Bài báo cáo thực tập tốt nghiệp lựa chọn đề tài đã nêu ở trên để nghiên cứu nhằm mục đích phân tích, tìm hiểu và đưa ra được góc nhìn tổng quan, bao quát nhất về vấn đề lý luận cũng như các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản. Đồng thời, thông qua việc xem xét, đánh giá từ thực tiễn hay quá trình phân tích để chỉ ra những bất cập, vướng mắc còn tồn tại trong hệ thống pháp luật và trên thực tiễn, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề nội dung này.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, đối tượng nghiên cứu 1
2.1 Mục đích nghiên cứu 1
2.2 Đối tượng nghiên cứu 1
3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 3
6 Bố cục của Báo cáo thực tập 3
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU BẰNG PHƯƠNG THỨC KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN 4
1.1 Khái quát về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản 4
1.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản 4
1.1.2 Đặc điểm của bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản 5 1.2 Quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản 7
1.2.1 Căn cứ bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản 7
1.2.2 Điều kiện kiện đòi lại tài sản 8
1.2.3 Thời hiệu kiện đòi lại tài sản 9
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU BẰNG PHƯƠNG THỨC KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN DÂN SỰ TỈNH BẾN TRE-MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 9
2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản tại Tòa án dân sự tỉnh Bến Tre 9
2.1.1 Những tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản tại Tòa án dân sự tỉnh Bến Tre 9
2.1.2 Một số bất cập trong quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản 10
Trang 32.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi tài sản 13 2.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi tài sản tại Tòa án dân sự tỉnh Bến Tre 14 PHẦN KẾT LUẬN 15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 01
PHỤ LỤC 02
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong pháp luật dân sự của nước ta, quyền sở hữu được ghi nhận như mộtquyền cơ bản của con người đối với tài sản của họ Chính bởi vậy, việc đảm bảoquyền sở hữu cũng trở thành vấn đề được nhiều người quan tâm bởi nó gắn liền vớiviệc thực thi quyền sở hữu của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Theo đó, pháp luậtcho phép bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể dưới những phương thức khác nhau
có thể được thực hiện bởi chính họ hoặc thông qua cơ quan nhà nước có thẩmquyền Một trong số phương thức đó là kiện đòi lại tài sản
Mặc dù pháp luật hiện hành đã có những quy định về vấn đề pháp lý xoayquanh kiện đòi lại tài sản về căn cứ xác định, điều kiện thực hiện và thời hiệu khởikiện Tuy nhiên, thực tế thực thi việc xác định và phân loại tranh chấp kiện đòi tàisản với các tranh chấp thông thường khác, hay việc thực thi quyền kiện đòi tài sảnvẫn gặp phải một số vướng mắc nhất định Điều này ảnh hưởng tới thực tế việc bảo
vệ quyền sở hữu của các chủ thể, việc áp dụng pháp luật và hiệu quả của pháp luậttrong thực tiễn cần phải được nghiên cứu, tìm hiểu và sớm đưa ra những giải phápnhằm hoàn thiện pháp luật, hay nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
Xuất phát từ thực tế đó, sau thời gian thực tập tại Tòa án dân sự tỉnh Bến Tre
tôi đã lựa chọn đề tài: “Bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài
sản tại Tòa án dân sự tỉnh Bến Tre” để nghiên cứu và tìm hiểu trong Báo cáo thực
sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản Đồng thời, thông qua việc xem xét,đánh giá từ thực tiễn hay quá trình phân tích để chỉ ra những bất cập, vướng mắccòn tồn tại trong hệ thống pháp luật và trên thực tiễn, từ đó đề xuất các kiến nghịnhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn
đề nội dung này
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong bài Báo cáo thực tập là các quy định pháp luật về
Trang 5bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản
3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Bài báo cáo tập trung tìm hiểu, giải quyết các vấn đề lý luận và pháp lý liênquan đến quy định pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lạitài sản theo quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam thông qua đánh giá thựctiễn áp dụng tại Tòa án dân sự tỉnh Bến Tre
4 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu và hoàn thiện bài báo cáo tốt nghiệp được thực hiện bằngtổng hòa và kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, nhưng đều dựa trên cơ sởphương pháp luận của chủ nghĩa duy vật cùng đường lối, chính sách của Đảng vàNhà nước hiện nay là nền tảng Một số phương pháp tiêu biểu được sử dụng tại bàibáo cáo như sau:
- Phương pháp phân tích: đây là phương pháp phân chia những vấn đề chung,khái quát nhất thành những phần nội dung nhỏ, những bộ phận khác nhau.Thông qua phương pháp này có thể nghiên cứu sâu sắc hơn, rõ ràng và chitiết hơn các nội dung đề ra và nhận biết được sự tồn tại của các mối quan hệ,tính phụ thuộc bên trong nội dung đó Phương pháp này được áp dụng chủyếu trong việc tìm hiểu và phân tích quy định pháp luật
- Phương pháp tổng hợp: phương pháp tổng hợp được áp dụng tại bài báo cáonhằm liên kết, thống nhất những kết luận thuộc bộ phận nội dung đã đượcphân tích nhằm đánh giá khái quát lại toàn bộ vấn đề Bởi vậy, phương pháptổng hợp và phương pháp phân tích luôn song hành với nhau giúp bài viếtđưa ra được cái nhìn, nhận thức sâu sắc hơn về tổng thể vấn đề đưa ra
- Phương pháp đánh giá: phương pháp đánh giá được sử dụng thông qua việcđưa nhận thức, quan điểm của chính học viên về vấn đề nghiên cứu để tạo racách nhìn, nhận định khách quan nhất Chính bởi xuất phát từ quan điểm củahọc viên nên phương pháp này được sử dụng tại hầu hết toàn bộ nội dung bàibáo cáo, đặc biệt là khi chỉ ra những vướng mắc, bất cập của quy định phápluật cùng đề xuất phương án giải quyết vấn đề
Ngoài ra, một số phương pháp khác như: phương pháp quy nạp, phương phápliệt kê, phương pháp so sánh, cũng được vận dụng một cách hài hòa, linh hoạtnhằm đạt được mục đích cuối cùng của bài báo cáo được đề ra
Trang 65 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu về các vấn đề lý luận và quy định pháp luật liênquan đến việc bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản, bài báocáo đóng góp một phần giá trị trong việc cung cấp thêm tư liệu, quan điểm và ý kiếnphân tích, đánh giá về hệ thống pháp luật hiện hành liên quan đến phương thức kiệnđòi lại tài sản Qua đó, đây cũng là cơ sở để các nhà làm luật xem xét, tham khảonhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành theo hướng phù hợp hơn với thựctiễn
6 Bố cục của Báo cáo thực tập
Ngoại trừ phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung bài báo cáo được chia làm 2 phần chính như sau:
Chương 1 Lý luận và quy định pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu bằng
phương thức kiện đòi lại tài sản
Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương
thức kiện đòi lại tài sản tại Tòa án dân sự tỉnh Bến Tre-Một số kiến nghị, giải pháphoàn thiện
Trang 7PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU BẰNG PHƯƠNG THỨC KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN
1.1 Khái quát về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản
1.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản
Bảo vệ quyền sở hữu là một trong những mong muốn, nhu cầu tất yếu, mangbản tính tự nhiên của con người được hình thành từ rất lâu Theo đó, ngay từ thời kỳnguyên thuỷ, con người đã biết đáp ứng nhu cầu của mình thông qua việc chiếm giữ
từ tự nhiên các sản vật Trải qua thời gian, cùng với sự phát triển và tiến bộ của xãhội, con người không chỉ dừng lại ở việc chiếm giữ từ tự nhiên, theo đó chế độ tưhữu, đặc biệt là tư hữu về các tư liệu sản xuất là hình thành và tạo nên ý thức củacon người về việc “chiếm giữ, sử dụng và bảo vệ tài sản” của mình
Từ nhu cầu đó của con người, ngày nay, khi Nhà nước và pháp luật hìnhthành, việc bảo vệ quyền sở hữu, chiếm hữu đã được quan tâm và pháp điển hoáthành những nguyên tắc, quy định riêng trong hệ thống pháp luật Những quy địnhnày trở thành công cụ quan trọng và có giá trị, hiệu quả giúp chủ thể bảo vệ và thựchiện toàn diện quyền năng sở hữu của mình, đồng thời qua đó góp phần xây dựng
xã hội ổn định, trật tự, loại bỏ những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh
Hiểu theo ngữ nghĩa thông thường, bảo vệ được hiểu là “chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn được nguyên vẹn”1 Mặt khác, quyền sở hữu theo pháp luật
dân sự được hiểu là tổng hợp các quyền về “quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu”2 Như vậy, bảo vệ quyền sở hữu được hiểu
là “thông qua sự tác động của các quy phạm pháp luật đến hành vi của con ngườinhằm phòng, ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu, trong đó baogồm các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản, qua đó bảo vệ
sự nguyên vẹn của quyền sở hữu này”
Để bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể, Nhà nước có thể áp dụng bằng cáccách thức, biện pháp khác nhau, đó được gọi là những phương thức nhằm giúpquyền sở hữu không bị xâm phạm hoặc khắc phục những thiệt hại khi quyền sở hữucủa chủ sở hữu bị xâm phạm Trong hệ thống pháp luật dân sự thì việc kiện đòi lạitài sản là phương thức đặc biệt quan trọng để bảo vệ quyền sở hữu
Theo đó, các chủ sở hữu thông qua hoạt động “kiện” – tức “yêu cầu xét xử
1 Nhà xuất bản Khoa học xã hội (1991), Từ điển tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội, tr.37
2 Điều 158 Bộ luật Dân sự ngày 24 tháng 11 năm 2015
Trang 8một vụ việc mà người khác làm thiệt hại đến mình”3, để “đòi” – tức “nói cho người khác biết phải trả hoặc trả lại cái thuộc về mình”4 Hay nói một cách dễ hiểu, kiệnđòi lại tài sản là việc “chủ sở hữu của tài sản hoặc người được quyền chiếm hữu hợppháp đối với tài sản thực hiện việc yêu cầu Toà án xét xử buộc người đang chiếmhữu không có căn cứ pháp luật đối với tài sản của mình phải trả lại cho mình tài sản
đó”
Như vậy, từ những phân tích ở trên có thể rút ra khái niệm về “bảo vệ quyền
sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản” như sau:
“
Bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữuhợp pháp tài sản áp dụng biện pháp kiện dân sự yêu cầu cơ quan có thẩm quyềnbuộc chủ thể chiếm hữu, sử dụng tài sản hay được lợi về tài sản mà không có căn cứpháp luật phải trả lại tài sản cho mình”
1.1.2 Đặc điểm của bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài
sở hữu đối với tài sản, chủ sở hữu phải khởi kiện một vụ án dân sự lên Toà án nhândân có thẩm quyền để đòi lại tài sản và có nghĩa vụ chứng minh quyền sở hữu hợppháp đối với tài sản tranh chấp là thuộc về mình Qua đó, Toà án sẽ có căn cứ đểxem xét, trao trả lại quyền sở hữu tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp của tài sản đó
Thứ hai, người bị kiện phải là người đang chiếm hữu tài sản tranh chấp trên
thực tế không có căn cứ pháp lý
3 Nhà xuất bản Khoa học xã hội (1991), Từ điển tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội, tr.506.
4 Nhà xuất bản Khoa học xã hội (1991), Từ điển tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội, tr.319.
5 Tống Thị Hương (2014), Bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.30
Trang 9Đây là một đặc điểm quan trọng để xác định thực tế việc kiện có phải đòi lạitài sản hay không Cụ thể, trong trường hợp người bị kiện không phải là ngườichiếm hữu, người sử dụng, người được lợi về tài sản tài sản không có căn cứ pháp
lý mà đã trở thành chủ sở hữu tài sản đó theo một căn cứ pháp lý nhất định thì quan
hệ tranh chấp phát sinh không còn được xác định là kiện đòi tài sản, hay nói cáchkhác phương thức thực hiện không phải kiện đòi lại tài sản mà là tranh chấp tài sảngiữa các chủ thể
Ví dụ: trong trường hợp quyền sở hữu sản được xác lập theo yếu tố, căn cứ về
thời hiệu như quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015 đối với việc “chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp lý nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản” thì được xác định là “chủ sở hữu của tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu” Với trường
hợp này, việc chiếm hữu của người chiếm hữu, người sử dụng, người được lợi về tàisản lại được coi là có căn cứ pháp lý bởi được pháp luật cho phép
Hay trong một số trường hợp khác, người khởi kiện nhầm lẫn khi xác địnhquan hệ pháp luật liên quan, ví dụ như trong trường hợp “kiện người đã lấy trộm tàisản” Theo đó, đối với người trộm tài sản không thể áp dụng phương thức kiện đòitài sản bởi đây không còn tồn tại đơn thuần là quan hệ pháp luật dân sự mà chịu sựđiều chỉnh của pháp luật hình sự Việc kiện người lấy trộm tài sản không được coi
là “kiện đòi lại tài sản”
Thứ ba, đối tượng của kiện đòi lại tài sản là “tài sản đặc định, đang tồn tại và
hiện hữu trên thực tế”6
Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản được xác định là bao
gồm “bất động sản và động sản”, theo đó, “bất động sản và động sản này có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” Tuy nhiên, đối với phương
thức kiện đòi lại tài sản lại chỉ được áp dụng cho tài sản hiện có, tức tài sản hìnhthành trong tương lai không được điều chỉnh Bởi lẽ, cần hiểu rằng việc xác địnhquyền sở hữu đối với một tài sản hình thành trong tương lai chưa có căn cứ bởi tàisản này thực tế chưa hình thành Do vậy, thực tế không thể đòi lại một tài sản màthực tế nó chưa hình thành, chưa được thực sự sở hữu, sử dụng hay chiếm hữu bởichủ thể khác Bên cạnh đó, sự hiện hữu của tài sản còn được hiểu là tài sản thực tếvẫn tồn tại và bị chiếm hữu bởi chủ thể không có căn cứ pháp lý Trường hợp tàisản đã bị tiêu huỷ hoặc mất thì không thể thực hiện việc đòi lại tài sản mà thay vào
6 Công ty Luật Dương Gia (2021), Đối tượng của kiện đòi lại tài sản, xem tại https://bit.ly/3gXmn74 , truy cập ngày 18/02/2022.
Trang 10đó có thể áp dụng biện pháp kiện đòi bồi thường thiệt hại
Ngoài ra, tài sản đặc định được hiểu là những tài sản có những đặc trưng nhấtđịnh riêng biệt có thể phân biệt với các tài sản khác thông qua kích thước, màu sắc,hình dáng, đặc tính, Trong phương thức kiện đòi tài sản, đây cũng được coi làmột trong những đặc điểm và cũng là điều kiện quan trọng Bởi lẽ việc đòi lại tàisản là việc lấy lại quyền sở hữu đối với một tài sản được xác định cụ thể, vẫn hiệnhữu, tồn tại Không thể thực hiện phương pháp kiện đòi tài sản đối với một tài sảnmang tính chung, không xác định cụ thể
Thứ tư, việc kiện đòi lại tài sản do Toà án giải quyết
Kiện đòi lại tài sản là phương thức bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu Theo
đó, xuất phát từ tên gọi của chính phương thức này, việc thực hiện phải thông quahoạt động “kiện”, tức là được thực hiện tại cơ quan tư pháp, mà cụ thể là Toà ánnhân dân có thẩm quyền Chủ sở hữu sẽ gửi đơn khởi kiện lên Toà án và thực hiệntương tự việc khởi kiện trong pháp luật dân sự
1.2 Quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản
1.2.1 Căn cứ bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản
Quyền sở hữu là một trong những quyền được pháp luật dân sự bảo vệ, ngăn
cấm việc “hạn chế, tước đoạt trái pháp luật” 7 bởi bất kỳ chủ thể nào Do vậy,trường hợp quyền sở hữu của chủ thể bị bất kỳ người nào tước đoạt bằng việc trựctiếp sử dụng, hưởng lợi, chiếm hữu tài sản của chủ thể đó một cách thiếu căn cứpháp lý là đang vi phạm về quyền được bảo vệ quyền sở hữu
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015, quyền đòi lạitài sản của chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản được quy định nhưsau:
“1 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản
từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn
Trang 11vệ quyền của mình đối với tài sản đó từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản,người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật Ở đây cần làm rõ, chủ thể đangchiếm hữu tài sản phải không có bất kỳ quyền nào khác đối với tài sản, nếu tồn tạimột quyền bất kỳ khác sẽ không làm phát sinh quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu.8
Như vậy, pháp luật dân sự đã đưa ra những quy định pháp luật ghi nhận việcbảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản và quyền được đòi lại tài sản để bảo vệ quyền
sở hữu Đây chính là các căn cứ pháp lý cơ bản nhất để các chủ thể có thể thực thiviệc bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi tài sản
1.2.2 Điều kiện kiện đòi lại tài sản
Thứ nhất, điều kiện về người khởi kiện
Theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 đã được nêu ở trên, ngườikhởi kiện phải là chủ sở hữu hoặc người có quyền khác đối với tài sản một cách hợppháp Đối với tuỳ từng loại tài sản mà việc xác định quyền sở hữu của chủ sở hữuhay quyền khác đối với các chủ thể khác sẽ căn cứ trên những cơ sở pháp lý khácnhau Một số quyền khác đối với tài sản có thể là quyền chiếm hữu hợp pháp (ví dụtrong trường hợp được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản) hay quyền sử dụng (ví
dụ đối với quyền sử dụng đất thông qua Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
Thứ hai, điều kiện về người bị kiện
Cũng theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015, quyền đòi lại tài sản
được thực hiện trên “người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật” Hay nói cách khác, việc đòi lại tài sản chỉ được
thực hiện khi người bị kiện là những chủ thể thuộc các trường hợp nêu trên
Thứ ba, không thuộc trường hợp không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ
ba ngay tình
Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015:
“Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này”.
Theo khoản 2 Điều này quy định trường hợp giao dịch dân sự được thực hiện
với người thứ ba ngay tình không bị vô hiệu nếu: “Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó
8 Lê Mai Anh (2021), Quy định khởi kiện đòi tài sản theo pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới, Luật Minh Khuê, xem tại https://luatminhkhue.vn/quy-dinh-khoi-kien-doi-tai-san-theo-phap-luat-viet-nam- va-mot-so-nuoc-tren-the-gioi.aspx , truy cập ngày 18/02/2022
Trang 12được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch”
Như vậy, trong trường hợp này, quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu khôngđược pháp luật ghi nhận, bảo vệ bởi lẽ quyền lợi của người thứ ba ngay tình được
ưu tiên
1.2.3 Thời hiệu kiện đòi lại tài sản
Theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu “là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định” Tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật này cũng đã xác
định rằng không áp dụng thời hiệu đối với trường hợp “yêu cầu bảo vệ quyền sởhữu” Trong khi đó kiện đòi tài sản là một trong những phương thức bảo vệ quyền
sở hữu Như vậy, có thể hiểu rằng, theo quy định của pháp luật hiện hành, việc kiệnđòi lại tài sản không áp dụng thời hiệu9 Hay nói cách khác, tại bất kỳ thời điểmnào, chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền hợp pháp khác đều có quyền khởi kiện lênToà án nhân dân có thẩm quyền để đòi lại tài sản mà không bị giới hạn về thời gian
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU BẰNG PHƯƠNG THỨC KIỆN ĐÒI LẠI TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN DÂN
SỰ TỈNH BẾN TRE-MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản tại Tòa án dân sự tỉnh Bến Tre
2.1.1 Những tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền sở
hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản tại Tòa án dân sự tỉnh Bến Tre
Thực tế, hằng năm Tòa án dân sự tỉnh Bến Tre vẫn thường xuyên tiếp nhậncác vụ tranh chấp liên quan đến việc đòi lại tài sản Việc giải quyết các vụ việc nhìnchung đều tuân thủ các quy định pháp luật, tuy nhiên, trong quá trình áp dụng phápluật thì cũng có những hạn chế nhất định Theo đó, trong quá trình xét xử vẫn tồn tạinhững thiếu sót nhất định, từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới sự khách quan của bản ánđược đưa ra và tới quyền và lợi ích hợp pháp của người có liên quan Có thể phântích thông qua một minh họa thực tế sau đây:
Căn cứ theo văn bản số 27/2020/ĐN-KN ngày 3-12-2020 và văn bản kiến
9 Hoàng Hồng Mơ (2021), Kiện đòi tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành, xem tại
hien-hanh-32321.htm , truy cập ngày18/02/2022
Trang 13https://vinhphuclawyers.vn/kien-thuc-phap-ly/dan-su/kien-doi-tai-san-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-dan-su-nghị bổ sung 137/2020/ĐN-KN ngày 29-12-2020 của Chánh án TAND tỉnh Bến
Tre Nguyễn Biên Thùy (trích dẫn diễn giải chi tiết tại Phụ lục), có thể thấy các
thẩm phán vẫn còn những sai sót trong việc xét xử Tại văn bản này, Chánh án Thùy
đã chỉ ra được những sai sót trong bản án sơ thẩm và phúc thẩm liên quan tới tranhchấp đòi lại tài sản giữa bà Phấn và bà Bình, ông Nghĩa Xuất phát từ thiếu sót trongviệc đánh giá các chứng cứ, lời khai, căn cứ pháp lý được cung cấp, các thẩm phán
đã đưa ra bản án sơ thẩm và phúc thẩm chưa đánh giá hết được bản chất của vấn đề,
để từ đó xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là bà Phấn Thiếusót này thực chất liên quan và xuất phát trực tiếp từ năng lực, kỹ năng chuyên môncủa các thẩm phán khi xem xét, đánh giá và giải quyết tranh chấp, chưa nhìn đượcbao quát các vấn đề tranh chấp xảy ra
Thẩm phán là đội ngũ cán bộ có vai trò và vị trí quan trọng trong việc đảmbảo hiệu quả của việc áp dụng pháp luật nói chung và pháp luật về kiện đòi lại tàisản nói riêng, qua đó bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của các chủ sở hữu Chính bởivậy, năng lực chuyên môn và nhận thức pháp luật của thẩm phán càng cần phải chútrọng rèn luyện, nâng cao và hoàn thiện từng ngày Từ đó mới có thể đưa ra đượcnhững bản án khách quan, chính xác, bảo đảm lợi ích hợp pháp, tính công bằng chongười có liên quan
2.1.2 Một số bất cập trong quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền sở
hữu bằng phương thức kiện đòi lại tài sản
Pháp luật hiện hành đã có sự đổi mới nhất định về các nội dung liên quan đếnkiện đòi lại tài sản nhằm hướng tới mục tiêu bảo vệ tốt hơn nữa quyền sở hữu củacác chủ thể Bên cạnh sự hoàn thiện trong quy định pháp luật hiện hành, Nhà nướccũng đã ban hành Án lệ liên quan đến việc kiện đòi tài sản, qua đó gỡ được vướngmắc đã tồn tại trước đây khi chưa có căn cứ pháp lý thi hành Cụ thể là:
Án lệ số 50/2021/AL về quyền khởi kiện vụ án đòi lại tài sản của người đượcgiao tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Án lệ này đã đưa ra được
giải pháp pháp lý cho trường hợp “Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án giải quyết việc phân chia tài sản nhưng bản án, quyết định này chưa được thi hành do người được thi hành án không yêu cầu thi hành án và chưa nhận tài sản trên thực tế Khi hết thời hiệu yêu cầu thi hành án, người được Tòa án giao tài sản mới có tranh chấp đòi lại tài sản được giao theo bản án, quyết định nêu trên” thì Tòa án phải “xác định người đã được giao tài sản theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyền khởi kiện đòi lại tài sản”
Hay Án lệ số 38/2020/AL về việc không thụ lý yêu cầu đòi tài sản đã được