- Các nhân tố gia tăng mối nguy của ung thư bao gồm + Khói thuốc lá người hút chủ động và thụ động+ Sử dụng rượu bia + Qúa cân béo phì+ Ăn uống không lành mạnh ít rau và trái cây+ Thiếu
Trang 1THỰC PHẨM CHỨC NĂNG
CHỐNG KHỐI U
Trang 2I KHỐI U VÀ BỆNH UNG THƯ
1.1 Tổng quan về bệnh ung thư
- Bệnh ung thư là căn bệnh cổ xưa, gần đây bệnh ung thư gia tăng do
việc gia tăng tuổi thọ trung bình
- Mỗi năm có 14 triệu ca mắc mới ung thư, tăng 70% sau 2 thập kỷ
- Năm 2015 có 8.8 triệu người chết vì ung thư (cứ 6 người chết trên thế giới có 1 người chết vì ung thư) Có 32,6 triệu người đang sống với ung thư trên toàn thế giới
- Tỷ lệ ung thư trên nam giới (205/100 ngàn) cao hơn nữ giới (165/100 ngàn) khoảng 25%
Trang 7- Xếp hạng số lượng tử vong do ung thư:
+ Phổi (1.69 triệu)+ Gan (788.000)+ Ruột kết, trực tràng (774.000)+ Dạ dày (754.000)
Trang 8+ Tác nhân sinh học gây ung thư như: những lây nhiễm do vi rút,
vi khuẩn, ký sinh trùng Nhiễm các loại vi sinh vật mãn tính như Helicobacter pylori (HP), Human papillomavirus (HPV), Hepatitis B virus, Hepatitis C virus, và Epstein-Barr virus
- Các nhân tố gia tăng mối nguy của ung thư bao gồm
+ Khói thuốc lá (người hút chủ động và thụ động)+ Sử dụng rượu bia
+ Qúa cân béo phì+ Ăn uống không lành mạnh ít rau và trái cây+ Thiếu hoạt động thể chất
+ Lây nhiễm HPV qua đường tình dục+ Nhiễm siêu vi viêm gan và nhiễm những tác nhân sinh học gây ung thư khác
Trang 9+ Bức xạ ion hóa và tia cực tím + Ô nhiễm không khí
+ Khói trong nhà, từ việc sử dung các nguồn nhiên liệu rắn
- Doll and Peto ước tính ăn uống chiếm 35% nguyên nhân gây nên bệnh ung thư ở Bắc Mỹ và Tây Âu
- Ảnh hưởng của nhân tố ăn uống và lối sống lên các quá trình sinh học dẫn đến ung thư là cực kỳ phức tạp Một cơ chế rõ ràng gia tăng mối nguy ung thư là các thành phần gây ung thư trong thực phẩm có thể phá hủy DNA của người
- Tuy nhiên, nồng độ các chất gây ung thư trong thức ăn tự nhiên rất thấp
để gây ung thư (ngoài rượu bia) có thể chịu trách nhiệm cho vài phần trăm các ca ung thư
Trang 10- Nguyên nhân rõ ràng hơn có thể là do thức ăn ở các nước phương Tây hiện nay thiếu các khoáng chất, vi chất dinh dưỡng hữu cơ và những thành phần có hoạt tính sinh học tạo ra những ảnh hưởng chống ung thư
- Một lý do nữa là sự cân bằng giữa năng lượng nạp vào và năng lượng
sử dụng đóng 1 vai trò quan trọng trong nguyên nhân của nhiều bệnh ung thư, khiến cho việc gia tăng béo phì và giảm hoạt động vật lý là nhân tố nguy cơ chính của bệnh ung thư
- Bằng chứng dịch tễ học về tác dụng bảo vệ của thực phẩm thực vật chống lại bệnh ung thư
- Nhu cầu về sử dụng vi dưỡng chất và hóa thực vật để phòng ngừa bệnh ung thư do đó cũng gia tăng
Trang 11- Hippocrates đã ghi nhận ung thư như là căn bệnh và ghi nhận sự khác biệt của u lành tính và ác tính
- Gần đây, sự phát triển của kính hiển vi cho phép quan sát thấy khối u chứa những tế bào khác rõ rệt về hình dáng và hành vi so với những mô xung quanh
- Khoảng 2 thập kỷ gần đây, những phát triển về tế bào và khoa học phân
tử cho phép những nhà sinh học có hiểu biết sâu sắc hơn về sinh học khối u
- Sự gia tăng hiểu biết về bộ gen người bình thường và gen của khối u cũng đã giúp cho những phát triển trong việc nghiên cứu khối u
- Ung thư không phải là một căn bệnh đơn lẻ Bản chất của bất kỳ khối u đặc biệt nào cũng dựa trên mô nơi nó xuất phát và những kiểu bất thường
về gen suốt quá trình nó phát triển
Trang 121.2 Khái niệm về khối u và ung thư
- Khối u, hay khối mô tân sinh, một thuật ngữ dùng để mô tả khối mô bất thường có dạng rắn hoặc chứa dịch Khối u có thể lành tính (có thể chữa được), tiền ác tính (tiền ung thư) hay ác tính (ung thư)
- Khối u có rất nhiều loại và được đặt tên dựa trên hình dạng cũng như đặc điểm mô tại chỗ mà chúng xuất hiện
- Nói chung, một khối u tăng sinh là kết quả từ sự phát triển bất thường của mô Thông thường, cơ thể có thể điều hòa sự tăng trưởng và phân chia tế bào Các tế bào già lỗi và mất chức năng sẽ tự chết đi theo quá trình “tự chết theo chương trình của tế bào” (apoptosis hay programmed cell death) Sau đó, các tế bào mới và khỏe mạnh được sinh ra để thay thế các tế bào đã chết Khối u xuất hiện khi quá trình apoptosis không xảy ra hay xảy ra quá ít, kết quả là các tế bào già lỗi không chết đi trong khi các tế bào mới được sinh ra liên tục
Trang 13- Các tế bào ung thư tăng trưởng theo cách tương tự nhưng không giống như các tế bào trong khối u lành tính, tế bào ung thư có thể xâm lấn các
mô lân cận và di chuyển đến các bộ phận khác của cơ thể, quá trình này được gọi là di căn
1.2.1 Sinh ung thư tuần tự
- Một khối u có thể định nghĩa như một sự tích tụ có tiêu điểm của tế bào quá mức yêu cầu cho phát triển, sửa chửa hoặc hoạt động của một mô
- Khối u có thể lành tính hay ác tính Đối với khối u lành tính thường phát triển khá chậm, nhưng quan trọng hơn những tế bào này có khuynh hướng giữ lại sự chuyên hóa và sự định vị không gian của mô
- Khối u ác tính được đặc trưng bởi sự mất sự biệt hóa, phát triển nhanh
và có khuynh hướng xâm lấn mô xung quanh và di chuyển đến cơ quan khác để hình thành khối u thứ phát hay di căn (metastases)
Trang 18- Do vậy, ung thư có thể định nghĩa như sự phát triển liên tục, lớn lên và
truyền đi bằng di căn của một khối u ác tính
- Như vậy, ung thư có thể ảnh hưởng lên toàn bộ các cơ quan của cơ thể Một số cơ quan như phổi và ruột có tỷ lệ phân bào mạnh và thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố bên ngoài đặc biệt nhạy cảm với ung thư
- Mặc cho chức năng của tế bào trong cơ thể, tế bào mang toàn bộ bộ gen
để phát triển và hoạt động của toàn thể cơ quan Tập hợp con của bộ gen được tế bào biểu hiện ra bên ngoài gọi là kiểu hình (phenotype), cho phép tế bào sống chung với tế bào khác trong cùng 1 mô
- Ung thư phát triển thông thường liên quan đến sự phá hủy DNA mã hóa cho những gen thiết yếu như vậy
Trang 201.2.2 Ảnh hưởng của ăn uống lên sự sinh ung thư
- Việc thiếu hụt dinh dưỡng kéo dài gia tăng mối nguy của một cá thể trong việc gây ra ung thư do ảnh hưởng lên hệ miễn dịch
- Việc gia tăng mức độ ung thư do ăn uống dư thừa năng lượng và gây ra béo phì cộng với ít vận động là mối nguy chính của ung thư
- Việc không căn bằng dinh dưỡng gây ra mối nguy ung thư, có lẽ gây ra việc thiếu hiệu quả của hệ thống miễn dịch
- Việc tiêu thụ của trái cây, rau quả và ngũ cốc chưa chế biến có tiềm năng cung cấp những dưỡng chất chống oxy hóa
Trang 21II NHỮNG HỢP CHẤT DINH DƯỠNG KHÁNG UNG THƯ
2.1 Các a-xít béo không no
- A xít béo không no ω3 từ alpha-linolenic acid, và ω6 thực vật từ linolenic acid ω3 được tổng hợp từ sinh vật phù du ở biển và được con người sử dụng ở dạng các loại hải sản hoặc TPCN chứa dầu cá
- Trong khi đó, ω6 được tổng hợp bởi thực vật trên cạn và được hấp thụ
ở dạng dầu thực vật hay các sản phẩm từ dầu thực
- Một trong khía cạnh quan trọng nhất của a-xít béo ω3 và ω6 trong phòng ngừa ung thư là a xít béo không no tạo ra cơ chế kháng viêm ω3
và ω6 đóng vai trò là cơ chất cho quy trình sản xuất eicosanoids, một nhóm lipid với một loạt chức năng nội tiết quan trọng, bao gồm điều hòa
sự viêm
Trang 23- A xít béo không no có thể hỗ trợ trong việc chống lại ung thư tuyến tuyền liệt, ung thư vú, dù bằng chứng rõ ràng chưa được kết luận.
- Một trong những cơ chế chống ung thư của ω3 có thể giải thích được là việc ăn nhiều a-xít béo không no ω3 có thể chống ung thư ruột là nó ức chế việc hình thành các eicosanoids gây viêm thông qua hoạt động chuyển hóa của enzyme COX-2
- Bằng chứng mạnh mẽ nhất của việc ăn cá và ngừa mối nguy ung thư ruột do cơ quan dinh dưỡng và ung thư châu Âu cho thấy việc tiêu thụ nhiều hơn 40 g cá mỗi ngày có thể giảm rất nhiều mối nguy ung thư ruột
- Một cơ chế khác là việc ω3 có thể chống lại việc tăng sinh và giúp chết theo lập trình của tế bào biểu mô ruột
- Một vấn đề nữa là tỷ lệ ω6 so với ω3 nên ở 1:2 là tối ưu cho sức khỏe
Trang 242.2 Các chất dinh dưỡng chống oxy hóa
- Trái cây, rau quả và ngũ cốc là những nguồn chính của dinh dưỡng
chống oxi hóa ascorbic a-xít, alpha-tocopherol, và carotenoids bao gồm beta-carotene
- Cơ chế chính giúp các chất dinh dưỡng kháng oxi hóa có thể ngăn ngừa ung thư là chúng giúp ngăn chặn việc gây hư hỏng đối với DNA gây bởi các gốc tự do như gốc hydroxyl (.OH) từ H2O2 khi có mặt sắt, nitrit o-xít (NO.) và peroxynitrite (ONOO-)
- Những loại gốc phản ứng cao với oxy này được sinh ra thông qua các
cơ chế sinh học bao gồm cả viêm hay chỉ đơn giản là những sản phẩm phụ của quá trình sinh hóa bình thường trao đổi chất oxi hóa
Trang 25- Tế bào phát triển nhiều cơ chế chống oxi hóa để bảo vệ những đại phân
tử khỏi các hư hại từ gốc tự do Nhưng ảnh hưởng tích tụ của các hư hỏng gây nên các sửa chửa sai lầm và làm hư hỏng các chuỗi ADN
- Những phản ứng của gốc tự do có thể gây ra những hư hỏng oxy hóa đối với protein như p53 liên quan đến quá trình tăng sinh và tự chết, do
đó, đóng góp trực tiếp vào sự hình thành khối u
- Việc sử dụng carotenoids giúp làm giảm mối nguy ung thư họng, phổi
và những vị trí khác Tuy nhiên, việc sử dụng carotenoids bổ sung không cho tác dụng tương tự Thậm chí, beta-carotene còn có thể thúc đẩy đáng
kể ung thư phổi ở người hút thuốc
- Hiện nay, việc sử dụng carotenoids bổ sung để chống ung thư là chưa được khẳng định
Trang 26- Đối với ung thư đường ruột, việc ăn ít beta-carotene và ascorbic acid trong rau và trái cây là nguyên nhân gây ung thư ruột cho 43% các ca ung thư ruột
- Hầu hết các ca ung thư ruột phát triển tương đối chậm thông qua trình
tự adenoma-carcinoma Một số nghiên cứu cho thấy việc bổ sung carotene (25 mg/ngày); vitamin C (1 g/ngày) and vitamin E (400 mg/ngày); hoặc liều kết hợp beta-carotene/vitamins C/E đều không cho thấy tác dụng đáng kể trong việc ngăn ngừa adenoma-carcinoma
beta Việc sử dụng kết hợp betabeta carotene (15 mg), vitamin C (150 mg),vitamin E (75 mg), selenium ( 101 microgram) and calcium carbonate (1.6 g)/ngày không cho thấy sự khác biệt so với giả dược trong phát triển kích thước khối adenoma Tuy nhiên, sự tái xuất hiện của các adenoma ở nhóm can thiệp thấp hơn nhóm giả dược
Trang 27- Tuy nhiên, việc thất bại trong sử dụng các bổ sung dinh dưỡng chống oxy hóa trong thời gian tương đối ngắn của việc phát triển bệnh ung thư đường ruột không thể loại trừ khả năng việc sử dụng các chất dinh dưỡng chống oxy hóa có thể bảo vệ cơ thể khỏi các tổn thương tiền ung thư
- Đối với bệnh nhân đã có adenoma, việc sử dụng ascorbic acid có thể ức chế khả năng kháng lại tổn thương tiền ung thư
- Ung thư bao tử thường liên quan chặt chẽ đến ảnh hưởng viêm do
nhiễm vi khuẩn Heficobacter pyfori, và một đáp ứng viêm mạn tính đối
với viêm thực quản trào ngược là nhân tố nguy cơ chính đối với ung thư thực quản
- Việc tiêu thụ thực phẩm thực vật tạo ra ảnh hưởng bảo vệ chống lại khối u của đường tiêu hóa trên nhưng không rõ là cơ chế bảo vệ này được tạo ra do ảnh hưởng của ascorbic acid hay chất chống oxi hóa khác
Trang 28- Nghiên cứu của Serafini và ctv (2002) cho thấy ảnh hưởng bảo vệ đáng
kể của thực phẩm có thế chống oxy hóa cao có khả năng chống lại ung thư dạ dày ở cả vùng trên và vùng xa hơn
- Tuy nhiên, nghiên cứu này không phân biệt được ảnh hưởng kháng oxy hóa là do nhóm chất chống oxy hóa nào
- Thí nghiệm SELECT (thí nghiệm phòng ngừa ung thư Selenium và Vitamin E) cho thấy bằng chứng mới quan trọng trong quan hệ của vitamin chống oxy hóa và ung thư tuyến tiền liệt (nghiên cứu chính) và phổi, ruột và các ung thư khác (thí nghiệm phụ) Kết quả cho thấy vitamin E, Selenium hay kết hợp của chúng chưa thấy có tác dụng giảm mối nguy ung thư tuyến tiền liệt và các vị trí khác
- Nghiên cứu việc sử dụng rau quả, trái cây và các bổ sung vitamin chống đột biến tế bào của 312 người (có 158 người bị ung thư phổi):
Trang 29+ Tác dụng bảo vệ chống lại mối nguy đột biến thấy được ở những cá nhân sử dụng tương đối cao rau quả, trái cây citrus, quả mọng
- Folates có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp, bảo trì và sửa chữa DNA (5,l0–methylenetetrahydrofolate, 5-methyltetrahydrofolate, methyltetrahydrofolate reductase)
- Tuy nhiên, việc bổ sung folates phòng chống ung thư cho kết quả chưa
rõ ràng
Trang 30- Một số báo cáo cho rằng đối những người hút thuốc, việc hấp thụ folates là cao hơn ở nhóm không bị ung thư so với nhóm bị ung thư phổi Folate giúp giảm 40% nguy cơ ung thư phổi.
- Tuy nhiên, có nghiên cứu không tìm thấy tác dụng bảo vệ của folates đối với ung thư phổi Thậm chí, một nghiên cứu còn cho thấy bất lợi của folates đối với ung thư phổi
- Ảnh hưởng của folates đối với nguy cơ ung thư ruột tương đối đồng nhất Folates có tác dụng tốt trong việc chống lại mối nguy hình thành adenoma và có thể giúp giảm 40% nguy cơ ung thư ruột non
- Tuy nhiên, mối nguy tiêu thụ quá mức folates cùng với những kết quả nghiên cứu chưa thống nhất, hoặc các tác dụng nguy cơ có thể làm tiến triển ung thư ở những người có polyps tiền ung thư đã hạn chế việc sử dụng folates trong TPCN trong tương lai gần
Trang 322.5 Selenium
- Việc thiếu hụt selenium liên quan đến những hư hại do oxy hóa
- Selenoprotein glutathione peroxidase là enzyme chống oxy hóa tế bào xúc tác việc giảm các peroxides hữu cơ Đây là thành phần thiết yếu của
hệ thống phòng vệ chống oxy hóa của động vật có vú
- Các hợp chất selenium đem lại những tác dụng sinh học khác nhau trong việc chống lại ung thư như:
+ Hợp chất organoselenium tổng hợp chống ung thư có thể ức chế hình thành DNA liên kết với chất gây ung thư ở mô vú
+ Hợp chất selenium hữu cơ trọng lượng phân tử thấp có thể tạo
nên quá trình tự chết ở tế bào khối u in vitro
- Việc thiếu hụt selenium cho thấy liên hệ rõ ràng nhất với nguy cơ gia
tăng ung thư đường tiêu hóa và tuyến tiền liệt
Trang 33- Nồng độ selenium trong máu thấp cũng gia tăng nguy cơ ung thư phổi
ở người hút thuốc
- Bằng chứng mạnh mẽ nhất của việc thiếu hụt selenium và bệnh ung thư ruột được cung cấp bởi thí nghiệm dinh dưỡng phòng ngừa ung thư (Mỹ) Việc hấp thụ selenium 200 microgram/ngày có thể làm giảm mối nguy tử vong ở bệnh nhân ung thư da, phổi, tuyến thượng thận và ruột
Trang 34III HÓA CHẤT TỪ THỰC VẬT
- Việc sử dụng trái cây và rau củ quả cho thấy tác dụng to lớn trong việc ngăn ngừa ung thư Mặc dù, những bằng chứng khoa học rõ ràng về tác dụng của rau củ quả lên việc ngăn ngừa ung thư vẫn còn hạn chế Việc nghiên cứu các hoạt chất sinh học có tác dụng ngừa ung thư trong rau củ quả vẫn thu hút mối quan tâm nghiên cứu
Trang 35- Hóa chất thực vật từ thực phẩm được nghiên cứu đầy đủ nhất là về cơ chế chống ung thư qua việc tẩy độc của các tác nhân gây ung thư trong môi trường
- Thuốc hay những hợp chất hoạt động bằng cách này trong mô hình của động vật thường được xếp như những tác nhân ngăn chặn (blocking agents) Mô hình hoạt động của chúng là ngăn chặn bước đầu tiên của việc hình thành ung thư, bằng cách ức chế sự hình thành các chất gây ung thư hoạt động từ các chất tiền ung thư bằng việc tẩy độc hay bài tiết các chất này
- Một số ảnh hưởng chống ung thư của flavonoids nằm ở khả năng điều hòa hoạt động viêm ở mô nhạy cảm với ung thư