm chí cho rằng Việt cộng diệt đạo của kẻ địch, trong buổi kết thúc lễ ra mắt của Đảng lao động Việt Nam, Người chỉ rõ: “chúng tôi xin nói rõ để tránh mọi sự có thể hiểu lầm:…Vấn đề tôn giáo, thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người”. Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, ngày 1461955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234SL về vấn đề tôn giáo gồm 5 chương và 16 điều. Sắc lệnh đã thể hiện rất rõ, chi tiết, cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Sắc lệnh 234SL của Người đã được đông đảo đồng bào có đạo hoan nghênh và ủng hộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mọi người Việt Nam đều: “có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ sở thờ tự. Việc truyền bá tôn giáo phải gắn liền với nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền và pháp luật của Nhà nước. Mọi công dân Việt Nam không phân biệt có hay không có tín ngưỡng, tôn giáo đều được hưởng mọi quyền lợi như nhau, kể cả trong ứng cử và bầu cử người vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Mọi tín đồ còn phải thực hiện tất cả các nghĩa vụ của người công dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất chú trọng đến tín ngưỡng truyền thống ở Việt Nam, đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Người cho rằng: “việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội”. Bên cạnh tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không ngừng lên án, kiến quyết trừng trị thật nghiêm bất cứ ai lợi dung tôn giáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1946 do Người chỉ đạo soạn thảo đó là: “trong Hiến pháp nước ta đã định rõ: Tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, …sẽ bị trừng phạt” . Người nhấn mạnh: “bảo vệ tự do tín 6 ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo để phản Chúa, phản nước”. Ngoài việc tôn trọng quyền tự do về tín ngưỡng tôn giáo, thấy được những giá trị tốt đẹp của các tôn giáo, Hồ Chí Minh cũng phê phán những mặt hạn chế của tôn giáo như hiện tượng mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu. Từ đó, Hồ Chí Minh đã đề ra một số giải pháp nhằm xóa bỏ các tệ nạn đó là: bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan phải đi đôi với việc xây dựng nếp sống văn hóa mới, xây dựng thuần phong, mỹ tục. Việc đấu tranh nhằm khắc phục các biểu hiện tiêu cực của tôn giáo phải thực hiện một cách tế nhị, tránh thô bạo. 1.1.2. Thực hiện đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc Đoàn kết lương giáo nằm trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh. Với Hồ Chí Minh đoàn kết là một chiến lược lâu dài chứ không phải một thủ đoạn chính trị nhất thời. Lực lượng đoàn kết theo Hồ Chí Minh là “mỗi một người con Rồng cháu Tiên”, đó là mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, có tín ngưỡng hay không tín ngưỡng, không phân biệt “già, trẻ, gái, trai, giàu nghèo hay quý tiện”.Trong tác phẩm Đường Cách Mệnh, Hồ Chí Minh viết: “Ai là thợ thuyền thì được vào hội, dù tin Phật, tin đạo, tin cộng sản, tin vô chính phủ, tin gì cũng mặc, miễn là làm đúng quy tắc hội là được”. Năm 1955, tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc, Người khẳng định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi, mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà, ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta phải đoàn kết với họ”. Để chống lại luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của bọn thực dân Pháp là Thiên Chúa giáo không đội trời chung với cộng sản, cộng sản là kẻ thù của Công giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh là cộng sản, vì vậy người giáo không thể đồng hành với Chính phủ Hồ Chí Minh. Người đã đáp lại bằng lời kêu gọi: “lương giáo đoàn kết, diệt hết kẻ thù”. Lời kêu gọi này đã chứng tỏ một điều rằng: Hồ Chí Minh là Người phân biệt rõ ràng những người công giáo yêu nước với những kẻ mang danh công giáo phản quốc, phản chúa. Vạch trần thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động để mê hoặc, kích động, chia rẽ, lừa dối nhân dân phục vụ cho chính sách “chia để trị” của chúng. Với 7 chiến lược đoàn kết dân tộc, trong đó đoàn kết lương giáo là một nội dung trọng tâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi, thực hiện thành công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đem lại độc lập cho dân tộc, tiến tới xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh. 1.2. Những quan điểm của Đảng và Nhà Nước về công tác tôn giáo trong thời kỳ đổi mới 1.2.1. Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về công tác tôn giáo Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng đất nước, trong thời kỳ đổi mới Đảng ta luôn quan tâm xây dựng và thực hiện tốt công tác tôn giáo, nhằm củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Đường lối của Đảng về công tác tôn giáo đã được khẳng định, phát triển qua các kỳ Đại hội của Đảng. Đại hội VII (1991), Đại hội VIII (1996), đặc biệt là tại Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (1232003) và Ðại hội X (2006) của Đảng luôn khẳng định: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thi hành nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Bảo đảm cho sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Nhà nước. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng. Nghiêm cấm và ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân. Đồng thời Nhà nước chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giúp đỡ đồng bào có đạo xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, tham gia các công việc xã hội, từ thiện. Đồng bào theo đạo, các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta khẳng định: “tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, 8 tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”. Đại hội XII (2016) tiếp tục chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”. Nhìn lại 30 năm đổi mới (1986 – 2016), đất nước ta đã đạt được nhiều kết quả to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Ðể đạt được những thành tựu to lớn đó có rất nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân quan trọng là sự đóng góp của nhiều đồng bào các tôn giáo đã đoàn kết cùng toàn dân phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” dân tộc. 1.2.2. Chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác tôn giáo hiện nay Nhằm thể hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta đối với lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng trong thời kỳ đổi mới, bên cạnh các Nghị quyết số 25 NQTW ngày 12032003 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX “về công tác tôn giáo”, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội có phiên họp thứ 19 Khóa XI ngày 18062004 đã thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt là luật tôn giáo, tín ngưỡng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18 tháng 11 năm 2016, được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 1 tháng 12 năm 2016 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2018. Đây là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị cao nhất điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Luật tôn giáo, tín ngưỡng đã thể chế hóa đường lối, chủ trương về chính sách của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay, tạo cơ sở pháp lý cho công dân thực hiện quyền cơ bản về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
Trang 2ĐIỂM SỐ
TIÊU CHÍ NỘI DUNG BỐ CỤC TRÌNH BÀY TỔNG
ĐIỂM
NHẬN XÉT
Ký tên
Trang 3BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
KÝ TÊN
0
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận 3
6 Kết cấu của tiểu luận 4
Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 5
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Mình về công tác tôn giáo 5
1.2 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo trong thời kì đổi mới 8
Chương 2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HIỆN ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 11
2.1 Đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh 11
2.2 Mục tiêu của đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh 13
2.3 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 15
2.4 Đóng góp của tôn giáo cho nhà nước 17
2.5 Những mặt hạn chế và khắc phục 18
2.6 Ý nghĩa của đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh 21
2.7 Trách nhiệm của sinh viên trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo 22
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo Với vị trí cóđường bờ biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới vềvăn hóa và tôn giáo
Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em Mỗimột dân tộc có tín ngưỡng tôn giáo riêng Người Việt thờ cúng tổ tiên, thờ ThànhHoàng làng, thờ những người có công với cộng đồng, của cư dân nông nghiệp lúanước Đồng bào các dân tộc thiểu số theo Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo
Với loại hình đa tôn giáo, ở nước ta hiện nay có 6 tôn giáo ngoại nhập và 6 tôngiáo nội sinh với 33 tổ chức đã được công nhận tư cách pháp nhân, hoạt động hợppháp dưới sự bảo hộ của pháp luật Các tôn giáo ngoại nhập vào Việt Nam là Phậtgiáo, Đạo Công giáo, Đạo Hồi, Đạo Tin lành, Đạo Minh Sư, Đạo Baha’i
Ngoài ra còn có các tôn giáo nội sinh như Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ra đời năm
1849 tại Tây An cổ tự, Chợ Mới, An Giang; Đạo Tứ ân hiếu nghĩa ra đời tháng 5-1867tại Cù lao Ba, An Phú, An Giang; Đạo Minh Lý (còn gọi là Minh lý đạo - tam tôngmiếu) ra đời năm 1924 tại miền Nam; Đạo Cao đài ra đời 15-10-1926 (AL) tại TâyNinh; Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam ra đời năm 1934 tại Sa Đéc Đồng Tháp; Phậtgiáo Hoà Hảo có nguồn gốc giáo lý từ đạo Phật nhưng được lược hoá, địa phương hoácho phù hợp với trình độ lối sống của người dân địa phương Phật giáo Hoà Hảo ra đờinăm 1939 tại làng Hoà Hảo, Tân Phú, An Giang
Từ sự đa dạng tôn giáo hiện nay ở Việt Nam, chúng ta thấy được sự khác biệt từnguồn gốc, cơ sở đức tin cho tới lịch sử quá trình tồn tại và phát triển, đã nói lên tính
đa dạng và phức tạp trong cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam Hiện nay, công cuộcxây dựng CNXH của nước ta đang đứng trước nhiều thử thách Các thế lực thù địchchống đối Việt Nam đã công khai ý đồ chuyển hoá chế độ chính trị ở Việt Nam.Chúng triệt để lợi dụng vấn đề tôn giáo và dân tộc để chống phá ta Mục tiêu cuối cùngcủa chúng là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xoá bỏ chế độ XHCN ở ViệtNam
Từ những vấn đề trên, nhóm chúng em quyết định lựa chọn đề tài “Vận dụng tưtưởng Hồ Chí Minh về việc thực hiện đoàn kết tôn giáo hiện nay” nhằm đưa ra cái
Trang 6nhìn khách quan về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam đồng thời đề cao việc vận dụng và kếthừa tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng và giữ gìn tinh thần đoàn kếttôn giáo nói chung và đoàn kết dân tộc nói riêng Bài tiểu luận sẽ giúp người đọc hiểu
rõ về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam và chỉ ra những điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ ChíMinh về đoàn kết tôn giáo cùng những giải pháp để củng cố tinh thần đoàn kết tôngiáo ở nước ta hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích
- Tìm hiểu và góp phần làm sáng tỏ hơn những nội dung cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ quá trình Đảng và Nhà Nước cùng với nhân dân vậndụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng tinh thần đoàn kết, tương thântương ái giữa các tôn giáo đang tồn tại ở nước ta hiên nay
- Trên cơ sở đó tổng kết những thành tựu, nêu lên những hạn chế, rút ra nhữngkinh nghiệm trong quá trình thực hiện công cuộc xây dựng tinh thần đoàn kết giữa cáctôn giáo ở nước ta hiện nay
- Để đạt được những mục đích nêu trên, tiểu luận cần thực hiện một số nhiệm
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận
Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh vềđoàn kết tôn giáo, tiểu luận đi sâu nghiên cứu về vấn đề thực hiện đoàn kết tôn giáo ởnước ta hiện nay của Đảng và Nhà Nước cùng với nhân dân
Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề đoàn kết tôn giáo; các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà Nước tahiện nay
Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận đã áp dụng hai phương pháp nghiên cứu chính đó là phương phápluận khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin và các quan điểm có giá trị phương pháp luậncủa Hồ Chí Minh
Phương pháp cụ thể: vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic,phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết, phương pháp nghiên cứu lịch sử thuộc vềphương pháp nghiên cứu lý thuyết, bên cạnh đó nhóm chúng em còn sử dụng phươngpháp phân tích – tổng kết kinh nghiệm đối với việc nghiên cứu thực tiễn và ứng dụng
5 Ý nghĩa khoa học và thức tiễn của tiểu luận
Tiểu luận góp phần cung cấp và làm rõ hơn những nội dung cơ bản của tưtưởng Hồ Chí Minh về vấn đề thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay, phục vụcho các cơ quan, đơn vị và cá nhân có nhu cầu tìm hiểu về các nội dung này
Trình bày sâu sắc, có hệ thống quá trình Đảng và Nhà Nước cùng với nhân dânvận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề đoàn kết tôn giáo góp phần vào việcnghiên cứu, tổng kết về vấn đề tôn giáo trong giai đoạn hiện nay
Đánh giá, tổng kết quá trình thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay, đềxuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quá trình trên
Trang 8Ngoài ra, tiểu luận còn có thể là tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu về quá trình thực hiện đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay cho các đơn vị nghiên cứu.
6 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, tiểu luận được chia làm 2 chương, 7 tiết
Chương 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam
Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Trang 9Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo
Việt Nam là một Quốc gia có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài với đặc điểm
có nhiều dân tộc cùng chung sống, nhiều tôn giáo cùng tồn tại Năm 1858, tại bán đảoSơn Trà, Đà Nẵng, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược Việt Nam Sau khi dập tắtđược các phong trào yêu nước của nhân dân ta, chúng đã từng bước thiết lập bộ máycai trị Dựa trên cơ sở về địa lý, dân tộc, tôn giáo chúng thực hiện chính sách chia đểtrị với mục đích là gây chia rẽ, thù hằn dân tộc nhằm phá vỡ sức mạnh của khối đạiđoàn kết dân tộc, làm cho dân tộc ta không đủ sức chống lại chúng Nhận thức đượcđiều này, ngay từ đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo một cách sáng tạo, hình thành nên tư tưởng về công tác tôn giáo phùhợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam, góp phần bổ sung và làm phong phú thêm khotàng lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin Là một người yêu nước, với mục tiêu độc lập dântộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, hướng tớigiải phóng con người Vì vậy, công tác tôn giáo ở Việt Nam cũng không ngoại lệ màphải hướng theo mục tiêu trung tâm là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhândân Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo có thể khái quát thành một số nội dung chínhnhư sau:
1.1.1 Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng của nhân dân
Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng dân chủ tiến bộ của phươngTây, trong các quyền đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Từ những quyền tự dotín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo, Hồ Chí Minh đã hình thành nênquan điểm về công tác tôn giáo Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền lý luận với thựctiễn về công tác tôn giáo trong hoạt động cách mạng, nguyên tắc nền tảng này đượcĐảng và Nhà nước ta áp dụng xuyên suốt từ trước đến nay
Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời, HồChí Minh đã phát biểu: “Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và lươnggiáo đoàn kết” Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Người
Trang 10chỉ đạo biên soạn khẳng định: “Nhân dân có quyền tự do tín ngưỡng” Chính cươngcủa Mặt trận Liên Việt, ở điểm 1 điều thứ 7 khẳng định: “tôn trọng quyền tự do tínngưỡng, tự do thờ cúng của mọi người” Điều 8 trong Chính cương của Đảng Laođộng Việt Nam, cũng khẳng định: “tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng củamọi người dân” Qua những đó chứng minh, Hồ Chí Minh tôn trọng quyền tự do tôngiáo của nhân dân.
Năm 1951, để chống lại luận điệu cộng sản là vô gia đình, vô đạo và vô Tổquốc, thậm chí cho rằng Việt cộng diệt đạo của kẻ địch, trong buổi kết thúc lễ ra mắtcủa Đảng lao động Việt Nam, Người chỉ rõ: “chúng tôi xin nói rõ để tránh mọi sự cóthể hiểu lầm:…Vấn đề tôn giáo, thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọngquyền tự do tín ngưỡng của mọi người”
Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, ngày 14/6/1955, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã ký Sắc lệnh 234/SL về vấn đề tôn giáo gồm 5 chương và 16 điều Sắc lệnh đãthể hiện rất rõ, chi tiết, cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân Sắclệnh 234/SL của Người đã được đông đảo đồng bào có đạo hoan nghênh và ủng hộ
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mọi người Việt Nam đều: “có quyền tự dotín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” Các nhà tu hành được tự do giảngđạo tại các cơ sở thờ tự Việc truyền bá tôn giáo phải gắn liền với nhiệm vụ giáo dụccho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chínhquyền và pháp luật của Nhà nước Mọi công dân Việt Nam không phân biệt có haykhông có tín ngưỡng, tôn giáo đều được hưởng mọi quyền lợi như nhau, kể cả trongứng cử và bầu cử người vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Mọi tín đồ cònphải thực hiện tất cả các nghĩa vụ của người công dân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rấtchú trọng đến tín ngưỡng truyền thống ở Việt Nam, đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổtiên Người cho rằng: “việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội” Bêncạnh tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không ngừng lên
án, kiến quyết trừng trị thật nghiêm bất cứ ai lợi dung tôn giáo để phá hoại sự nghiệpcách mạng của nhân dân Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1946 doNgười chỉ đạo soạn thảo đó là: “trong Hiến pháp nước ta đã định rõ: Tín ngưỡng tự do.Nếu ai làm sai Hiến pháp, …sẽ bị trừng phạt” Người nhấn mạnh: “bảo vệ tự do tín
Trang 11ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo để phản Chúa, phảnnước”.
Ngoài việc tôn trọng quyền tự do về tín ngưỡng tôn giáo, thấy được những giátrị tốt đẹp của các tôn giáo, Hồ Chí Minh cũng phê phán những mặt hạn chế của tôngiáo như hiện tượng mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu Từ đó, Hồ Chí Minh đã đề ra một
số giải pháp nhằm xóa bỏ các tệ nạn đó là: bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan phải đi đôi vớiviệc xây dựng nếp sống văn hóa mới, xây dựng thuần phong, mỹ tục Việc đấu tranhnhằm khắc phục các biểu hiện tiêu cực của tôn giáo phải thực hiện một cách tế nhị,tránh thô bạo
1.1.2 Thực hiện đoàn kết lương- giáo, hòa hợp dân tộc
Đoàn kết lương - giáo nằm trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.Với Hồ Chí Minh đoàn kết là một chiến lược lâu dài chứ không phải một thủ đoạnchính trị nhất thời Lực lượng đoàn kết theo Hồ Chí Minh là “mỗi một người con Rồngcháu Tiên”, đó là mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, cótín ngưỡng hay không tín ngưỡng, không phân biệt “già, trẻ, gái, trai, giàu nghèo hayquý tiện”.Trong tác phẩm Đường Cách Mệnh, Hồ Chí Minh viết: “Ai là thợ thuyền thìđược vào hội, dù tin Phật, tin đạo, tin cộng sản, tin vô chính phủ, tin gì cũng mặc, miễn
là làm đúng quy tắc hội là được” Năm 1955, tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việttoàn quốc, Người khẳng định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi, mà còn đoàn kếtlâu dài Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị Tađoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết đểxây dựng nước nhà, ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sựnhân dân thì ta phải đoàn kết với họ”
Để chống lại luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của bọn thực dân Pháp là ThiênChúa giáo không đội trời chung với cộng sản, cộng sản là kẻ thù của Công giáo, Chủtịch Hồ Chí Minh là cộng sản, vì vậy người giáo không thể đồng hành với Chính phủ
Hồ Chí Minh Người đã đáp lại bằng lời kêu gọi: “lương giáo đoàn kết, diệt hết kẻ thù”.Lời kêu gọi này đã chứng tỏ một điều rằng: Hồ Chí Minh là Người phân biệt rõ ràngnhững người công giáo yêu nước với những kẻ mang danh công giáo phản quốc, phảnchúa Vạch trần thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động để mê hoặc, kíchđộng, chia rẽ, lừa dối nhân dân phục vụ cho chính sách “chia để trị” của chúng Với
Trang 12chiến lược đoàn kết dân tộc, trong đó đoàn kết lương giáo là một nội dung trọng tâm,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc rộngrãi, thực hiện thành công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đem lại độc lậpcho dân tộc, tiến tới xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằngvăn minh.
1.2 Những quan điểm của Đảng và Nhà Nước về công tác tôn giáo trong thời
kỳ đổi mới
1.2.1 Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về công tác tôn giáo
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tôn giáo trong sự nghiệp xây dựngđất nước, trong thời kỳ đổi mới Đảng ta luôn quan tâm xây dựng và thực hiện tốtcông tác tôn giáo, nhằm củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc Đườnglối của Đảng về công tác tôn giáo đã được khẳng định, phát triển qua các kỳ Đại hộicủa Đảng Đại hội VII (1991), Đại hội VIII (1996), đặc biệt là tại Hội nghị lần thứ 7của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (12/3/2003) và Ðại hội X (2006) củaĐảng luôn khẳng định: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phậnnhân dân Thi hành nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng theo hoặckhông theo một tôn giáo nào của công dân Các tôn giáo đều bình đẳng trước phápluật Bảo đảm cho sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Nhà nước.Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo,chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng Nghiêm cấm và ngăn chặn cáchành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa
xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân Đồng thời Nhà nước chăm lo pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội, giúp đỡ đồng bào có đạo xóa đói giảm nghèo, nâng caođời sống, tham gia các công việc xã hội, từ thiện Đồng bào theo đạo, các vị chức sắctôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt đời,đẹp đạo”
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổsung, phát triển năm 2011), Đảng ta khẳng định: “tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của phápluật Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng,
Trang 13tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhândân”.
Đại hội XII (2016) tiếp tục chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, phápluật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của cáctôn giáo Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiếnchương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định củapháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Đồng thờichủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng,tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tínngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”
Nhìn lại 30 năm đổi mới (1986 – 2016), đất nước ta đã đạt được nhiều kết quả
to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tếđược nâng cao Ðể đạt được những thành tựu to lớn đó có rất nhiều nguyên nhân, mộttrong những nguyên nhân quan trọng là sự đóng góp của nhiều đồng bào các tôn giáo
đã đoàn kết cùng toàn dân phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh” dân tộc
1.2.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác tôn giáo hiện nay
Nhằm thể hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước ta đối với lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng trong thời kỳ đổi mới, bên cạnh các Nghịquyết số 25- NQ/TW ngày 12/03/2003 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa IX “về công tác tôn giáo”, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội có phiên họp thứ 19Khóa XI ngày 18/06/2004 đã thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo Đặc biệt làluật tôn giáo, tín ngưỡng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namkhóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18 tháng 11 năm 2016, được Chủ tịch nước kýlệnh công bố ngày 1 tháng 12 năm 2016 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2018.Đây là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị cao nhất điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực tínngưỡng, tôn giáo Luật tôn giáo, tín ngưỡng đã thể chế hóa đường lối, chủ trương vềchính sách của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay, tạo cơ sở pháp lýcho công dân thực hiện quyền cơ bản về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao hiệu lựcquản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này
Trang 14Luật tín ngưỡng, tôn giáo gồm có 9 chương 68 điều, luật đã thể hiện rõ phạm viđiều chỉnh, đối tượng áp dụng Luật cũng quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôngiáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụcủa cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôngiáo Đồng thời luật cũng áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảođảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Có thể khái quát một số nội dung
cơ bản về quy định của luật tín ngưỡng, tôn giáo như sau:
Một là, Khẳng định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào của mọi công dân Việt Nam, cũng như người nước ngoài
cư trú hợp pháp tại Việt Nam Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôngiáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; có quyền vào tu các cơ sở tôn giáo.Quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức giáo hội trực thuộc Các tổ chức, cá nhân trongthực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ quy định của pháp luật
Hai là, Quy định về hoạt động tín ngưỡng: hoạt động tín ngưỡng, lễ hội tín
ngưỡng phải bảo đảm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp củadân tộc Việc tổ chức hoạt động tín ngưỡng, lễ hội tín ngưỡng phải bảo đảm an ninh,trật tự, an toàn xã hội, tiết kiệm, bảo vệ môi trường
Ba là, quy định về việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động
tôn giáo Luật chỉ rõ điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền chấp thuận đăng ký sinhhoạt tôn giáo, trường hợp được cấp chứng nhận cũng như hoạt sau khi được cấp chứngnhận
Bốn là, những quy định về việc công nhận tổ chức tôn giáo; thành lập, chia tách,
sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc Phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử,thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành Các nội dungliên quan đến điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng tôn giáo cũngnhư cơ chế giải thể cơ sở đào tạo tôn giáo
Năm là, các quy định về hoạt động tôn giáo; hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế,
bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo Việc quản lý, sử dụng tài sảncủa cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo
Sáu là, sự quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cũng như xử lý vi phạm