Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận. Nội dung qui luật từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại. Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận
Trang 1NỘI DUNG ÔN TẬP CHO MÔN TRIẾT HỌC NÂNG CAO Câu 1 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận.
a/ Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản, bao trùm của mọi triếthọc Giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là cơ sở xuất phát để giải quyết mọivấn đề của triết học Để giải quyết vấn đề này trước tiên ta phải xác định vật chất và ýthức là gì cũng như mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
- Vật chất là một phạm trù, nền tảng cơ bản của triết học Phạm trù vật chất dùng
để chỉ mọi cái tồn tại khách quan mà khi tác động vào các giác quan con người chúng cho
ta cảm giác
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan và chỉ là hình ảnh của thếgiới quan được đưa vào đầu óc con người và được cải biến lại trong đó
- Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức: có nhiều quan điểm khác nhau
về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức như:
+ Quan điểm CNDT: Ý thức có trước sinh ra và quyết định vật chất.
+ Quan điểm CNDVSH: Thừa nhận vật chất có trước sinh ra và quyết định ý
thức, nhưng chưa thấy được tác động trở lạ to lớn của ý thức đối với vật chất
+ Quan điểm CNDVKH: Bản chất thế giới là vật chất, vật chất có trước sinh ra và
quyết định ý thức đồng thời thấy được tác động trở lại to lớn của vật chất đối với ý thức
Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau.trong quan hệ đó vật chất
có trước sinh ra ý thức,quyết định ý thức, song ý thức có tác động to lớn trở lại đối với vậtchất
Vật chất quyết định ý thức thể hiện ở chỗ vật chất (bao gồm cơ sở vật chất, điềukiện, phương tiện vật chất như thế nào thì ý thức như thế ấy; vật chất biến đổi thì ý thứccũng biến đổi theo, vật chất còn là điều kiện để hiện thực hóa ý thức tư tưởng
Như vậy, vật chất quyết định cả nguồn gốc, nội dung lẫn khuynh hướng vận động,biến đổi, phát triển của ý thức Từ đó rút ra ý nghĩa: Muốn thay đổi ý thức, tư tưởng phảicải biên cơ sở, điều kiện, phương tiện vật chất và môi trường xã hội đã sinh ra nó
Ý thức có tác động trở lại đối với vật chất thể hiện ở chỗ: Ý thức phản ánh thực tạikhách quan vào trong đầu óc con người, giúp con người hiểu được đặc điểm, bản chất,quy luật vận động, phát triển của sụ vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
Trang 2Từ sự hiểu biết đó, con người xác định phương hướng, mục tiêu, lựa chọn phươngpháp, biện pháp thích hợp để cải tạo sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan theo mụcđích của mình.
Do vậy nếu ý thức tiến bộ, sẽ có tác động tích cực; ngược lại, nếu lạc hậu sẽ có tácđộng tiêu cực
- Sự tác động qua lại giữa vật chất và ý thức thể hiện thông qua hoạt động thực tiễncủa con người
Nghĩa là bằng hoạt động thực tiễn, con người nhận thức được thế giới và cải tạothế giới thế giới theo mục đích của mình Ở đây thực tiễn là khâu trunng gian nối liềngiữa cái vật và cái tinh thần trong đời sống xã hội
VC YT
Vận động, biến đổi Mang bản chất xã hội
b/ Ý nghĩa lí luận và liên hệ bản thân
- Xác lập thế giới quan duy vật triệt để
- Quán triệt quan điểm thực tiễn
- Quán triệt bài học phương pháp luận: Mọi suy nghĩ và hành động của con ngườiphải luôn luôn xuất phát từ thục tế khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luậtkhách quan; đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của nhân tố chủ quan Chốngbệnh chủ quan, duy ý chí
+ Từ ý nghĩa phương pháp luận đã chỉ ra: từ mối quan hệ vật chất quyết định ýthức, mọi sự vật hiện tượng thực tiễn phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọngkhách quan Vì thế, nếu vận dụng không đúng hoặc quán triệt ý nghĩa phương pháp luậnkhông đúng sẽ dẫn đến suy nghĩ chủ quan, bảo thủ, trì trệ Cụ thể, cần tiếp thu có chọn lọcnhững ý kiến góp ý, biết lắng nghe, rút kinh nghiệm và không chủ quan trước mọi tìnhhuống
Trang 3+ Bệnh chủ nghĩa kinh nghiệm do quá đề cao thực tiễn.
- Trong thực tiễn công tác: Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ thực tếkhách quan (từ đặc điểm tự nhiên, truyền thống,lịch sử, trình độ phát triển KT-XH của đấtnước, của địa phương; từ quy luật và xu thế phát triển của xã hội, …) Muốn xây dựngchủ nghĩa xã hội phải xây dựng cả cơ sở vật chất lẫn hệ tư tưởng và nền văn hóa tiên tiếncủa chủ nghĩa xã hội
(2) Từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và từ kinh nghiệm thành công, thất bạitrong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học quantrọng là: “Mọi chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật hiện thựckhách quan”
Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từbản thân sự vật, từ hiện thực khách quan, phản ánh sự vật đúng với những gì vốn có của
nó, không lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không lấy ý chí chủ quan áp đặtcho thực tế, phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan nóng vội, phiến diện, địnhkiến… Yêu cầu của nguyên tác tính khách quan còn đòi hỏi phải tôn trọng và hành độngtheo qui luật khách quan
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa.Đảnh chủ trương: “Huy động ngày càng cao mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước, đặcbiệt là nguồn lực của dân vào công cuộc phát triển đất nước” Đó là chính sách chiến lược
về con người, về phát triển giáo dục và đào tạo
Vì vậy, phải “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phát huy sứcmạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước ra khỏi tìnhtrạng kém phát triển, thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dânchủa và văn minh”
Vận dụng 2:
Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, nền kinh tếmiền Bắc còn nhiều nhược điểm Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ cấu kinh tế nhiềumặt mất cân đối, năng xuất lao động thấp, sản xuất chưa đảm bảo nhu cầu đời sống, sảnxuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho côngnghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu Mặt khác, nền kinh tế miền Bắc còn bị chiến tranh pháhoại bằng không quân của đế quốc Mỹ tàn phá nặng nề ở miền Nam, sau 20 năm chiến
Trang 4tranh, nền kinh tế bị đảo nộn và suy sụp, nông nghiệp nhiều vùng hoang hoá, lạm pháttrầm trọng
Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế hoạch năm1976-1980 quá cao và phát triển sản xuất vượt quá khả năng của nền kinh tế, như năm
1975, phấn đấu đạt 21 triệu tấn lương thực, 1 triệu tấn cá biển, 1 triệu hécta khai hoang, 1triệu 200 hécta rừng mới trồng , 10 triệu tấn than sạch, 2 triệu tấn xi măng Đặc biệt là
đã đề ra việc xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí vàđặt nhiệm vụ hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam Những chủtrương sai lầm đó cùng với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã tác động xấuđến nền kinh tế, ảnh hưởng không tốt tới đời sống của nhân dân Đến hết năm 1980,nhiều chỉ tiêu kinh tế chỉ đạt khoảng 50-60% mức đề ra, nền kinh tế tăng trưởng rất chậmchạp: tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 1, 5%, công nghiệp tăng 2, 6%, nông nghiệpgiảm 0, 15%
Nhắc lại tình hình trên để thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức (ở đây là các chủtrương chính sách về quản lý) đối với vật chất (là nền kinh tế) và thấy tác động qua lạigiữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới Phép biện chứng duy vật khẳngđịnh rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải
Trước tình hình ngày càng nghiêm trọng trong khủng hoảng kinh tế xã hội ở nước
ta, Đảng và nhà nước đã đi sâu nghiên cứu, phân tích tình hình, lấy ý kiến rộng rãi của cơ
sở, của nhân dân và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế Đại hội lần thứ VI của Đảng đãrút ra bốn kinh nghiệm lớn, trong đó kinh nghiệm: phải luôn xuất phát từ thực tế, tôntrọng và hành động theo quy luật khách quan Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, mở rabước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Tại Đại hội VI, Đảng đã
tự phê bình một cách nghiêm khắc, đã phân tích đúng nguyên nhân của tình hình khủnghoảng kinh tế xã hội, đề ra các định hướng lớn và xác định chủ trương đổi mới, đặc biệt làđổi mới về kinh tế Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, những diễn biếnquốc tế phức tạp đã ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế chính trị và xã hội nước ta,nhưng Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nỗ lực khắc phục khó khăn, kiên trì tìm tòi, khaiphá con đường đổi mới Và đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, ta đã đánh giá tìnhhình chính trị xã hội Việt nam sau hơn bốn năm thực hiện đường lối đổi mới: công cuộcđổi mới bước đầu đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng Tình hình chínhtrị của đất nước ổn định, nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, bước đầu hình thànhnền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước
Trang 5Như vậy, rõ ràng Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày càng vận dụng đúng đắn phươngpháp luận duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổimới, tiến hành đổi mới kinh tế trước để tạo điều kiện đổi mới trong lĩnh vực chính trị Đạihội VII, sau khi đã phân tích sâu sắc đặc điểm tình hình quốc tế và trong nước đã đề ramục tiểu tổng quát và các mục tiêu cụ thể, những phương châm chỉ đạo trong năm năm1991-1995, đặc biệt đáng chú ý là phương châm kết hợp động lực kinh tế và động lựcchính trị tinh thần, phương châm tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ đưa công tác đổimới vào chiều sâu với bước đi vững chắc, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồng thờithúc đẩy mạnh mẽ việc đổi mới lĩnh vực khác
Với sự thành công của công cuộc đổi mới hơn mười năm (1986 - 1995), chúng tacàng có cơ sở để khẳng định rằng, công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta là hoàntoàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển khách quan của lịch sử tức là chúng taphải thừa nhận giai đoạn phát triển kinh tế thị trường mà trước đây chúng ta đã phủ nhận
nó mà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản Trước đây, Đảng ta đãphạm sai lầm chủ quan duy ý trí, vi phạm quy luật khách quan: nóng vội trong cải tạo chủnghĩa xã hội, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần; có lúc đẩy mạnh quá mức việcxây dựng công nghiệp nặng; duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu baocấp; có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương; công tác tưtưởng và quản lý cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng Quán triệt nguyên tắckhách quan khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta,nhiệm vụ này chỉ được thực hiện nếu chúng ta kết hợp chặt chẽ giữa nhiệt tình cách mạng
và tri
2 Nội dung qui luật từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi
về chất và ngược lại Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận.
Qui luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi vềchất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trìnhvận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Theo quy luật này, phương thứcchung của các quá trình vận động, phát triển là: những sự thay đổi về chất của sự vật có
cơ sở tất yếu từ những sự thay đổi về lượng của sự vật và ngược lại, những sự thay đổi vềchất của sự vật lại tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật trên các phương diệnkhác nhau
Khái niệm chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật,hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác
Trang 6Khái niệm lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về cácphương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu củacác quá trình vận động, phát triển của sự vật Với khái niệm này cho thấy: một sự vật cóthể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhauphù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật.
Mối quan hệ biện chứng
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất vàlượng Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng Sựthay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng Tuynhiên, ở một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự thay đổi về chất,giới hạn đó được gọi là độ
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi vềlượng Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn tới sự thay đổi vềchất Giới hạn đó chính là điểm nút Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với nhữngđiều kiện nhất định sẽ dẫn đến sự ra đời chất mới Đây chính là bước nhảy trong quá trìnhvận động, phát triển của hiện tượng
+ Bước nhảy đốt biến là bước nhảy xảy ra trong thời gian ngắn làm thay đổi bảnchất của sự vật Bước nhảy này diễn ra bằng một sự bùng nổ mãnh liệt VD cách mạngtháng Mười Nga là một bước nhảy đột biến
+ Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện bằng việc loại bỏ dần nhữngyếu tố, những bộ phận chất cũ xảy ra trong một thời gian dài mới loại bỏ hoàn toàn chất
cũ thành chất mới
Ý nghĩa phương pháp luận
-Trong hoạt động nhận thức thực tiễn, cần phải coi trọng quá trình tích luỹ vềlượng, nếu không coi trọng quá trình này thì sự không có sự biến đổi về chất
-Quy luật này có chiều ngược lại, chất mới ra đời thì làm biến đổi tốc độ, quy môlượng mới Cho nên khi chất mới ra đời phải biết xác định tốc độ, quy mô phát triển vềlượng cho thích hợp, không được bảo thủ, dừng lại
-Không quán triệt quy luật này sẽ dẫn đến tư tưởng tả khuynh, hữu khuynh Tảkhuynh là phủ nhận tích luỹ về lượng muốn có ngay sự thay đổi về chất, còn hữu khuynh
là thì ngược lại khi lượng biến đổi đã tới vượt quá độ nhưng không dám thực hiện sự thayđổi căn bản về chất, không tạo nên bước nhảy về chất
Trang 7Vận dụng ý nghĩa PPL
Đảng ta đã xác định phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một tất yếukhách quan, là sự nhận thức đúng đắn quy luật từ những thay đổi về lượng sẽ dẫn đến sựthay đổi về chất và ngược lại Điều đó cũng có nghĩa là khi chúng ta chưa tích luỹ đượcđầy đủ những điều kiện vật chất cho CNXH thì chúng ta chưa thể nóng vội xây dựngquan hệ sản xuất XHCN ngay như trước năm 1986 chúng ta đã làm, mà chúng ta phảitiến hành dần dần, hay nói cách khác, chúng ta phải có một thời kỳ quá độ
Sau năm 1975 khi đất nước được thống nhất, cả nước đi lên CNXH, chúng ta đãnóng vội và nhất loạt xây dựng quan hệ sản xuất một thành phần dựa trên cơ sở công hữuXHCN về tư liệu sản xuất, mọi thành phần kinh tế khác bị coi là bộ phận đối lập với kinh
tế XHCN, vì vậy nằm trong diện phải cải tạo, xoá bỏ, làm như vậy là chúng ta đã đẩyquan hệ sản xuất đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tạo ra mâuthuẫn giữa một bên là lực lượng sản xuất thấp kém với một bên là quan hệ sản xuất được
xã hội hoá giả tạo, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, hay nói cáchkhác khi lực lượng sản xuất của chúng ta còn quá thấp kém chưa tích luỹ đủ về lượng(tính chất và trình độ) đã vội vã thay đổi chất (quan hệ sản xuất XHCN) làm cho đất nướclâm vào tình trang khủng hoảng kinh tế – xã hội
Từ đại hội VI của đảng cộng sản Việt nam đến nay, khắc phục sai lầm trên chúng
ta thực hiện xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xuất phát từ tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất nước ta là đa dạng, không đồng đều và chưa cao
Thực tiễn sau 15 năm đổi mới đã khẳng định chủ trương xây dựng kinh tế nhiềuthành phần là phù hợp với phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta Nó đã thực sự giảiphóng , phát triển và khơi dậy các tiềm năng của sản xuất Khơi dậy năng lực sáng tạo chủđộng của các chủ thể kinh tế trong sản xuất đưa nước ta ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinhtế- xã hội
3 Nội dung qui luật phủ định của phủ định Ý nghĩa phương pháp luận của qui luật và vận dụng
Trang 8vận động đi lên, tạo điều kiện, tiền đề cho sự phát triển Hai đặc điểm cơ bản của phủ địnhbiện chứng là tính khách quan và tính kế thừa
Nội dung quy luật phủ định của phủ định: Gọi là phủ định của phủ định khi sự vật,hiện tượng đã trải qua ít nhất hai lần phủ định biện chứng để hình thành một chu kỳ của
sự phát triển
Số lần phủ định biện chứng tùy thuộc điều kiện cụ thể, tính chất, mối liên hệ của
sự vật, hiện tượng, nhưng ít nhất phải trải qua hai lần phủ định biện chứng
Cái mới ra đời theo quy luật phủ định của phủ định là cái cao hơn cái cũ, vì nó kéthừa hạt nhân hợp lý của cái ban đầu và của các lần phủ định biện chứng kế tiếp, tạo nêncái mới với tính chất kế thừa, lặp lại, tiến lên của sự vật và hiện tượng Vì vậy, sự pháttriển không phải theo đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc” Theo V.I.Lênin “Sự pháttriển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình thức khác, ở mộttrình độ cao hơn (“phủ định của phủ định”); sự phát triển có thể nói là theo đường trôn ốcchứ không theo đường thẳng”
Ý nghĩa PPL:
+ Cần khẳng định tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng, phong phú của quyluật trong tự nhiên, xã hội và tư duy Mọi sự vật luôn xuất hiện cái mới thay thế cái cũ, cáitiến bộ thay thế cái lạc hậu, cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa tất cả những nhân tố tích cựccủa cái cũ Do đó, trong hoạt động của mình, con người phải biết kế thừa tinh hoa của cái
cũ, tránh thái độ phủ định sạch trơn
Trong giới tự nhiên cái mới phát triển một cách tự phát, còn trong xã hội cái mới rađời gắn liền với hoạt động có ý thức của con người Chính vì thế trong hoạt động củachính mình con người phải biết phát hiện cái mới và ủng hộ nó
Trang 9sắc dân tộc cũng đặt ra những câu hỏi hóc búa đối với toàn xã hội, trước hết là trong việcxác định bản sắc văn hóa dân tộc và sau đó là việc ứng xử với bản sắc văn hóa đó
«Bản» là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sự vật; «Sắc» là thểhiện ra ngoài Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, cănbản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam Nói những hạt nhân giá trị hạtnhân tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất,bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnhvực như: văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giaotiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam
Những giá trị hạt nhân đó không phải tự nhiên mà có, nó được tạo thành dần dần
và được khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng, củng cố và phát triển của nhà nướcViệt Nam Những giá trị đó không phải là không thay đổi trong quá trình lịch sử Cónhững giá trị cũ, lỗi thời bị xóa bỏ, và có những giá trị mới, tiến bộ được bổ sung vào Cónhững giá trị tiếp tục phát huy tác dụng, dưới những hình thức mới Dân tộc Việt Nam,với tư cách là chủ thể sáng tạo, thường xuyên kiểm nghiệm những giá tri hạt nhân đó,quyết định những thay đổi và bổ sung cần thiết, tái tạo những giá trị đó từ thế hệ này sangthế hệ khác Không nên có tư tưởng tĩnh và siêu hình đối với những giá trị hạt nhân đó,thậm chí đối với những giá trị mà chúng ta vốn cho là thiêng liêng nhất Nếu dân tộckhông có ý thức giữ gìn, bồi dưỡng, tái tạo để trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khácthì chúng cũng bị mai một và tàn lụi đi
Trong thời đại hiện nay, đất nước ta cũng đang giao tiếp văn hóa rộng rãi giữa cácnền văn hóa khác nhau, ví dụ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Xô Viết, văn hóa ViệtNam và văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, văn hóa Việt Nam và văn hóa Âu, Mỹ không cóbiên giới Thời đại hiện nay là thời đại của kỹ thuật giao thông liên lạc và thông tin cực kỳphát triển Trái đất như bị thu nhỏ lại hàng mấy trăm lần, so với chục năm về trước Do đó
sự tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc sống cách xa nhau là tất nhiên và tất yếu Qua nhữngcuộc tiếp xúc đó, bản sắc văn hóa của các dân tộc đều có sự thay đổi, bên cạnh những cáikhẳng định Thật là vô lý nếu chúng ta gạt bỏ mọi yếu tố tiến bộ và cái hay, đẹp của vănhóa nước khác chỉ vì chúng ta sợ bị ngoại lai Nhưng cũng sẽ là vô lý hơn, nếu chúng tatiếp thu hàng loạt không có phê phán mọi yếu tố của văn hóa nước ngoài, chỉ vì chúng làmới lạ, tân kỳ
Những yếu tố tiến bộ của văn hóa nước ngoài, một khi đã được dân tộc ta chấpnhận và biến thành sở hữu của mình rồi, thì chúng có thể trở thành một bộ phận của giá trịbản sắc văn hóa Việt Nam, của dân tộc Việt Nam Không ai có thể phủ nhận rằng, nhiềuyếu tố Phật giáo, Nho giáo, mặc dù bắt nguồn từ nước ngoài, nhưng đã trở thành bộ phận
Trang 10khăng khít của bản sắc dân tộc và văn hóa Việt Nam, đã được dân tộc Việt Nam biếnthành sở hữu thật sự của mình
Nói tóm lại, cái lỗi thời nhưng không được cải tiến, cái tốt nhưng lại bị cường điệu,cái tốt ngoại lai nhưng không được bản địa hóa nhuần nhuyễn đều có thể biến thành tiêucực và tạo trở ngại cho sự phát triển bình thường của nền văn hóa dân tộc Vì vậy, màchúng tôi khẳng định, những giá trị bản sắc của dân tộc Việt Nam, của nền văn hóa ViệtNam cần phải được bộ phận lãnh đạo của dân tộc thường xuyên kiểm nghiệm, theo dõi,gìn giữ, cải tiến, bổ sung, gạt bỏ những cái lỗi thời, đổi mới những hình thức không cònthích hợp, tiếp thu và bản địa hóa mọi tinh hoa của văn hóa nước ngoài khiến cho nhữnggiá trị gọi là bản sắc văn hóa của dân tộc ta phát huy tới mức cao nhất của hai tác dụngxúc tác và hội tụ, đối với sự phát triển toàn diện và mọi mặt của dân tộc Việt Nam chúng
ta Tác dụng xúc tác là tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển Tác dụng hội tụ là tácdụng gắn bó, kết hợp với mặt, các yếu tố thành một hệ thống nhất
4 Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nêu sự vận dụng cuả Đảng ta về quy luật này trong việc hoạch định đường lối đổi mới kinh tế ở nước ta
Đây là quy luật kinh tế cơ bản nhất, phổ biến nhất quy định sự vận động phát triển
xã hội nhận thức đúng và vận dụng sang tạo quy luật này có ý nghĩa lớn đối với sự pháttriển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
- Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất:
+ Lực lượng sản xuất: Khái niệm lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu
tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ, của quá trình sản xuất, tạo thànhnăng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người Với nghĩa như vậy, lực lượng sảnxuất cũng đóng vai trò phản ánh căn bản trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người
Các yếu tố (nhân tố) tạo thành lực lượng sản xuất gồm có: tư liệu sản xuất (trong
đó, công cụ sản xuất là yếu tố phản ánh rõ ràng nhất trình độ chinh phục tự nhiên của conngười) và người lao động (trong đó năng lực sáng tạo của nó là yếu tố đặc biệt quantrọng)
Trong hai nhóm yếu tố nói trên, người lao động là nhân tố quan trọng nhất (bởi vì,
tư liệu sản xuất có nguồn gốc từ lao động của con người và được sử dụng bởi con người)
+ Quan hệ sản xuất: Khái niệm quan hệ sản xuất dùng để chỉ tổng thể mốiquan hệ kinh tế (quan hệ giữa người với người về mặt thực hiện lợi ích vật chất trong quátrình sản xuất và tái sản xuất xã hội)
Trang 11Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong
tổ chức - quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sảnxuất đó
Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chi phối, tácđộng lẫn nhau trên cơ sở quyết định của quan hệ sở hữu vể tư liệu sản xuất
+ C.Mác trong tác phẩm phê phán khoa kinh tế - chính trị năm 1853 chỉ ra rằng:
“Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định,tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn của họ, tức là những quan hệ sản xuất Những quyluật này phù hợp với trình độ nhất định của LLSX vật chất của họ.” Người ta thường coi
tư tưởng này của C.Mác là tư tưởng về “Quy luật QHSX phù hợp với tính chất và trình độcủa LLSX”
Khi nói trình độ của LLSX là nói đến trình độ của công cụ sản xuất, của người laođộng, trình độ thấp hay cao, thô sơ, lạc hậu hay thủ công, máy móc, hiện đại
Khi nói đên tính chất của LLSX là nói đến tính chất của công cụ sản xuất, của laođộng, tức nói đến tính chất cá nhân hay tập thể, xã hội
Như vậy, trình độ của LLSX quyết định tính chất của LLSX, đây là hai vấn đềkhác nhau nhưng luôn gắn bó với nhau, do đó người ta thường gọi chung tính chất vàtrình độ của LLSX
Khi trình độ của LLSX thay đổi căn bản sẽ mâu thuẫn với QHSX hiện có đã lỗithời Mâu thuẫn đó phát triển đến đỉnh điểm sẽ xóa bỏ QHSX thống trị lạc hậu phản động
để thiết lập QHSX mới tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, cho ra đờiphương thức sản xuất mới tiên bộ Khi phương thức sản xuất mới ra đời thì quan hệ sảnxuất phù hợp với lực lượng sản xuất nhưng trong quá trình phát triển của sản xuất vậtchất, do lực lượng sản xuất thường xuyên vận động phát triển, còn quan hệ sản xuất cótính ổn định chậm biến đổi, nên sau một thời gian, sự phát triển của LLSX mâu thuẫn vớiQHSX hiện có và buộc phải thay bằng một QHSX mới hơn, tiến bộ hơn… Qúa trình đódiễn ra vô tận lặp đi, lặp lại trở thành quy luật kinh tế cơ bản của sự vân động phát triển
xã hội
+ Lấy ví dụ để chứng minh
QHSX do LLSX qui định, nhưng sau khi hình thành nó có tác động to lớn trở lạiđối với LLSX theo hai hướng:
Trang 12~ Nếu QHSX phù hợp với LLSX thì tác động tích cực (tạo môi trường thuận lợi,tạo động lực cho LLSX phát triển);
~ Nếu QHSX không phù hợp với LLSX thì tác động tiêu cực (kìm hãm, triệt tiêuđộng lực phát triển của LLSX)
* Nếu không vận dúng đúng sẽ dẫn đến sai lầm gì? Ví dụ minh họa?
Muốn định hướng phát triển kinh tế - xã hội phải quán triệt và vận dụng sáng tạoquy luật trên Nghĩa là phải căn cứ vào trình độ phát triển của LLSX để lựa chọn QHSXphù hơp và phải luôn điều chỉnh QHSX cho phù hợp với sự với sự vận động phát triểnkhông ngừng của LLSX
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp đi lên XHCH Tuynhiên, Đảng ta trước đổi mới 1986 đã vấp phải sai lầm, khuyết điểm, trong đó bao trùm làbệnh chủ quan duy ý chí, bất chấp quy luật khách quan , nóng vội xóa bỏ các thành phầnkinh tế ngoài quốc doanh, cá thể khi nó còn lý do tồn tại; đề cao, mở rộng quan hệ sảnxuất tập thể khi nó chưa có đầy đủ tính tấy yếu kinh tế Khi mà LLSX còn thấp kém (xâydựng cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, trình độ thấp kém, lạc hậu về LLSX), trình độngười lao động thấp, không đồng đều nhưng lại duy trì quan hệ sản xuất tiên tiến mộtcách giả tạo (thể hiện ở cơ chế bình quân chủ nghĩa)
Quán triệt quy luật trên vào quá trình đổi mới toàn diện đất nước (từ Đại hội VItháng 12 năm 1986 đến nay), Đảng ta chủ trương giải phóng sức sản xuất để phát triểnLLSX, đồng thời lấy kinh tế làm trọng tâm, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu vớihai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh (Nhà nước) và kinh tế tập thể sangnền kinh tế hang hóa nhiều thành phần, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa có sự quản lý của Nhà nước Chủ trương đúng đắn đó đã thúc đẩy nền kinh tế pháttriển, tăng trưởng kinh tế đạt 7,51%/ năm (2001- 2005); 7%(2005- 2010); năm 2010 đạt6,78%; tăng bình quân trong 10 năm 2001 – 2011 là 7,26%
Tại Đại hội X, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắnvới phát triển kinh tế tri thức và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để phát triểnLLSX theo định hướng hiện đại và từng bước thiết lập QHSX mới phù hợp nhằm xâydựng hoàn thiện phương thức sản xuất mới XHCN Đó chính là quán triệt và vận dụngsáng tạo quy luật trên vào điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay
Trang 13Câu 5 Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Nêu sự vận dụng của Đảng ta về vấn đề này trong việc hoạch định đường lối đổi mới kinh tế và chính trị ở nước ta.
Vận dụng: Dưới chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượngtầng thuần nhất và thống nhất Vì cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa không có tính chất đốikháng, không bao hàm những lợi ích kinh tế đối lập nhau Hình thức sở hữu bao trùm là
sở hữu toàn dân và tập thể, hợp tác tương trợ nhau trong quá trình sản xuất, phân phối sảnphẩm theo lao động, không còn chế độ bóc lột
Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội chủnghĩa, vì vậy mà có sự thống trị về chính trị và tinh thần Nhà nước xã hội chủ nghĩa lànhà nước kiểu mới: của dân do dân và vì dân Pháp luật xã hội chủ nghĩa là công cụ để cảitạo xã hội cũ và xây dựng xã hội chủ nghĩa tiến bộ, khoa học trở thành động lực cho sựphát triển xã hội
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cáchmạng sâu sắc và triệt để, là một giai đoạn lịch sử chuyền tiếp Cho nên cơ sở hạ tầng vàkiến trúc thượng tầng với đầy đủ những đặc trưng của nó Bởi vì, cơ sở hạ tầng mang tínhchất quá độ với một kết cấu kinh tế nhiều thành phần đan xen của nhiều loại hình kinh tế
xã hội khác nhau Còn kiến trúc thượng tầng có sự đối kháng về tư tưởng và có sự đấutranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trên lĩnh vực tư tuởng văn hoá
Bởi vậy công cuộc cải cách kinh tế và đổi mới thể chế chính trị là một quá trìnhmang tính cách mạng lâu dài, phức tạp mà thực chất là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệtgiữa hai con đường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Chính vì những lý do đó mànước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến với nền kinh tế lạc hậu sản xuất nhỏ là chủyếu, đi lên chủ nghĩa xã hội (bỏ qua chế độ phát triển tư bản chủ nghĩa ) chúng ta đã gặprất nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Cơ sở hạ tầng thời kỳ quá
độ ở nước ta bao gồm các thành phần kinh tế như: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh
tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, cùng các kiểu quan hệ sản xuấtgắn liền với hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau cùng tồn tại trong một cơcấu kinh tế quốc dân thống nhất Đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Các thành phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, lại vừa thốngnhất với nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất , chúng vừa cạnh tranh nhau,vừa liên kết với nhau, bổ xung với nhau
Trang 14Để định hướng xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế này, nhà nước phải
sử dụng tổng thể các biện pháp kinh tế hành chính và giáo dục Trong đó biện pháp kinh
tế có vai trò quan trọng nhất nhằm từng bước xã hội hoá nền sản xuất với hình thức vàbước đi thích hợp theo hướng: kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lêngiữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những người sản xuấtnhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí nghiệp , công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh
tế tư nhân và gia đình phát huy được mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xâydựng cơ sở kinh tế hợp lý
Trong văn kiện Hội nghị đại biểu Đảng giữa nhiệm kỳ khoá VII, Đảng ghi rõ “phảitập trung nguồn vốn đầu tư nhà nước cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội vàmột số công trình công nghiệp then chốt đã được chuẩn bị vốn và công nghệ Nâng cấp vàxây dựng mới hệ thống giao thông, sân bay, bến cảng, thông tin liên lạc, giáo dục và đàotạo, y tế ” Đồng thời văn kiện Đảng cũng ghi rõ:”Tư nay tới cuối thập kỷ, phải quan tâmtới công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diệnnông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, công nghiệp sảnxuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”
Về kiến trúc thượng tầng, Đảng ta khẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin và tưtưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân ta Nộidung cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về sự giảiphóng con người khỏi chế độ bóc lột thoát khỏi nỗi nhục của mình là đi làm thuê bị đánhđập, lương ít
Bởi vậy, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, việc giáo dụctruyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư tưởnh chủ đạo trongđời sống tinh thần của xã hội là việc làm thường xuyên, liên tục của cuộc cách mạng xãhội chủ nghĩa trên lĩnh vực kiến trúc thượng tầng
Xây dựng hệ thống chính trị, xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân,
do Đảng cộng sản lãnh đạo đảm bảo cho nhân dân là người chủ thực sự của xã hội Toàn
bộ quyền lực của xã hội thuộc về nhân dân thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa đảm bảophát huy mọi khả năng sáng tạo, tích cực chủ động của mọi cá nhân
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ghi
rõ : ”xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa , nhà nước của dân, do dân và vì dân, liên minhgiai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộngsản lãnh đạo ” Như vậy, tất cả các tổ chức, bộ máy tạo thành hệ thống chính trị - xã hội
Trang 15kkhông tồn tại như một mục đích tư nhân mà vì phục vụ con người, thực hiện cho đượclợi ích và quyền lợi thuộc về nhân dân lao động.
Mỗi bước phát triển của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một bước giảiquyết mâu thuẫn giữa chúng Việc phát triển và củng cố cơ sở hạ tầng điều chỉnh và củng
cố các bộ phận của kiến trúc thượng tầng là một quá trình diễn ra trong suốt thời kỳ quáđộ
Câu 6 Liên hệ và phát huy nhân tố con người trong thời kỳ đổi mới
- Khái niệm: Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội có sự thốngnhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người chính là giới tự nhiên Vì vậy, bản tính tự nhiên là một trong những phương diện cơbản của con người, loài người Do vậy, việc nghiên cứu, khám phá khoa học về cấu tạo tựnhiên và nguồn gốc tự nhiên của con người là cơ sở khoa học quan trọng để con người hiểu biết về chính bản thân mình, tiến đến làm chủ bản thân mình trong mọi hành vi và hoạt động sáng tạo ra lịch sử của nó, tức lịch sử nhân loại
- Bản chất:
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất,
"bản tính người" của con người, nhưng về cơ bản những quan niệm đó thường là những quan niệm phiến diện, trừu tượng và duy tâm, thần bí Trong tác phâm Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã phê phán vắn tắt những quan niệm đó và xác lập quan niệm mới của mình "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội"
Hạn chế căn bản của quan niệm duy vật siêu hình, trực quan là đã trừu tượng hóa, tuyệt đối hóa phương diện tự nhiên của con người, thường xem nhẹ việc lý giải con người
từ phương diện lịch sử xã hội của nó, do đó về căn bản chỉ thấy bản tính tự nhiên của con người Khác với quan niệm đó, quan niệm duy vật biện chứng về con người trong khi thừa nhận bản tính tự nhiên của con người còn lý giải con người từ giác độ các quan hệ lịch sử xã hội, từ đó phát hiện bản tính xã hội của nó
Hơn nữa, chính bản tính xã hội của con người là phương diện bản chất nhất củacon người với tư cách "người", phân biệt con người với các tồn tại khác của giới tự nhiên.Như vậy, có thể định nghĩa con người là một thực thể tự nhiên nhưng đó là thực thể tựnhiên mang đặc tính xã hội Vậy, bản chất của con người, xét trên phương diện tính hiện
Trang 16thực của nó, chính là "tổng hòa những quan hệ xã hội", bởi vì xã hội chính là xã hội củacon người, được tạo nên từ toàn bộ các quan hệ giữa người với người trên các mặt kinh tế,chính trị, văn hóa,
- Phát huy nhân tố con người:
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời tới nay, luôn chăm lo phát triển nguồn nhânlực, nhất là trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đảng ta xác định rất rõ rằng: con người vừa là mụctiêu, vừa là động lực của sự phát triển Bởi vì, mục tiêu của sự nghiệp xây dựng và pháttriển đất nước suy cho cùng là phải hướng tới phục vụ con người, vì con người và giảiphóng con người
Chính vì lẽ đó, trước khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH thông qua tại Đại hội lần thứ VII (tháng 6-1991) Đảng ta khẳng định: “phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”.
Vấn đề phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
được Đại hội VIII của Đảng tiếp tục khẳng: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Từ sau Đại hội VIII, thực hiện chiến lược công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng cũng đã ban hành nhiều nghị quyết về nhiều lĩnh vựctrong đó có liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố conngười
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục,đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 đã thể
hiện rõ quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực Nghị quyết nêu: “Lấy việc phát huy nhân tố con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.
Đại hội X cũng chỉ ra: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế”.
Đại hội XI (2011) kế thừa và phát triển quan điểm phát triển nguồn nhân lực
từ các đại hội trước, đã nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “Đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Để đạt được mục tiêu đó Đảng đã
Trang 17xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” được khẳng định là khâu đột phá thứ hai.
Đây được xem là khâu đột phá phù hợp với hoàn cảnh nguồn nhân lực nước ta hiệnnay khi hội nhập kinh tế quốc tế, với sự cạnh tranh diễn ra vô cùng quyết liệt và cuộccách mạng khoa học, công nghệ Đó vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức đòi hỏichúng ta buộc phải nâng cao chất lượng nhân tố con người Đại hội XI của Đảng
đồng thời cũng xác định rõ phải “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” Và để thực hiện chiến lược này,
Đại hội XI cũng nêu rõ những giải pháp trực tiếp cho chiến lược phát triển nguồn
nhân lực, đó là: “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam”;
“đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”; “Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam”
Tầm quan trọng của nhân tố con người ngày càng được thể hiện rõ, đặc biệt trongnền kinh tế tri thức như hiện nay Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghịTrung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, với
quan điểm chỉ đạo rằng : “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên
đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”.
Một lần nữa, gần đây nhất Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị
Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước lại tiếp tục được Đảng quan tâm nhấn mạnh với mục tiêu lớn lao “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Như vậy, với những chiến lược về phát huy nhân tố con người của Đảng ta trongsuốt chặng đường phát triển đất nước rõ ràng đã phát huy hiệu quả và đến nay đã đạt đượcnhiều thành tựu to lớn Trình độ dân trí ngày càng cao, kinh tế cũng ngày càng khởi sắc vàtrên đà phát triển ổn định, đời sống của người dân được cải biến rõ nét, con người đượctạo điều kiện phát triển toàn diện, nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Trang 18Đảng Điều này một lần nữa khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và chủ trươngchính sách của Nhà nước hợp lý, đồng thời thể hiện sự quan tâm, chăm lo phát triển nhân
tố con người của Đảng và Nhà nước ta./
Câu 7 Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội.
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Ý nghĩa của vấn đề đối với xây dựng ý thức XHCN ở nước ta hiện nay
- Tồn tại xã hội là gì? Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạtvật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Các yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại
xã hội bao gồm: phương thức sản xuất vật chất, các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên - hoàncảnh địa lý và dân cư Các yếu tố đó tồn tại trong mối thống nhất biện chứng, tác động lẫnnhau, tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đó, phương thức sản xuấtvật chất là yếu tố cơ bản nhất
- Nguyên nhân của lạc hậu
+ Tồn tại xã hội bao giờ cũng có trước ý thức xã hội
+ Do thói quen, sức mạnh cỷa thói quen, phong tục tập quán truyền thống nên cónhững tồn tại xã hội đã thay đổi nhưng ý thức xã hội chưa thay đổi Điều này tạo nênnhững tàn dư Ví dụ: Xã hội phong kiến Việt Nam xóa bỏ từ năm 1945 nhưng có những ýthức xã hội ở đó vẫn còn tàn dư, rơi rớt trong xã hội này (gia trưởng, trọng nam khinh
nữ, ), điều này để lại hậu quả rất nặng nề như bạo lực gia đình: bạo lực thể xác, bạo lựctinh thần, bạo lực kinh tế
+ Do giai cấp cũ, xã hội thường muốn bảo vệ, lưu giữ những điều ở xã hội cũ Điềunày tạo nên những cản trở
- Liên hệ bản thân: Tác phong nông nghiệp, giờ giấc cao su, trông chờ, ỷ lại, dựadẫm,
=> Khắc phục
- Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin thì tồn tại xã hội quyết định ý thức xãhội, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối, tác động mạnh mẽ trở lại đối với tồn tại xã