1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN

110 664 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả điều tra xác định chi phí, giá thành sản phẩm khi áp dụng các thực hành sản xuất tốt (VietGAP/GMPs, VietGAHP) đối với sản xuất rau và chăn nuôi gà an toàn
Tác giả GS.TS. Trần Khắc Thi, TS. Tô Thị Thu Hà, TS. Lê Thị Thuỷ, TS. Dương Kim Thoa, TS. Phạm Mỹ Linh, ThS. Lê Như Thịnh
Trường học Viện Nghiên Cứu Rau Quả
Chuyên ngành Nông nghiệp và Quản lý thực phẩm
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 7,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.2 Mục tiêu cụ thể ● Khảo sát thực trạng tình hình sản xuất, sơ chế/giết mổ và lưu thông sản phẩm rau và thịt gà an toàn; ● Phân tích cơ cấu các loại chi phí, đánh giá kết quả, hiệu

Trang 1

DỰ ÁN XD & KIỂM SOÁT VIỆN NGHIÊN CỨU RAU QUẢ

CHẤT LƯỢNG NÔNG SẢN TP

- -

BÁO CÁO

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÁC ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH SẢN PHẨM KHI ÁP

DỤNG CÁC THỰC HÀNH SẢN XUẤT TỐT (VietGAP/GMPs, VietGAHP) ĐỐI

VỚI SẢN XUẤT RAU VÀ CHĂN NUÔI GÀ AN TOÀN

Trang 2

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp đã phát triển đã tạo ra nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm phong phú và ổn định cho người tiêu dùng trong nước Tuy nhiên, các kỹ thuật sản xuất vẫn còn tập trung chủ yếu vào phát triển số lượng hơn là chất lượng sản phẩm, đặc biệt còn hạn chế trong việc áp dụng các qui phạm thực hành nông nghiệp tốt (GAP, GAHP), thực hành sản xuất tốt (GMP), phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm trong toàn bộ quá trình sản xuất từ trang trại tới bàn ăn Với việc gia nhập WTO, Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên cũng phải đối mặt với các yêu cầu ngày càng tăng về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), đặc biệt là yêu cầu của người tiêu dùng trong nước đối với các mặt hàng nông sản chủ yếu như rau, quả và thịt gia súc, gia cầm Bên cạnh đó, hoạt động giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm VSATTP chưa được tiến hành thường xuyên, dẫn đến tỷ lệ sản phẩm không đảm bảo VSATTP còn cao,

gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng, bức xúc trong xã hội và cản trở xuất khẩu

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Thông qua khảo sát đánh giá chi phí trong quá trình sản xuất sơ chế sản phẩm rau, thịt gà khi áp dụng và không áp dụng các thực hành sản xuất tốt GPPs (VietGAP, VietGAHPs, và GMPs) làm cơ sở xây dựng các chính sách trong quản lý chất lượng và

mức độ an toàn thực phẩm các sản phẩm trên

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

● Khảo sát thực trạng tình hình sản xuất, sơ chế/giết mổ và lưu thông sản phẩm rau

và thịt gà an toàn;

● Phân tích cơ cấu các loại chi phí, đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế khi áp dụng

và không áp dụng các thực hành sản xuất tốt (VietGAPs, VietGAHPs and GMPs) và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí khi áp dụng các thực hành sản xuất tốt (VietGAPs, VietGAHPs and GMPs) đối với rau và thịt gà an toàn;

● Đề xuất các giải pháp nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế khi áp dụng thực hành sản xuất tốt trong thời gian tới

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

SẢN PHẨM RAU VÀ THỊT GÀ

2.1 TÌNH HÌNH ÁP DỤNG THỰC HÀNH SẢN XUẤT TỐT (GPPs)

Trong bối cảnh các nước ngày càng dựng lên nhiều hàng rào kỹ thuật để bảo hộ

nền sản xuất trong nước và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, việc áp dụng sản xuất theo các tiêu chuẩn an toàn (GAP) không còn là một việc nên làm mà là điều bắt buộc nếu các mặt hàng nông sản của ta muốn giữ được vị thế cạnh tranh

Thực hành nông nghiệp tốt (Good Agricutural Practices - GAP) là những nguyên tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học (vi khuẩn, nấm, virus,

ký sinh trùng) và hóa chất (dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, hàm lượng nitrat), đồng thời sản phẩm phải đảm bảo an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng GAP bao gồm việc sản xuất theo hướng lựa chọn địa điểm, sử dụng đất đai, phân bón, nước, phòng trừ sâu bệnh hại, thu hái, đóng gói, tồn trữ, vệ sinh đồng ruộng và vận chuyển sản phẩm nhằm phát triển nền nông nghiệp bền vững với mục đích đảm bảo: An toàn cho thực phẩm, an toàn cho người sản xuất, bảo vệ môi trường, truy nguyên được nguồn gốc sản phẩm

Bảng 2.1 Mô hình các loại cây trồng áp dụng VietGAP tinh đến hết năm 2010

Mô hình đang thực

hiện

Mô hình theo hướng VietGAP

Tổng

số

Số lượng

Diện tich (ha)

Số lượng

Diện tich (ha)

Số lượng

Diện tich (ha)

Trang 4

Trong 3 năm (2011 – 2013), Trung tâm Khuyến nông Quốc gia triển khai dự án chăn nuôi lợn an toàn sinh học và áp dụng VietGap với tổng kinh phí 13,5 tỷ đồng tại 14 tỉnh thành trong cả nước Quy mô dự kiến là 2400 con lợn thương phẩm/năm, tổ chức tập huấn kỹ thuật cho 600 lượt nông dân và 300 lượt nông dân được thăm quan học tập Năm

2011, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia giao cho các đơn vị tham gia dự án triển khai các

mô hình tại 11 tỉnh: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình,

Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An và Bình Phước (Nguồn: Trung tâm khuyến

nông, 2011)

Mục tiêu mà ngành nông nghiệp đặt ra là phấn đấu đến năm 2011, tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước hoàn thành quy hoạch các vùng sản xuất rau, quả, chè an toàn tập trung; 50% các tổ chức, cá nhân tại các vùng sản xuất an toàn tập trung bảo đảm

đủ điều kiện sản xuất, sơ chế sản phẩm phù hợp VietGAP và 30% lượng hàng nông sản tại các vùng này được chứng nhận hoặc tự đánh giá và công bố sản xuất theo VietGAP Ðến năm 2015, toàn bộ 100% lượng rau, quả, chè tại các vùng sản xuất tập trung được chứng nhận hoặc tự đánh giá và công bố sản xuất theo VietGAP; 100% các tổ chức, cá nhân tại các vùng sản xuất an toàn tập trung bảo đảm đủ điều kiện sản xuất, sơ chế sản phẩm nông sản phù hợp VietGAP

2.2 HIỆU QUẢ CỦA SẢN XUẤT THỰC PHẨM AN TOÀN THEO GPPs

Một số nghiên cứu và thông tin đã xác định được ưu điểm và hạn chế của việc áp dụng GPPs trên các đối tượng cây trồng và vật nuôi Sau đây là một vài ví dụ cụ thể

HTX Ngã Ba Giồng ấp 3, xã Xuân Thới Thượng, Hóc Môn, TPHCM được thành

lập năm 2004 gồm 36 hội viên chuyên trồng rau, củ sạch trên diện tích 18 ha đất canh tác, trong đó có 10 ha diện tích trồng rau củ quả (dưa leo, khổ qua ) và 8 ha trồng rau lá (cải, dền, mồng tơi) Hiện đã có 5/18 ha được Chi cục BVTV TPHCM công nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP (cuối năm 2009) Anh Trần Văn Hợp - Chủ nhiệm HTX và cũng là một hội viên trồng rau đạt tiêu chuẩn VietGAP cho biết, anh có 1 ha đất trồng rau các loại, trong đó có 0,5 ha được công nhận đạt VietGAP Với năng suất trung bình đạt 27 – 28 tấn/ha, mỗi vụ lãi ròng được 35 – 40 triệu đồng Cũng là một hội viên đạt tiêu chuẩn VietGAP trong HTX, anh Bùi Văn Đình Vượng cho biết gia đình có 5 công (5000 m2 ) đất trồng rau, chủ yếu là các loại dưa leo, khổ qua, ớt Trung bình bán ra thị trường khoảng 150-200 kg/ngày với giá khá cao: ớt 20.000đ/kg, bầu 6.000đ/kg, khổ qua 7.000đ/kg… Nhờ làm rau sạch mà mỗi vụ anh thu lãi được trên 30 triệu đồng”

Sản phẩm rau do HTX thu mua, các hộ nông dân còn bán cho các thương lái ở chợ đầu mối, các nhà hàng ở xung quanh Hóc Môn do năng động tự liên hệ với các nơi để tự giải quyết đầu ra cho mình Tuy nhiên cơ sở hạ tầng cho sản xuất rau an toàn chưa được đầu HTX sẽ đề xuất các ban ngành hỗ trợ hội viên làm kho chứa lạnh, đồng thời ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với giá cao, ổn định để bà con yên tâm gắn bó với rau VietGAP (Bao Nong Nghiep Viet Nam)

Trang 5

Một nghiên cứu bước đầu của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp tại HTX Tiền Lệ - Hoài Đức – Hà Nội đã cho thấy chi phí khấu hao nhà sơ chế, chứng nhận VietGAP và công giám sát là 28 triệu đồng/ha/năm Chi phí sản xuất rau cải cho 1 lứa rau bao gồm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và công lao động cho 1 sào theo VietGAP là 1,151 triệu đồng, trong khi chi phí cho sản xuất rau thường chỉ bằng 0,959 triệu đồng/ha Với năng suất và giá bán như nhau, sản xuất rau theo VietGAP sẽ lỗ 2,885 triệu đồng/sào/năm (Nguyễn Quý Bình, 2011) Vì vậy, cần thiết phải tiến hàng nghiên cứu, điều tra chi tiết, khoa học trên qui mô diện rộng để có thể kết luận và có kết quả khoa học so sánh giá thành, chi phí cho sản xuất rau theo VietGAP và không áp dụng VietGAP; Đồng thời để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau an toàn áp dụng VietGAP phải nâng cao giá bán rau an toàn và tìm đầu ra ổn định thì mới có thể khuyến khích người dân sản xuất rau an toàn

2.3 HẠN CHẾ VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG VIETGAP

Mặc dù sản xuất thực phẩm an toàn theo VietGAP đã và đang từng bước khẳng định vai trò quan trọng, quy mô sản xuất thực phẩm an toàn theo VietGAP vẫn còn ở mức rất khiêm tốn với 0,1% tổng diện tích canh tác Việc áp dụng VietGAP còn gặp nhiều khó

khăn và hạn chế Có thể tóm tắt như sau:

- Sản xuất nông nghiệp của nước ta có qui mô nhỏ lẻ, manh mún

- Trình độ và ý thức của người sản xuất về đảm bảo VSATTP chưa tốt, chưa tự giác

tuân thủ các quy định của VietGAP

- Chưa hình thành mối liên kết hoặc liên kết chưa chặt chẽ trong chuỗi cung ứng

giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm an toàn

- Chi phí chứng nhận sản xuất theo VietGAP vượt quá khả năng của người sản xuất,

trong khi lợi ích của các sản phẩm theo VietGAP chưa rõ ràng

- Yêu cầu về ghi chép và lập hồ sơ lưu trữ còn phức tạp và chưa phù hợp với thói

quen của nông dân dẫn đến khó khăn trong việc đánh giá chứng nhận

- VietGAP còn 1 số yêu cầu khó, không thực tế, không khả thi đối với một số đối

tượng

- Việc chứng nhận VietGAP chưa đi vào thực chất, phục vụ nhu cầu thật của người

sản xuất và kinh doanh, chủ yếu là thực hiện và hỗ trợ của các chương trình, dự án, không

xuất phát từ nhu cầu thực của thị trường

Nhiều ý kiến cho rằng, áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP là một quá trình lâu dài, bền bỉ, trong đó, trước mắt cần tập cho nông dân thói quen ghi chép sổ tay, bởi đây

là một trong những tiêu chuẩn rất quan trọng và thiết yếu Điều kiện tiên quyết cho thành công của các mô hình sản xuất theo GAP là phải có đầu ra ổn định cho sản phẩm Cho nên phải có sự liên kết “4 nhà” chặt chẽ, doanh nghiệp phải có kế hoạch bao tiêu sản phẩm cho nông dân một cách thuận lợi và dễ dàng Tuy nhiên quan trọng hơn hết là cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, người sản xuất, kinh doanh,

Trang 6

và cả người tiêu dùng về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm rau, quả Người sản xuất cần thay đổi thói quen làm ăn nhỏ, manh mún, chạy theo lợi nhuận trước mắt, các

cơ quan có trách nhiệm cần tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng rau, quả khi đến

người sử dụng phải thật sự an toàn, phù hợp tiêu chuẩn VietGAP (http://agriviet.com)

Việc đưa vào áp dụng VietGAP/ GMPs trong các trang trại, hộ nông dân sản xuất rau, thịt gà đòi hỏi phải đầu tư thêm về cơ sở vật chất, nâng cao điều kiện sản xuất đáp ứng được yêu cầu của VietGAP, VietGAHP, GMPs; đồng thời đòi hỏi sử dụng nhiều công lao động hơn trong các công việc kỹ thuật cụ thể, công việc ghi chép, cán bộ làm công việc giám sát đòi hỏi thêm so với sản xuất truyền thống Tuy nhiên trong thực tế sản xuất nếu

áp dụng theo VietGAP, VietGAHP, GMPs sẽ giảm thiểu và tiết kiệm được phân lớn chi phí vật tư đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y Hiện tại chưa có có các thông tin nào cho thấy khi áp dụng GPPs (VietGAP, VietGAHP, GMPs) thì các chi phí sản xuất, công lao động, năng suất và cuối cùng là lợi nhuận của việc áp dụng GPPs tăng hay giảm

và phù hợp với những quy mô sản xuất nào để xác định giá tối thiểu của thị trường khi xây dựng chiến lược marketing

Ngoài ra khi đưa các sản phẩm áp dụng GPPs vào kinh doanh cũng đòi hỏi các cơ

sở kinh doanh, bán lẻ phải thay đổi phương thức kinh doanh, ví dụ như: khi áp dụng quản

lý chất lượng sản phẩm đối với từng lô hàng đòi hỏi phải có thông tin truy nguyên nguồn gốc sản phẩm và phải có nhãn mác mới Dự án không nắm bắt được liệu việc các cơ sở kinh doanh phân phối và bán lẻ có sẵn sàng thực hiện như vậy không, nếu có thì những vấn đề liên quan về tài chính sẽ như thế nào (ví dụ như: các chi phí có tăng hay giảm không, v.v.) Tuy nhiên hiện tại vẫn chưa có câu trả lời cho vấn đề này Với việc không có

đủ thông tin như vậy, dự án không có đủ điền kiện để xác định được những hỗ trợ cụ thể cho các thành phần tham gia (như cơ sở kinh doanh phân phối, bán buôn, bán lẻ) để có thể hình thành được kênh phân phối mới cho các sản phẩm được sản xuất theo GPPs

Trang 7

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP TÀI LIỆU

3.1.1 Điều tra thu thập tài liệu thứ cấp

- Tập hợp và hệ thống hóa tài liệu đã được công bố qua sách báo, công văn, báo cáo tổng kết của các sở ban ngành các cấp, các số liệu thống kê tỉnh, huyện, bài báo, đề tài, các tài liệu khác về thực hành sản xuất tốt (GAPs, GAHPs và GMPs) đối với rau và thịt gà Các tài liệu này cung cấp các thông tin về vấn đề nghiên cứu tổng quan, tình hình sản xuất,

sơ chế, chế biến, bảo quản và tiêu thụ các sản phẩm này, cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất khi áp dụng thực hành sản xuất tốt của Nhà nước

- Các báo cáo thuyết minh dự án, kế hoạch triển khai mô hình thí điểm, báo cáo tổng kết, sơ kết về tiến độ thực hiện mô hình thí điểm của dự án (so với kế hoạch) của các điểm tham gia thực hiện mô hình thí điểm Tài liệu này được cung cấp bởi Ban điều phối

dự án

- Cách thu thập: Tìm, đọc, sao chép, trích dẫn

3.1.2 Điều tra thu thập tài liệu sơ cấp

a) Thu thập qua điều tra phỏng vấn

Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA) trong việc thu thập thông tin sơ cấp, cụ thể:

- Gặp lãnh đạo và các cán bộ địa phương khi bắt đầu công việc tại địa phương để kiểm chứng lại giả định, kế hoạch và giải tỏa mọi thông tin liên quan chưa rõ, nghi ngờ;

- Gặp gỡ những người trực tiếp sản xuất, các tác nhân tham gia kinh doanh có khả năng tiếp cận nhanh

- Giải thích cho các tác nhân lí do của nghiên cứu này và phương thức đánh giá, lượng hóa;

- Lựa chọn các hộ, tác nhân kinh doanh tham gia, tên, địa chỉ để liên hệ; Phải đảm bảo rằng những người này có khả năng cung cấp thông tin và có quan điểm rõ ràng;

- Chọn mẫu điều tra: số lượng mẫu nghiên cứu phải dựa trên những điều tra ban đầu khi dự án bắt đầu thực hiện Các đối tượng phỏng vấn bao gồm: nông dân, trang trại, người thu gom, bán buôn, bán lẻ, một số cơ sở sơ chế, chế biến ở các địa phương có triển khai dự

án

b) Thu thập qua hướng dẫn/theo dõi ghi chép tại cơ sở

- Lập biểu mẫu ghi chép/sổ sách thông tin có liên quan đến việc xác định hình thành giá sản phẩm, sản lượng sản xuất, giá bán và doanh thu (chi tiết xem phụ lục biểu mẫu)

- Thực hiện việc hướng dẫn

- Áp dụng việc ghi chép với các tác nhân áp dụng và chưa áp dụng thực hành sản xuất tốt bao gồm: nông dân, trang trại, người thu gom, bán buôn, bán lẻ, một số cơ sở sơ chế, chế biến ở các địa phương có triển khai dự án;

Trang 8

- Tiến hành kiểm tra/theo dõi tính thực tiễn và việc ghi chép sổ của các tác nhân tham

gia

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn linh hoạt đối với các

thành viên am hiểu lĩnh vực sản xuất rau, chăn nuôi gà ở các địa phương

● Phân bổ số mẫu gửi sổ thu thập đối với mặt hàng rau là:

doanhTổng

số

Áp dụng VietGA

P của dự

án cida

Áp dụng VietGAP của dự khác

Không áp dụng VietGAP

Tổng

số

Áp dụng VietGAP của dự án cida

Áp dụng VietGA

P của dự khác

Không áp dụng VietGAP

● Phân bổ số mẫu gửi sổ thu thập đối với ngành hàng thịt gà là:

doanhTổng

số

Áp dụng VietGA

P của dự

án cida

Áp dụng VietGAP của dự khác

Không áp dụng VietGAP

Tổng số Áp dụng

VietGAP của dự án cida

Áp dụng VietGAP của dự khác

Không

áp dụng VietG

AP

● Địa điểm thu thập thông tin

chọn

Đối tượng Tác nhân Các dự án tài trợ

Thanh Hóa

Xã Quảng Thắng- TP Thanh Hóa

Xã Hoằng Hợp/huyện Hoằng

Hóa

Lâm Đồng Xã Tân Hội huyện

Trang 9

Global GAP

Đồng Nai

3.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH

3.2.1 Phương pháp tính Chi phí

Chi phí sản xuất: bao gồm những chi phí vật tư đầu vào sản xuất, khấu hao tài sản, công lao động mà hộ/trang trại sản xuất đã chi ra trong một vụ sản xuất rau hoặc một chu kỳ chăn nuôi gà thịt Mỗi khoản mục chi phí sản xuất để tính giá thành sản xuất rau và thịt gà phải được phân tích, xác định rõ về số lượng, giá trị tại cùng thời gian và địa điểm chi ra

3.2.2 Đơn vị tính

Tính chi phí sản xuất theo từng yếu tố chi phí và tính thành tiền đồng (VNĐ) và quy

về cho một hecta (đồng/ha) cho rau và đồng/lứa (1000 con) cho gà

Tính giá thành sản xuất rau/gà theo từng khoản mục cụ thể và thể hiện bằng tiền đồng (VNĐ) cho một kg rau/gà (đồng/kg)

3.2.3 Phương pháp tính toán

a) Năng suất (W): Tính năng suất thực tế thu hoạch

Khi tính năng suất thực tế thu hoạch cần tập hợp từ sổ sách ghi chép và phỏng vấn trực tiếp hộ sản xuất; kết hợp xem xét số liệu thống kê về năng suất các vụ (năm) liền kề của cơ quan thống kê và xem xét mối quan hệ giữa suất đầu tư với năng suất rau và gà với

hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật đã có (nếu có) và kinh nghiệm theo dõi thực tế nhiều năm của các cơ quan nông nghiệp, thống kê, Viện nghiên cứu, Đơn vị tính năng suất rau thống nhất là: tạ/ha Đối với gà thì tính theo số kilogam/lứa (số kilogam/1000 con)

b) Xác định tổng chi phí sản xuất thực tế (TCtt)

Công thức: TCtt = C + V – PthTrong đó:

- TCtt là Tổng chi phí sản xuất thực tế trên đơn vị

- C là Chi phí vật chất trên đơn vị

- V là Chi phí lao động trên đơn vị

- Pth là Giá trị sản phẩm phụ thu hồi trên đơn vị

c, Phương pháp xác định giá thành sản xuất

Xác định giá thành sản xuất thực tế ( Ztt)

Ztt = TCtt

W

Trang 10

3.2.4 Phương pháp hạch toán chi phí và kết quả sản xuất

Phương pháp này được sử dụng để tính các chỉ tiêu:

+ Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ mà các hộ thu được trong một chu kì sản xuất

+ Chi phí trung gian (IC): là chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất của cải vật chất và dịch vụ khác trong một thời kỳ sản xuất

+ Giá trị gia tăng (VA): Là toàn bộ phần giá trị sản xuất được tăng lên trong quá trình sản xuất của 1 năm, được tính theo công thức: VA = GO - IC

+ Thu nhập hỗn hợp (MI): là một phần của giá trị gia tăng sau khi đã trừ đi khấu hao tài sản cố định (A), thuế (T) và lao động thuê (nếu có) Như vậy, thu nhập hỗn hợp bao gồm cả công lao động gia đình MI = VA - (A + T) - lao động thuê ngoài (nếu có)

3.2.5 Phương pháp phân tích ngành hàng

Một số khái niệm dùng cho tính toán

- Sản phẩm P (product): là doanh thu của từng cá nhân, được tính bằng lượng sản phẩm nhân với đơn giá

+ Chi phí trung gian (intermediate cots) là chi phí về những yếu tố vật chất tham gia vào một quá trình sản xuất - kinh doanh

+ Giá trị gia tăng thô VA (Value Added) là giá trị mới tạo thêm của mỗi tác nhân

do hoạt động kinh tế về việc sử dụng tài sản cố định, vốn là đầu tư lao động dưới ảnh hưởng của chính sách thuế Nhà nước Ta có VA = P - IC

+ Lãi gộp GPr (Gross Profit): là khoản lợi nhuận thu được sau khi trừ đi tiền thuê lao động (W), chi phí cơ hội của lao động gia đình (L), thuế (T) và chi phí về tài chính (FF) GPr = VA - (W + L + T + FF)

+ Lãi ròng NPr (Net Profit): là phần lãi sau khi lấy lãi gộp trừ đi hao mòn tài sản cố

định (A) NPr = GPr - A

Phương trình cân bằng trong hạch toán tài chính: P = IC + VA

3.2.6 Phương pháp phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức

Phương pháp SWOT được sử dụng để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội

và thách thức khi áp dụng thực hành nông nghiệp tốt SWOT là ma trận kết hợp giữa phân tích, dự báo bên trong và bên ngoài Sử dụng phương pháp SWOT để tìm ra các cơ hội có thể tận dụng và thách thức có thể phải đối mặt cùng với điểm mạnh và điểm yếu từ môi trường bên trong, giúp ta nhận diện vấn đề một cách đầy đủ Phương pháp này cho phép chúng ta lựa chọn các phương án chiến lược bằng cách kết hợp S-O; S-T; W-O; W-T

Trang 11

Với ma trận phân tích SWOT, nội dung tại 4 ô kết hợp (SO, WO, ST, và WT) sẽ cho phép đề xuất các giải pháp

Bên trong

Bên ngoài

Điểm mạnh (S) S1………

S2………

Điểm yếu (W) W1…………

Sơ đồ Ma trận phân tích SWOT

3.2.7 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

3.2.7 1 Các chỉ tiêu định lượng

- Giá trị sản xuất (GO)

- Giá trị gia tăng (VA)

- Thu nhập hỗn hợp (MI)

- Giá trị gia tăng (VA)/chi phí trung gian (IC)

- Thu nhập hỗn hợp (MI)/ngày công Lao động

3.2.7.2 Các chỉ tiêu định tính

- Nâng cao thu nhập

- Nâng cao năng lực trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm

- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

- Sản phẩm sản xuất ra đảm bảo chất lượng

- Giá bán tăng

- Các hợp đồng được kí kết

3.3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Thanh Hóa: mướp hương và cải ngọt HTX Quảng Thắng (TP Thanh Hoá) và công ty VRAT (xã Hoằng Hợp, huyện Hoằng Hoá, Thanh Hóa)

Lâm Đồng: cà chua (huyện Đức Trọng, Lâm Đồng) và cải bắp (TP ĐÀ Lạt, Lâm Đồng)

Đồng Nai: gà trắng và gà nâu

3.3.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Thu thập thông tin, xác định lựa chọn các cơ sở tham gia áp dụng và

không áp dụng thực hành sản xuất tốt của ngành hàng rau, thịt gà

Trang 12

Nội dung 2: Điều tra, tập huấn, giám sát thu thập thông tin, số liệu về chi phí vật tư đầu

vào và các yếu tố chi phí liên quan giá thành sản phẩm tại các đơn vị sản xuất, hộ nông dân, trang trại, cơ sở sơ chế/giết mổ và lưu thông sản phẩm rau và thịt gà an toàn áp dụng và không

áp dụng thực hành sản xuất tốt thông qua thực tế sản xuất

Nội dung 3: Phân tích cơ cấu các loại chi phí, đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế khi

áp dụng các thực hành sản xuất tốt (GAPs, GAHPs và GMPs) và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí khi áp dụng các thực hành sản xuất tốt (GAPs, GAHPs và GMPs) đối với rau và gà an toàn

Nội dung 4: Báo cáo tổng kết đưa ra các đề xuất, giải pháp thực hiện sản xuất, kinh

doanh nhằm tối ưu hóa lợi ích kinh tế của các thành phần tham gia để thích ứng với việc

áp dụng GAPs, GAHPs và GMPs trong thời gian tới

Đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất, tăng hiệu quả sản xuất cho từng tác nhân tham gia chuỗi (người sản xuất, thu mua, sơ chế/chế biến, vận chuyển, phân phối & tiêu thụ) và mang lại lợi ích kinh tế toàn cục, phát triển bền vững (bảo vệ môi trường, giảm dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm) ngành hàng rau và thịt gà

Trang 13

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM RAU Ở THANH HÓA 4.1.1 Thực trạng sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau

4.1.1.1 Thực trạng sản xuất rau giai đoạn 2006 - 2011

a) Diện tích, năng suất và sản lượng rau

- Diện tích gieo trồng các loại rau đậu năm 2006 của tỉnh Thanh Hóa đạt 28.020 ha,

trong đó diện tích gieo trồng rau ở các huyện đồng bằng là 13.126 ha, chiếm 46,84%; các huyện vùng ven biển là 8.015 ha, chiếm 28,60% và các huyện miền núi là 6.879 ha; chiếm 24,56 %; Năm 2011 diện tích rau đậu các loại là 33.000 ha Nếu so với năm 2006, diện tích gieo trồng rau toàn tỉnh năm 2011 tăng thêm 4.980 ha, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 2,77%/năm

- Ở vùng đồng bằng, huyện có diện tích rau các loại nhiều nhất là Thọ Xuân 4.078

ha, Yên Định 2.738 ha, Nông Cống 2.268 ha, Các huyện vùng Ven biển có diện tích trồng rau lớn là Hoằng Hóa 3.268 ha, Quảng Xương 2.665 ha, Hậu Lộc 2.364 ha, Các huyện miền núi có diện tích rau lớn như Bá Thước 1.571 ha, Ngọc Lặc 1.360 ha,

Ngoài ra, những năm gần đây do nhu cầu của một số cơ sở chế biến (theo hình thức muối) rau ăn quả (dưa chuột, ớt), đã hình thành một số vùng nguyên liệu rau ăn quả trên địa bàn một số huyện như: huyện Thiệu Hoá, huyện Hậu Lộc, huyện Quảng Xương, huyện Hoằng Hoá, huyện Nga Sơn Tuy nhiên, diện tích các vùng nguyên liệu này thường không

ổn định, phụ thuộc theo đơn đặt hàng và hợp đồng mùa vụ của các cơ sở chế biến

- Năng suất rau đậu trung bình toàn tỉnh năm 2006 là 100 tạ/ha, năm 2007 là 100,2 tạ/ha, năm 2008 là 100,5 tạ/ha, năm 2009 là 100,3 tạ/ha, năm 2010 là 102,5 tạ/ha, năm

2011 là 113,8 tạ/ha, bình quân tăng 2,18 %/năm

Bảng 4.1 Thống kê diện tích, năng suất, sản lượng rau, đậu các loại

1 Diện tích (ha) 28.020 32.234 37.550 35.691 36.800 33.000

3 Sản lượng (tấn) 280.200 322.984 377.478 357.878 377.400 375.606

Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa

- Sản lượng rau các loại năm 2006 là 280.200 tấn, năm 2011 là 375.606 tấn Sản lượng rau tăng bình quân 5%/năm trong giai đoạn 2006 - 2011

b) Cơ cấu thời vụ và chủng loại rau

- Cơ cấu thời vụ: Trong giai đoạn 2006 - 2011, chủ yếu tập trung vào vụ đông (chiếm 75-80%), diện tích rau vụ mùa còn ít (chiếm 20-25%) Điều này thường dẫn đến hiện tượng dư thừa một số loại rau vào chính vụ và thiếu rau trong thời kỳ giáp vụ (Rau chủ yếu được trồng ở vụ Đông bởi thời tiết khí hậu phù hợp với nhiều loại rau, đặc biệt là các loại rau có nguồn gốc ôn đới; trồng rau trên diện tích đất 2 vụ lúa 1 vụ màu)

Trang 14

- Về chủng loại rau: Các loại rau trên địa bàn tỉnh được trồng rất phong phú và đa dạng về chủng loại và hầu hết có nguồn gốc ôn đới, nên chủ yếu được trồng ở vụ Đông (chiếm 75-80%) như: cải bắp, su hào, cà chua, hành tươi, khoai tây, rau thơm các loại Chỉ có một số loại rau được trồng ở vụ mùa như: rau muống, đậu các loại, rau cải, một số loại rau ăn quả (như su su, mướp đắng)

Cùng với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, nhiều giống rau mới có năng suất, chất lượng, thích nghi với điều kiện thời tiết, khí hậu của Thanh Hoá như cải bắp, dưa chuột, cà chua chịu nhiệt đã được đưa vào trồng thành công, làm cho diện tích rau trồng trái vụ đang được tăng lên

4.1.1.2 Thực trạng chế biến, tiêu thụ rau

Hiện nay, công tác chế biến rau chưa được quan tâm thực hiện, sản phẩm trong quá trình vận chuyển, tiêu thụ bị hao hụt nhiều, chất lượng không được duy trì, thời gian bảo quản ngắn (do dễ bị thối, hỏng, xuống cấp ) làm ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của người sản xuất, kinh doanh rau Theo số liệu thống kê năm 2011, toàn tỉnh có khoảng 1.000 tấn rau ăn quả (dưa chuột, ớt) được chế biến (theo hình thức muối) bởi Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tư Thành (Lô B-Khu Công nghiệp Lễ Môn) và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu rau, quả Thanh Hóa (Số 269 Đường Bà Triệu - thành phố Thanh Hóa) chiếm khoảng 0,3% tổng sản lượng rau của toàn tỉnh; còn lại, phần lớn lượng rau sản xuất ra không qua chế biến

mà được đưa thẳng ra thị trường tiêu thụ dưới các hình thức sau:

- Người sản xuất tự mang đi bán: Sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ tại các chợ nội địa (chiếm khoảng 60-70% tổng sản lượng rau các loại)

- Bán buôn và bán theo hợp đồng thoả thuận trước giữa người sản xuất và đơn vị thu mua (chiếm khoảng 30 - 40% tổng sản lượng rau các loại)

4.1.1.3 Những tồn tại, hạn chế trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau

- Mặc dù tiềm năng diện tích sản xuất rau là rất lớn, nhưng phần lớn diện tích sản xuất rau nằm rải rác, không tập trung, do đó việc quản lý sản xuất rau còn gặp nhiều khó khăn

- Diện tích trồng rau vụ đông trên đất 2 lúa 1 màu tương đối lớn, không ổn định, phụ thuộc nhiều vào thị trường Do vậy thường dẫn đến hiện tượng thừa rau vào vụ đông

thấp, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có

- Trong sản xuất rau vẫn còn tình trạng lạm dụng phân bón, thuốc BVTV; sử dụng nước tưới không đảm bảo, dẫn đến vẫn tiềm ẩn các mối nguy mất ATTP (mối nguy về dư

Trang 15

lượng Nitrat, dư lượng kim loại nặng, dư lượng thuốc BVTV, ô nhiễm vi sinh vật) gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và tâm lý người tiêu dùng

- Việc tiêu thụ rau không ổn định, chủ yếu vẫn được bán tại các chợ nội địa, giá cả bấp bênh không ổn định

- Sản xuất rau chưa tạo được liên kết bền vững giữa bốn nhà (Nhà nước, người sản xuất, Nhà khoa học và Doanh nghiệp), do đó hiệu quả sản xuất chưa cao, việc mở rộng sản xuất còn chậm

4.1.2 Thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau an toàn

4.1.2.1 Thực trạng sản xuất rau an toàn

Sản xuất rau an toàn ở Thanh Hóa mới triển khai ở dạng mô hình áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho rau, quả an toàn tại một số địa phương, sản phẩm rau an toàn sản xuất ra chưa được xác nhận là rau an toàn Các mô hình này đều

có quy mô nhỏ, mới được xây dựng nên mới chỉ thu được kết quả ban đầu Qua khảo sát thống kê, hiện nay trên địa bàn tỉnh có một số mô hình sản xuất rau an toàn tại một số địa phương sau:

- Huyện Hoằng Hoá: Mô hình sản xuất rau an toàn tại xã Hoằng Hợp với diện tích sản xuất rau an toàn tập trung chuyên canh là 20 ha và khoảng 27 ha sản xuất rau an toàn không chuyên canh; 3 nhà lưới sản xuất rau an toàn chuyên canh tại các xã: Hoằng Kim, Hoằng Khánh, Hoằng Xuân với diện tích 4.300 m2/nhà lưới

- Thành phố Thanh Hoá: Mô hình sản xuất rau an toàn tại: xã Quảng Thành với diện tích sản xuất rau tập trung chuyên canh là 3 ha và khoảng 8 - 10 ha sản xuất rau an toàn không chuyên canh; xã Đông Cương với diện tích sản xuất rau tập trung chuyên canh là 3 ha và khoảng 8 - 10 ha sản xuất rau an toàn không chuyên canh; xã Quảng Thắng với diện tích sản xuất rau an toàn tập trung chuyên canh là 12,5 ha

- Huyện Yên Định: Mô hình sản xuất rau an toàn tại xã Định Liên với diện tích sản xuất rau an toàn tập trung chuyên canh là 2 ha và khoảng 8 - 10 ha sản xuất rau an toàn không chuyên canh

- Huyện Tĩnh Gia: Mô hình sản xuất rau an toàn tại xã Bình Minh với diện tích sản xuất rau an toàn tập trung chuyên canh là 4,3 ha và khoảng 10 ha sản xuất rau an toàn không chuyên canh

Ngoài ra, còn một số điểm sản xuất rau an toàn với diện tích nhỏ, không ổn định, không chuyên canh, tập trung tại một số huyện như: huyện Nga Sơn, huyện Hậu Lộc, huyện Thiệu Hoá, huyện Quảng Xương

Trong số các mô hình sản xuất rau an toàn hiện nay, mô hình: xã Hoằng Hợp - huyện Hoằng Hoá (4,5 ha) và xã Quảng Thắng - TP Thanh Hoá (2,5ha) do dự án Canada tài trợ được triển khai, giám sát áp dụng VietGAP theo chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm đảm bảo chất lượng sản phẩm rau an toàn cung cấp cho người tiêu dùng

Trang 16

Chủng loại rau an toàn từ các mô hình rất đa dạng, trong đó chủ yếu là: Rau ăn lá (Mồng tơi, Rau cải các loại, Rau muống, Rau mùi, Xà lách, Bắp cải ); Rau ăn quả (Mướp, mướp đắng, Su su, Dưa chuột, Cà chua, Đậu leo, Đậu cô ve vàng, Đậu cô ve xanh ); Rau gia vị (rau húng các loại, rau mùi tàu, rau tía tô )

Năng suất, sản lượng rau an toàn từ các mô hình còn thấp, phụ thuộc nhiều vào từng mùa vụ Theo kết quả điều tra năm 2011, từ các mô hình sản xuất rau an toàn cho thấy năng suất rau an toàn đạt khoảng 80 - 100 tạ/ha (so với sản xuất thông thường là 100 -

113 tạ/ha), sản lượng rau an toàn đạt khoảng 500 tấn

4.1.2.2 Thực trạng chế biến, tiêu thụ rau an toàn

Việc chế biến rau an toàn hiện nay chưa được thực hiện, toàn tỉnh mới có 02 nhà sơ chế rau, quả an toàn tại 2 mô hình sản xuất rau áp dụng VietGAP (nhà sơ chế rau, quả an toàn của HTX Hoằng Hợp, công suất sơ chế 300 kg/giờ và nhà sơ chế rau, quả an toàn của HTX Quảng Thắng, công suất sơ chế 200 kg/giờ) thực hiện sơ chế sản phẩm trước khi đem đi tiêu thụ, tuy vậy sản phẩm rau an toàn được qua nhà sơ chế còn ít, do chưa có nhiều đơn hàng, hợp đồng tiêu thụ rau an toàn được ký kết

Việc tiêu thụ sản phẩm rau an toàn từ các mô hình hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, do sản phẩm rau an toàn chưa được xác nhận, chưa có sự phân biệt với rau thông thường, giá bán cao hơn rau thông thường nên chưa chiếm được sự tin tưởng của người tiêu dùng Chủ yếu rau an toàn đang được tiêu thụ dưới các hình thức sau:

- Người sản xuất rau an toàn tự mang đi bán: Sản phẩm được bán tại các chợ nội địa, các điểm bán lẻ (chiếm 30 - 40% tổng sản lượng)

- Bán buôn và bán theo hợp đồng thoả thuận trước giữa người sản xuất và đơn vị thu mua (chiếm khoảng 60 - 70%)

Theo kết quả điều tra, trên địa toàn tỉnh Thanh Hoá hiện có 03 cơ sở kinh doanh rau

an toàn, đó là:

- Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất và cung ứng rau, quả an toàn VRAT thực hiện liên kết với các hộ sản xuất của mô hình sản xuất rau an toàn xã Hoằng Hợp để thu mua rau và cung ứng cho một số bếp ăn tập thể tại các trường học bán trú trên địa bàn thành phố Thanh Hoá, với lượng tiêu thụ khoảng 150 kg/ngày

- Siêu thị thực phẩm sạch - Rau an toàn thuộc Công ty cổ phần Tân Thành Phát, lượng tiêu thụ khoảng 80 kg/ngày

- Siêu thị Big C thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn EB Thanh Hoá, lượng tiêu thụ khoảng 100 kg/ngày

4.1.2.3 Những tồn tại, hạn chế trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau an toàn

- Sản xuất rau an toàn mặc dù đã có quy hoạch được UBND tỉnh phê duyệt nhưng việc hình thành các vùng rau an toàn tập trung theo quy hoạch tại các huyện, thị xã và thành phố còn chậm, do đó chưa thu hút được sự đầu tư từ các doanh nghiệp, các nhà tiêu thụ

Trang 17

- Sản phẩm rau an toàn bước đầu đã được đưa ra tiêu thụ tại các cửa hàng, các siêu thị, các bếp ăn tập thể Tuy nhiên, sản phẩm rau an toàn lưu thông trên thị trường chưa được xác nhận nên chưa chiếm được lòng tin của người tiêu dùng, việc tiêu thụ còn gặp nhiều khó khăn

- Các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá cho rau an toàn đã được triển khai nhưng chưa hiệu quả do vẫn chưa tạo được sự khác biệt giữa sản phẩm rau an toàn và rau thông thường trên thị trường

- Hệ thống cơ chế, chính sách còn thiếu chưa khuyến khích phát triển sản xuất và tiêu thụ rau an toàn

4.1.3 Công tác quản lý Nhà nước về sản xuất, kinh doanh rau và rau an toàn

Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng trong việc phát triển sản xuất rau an toàn, được sự quan tâm, chỉ đạo của UBND tỉnh, công tác quản lý Nhà nước về sản xuất, kinh doanh rau và rau an toàn bước đầu đã thu được một số kết quả sau:

- Xây dựng và trình UBND tỉnh ban hành Quyết định số 4152/QĐ-UBND ngày 13/12/2011 của UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển các vùng sản xuất rau an toàn tập trung trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2015, định hướng đến năm 2020

- Xây dựng và triển khai có hiệu quả một số mô hình sản xuất rau an toàn tại các địa phương (như xã Hoằng Hợp, xã Hoằng Khánh, xã Hoằng Kim, xã Hoằng Xuân - huyện Hoằng Hoá; xã Quảng Thành, xã Đông Cương, xã Quảng Thắng - thành phố Thanh Hoá;

xã Bình Minh - huyện Tĩnh Gia, xã Định Liên - huyện Yên Định) nhằm chuyển giao các kiến thức, các tiến bộ khoa học công nghệ về rau an toàn, từ đó hướng người sản xuất tiếp cận với rau an toàn Trong số các mô hình đã triển khai, hiện có mô hình xã Hoằng Hợp (quy mô 4,5 ha) và mô hình xã Quảng Thắng (quy mô 2,5 ha) đang được tổ chức chứng nhận tiến hành đánh giá, giám sát và xác nhận quá trình sản xuất, sơ chế rau của nhà sản xuất phù hợp với VietGAP (dự kiến sẽ có kết quả trong tháng 11/2012)

- Tổ chức cấp 05 giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn với tổng diện tích 73 ha, chiếm khoảng 0,2% diện tích gieo trồng rau toàn tỉnh; cấp 02 giấy chứng nhận

đủ điều kiện sơ chế rau, quả an toàn và cấp 02 giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP trong kinh doanh rau, quả an toàn

- Năm 2010 - 2011, Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thuỷ sản đã tiến hành kiểm tra, đánh giá điều kiện đảm bảo ATTP của 42 cơ sở sản xuất, kinh doanh rau trên địa bàn tỉnh; phân tích định lượng 153 mẫu sản phẩm cho thấy: có 25/41 mẫu có dư lượng Nitrat vượt quá ngưỡng tối đa cho phép theo quy định hiện hành (chiếm 61%), 39/90 mẫu có nhiễm vi sinh vật (E.Coli và Coliform) vượt quá ngưỡng tối đa cho phép (chiếm 43,3%), 24/108 mẫu có phát hiện dư lượng một số hoá chất thuốc BVTV vượt quá ngưỡng cho phép (chiếm 22,2%), 8/54 mẫu có dư lượng kim loại nặng vượt quá ngưỡng tối đa cho phép (chiếm 14,8%) Chi Cục Bảo vệ thực vật đã tổ chức phân tích nhanh dư lượng thuốc BVTV

Trang 18

thuộc nhóm lân hữu cơ và carbamate bằng dụng cụ GT Test kít trên 1.500 mẫu rau cho thấy

có 140 mẫu không an toàn (chiếm 9,3%)

- Tổ chức 02 lớp tập huấn cấp tỉnh với hơn 200 học viên tham gia; 8 lớp tập huấn cấp huyện, thị xã, thành phố với trên 500 học viên tham gia về nội dung Phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sản xuất rau an toàn và tập huấn kiến thức về sản xuất rau an toàn cho các cơ sở, mô hình rau an toàn, cán bộ được giao nhiệm vụ quản lý chất lượng rau an toàn tại địa phương

- Hàng năm, đã thực hiện xây dựng, thiết kế, in ấn, phát hành nghìn tờ rơi, tờ dán,

áp phích, băng đĩa với nội dung về rau an toàn; phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Trung tâm khuyến nông tỉnh xây dựng và phát các chuyên mục tuyên truyền phổ biến các quy định của nhà nước, các mô hình về rau an toàn đến người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trên địa bàn tỉnh

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý Nhà nước về sản xuất, kinh doanh rau và rau an toàn vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau:

- Việc sản xuất rau, rau an toàn còn manh mún, nhỏ lẻ nên khó khăn trong việc kiểm soát các mối nguy gây mất ATTP, truy nguyên nguồn gốc sản phẩm khi cần thiết

- Công tác tuyên truyền, tập huấn, kiểm tra, giám sát rau, rau an toàn mặc dù đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa cao, do số lượng còn ít, phạm vi còn nhỏ, mới mang tính đại diện, chưa thường xuyên, chưa sâu rộng

- Hệ thống các văn bản quản lý nhà nước về sản xuất rau an toàn đã đầy đủ, nhưng chưa đồng bộ, chưa theo kịp với tình hình thực tế của từng địa phương Hệ thống cơ chế, chính sách về rau an toàn còn thiếu, chưa khuyến khích được sự phát triển sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tập trung, quy mô lớn

- Trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng rau còn thiếu, đặc biệt là các trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra, đánh giá nhanh chất lượng rau lưu thông trên thị trường Việc quản lý mới ở mức chứng nhận vùng, cơ sở đủ điều kiện sản xuất, sơ chế, kinh doanh rau an toàn

- Công tác quản lý chất lượng rau, rau an toàn trên địa bàn tỉnh chưa hệ thống; tại các huyện, thị xã, thành phố chưa có cán bộ chuyên trách về rau an toàn, chưa chủ động thực hiện tốt công tác quản lý chất lượng rau, rau an toàn thuộc phạm vi trách nhiệm

4.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM RAU Ở LÂM ĐỒNG

Lâm Đồng được biết đến không chỉ là tỉnh có thành phố du lịch nổi tiếng Đà lạt mà

là vùng trồng rau nổi tiếng của cả nước Với diện tích tích gieo trồng cây nông nghiệp trên toàn tỉnh trong năm 2011 là 315.828 ha ha, Lâm đồng có tới 44.159 ha trồng rau cung cấp 1.398.469 tấn rau xanh các loại cho không chỉ người dân trong tỉnh, các thành phố lớn trong nước mà còn được xuất khẩu sang các nước lân cận Trong đó sản phẩm xuất khẩu hàng năm 13.000 - 14.000 tấn thành phẩm, tương đương với 100.000 - 140.000 tấn nguyên liệu chiếm 16 - 18% tổng sản lượng rau

Trang 19

Nguồn lợi do ngành hàng rau góp một phần lớn thúc đẩy sự tăng trưởng về kinh tế chung của tỉnh đồng thời giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn, giúp ổn định tình hình xã hội

Do tập quán canh tác, tốc độ chuyên môn hóa cao, chạy theo lợi nhuận mà người trồng rau ở Lâm Đồng đang lạm dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, hoặc áp dụng quy trình chăm sóc thiếu khoa học đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường canh tác như đất, nước, hệ côn trùng có lợi, dẫn đến sản phẩm rau chưa đảm bảo chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh Chỉ tính riêng yếu tố dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, theo kết quả phân tích của Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng, 9 tháng đầu năm 2008, trong 973 mẫu rau các loại có 92 mẫu không an toàn, chiếm 9,4% Điều này đồng nghĩa là đã có khoảng 65.000 tấn rau không an toàn bán ra thị trường Đây là một con số không nhỏ so với tổng sản lượng rau của Lâm Đồng

4.2.1 Thực trạng sản xuất, sơ chế rau an toàn tại Lâm Đồng

Với những vùng chuyên canh rau lớn và trồng được nhiều loại rau vùng ôn đới cùng thương hiệu rau Đà Lạt, từ nhiều thập niên qua Lâm Đồng là tỉnh sản xuất rau hàng đầu của cả nước Lâm Đồng cũng là tỉnh đi đầu trong việc triển khai các chương trình, dự án sản xuất rau an toàn (RAT)

Một trong những thành tựu đáng kể, đó là vấn đề nâng cao nhận thức sản xuất RAT

đi đôi với đầu tư nghiên cứu, chuyển giao quy trình kỹ thuật cho nông dân đã được tỉnh Lâm Đồng triển khai rất sớm Rất nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực rau quả thuộc nhiều

cơ quan khoa học trong và ngoài nước cũng dành nhiều tâm huyết cho một vùng RAT, chất lượng cao ở Lâm Đồng Nhờ vậy khái niệm “RAT” đã trở nên quen thuộc với nhiều nông dân trồng rau ở những vùng chuyên canh rau quả lớn của Lâm Đồng như: Đà Lạt, Đơn Dương… Quy trình sản xuất RAT đã được nhiều nông dân tiếp cận và không ít nông dân trong số này cũng đã tiến hành việc trồng RAT thông qua các chương trình thí điểm,

hỗ trợ sản xuất RAT… do địa phương tổ chức hoặc tự trồng

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng, Sở đã xây dựng được một quy trình chuẩn với những tiêu chí cụ thể để hướng dẫn nông dân trồng RAT cũng như căn cứ vào đó để xét, cấp chứng nhận RAT Lâm Đồng cũng có nhiều đơn vị đang hoạt động kiểm tra chất lượng an toàn cho rau theo chuẩn của Bộ NN&PTNT Hiện nay trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có đến 138 cơ sở sản xuất, chế biến rau được chứng nhận an toàn theo nhiều quy trình sản xuất Bao gồm: 45 cơ sở được đủ điều kiện sản xuất RAT, 13

cơ sở đủ điều kiện sơ chế RAT, 56 cơ sở được cấp chứng nhận sản xuất theo VietGAP, 11

cơ sở được cấp chứng nhận sản xuất gắn liền với sơ chế theo VietGAP, 4 cơ sở được chứng nhận Metro GAP, 6 cơ sở được cấp chứng nhận sản xuất và sơ chế theo GlobalGAP…

Ngoài việc có nhiều nhà đầu tư thành lập các doanh nghiệp chuyên sản xuất, chế biến RAT để xuất khẩu theo mô hình trang trại gắn liền với nhà máy hoặc liên kết với

Trang 20

nông dân để xây dựng vùng nguyên liệu RAT, ở Lâm Đồng hiện còn có những mô hình trong dân như trang trại, hợp tác xã sản xuất RAT “chuẩn” cả về mọi mặt với quy mô lớn Điển hình như: Trang trại Phong Thúy, HTX Tân Hội (huyện Đức Trọng), HTX xã Anh Đào, HTX Xuân Hương (thành phố Đà Lạt), HTX Thạnh Nghĩa, doanh nghiệp Phú Sĩ nông (huyện Đơn Dương)… Những HTX, trang trại này còn đi đầu và làm rất tốt việc liên kết giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm RAT trong và ngoài nước thông qua hệ thống siêu thị hoặc trực tiếp xuất khẩu

Có thể nói những kết quả bước đầu của sản xuất RAT ở Lâm Đồng đã mang lại hiệu quả về nhiều mặt như: tạo được những mô hình điểm để nhân rộng sản xuất RAT, từng bước tạo được niềm tin trong người tiêu dùng, giúp công tác quản lý nhà nước về RAT, vệ sinh thực phẩm đạt được kết quả cao hơn…

Thế nhưng bên cạnh những kết quả đáng khích lệ thì vấn đề đầu ra cho sản phẩm RAT cho đến nay vẫn còn lắm nỗi lo với bao điều cần phải làm nếu muốn xứng danh là thủ phủ rau của Việt Nam

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng, RAT của các cơ sở được chứng nhận chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ: 6,4% về diện tích và 7,07% về sản lượng, nhưng các hợp đồng tiêu thụ RAT rất hạn chế, sản phẩm của các mô hình an toàn hầu hết là bán

tự do, chỉ một phần nhỏ các sản phẩm RAT sản xuất theo GAP được tiêu thụ ở các siêu thị hoặc các cửa hàng lớn Việc tìm kiếm đầu ra ổn định, quy mô lớn đang là bài toán nan giải không chỉ đối với RAT của Lâm Đồng mà là tình trạng chung của nhiều vùng sản xuất RAT trong cả nước, ngay cả các thành phố lớn

Vì vậy để phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh nghiệm canh tác Lâm Đồng

đã có những giải pháp quyết liệt và đồng bộ, theo một tầm nhìn chiến lược về xu hướng thực phẩm sạch mang tính tất yếu hiện nay Trong đó, việc quy hoạch vùng RAT tập trung

và chủng loại rau để sản xuất RAT là 2 nội dung quan trọng hàng đầu

Bảng 4.2 Quy hoạch vùng sản xuất Rau và Chè an toàn của Lâm Đồng năm 2011

TT Địa phương Diện tích RAT (ha) Chè an toàn (ha)

Trang 21

trang trại… RAT hiện có là điểm xuất phát tốt cả trong việc nhân rộng mô hình sản xuất lẫn việc xây dựng thị trường Xây dựng một hệ thống phân phối “điểm” ở các thành phố lớn trên lợi thế thương hiệu rau Đà Lạt cùng với việc trưng bày, cung cấp những sản phẩm tiêu biểu RAT sẽ đủ sức tạo niềm tin trong người tiêu dùng; từ đó tạo sức bật đầu ra bền vững cho RAT

4.2.2.Thực trạng về cơ sở sản xuất, sơ chế, chế biến nông sản thực phẩm

Theo số liệu thống kê điều tra của Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản năm 2011:

- Hiện có 193 cơ sở sản xuất rau có quy mô >1ha (Trong đó có 174 hộ và 19 doanh nghiệp) với tổng diện tích đất sản xuất là 466,4 ha, Tổng sản lượng tiêu thụ là 40.357 tấn/năm và 110 cơ sở sơ chế, chế biến rau (Trong đó: 80 hộ và 30 doanh nghiệp) tổng diện tích nhà xưởng 30.334 m2, sản lượng tiêu thụ 251.109 tấn/năm

4.2.2.1 Thực trạng về các cơ sở được cấp giấy chứng nhận sản xuất, sơ chế, chế biến

an toàn

* Đối với cơ sở sản xuất sản xuất, sơ chế, chế biến rau: Hiện có 89/303 cơ sở được

cấp giấy chứng nhận sản xuất, sơ chế, chế biến an toàn đang còn thời hạn, với diện tích đất: 464/11.000 ha, chiếm 4,2% tổng diện tích canh tác rau của toàn tỉnh (Trong đó: GlobalGAP:0,2%, VietGAP: 0,7%, MetrolGAP: 0,04%, RAT: 3,3%), sản lượng 90.132/1.398.469 tấn/năm (Trong đó: Có 57/193 cơ sở sản xuất rau với sản lượng: 41.379 tấn/năm, chiếm 5% tổng sản lượng rau tươi trên toàn tỉnh (GlobalGAP:0,5%, VietGAP: 1,8%, MetrolGAP: 0,07%, RAT: 2,6%) và 32/110 cơ sở sơ chế, chế biến rau, sản lượng tiêu thụ: 48.753 tấn/năm, chiếm 40% tổng sản lượng rau thành phẩm đã qua chế biến trên

toàn tỉnh (HACCP: 20%, ISO 22000:2005: 20%)) (Phụ lục 1: danh sách tổng hợp chi tiết

các cơ sở được cấp giấy chứng nhận)

4.2.2.2 Thực trạng về công tác cấp giấy chứng nhận

- Các đơn vị chứng nhận sản xuất an toàn theo VietGAP: Hiện nay trên địa bàn tỉnh

Lâm Đồng có 02 tổ chức cấp chứng nhận VietGAP:

+ Trung tâm phân tích - Viện Nghiên cứu Hạt nhân

+ Trung tâm Phân tích và Chứng nhận chất lượng Lâm Đồng thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng

Ngoài ra còn có các tổ chức chứng nhận ngoài tỉnh được Bộ Nông nghiệp & PTNT chỉ định như:

+ Trung tâm quản lý chất lượng Nông Lâm Thủy sản vùng 1- Hà Nội

+ Trung tâm quản lý chất lượng Nông Lâm Thủy sản vùng 2 - Đà Nẵng

+ Trung tâm quản lý chất lượng Nông Lâm Thủy sản vùng 3 - Nha trang

+ Trung tâm quản lý chất lượng Nông Lâm Thủy sản vùng 4 - TPHCM

+ Trung tâm quản lý chất lượng Nông Lâm Thủy sản vùng 6 - Cần thơ

+ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp bền vững - Hội BVTV VN

Trang 22

+ Viện Nghiên cứu Rau quả- Hà nội

+ Công ty Tư vấn đầu tư phát triển bảo vệ thực vật - Viện BVTV - Hà Nội

+ Công ty CP ENASA Việt Nam

+ Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón Quốc gia + Trung tâm Tư vấn và Phát triển nông nghiệp bền vững - Hội BVTV VN

+ Trung tâm kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3

- Đơn vị chứng nhận sản xuất an toàn theo GlobalGAP, Organic: Hiện nay các cơ

sở sản xuất nông nghiệp an toàn tại Lâm Đồng được cấp giấy chứng nhân sản xuất an toàn theo GlobalGAP do tổ chức Hà Lan cấp cụ thể như Control Union Certifications

- Đơn vị chứng nhận sản xuất an toàn theo MetroGAP: Do hệ thống siêu thị Metro

đặt ra nhằm chứng nhận chất lượng cho sản phẩm của Metro tiêu thụ trên toàn quốc

- Đơn vị chứng nhận chế biến an toàn theo tiêu chuẩn HACCP: Được chứng nhận

bởi các tổ chức nước ngoài như SGS và BSI

- Đơn vị chứng nhận chế biến an toàn theo tiêu chuẩn ISO 22000:2005: Trung tâm

chứng nhận phù hợp - Quacert; Công ty Cổ phần chứng nhận Vinacert, tổ chức SGS (Thụy sỹ) và Đài Loan

- Đơn vị chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sơ chế rau, quả, chè an toàn: Phòng

Trồng trọt tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng

- Đơn vị chứng nhận đủ điều kiện sản xuất kinh doanh giống thủy sản: Phòng Chăn

nuôi-Thủy sản tham mưu Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng

- Đơn vị chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm: Chi cục Vệ sinh an toàn thực phẩm

thuộc Sở Y tế tỉnh Lâm Đồng (chỉ cấp cho chè do có áp lực về tiêu thụ sản phẩm- cấp theo Pháp lệnh VSATTP đã hết hiệu lực thi hành)

4.2.3 Thực trạng kinh doanh tiêu thụ rau an toàn tại Lâm Đồng

Mạng lưới tiêu thụ rau tại lâm Đồng vô cùng phòng phú về thành phần tác nhân tham gia và các mối quan hệ liên quan Ngay từ khâu thu mua từ hộ nông dân có nhiều thành phần tham gia và một số thành phần đóng nhiều vai trò khác nhau trong kênh tiêu thụ (như thương lái hay HTX vừa đóng vai trò trồng trọt, thu mua, chế biến, và xuất khẩu)

Tại Lâm Đồng, ngoài vai trò khá đa dạng của từng thành phần, ta còn thấy tính linh động và nhanh nhậy không chỉ ở thương lái mà cả người nông dân trong viêc quyết định lọai rau trồng cũng như việc tham gia tiêu thụ bằng nhiều hình thức

Đa số hộ nông dân ở Đà Lạt đều tập hợp vào hợp tác xã và các hợp tác xã này chủ

yếu mang tính gia đình (Xuân Hương, Hiệp Nguyên v.v.) được thành lập nhằm phục vụ

cho mục đích tìm đầu ra cho sản phẩm của các hộ xã viên

Khác với rau thành phố HCM, khoảng 20% rau tươi ở Lâm Đồng còn được xuất khẩu theo nhiều con đường khác nhau, điều này khiến cho thu nhập của người dân trồng rau ở Lâm Đồng tăng cao, xuất hiện một số doanh nghiệp hoặc các hợp tác xã kinh doanh

Trang 23

khép kín với mô hình khá hiện đại (như Công ty cổ phần rau quả Lâm Đồng, công ty Liên Doanh Đồng Vàng v.v)

Sơ đồ1: các kênh tiêu thụ rau tại Lâm đồng

Nguồn: dự án GTZ, 2010

Ghi chú: Nguồn tiêu thụ chính, - Nguồn phụ, %: phần trăm cung ứng

4.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM THỊT GÀ Ở ĐỒNG NAI

Theo Cục Thống kê, đến nay cả nước có hơn 23.500 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm Trong đó, khu vực Đông Nam Bộ chiếm 17,35% (gần 4.100 trang trại) Riêng tỉnh Đồng Nai có số lượng trang trại chăn nuôi lớn nhất, khoảng 2.000 trang trại, trong đó các trang trại chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm khoảng 50% Ngành chăn nuôi phát triển nhanh cùng

sự áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến đã chuyển đổi dần từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại Nhiều trang trại chăn nuôi từ 600 con lợn hoặc hơn 2.000 con gà trở lên Tuy nhiên, đối với những người chăn nuôi nhỏ lẻ do ít vốn, thiếu quỹ đất xây chuồng trại nên đa số phải lệ thuộc vào các doanh nghiệp, công ty chăn nuôi quy mô lớn về con giống, thức ăn chăn nuôi dẫn đến giá thành sản phẩm cao, rủi ro nhiều

Theo ông Phan Minh Báu, Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đồng Nai, những người chăn nuôi nhỏ lẻ tạo ra sản phẩm thịt nhưng lại không được quyết định về giá Từ khâu nuôi đến khâu tạo ra sản phẩm đều có sự phân chia lợi nhuận, nhưng phần nhiều lại

HTX*

Thương lái nhỏ

Thương lái vừa

Thương lái lớn (DNTN, HTX**

Công ty)

Siêu thị HCM Người tiêu dùng

Xuất khẩu

Khách sạn, nhà hàng bếp ăn

Nông dân

Người bán lẻ tại địa phương

Người bán

sỉ (Tỉnh/TP khác)

Người bán lẻ (Tỉnh/T

15%

25%

Trang 24

thuộc về thương lái, các cơ sở giết mổ và nhà phân phối Hiện nay, Tỉnh Đồng Nai đã quy hoạch xong tất cả các vùng chăn nuôi ở các đơn vị hành chính trong tỉnh với tổng số 139 vùng với diện tích hơn 15.000 ha Có những vùng không thể quy hoạch thành vùng chăn nuôi được như khu vực gần sông Đồng Nai khu vực thành phố Biên Hòa, huyện Nhơn Trạch, khu sân bay Long Thành là để bảo vệ môi trường sống và giảm thiểu ô nhiễm từ phế thải của chăn nuôi Cả tỉnh có 36 cơ sở giết mổ và 23 nhà máy chế biến sản phẩm chăn nuôi Trong đó, 2/3 số nhà máy có liên doanh nước ngoài Hiện ngành chăn nuôi Đồng Nai đang hướng dẫn về kĩ thuật xây dựng chuồng trại, giải quyết dịch bệnh, an toàn sinh học, giảm thiệt hại cho người chăn nuôi, thực hành chăn nuôi tốt VietGAHP ở nông hộ để tăng năng suất, hiệu quả cao trong chăn nuôi (Dẫn theo AgroViet)

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đồng Nai, hiện nay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang chiếm gần 62% tổng đàn gà nuôi tại Đồng Nai (tổng đàn khoảng 10 triệu con) Trong đó, 3 đơn vị giữ thị phần chăn nuôi gà thịt, gà đẻ trứng lớn nhất ở Đồng Nai là Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, Công ty Emivest

và Công ty Japfa Các công ty này hoạt động theo hình thức thuê các trang trại trong tỉnh nuôi gia công đàn gà cho công ty, doanh nghiệp sẽ cung cấp giống, thức ăn, thuốc thú y và tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên, do giá gà trên thị trường xuống khá thấp, dưới giá thành 5.000 - 7.000 đồng/kg nên một số doanh nghiệp đang phải giảm đàn để bớt thua lỗ

Huyện Thống Nhất hiện có khoảng 700.000 con gà thương phẩm, là địa phương có đàn gà nhiều nhất tỉnh Đồng Nai Thế nhưng, hiện do chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa người chăn nuôi với doanh nghiệp chế biến và các trang trại nuôi còn phân tán, cùng với các khu chăn nuôi và khu giết mổ gia súc, gia cầm tập trung chưa được triển khai là lý do làm cho người chăn nuôi không được yên tâm sản xuất http://www.baomoi.com/Dong-Nai-Nguoi-chan-nuoi-ga-thua-lo-nang/45/2887536.epi

Theo số liệu từ Cục Chăn nuôi, 9 tháng đầu năm, cả nước đã nhập khẩu 2.735 tấn thịt heo các loại và 52.586 tấn thịt gà (trong đó có 6.147 tấn gà thải nguyên con từ Hàn Quốc), chưa kể nguồn gà đẻ thải loại nhập lậu từ Trung Quốc mỗi năm ước tính từ 70.000

- 100.000 tấn Đây là một trong những lý do làm cho người chăn nuôi trong nước lao đao càng sản xuất càng lỗ vốn dẫn đến nhiều trang trại phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc bỏ chuồng

Nhiều hộ chăn nuôi gà tại khu vực Đông Nam Bộ từ đầu năm đến nay đều bị lỗ, trong đó có thời điểm giá gà bán tại trại chỉ còn 16.000 - 18.000 đồng/kg (hiện nay, giá đang duy trì ở mức 20.500 đồng/kg), trong khi giá thành chăn nuôi đã lên đến 30.000 đồng/kg, tức lỗ gần 10.000 đồng/kg Do đó, nhiều trại gà không còn cách nào khác là phải

bỏ chuồng Đại diện Công ty TNHH Thanh Bình (Đồng Nai) chuyên về chăn nuôi gà cho biết hết năm nay sẽ đóng cửa trại gà thịt, chỉ để lại gà giống

Do thua lỗ nặng nên nhiều chủ trại gà đã chuyển sang nuôi gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài nhưng cũng đang gặp khó khăn do các công ty nước ngoài cũng đang

Trang 25

thua lỗ nặng Chẳng hạn, Công ty CP Việt Nam đang lỗ 72 tỉ đồng/tháng, Emivest lỗ 60 tỉ đồng/tháng, Japfa lỗ 48 tỉ đồng/tháng

Một số doanh nghiệp chăn nuôi cho biết giá thịt gà nhập hiện chỉ có 0,85 USD/kg (khoảng 16.000 đồng/kg) trong khi giá thành chăn nuôi 1 kg gà hơi trong nước đã lên đến 30.000 đồng/kg làm cho người nuôi gà trong nước không cạnh tranh được Trong khi đó, theo Cục Chăn nuôi, từ nay đến cuối năm, cả nước sẽ còn nhập khẩu khoảng 30.000 - 40.000 tấn thịt các loại để phục vụ cho thị trường cuối năm Thông tin này đang gây bức xúc cho người chăn nuôi bởi theo họ, thời gian nuôi gà chỉ mất 45 ngày thì không có lý do

gì phải nhập khẩu Nếu Nhà nước có chính sách hỗ trợ ngành chăn nuôi thì nguồn cung trong nước sẽ dồi dào trở lại chỉ sau gần 2 tháng

4.4 PHÂN TÍCH CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG SẢN XUẤT RAU VÀ CHĂN NUÔI GÀ AN TOÀN

4.4.1 Sản phẩm rau an toàn

4.4.1.1 Tại Thanh Hóa

● Cây mướp hương

○ Sơ đồ kênh tiêu thụ sản phẩm mướp hương ở Thanh Hóa

Qua sơ đồ kênh tiêu thụ mướp hương ở Thanh Hoá cho thấy, sản phẩm mướp hương của các hộ sản xuất hầu hết được cung cấp cho các tác nhân thu gom tại địa phương, sau đó tác nhân này bán sản phẩm cho tác người bán buôn ở chợ bán buôn Vườn Hoa Từ người bán buôn, sản phẩm được cung cấp đến người bán lẻ và sản phẩm được đưa đến người tiêu dùng

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, kênh tiêu thụ sản phẩm mướp hương từ các hộ sản xuất tham gia dự án, hoặc từ các hộ không tham gia dự án không có sự khác biệt Các sản phẩm đều được bán theo kênh rau thường Đây là một trong những nguyên nhân trả lời tại sao sản xuất mướp hương theo hướng VietGAP chưa thúc đẩy nhiều người sản xuất tham gia Nhằm thấy rõ hơn nữa sự khác biệt giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm sản xuất mướp hương theo hướng VietGAP và không theo hướng VietGAP, chúng tôi đưa ra kết quả nghiên cứu cho từng tác nhân sau đây

○ Đặc điểm chung của hộ sản xuất

Người sản

xuất

Người thu gom Người bán buôn Người bán lẻ Người tiêu dùng

Trang 26

Bảng 4.3 Một số thông tin chung về các hộ sản xuất mướp tại Thanh Hóa

Dự án CIDA tài trợ

Dự án JICA tài trợ

Sản xuất theo quy trình thông thường

Bình quân chung

Diện tích trồng mướp hương bình

Xã Hoằng Hợp của huyện Hoằng Hoá tỉnh Thanh Hoá có truyền thống sản xuất rau

từ lâu đời, một trong những cây rau truyền thống của địa phương này là cây mướp hương Theo quan niệm của người tiêu dùng thì mướp hương có vỏ dầy nên ít chịu tác động của thuốc BVTV hay dư lượng phân bón, nhưng thực tế cây mướp hương cũng như các loại rau khác rất dễ mất an toàn nếu sản xuất không tuân theo quy trình an toàn Chính vì vậy

mà có nhiều dự án đầu tư cho sản xuất mướp an toàn, trong số các dự án có dự án CIDA,

dự án JICA Bên cạnh đó cũng có các hộ sản xuất mướp theo quy trình thông thường

Về tuổi của chủ hộ tham gia sản xuất mướp: tại đây đa số là nam giới với số tuổi trung bình trong khoảng 50 - 60 tuổi Nếu như ở các địa phương của miền Bắc Việt Nam, công việc sản xuất rau chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm thì ở Hoằng Hợp chủ yếu lại là nam giới Qua nghiên cứu cho thấy, không những ở Hoằng Hợp mà còn ở các địa phương làm nông nghiệp thì nguồn lao động trẻ chủ yếu tham gia trong các khu công nghiệp còn lao động có độ tuổi cao hơn thì làm nông nghiệp

Về diện tích sản xuất rau nói chung và sản xuất mướp nói riêng: Cũng nằm trong tình trạng chung về diện tích sản xuất rau màu của các tỉnh miền Bắc Việt Nam, diện tích sản xuất rau ở Hoằng Hoá rất manh mún Diện tích sản xuất rau trung bình là 570 m2/hộ và diện tích sản xuất mướp trung bình là 341 m2 Với các loại hình sản xuất đều đạt xấp xỉ diện tích trung bình, chỉ có diện tích sản xuất rau trung bình được tài trợ bởi dự án JICA là cao hơn (2.430 m2) Sở dĩ là do tiêu chí của dự án JICA là nhiều người nông dân được hưởng lợi từ dự án nên họ cho dồn đất lại với nhiều người tham gia và cho một người đứng lên làm “tổ trưởng”, tuy vậy diện tích cây mướp vẫn là 550m2 tương đương với các loại hình khác và tương đương với diện tích trung bình

○ Tài sản cố định phục vụ sản xuất

Bảng 4.4 Tài sản cố định phục vụ cho sản xuất mướp hương của các hộ tại Thanh

Hoá Loại tài sản VietGAP do VietGAP do Sản xuất theo quy

Trang 27

CIDA tài trợ JICA tài trợ trình bình thường

Về tài sản cố định phục vụ cho sản xuất mướp hương: qua điều tra cho thấy các tài sản phục vụ cho sản xuất ở đây rất hạn chế ở cả những hộ được tài trợ bởi dự án CIDA, JICA cũng như ở các hộ sản xuất theo quy trình bình thường Tài sản cố định của các hộ chủ yếu là máy bơm và bình phun thuốc sâu Phương tiện vận chuyển chủ yếu là xe thồ/xe đạp, thỉnh thoảng có nhà có xe máy Tuy nhiên, khi phân tích về khía cạnh khác lại cho thấy, hệ thống kênh mương tưới tiêu ở đây rất tốt do vậy mà những hộ có ruộng gần nguồn nước họ không cần dùng đến máy bơm hoặc các thiết bị tưới, hay như các phương tiện chuyên chở sản phẩm ít là do thương lái mua tại ruộng

○ Chi phí sản xuất mướp hương

Với cây mướp hương ở Thanh Hoá chi phí cho sản xuất giữa các loại hình sản xuất theo VietGAP và sản xuất theo quy trình bình thường rất khác nhau

Về giống: do mướp hương ở Thanh Hoá nông dân sử dụng giống địa phương nên chi phí về giống tương đương nhau giữa các hộ sản xuất theo VietGAP và các hộ sản xuất theo quy trình bình thường Tuy nhiên, với các hộ sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ

có chi phí về giống thấp hơn (5.289.000 đ) so với các hộ sản xuất theo VietGAP do JICA tài trợ (5.500.000 đ) cũng như các hộ sản xuất theo quy trình bình thường Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do mô hình sản xuất mướp hương được sự tài trợ của dự án CIDA có

sự giám sát chặt chẽ của cán bộ kỹ thuật, nông dân gieo hạt vào bầu và đem trồng nên tỷ lệ

bị chết trước và sau trồng thấp, làm cho chi phí về giống thấp hơn

Trang 28

Bảng 4.5 Chi phí sản xuất bình quân cho 1 ha mướp hương của các hộ nghiên cứu

(1000đ/vụ)

do CIDA tài trợ

VietGAP

do JICA tài trợ

Quy trình thông thường

Bình quân chung

III Giá thành sản xuất 1 kg

họ phối hợp nhiều thuốc hơn,cũng chính vì thế nên chi phí công lao động cho cây mướp hương cũng cao hơn (56.878.000 đ) so với 53.389.000 đ (CIDA) và 51.740.000 đ (JICA) Giữa những hộ sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ và JICA tài trợ cũng có chi phí khác nhau về công lao động Sự chênh lệch về chi phí này chủ yếu là công tỉa bỏ lá gốc, làm cỏ xung quanh bờ, dọn vệ sinh quanh khu vực sản xuất

Về năng suất: Giữa các hộ sản xuất theo VietGAP và theo quy trình bình thường, mặc dù chi phí cho sản xuất khác nhau nhưng không phải chi phí cao mà thu được năng suất cao Số liệu ở bảng 4.5 cho thấy năng suất mướp hương của các hộ sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ đạt 12,6 tấn/ha cao nhất so với các hộ sản xuất theo VietGAP do JICA tài trợ (11,3 tấn/ha) và cao hơn hẳn so với các hộ sản xuất theo quy trình bình thường (10,7 tấn/ha)

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, chi phí vật tư đầu vào ở các loại hình sản xuất khác nhau rất khác nhau, chi phí lớn nhất là các hộ sản xuất theo quy trình thông thường (16.709.000 đ/ha), tiếp đến là các hộ sản xuất theo VietGAP do JICA tài trợ (13.046.000 đ/ha) và thấp nhất là các hộ sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ (12.930.000 đ/ha) Chi

Trang 29

phí của các hộ sản xuất theo quy trình bình thường cao hơn các hộ sản xuất theo VietGAP chủ yếu là công lao động mà công bón phân, phun thuốc chiếm tỷ lệ cao do nông dân phun thuốc theo cảm nhận của bản thân mà không theo quan sát đánh giá trên đồng ruộng Hơn thế nữa nông dân ở những mô hình này không có thông tin về thuốc BVTV tốt nên mua phải những thuốc có hiệu quả thấp do vậy mà phải phun liên tục Chi phí về phân bón với các hộ này cũng cao hơn so với các hộ sản xuất theo VietGAP vì họ sản xuất chủ yếu theo kinh nghiệm Như chúng ta đã biết, mướp là loại cây trồng rất mẫn cảm với thừa phân đạm, chính vì không bón phân theo quy trình nên rất nhiều ruộng mướp bị “lốp” - chỉ phát triển thân lá mà không ra hoa đậu quả do vậy mà năng suất thấp hơn so với những hộ sản xuất có áp dụng VietGAP Như vậy, nếu áp dụng đúng quy trình kỹ thuật sản xuất mướp theo VietGAP tại Thanh Hoá thu được năng suất cao hơn và giá thành thấp hơn so với sản xuất thông thường và đặc biệt là chất lượng đảm bảo hơn, thể hiện ở việc sử dụng phân vô

cơ ít hơn

Như vậy: sản xuất rau nói chung và sản xuất mướp hương nói riêng nếu áp dụng đúng quy trình và có sự quản lý giám sát chặt chẽ cây sẽ cho năng suất cao với mức chi phí thấp Và chính sự khác nhau về chi phí và năng suất thu được nên giá thành sản phẩm của các loại hình sản xuất khác nhau rất khác nhau Giá thành mướp hương của các hộ sản xuất theo quy trình do dự án CIDA tài trợ là 5449,4 đ/kg, dự án JICA tài trợ là 5963,2 đ/kg

và giá thành cao nhất là các hộ sản xuất theo quy trình thông thường, nông dân sản xuất theo kinh nghiệm, đầu tư quá nhiều cho phân bón, thuốc BVTV và đặc biệt là công phun thuốc, bón phân, giá thành sản phẩm là 7060,6 đ/kg

Bảng 4.6 Cơ cấu các loại chi phí đầu tư bình quân cho 1 ha mướp hương của các hộ

ĐVT: %

CIDA tài trợ

VietGAP do JICA tài trợ

Quy trình thông thường

Bình quân chung

Số liệu bảng 4.6 cho thấy:

Cơ cấu chi phí vật tư đầu vào: sản xuất mướp hương theo VietGAP của dự án CIDA và JICA ít có sự chênh lệch giữa các hộ Tuy nhiên, có sự chênh lệch đáng kể giữa

Trang 30

nhóm hộ sản xuất của các dự án với những hộ sản xuất theo quy trình thông thường Chẳng hạn như cơ cấu chi phí vật tư đầu vào của nhóm hộ sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ chỉ chiếm 18,83%, trong khi sản xuất theo quy trình thông thường chiếm tới 22,12%

○ Kết quả và hiệu quả của sản xuất mướp hương

Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế thu được từ sản xuất mướp theo các loại hình sản xuất, kết quả được trình bày ở bảng 4.7

Bảng 4.7 Kết quả và hiệu quả kinh tế của sản xuất mướp hương của các hộ

(tính bình quân cho 1 ha)

VietGAP

do CIDA tài trợ

VietGAP

do JICA tài trợ

Quy trình thông thường

Bình quân chung

I Chỉ tiêu kết quả

3 Giá trị sản xuất (GO) 1000đ 100,800 90.400 85.600 92.000

4 Chi phí vật tư đầu vào 1000đ 12.930 13.046 16.709 14.228

Số liệu bảng 4.7 cho thấy tổng giá trị sản suất mướp hương theo VietGAP do CIDA tài trợ là 100.800.000đồng/ha, trong khi đó giá trị sản xuất mướp hương theo quy trình thường là 85.600.000 đồng/ha Nguyên nhân của sự chênh lệch này chủ yếu do năng suất mướp hương của các hộ sản xuất theo VietGAP của CIDA cao hơn so với sản xuất thông

thường

Hiệu quả trồng mướp hương: Số liệu bảng 4.7 cho thấy, lợi nhuận thu được trên 1

kg sản phẩm mướp hương cao nhất đối với các hộ sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ đạt 2550,6 đ/kg, tiếp đến là các hộ sản xuất theo VietGAP do JICA tài trợ, đạt 2036,8 đ/kg

và thấp nhất là các hộ sản xuất theo quy trình thông thường, chỉ đạt 939,4 đ/kg

○ Tác nhân kinh doanh

Trang 31

Bảng 4.8 Kết quả và hiệu quả kinh tế của người kinh doanh

IV Tỷ lệ lợi nhuận/chi phí (%) 8,4 6,6 15,6

Bảng 4.8 cho thấy: Tác nhân kinh doanh có 3 đối tượng trong chuỗi để đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng Qua điều tra, nghiên cứu chúng tôi thấy rằng, các dự án về rau an toàn lâu nay chỉ đầu tư cho khâu sản xuất, hầu hết không quan tâm đến các tác nhân kinh doanh rau do vậy mà sản phẩm rau khi sản xuất được tách bạch rõ ràng đâu là sản phẩm an toàn đâu là sản phẩm sản xuất theo quy trình thông thường, do đã có

cơ quan chứng nhận chất lượng sản phẩm Nhưng từ sản xuất đến người tiêu dùng, tất cả

các sản phẩm sản xuất theo các loại hình khác nhau đều được “hành trình” theo 1 chuỗi

với các đối tượng là người thu gom bán cho người bán buôn và người bán buốn bán cho người bán lẻ để người bán lẻ bán cho người tiêu dùng

Do sản phẩm không được phân biệt chất lượng khi tham gia vào chuỗi giá trị nên các đối tượng thuộc tác nhân kinh doanh thích phân phối hàng sản xuất theo quy trình an toàn vì họ mang tâm lý yên tâm hơn

Phân tích về lợi nhuận của các đối tượng trong tác nhân kinh doanh cho thấy: nếu như người thu gom thu lãi/1000 kg sản phẩm là 708.500 đ và tỷ lệ lợi nhuận/chi phí là

Trang 32

8,4% thì người bán buôn thu được lãi là 632.000 đ/1000 kg sản phẩm và tỷ lệ lợi nhuận/chi phí là 6,6% Người đạt mức lãi cao nhất là người bán lẻ 1.624.000 đ/1000 kg sản phẩm với tỷ lệ lợi nhuận/chi phí là 15,6% Sở dĩ có sự chênh lệch cao như vậy là vì: người bán buôn là người chịu ít rủi ro nhất, toàn bộ quá trình thu mua và bán chỉ diễn ra trong thời gian 3-4 tiếng đồng hồ, họ chỉ nhận hàng và giao hàng ngay tại chỗ trong khoảng thời gian từ 3-7 h sáng, thu hồi vốn nhanh nhất Người bán lẻ là người chịu nhiều rủi ro nhất, mức độ hao hụt hàng hoá nhiều nhất

Sơ đồ 1 Tỷ lệ lợi nhuận cho các tác nhân sản xuất và kinh doanh mướp hương tại

Thanh Hóa

Sơ đồ 1 cho thấy: Người bán lẻ và người sản xuất thu được tỷ lệ lợi nhuận cao nhất 34,1%, tiếp theo là người sản xuất (31,8%), thấp nhất là người bán buôn và người thu gom Tuy nhiên, người sản xuất là người chịu nhiều rủi ro nhất (thiên tai, dịch bệnh,…), đầu tư vốn trong thời gian lâu nhất (80-100 ngày) và người bán lẻ cũng là chịu nhiều rủi ro như hao hụt sau thu hoạch, hết ngày không bán hết hàng Và ở đây chúng tôi giả định là tất cả sản phẩm của người sản xuất được tiêu thụ hết, người bán lẻ thì tiêu thụ hết 1 tấn sản phẩm trong thời gian 1 ngày thì tỷ lệ lợi nhuận/tổng chi phí đạt được giá trị như trên

Bên cạnh đó tác nhân thu gom và bán buôn là “an toàn” nhất vì toàn bộ quá trình đầu tư và thu hồi vốn chỉ diễn ra trong thời gian 3-5 tiếng đồng hồ, nhưng cũng chính vì thế mà tỷ lệ lợi nhuận (15,3 -18,8%)

Tỷ lệ lợi nhuận cho các tác nhân sản xuất và kinh doanh

mướp hương tại Thanh Hóa

Trang 33

Cũng giống như sản phẩm mướp hương, sản phẩm cải ngọt của các hộ sản xuất hầu hết được cung cấp cho các tác nhân thu gom tại địa phương, sau đó tác nhân này bán sản phẩm cho tác người bán buôn ở chợ bán buôn Vườn Hoa – Thành phố Thanh Hoá Từ người bán buôn, sản phẩm được cung cấp đến người bán lẻ và sản phẩm được đưa đến người tiêu dùng

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, tương tự như cây mướp hương, kênh tiêu thụ sản phẩm cải ngọt từ các hộ sản xuất tham gia dự án, hoặc từ các hộ không tham gia dự án không có sự khác biệt Các sản phẩm đều được bán theo kênh rau thường Chính vì vậy mà sản xuất rau an toàn nói chung, sản xuất theo hướng VietGAP nói riêng chưa thu hút được nhiều người sản xuất tham gia

○ Đặc điểm người sản xuất cải ngọt

Xã Quảng Thắng thành phố Thanh Hoá tỉnh Thanh hoá là một trong những vùng chuyên canh rau cung cấp cho cư dân thành phố Thanh Hoá, một trong những loại rau được xem là thế mạnh tại đây chính là cây cải ngọt Cải ngọt là cây rau ngắn ngày cho thu nhập cao Tuy nhiên, sự khác nhau rất rõ rệt giữa những người sản xuất của Thành phố với những người sản xuất của huyện Hoằng Hoá chính là nguồn nhân lực

Bảng 4.9 Một số thông tin chung về các hộ sản xuất cải ngọt tại Thanh Hóa

do CIDA tài trợ

VietGAP

do JICA tài trợ

Sản xuất theo quy trình thông thường

○ Chi phí sản xuất cải ngọt

Trang 34

Bảng 4.10 Chi phí sản xuất bình quân cho 1 ha cải ngọt của các hộ nghiên cứu

(1000đ/vụ)

do CIDA tài trợ

VietGAP

do JICA tài trợ

SX theo Quy trình thông thường

Bình quân chung

III Giá thành sản xuất 1 kg cải

ngọt

1.305,2 1.436,9 1.595,0 1.440,6

Nguồn: số liệu điều tra của FAVRI, 2012

Qua bảng 4.10 cho thấy, tại Thanh Hoá, do hiểu biết của nông dân về quy trình sản xuất cải ngọt khác nhau nên cũng có đầu tư cho sản xuất khác nhau Nếu như theo quy trình sản xuất rau an toàn theo VietGAP, cần phải mua các vật tư đầu vào như giống, phân bón, thuốc BVTV từ những cửa hàng có uy tín thì sản xuất theo quy trình thông thường có thể mua ở đâu cũng được Người nông dân sản xuất theo quy trình thông thường mua hạt giống bán lẻ tại chợ, giá rẻ hơn nhưng lượng hạt giống họ phải mua nhiều hơn Nếu như các hộ sản xuất theo VietGAP mua 6 kg hạt giống cho 1 ha trong 1 vụ phải chi phí 600.000 đ (100.000đ/kg) thì các hộ sản xuất thông thường mua 82.500 đ/kg nhưng họ phải mua 8kg hạt giống cho 1 ha trong 1 vụ, vì thế mà chi phí về hạt giống cao hơn các hộ sản xuất theo VietGAP Cùng với lượng hạt giống nhiều hơn, chi phí về phân bón và thuốc BVTV cũng nhiều hơn Chi phí lao động vì thế cũng cao hơn so với sản xuất theo VietGAP do phải bón phân nhiều hơn, phun thuốc nhiều hơn Mặc dù đầu tư nhiều hơn nhưng do gieo hạt dày, cây nhỏ, năng suất thu được thấp hơn (18 tấn/ha) trong khi các hộ sản xuất theo VietGAP thu được năng suất 19-20 tấn/ha Chính vì thế mà giá thành của cải ngọt ở các hộ sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ là 1.305,2 đ/kg, do JICA tài trợ là 1.436,9 đ/kg và sản xuất thông thường là 1.595 đ/kg

Về cơ cấu chi phí:không có sự khác biệt nhiều giữa các nhóm hộ sản xuất theo VietGAP và theo quy trình thông thường

Bảng 4.11 Cơ cấu các loại chi phí đầu tư bình quân cho 1 ha cải ngọt của các hộ

ĐVT: %

Trang 35

Chỉ tiêu

VietGAP

do CIDA tài trợ

VietGAP

do JICA tài trợ

Quy trình thông thường

Bình quân chung

Kết quả và hiệu quả của sản xuất cải ngọt

Bảng 4.12 Kết quả và hiệu quả sản xuất cải ngọt của các hộ nghiên cứu

(Tính bình quân cho 1 ha)

VietGAP

do CIDA tài trợ

VietGAP

do JICA tài trợ

Quy trình thông thường

Bình quân chung

○ Tác nhân kinh doanh cải ngọt

Trang 36

Kết quả điều tra, tính toán cho thấy tương tự như cây mướp ở Thanh Hoá, sản phẩm cải ngọt sau khi sản xuất cũng được các tác nhân kinh doanh đưa đến người tiêu dùng qua

3 đối tượng đó là người thu gom, người bán buôn và người bán lẻ Với cây cải ngọt, người

bán lẻ vẫn là người thu được tỷ lệ lợi nhuận/chi phí cao nhất 49,6% Và nguyên nhân cũng

bởi người bán lẻ là người chịu nhiều rủi ro nhất Nếu như người thu gom hay người bán buôn tỷ lệ hao hụt của họ chỉ khoảng 5-10% thì người bán lẻ tỷ lệ hao hụt có thể lên đến 50% Ở đây chúng tôi giả định người bán lẻ bán được hết 1000 kg mua vào Nhưng thực tế người bán lẻ không bán hết và cũng không có ai bán lẻ 1 ngày được 1000 kg rau cải ngọt

Bảng 4.13 Kết quả và hiệu quả kinh tế của người kinh doanh

IV Tỷ lệ lợi nhuận/chi phí (%) 28,7 15,9 49,6

Trang 37

Sơ đồ 2 Tỷ lệ lợi nhuận cho các tác nhân sản xuất v à kinh doanh cải ngọt tại Thanh Hóa

Tính theo tỷ lệ lợi nhuận từ sản xuất đến người tiêu dùng, kết quả cho thấy khác với sản phẩm mướp hương, cải ngọt là cây rau ngắn ngày, kỹ thuật gieo trồng đơn giản nên tỷ lệ lợi nhuận của người sản xuất đạt thấp nhất (8,5%), người thu gom và người bán buôn đạt tương đương nhau (12,2 – 15,2%) Người bán lẻ rau cải ngọt là người chịu rủi ro cao nhất

vì rau cải ngọt có tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch cao đặc biệt những cơ sở kinh doanh không

có cửa hàng hoặc không được trang bị tủ lạnh Cũng chính vì rủi ro cao nên với giả thiết người bán lẻ bán được 1 tấn rau trong 1 ngày thì lợi nhuận của họ đạ 64%

Dự án khác tài trợ

Sản xuất theo quy trình thông thường

Tổng/trung bình

Tỷ lệ lợi nhuận cho các tác nhan sản xuất và kinh doanh

cải ngọt tại Thanh Hóa

Trang 38

Kết quả này cho thấy sản xuất rau là một nguồn thu chính và duy nhất của gia đình vì thế

mà người đàn ông trong gia đình là người sản xuất chính

Diện tích sản xuất rau cải bắp rất lớn 2.100 m2 - 2.500 m2, tuy nhiên ở dự án do Sở NN&PTNT Lâm Đồng tại trợ có diện tích trung bình chỉ là 1.000 m2

○ Tài sản cố định phục vụ sản xuất cải bắp

Bảng 4.15 Tài sản cố định phục vụ sản xuất cải bắp tại Lâm Đồng

CIDA tài trợ

VietGAP do JICA tài trợ

Sản xuất theo quy trình thông thường

Với cây cải bắp ở Lâm Đồng: Khác với Thanh Hoá, tài sản cố định phục vụ sản xuất cải bắp ở Lâm Đồng lớn hơn nhiều hơn so với sản xuất ở Thanh Hoá Ví dụ như số máy bơm nước, số bình phun thuốc sâu, hệ thống tưới nhỏ giọt của sản xuất theo VietGAP

do dự án CIDA tài trợ lớn hơn nhiều so với những hộ sản xuất rau theo VietGAP do dự án của Sở NN&PTNT tài trợ và lớn hơn các hộ sản xuất theo quy trình thông thường Có sự khác biệt rõ rệt giữa sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ và do Sở NN&PTNT tài trợ

đó là các hộ sản xuất rau cải bắp do CIDA tài trợ đầu tư nhà lưới để sản xuất rau với diện tích trung bình mỗi hộ 5000 m2 và kho chứa thuốc BVTV, phân bón và để dụng cụ mỗi hộ

có trung bình 1 kho

○ Chi phí sản xuất cải bắp

Bảng 4.16 Chi phí sản xuất bình quân cho 1 ha cải bắp của các hộ nghiên cứu

(1000đ/vụ)

do CIDA tài trợ

VietGAP

do Sở NN tài trợ

Sản xuất theo quy trình thông thường

Bình quân chung

1 Chi phí vật tư đầu vào 47.492 43.245 51.883 47.541

Trang 39

Thuốc BVTV 7.258 8.050 6.918 7.409

III Giá thành sản xuất 1 kg cải

bắp

Nguồn: số liệu điều tra của FAVRI, 2012

Nghiên cứu về chi phí sản xuất cải bắp ở Lâm Đồng với các hộ sản xuất do các dự

án tài trợ khác nhau có những đầu tư chi phí rất khác nhau Nếu như đầu tư về giống của các hộ sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ là 17.500.000 đ/ha, VietGAP do Sở NN& PTNT tài trợ là 12.000.000 đ/ha và sản xuất theo quy trình thông thường là 7.243.000 đ/ha Sở dĩ có sự khác nhau nhiều như vậy là do, các hộ sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ, sản phẩm này được cung cấp trực tiếp cho các siêu thị tại thành phố Hồ Chí Minh

do vậy mà giống là do siêu thị đặt hàng – giống cải bắp có hình trái tim, giá giống cho 1 ha

là 17.500.000 đồng/ha Các hộ sản xuất theo VietGAP do Sở NN&PTNT tài trợ sử dụng giống lai F1có giá 12.000.000 đ/ha trong khi các hộ sản xuất theo quy trình thông thường chỉ sử dụng những giống thông thường có giá 7.243.000 đ/ha

Bên cạnh sự khác nhau về giá giống phục vụ sản xuất thì các vật tư khác cũng rất khác nhau, nếu như các hộ sản xuất rau theo VietGAP do CIDA tài trợ có giá giống rất cao thì phân bón và thuốc BVTV họ lại đầu tư ở mức bình thường 22.734.000 đ/ha (phân bón)

và 7.258.000 đ/ha (thuốc BVTV) trong khi các hộ sản xuất theo VietGAP do Sở NN&PTNT Lâm Đồng tài trợ đầu tư 23.195.000 đ/ha (phân bón) và 8.050.000 đ/ha thuốc BVTV nhưng các hộ sản xuất theo quy trình thông thường phải đầu tư phân bón với số tiền là 37.722.000 đ/ha và thuốc BVTV là 6.918.000 đ/ha Chi phí lao động của các hộ khác nhau cũng rất khác nhau Các hộ sản xuất theo VietGAP do sở NN&PTNT tài trợ là 96.962.000 đ/ha trong khi sản xuất thông thường và sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ lần lượt là 82.560.000 đ/ha và 82.052.000 đ/ha Sở dĩ có sự khác nhau về công lao động như vậy là do, sản xuất do sở NN&PTNT Lâm Đồng tài trợ sử dụng nhiều thuốc BVTV và các chế phẩm sinh học bao gồm phân bón lá, vi lượng,… do vậy mà chi phí về công phun thuốc nhiều hơn, công bón phân cũng nhiều hơn các hộ sản xuất VietGAP do CIDA tài trợ hay sản xuất theo quy trình thông thường Mặc dù chi phí về giống, vật tư và công lao động của các hộ sản xuất khác nhau rất khác nhau nhưng tổng chi phí khác nhau không nhiều, nếu như các hộ sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ có tổng chi phí cho sản xuất là 131.360.000đ/ha, sản xuất theo quy trình thông thường là 136.823.000 đ/ha thì các hộ sản xuất theo VietGAP do sở NN&PTNT Lâm Đồng tài trợ là 140.485.000 đ/ha Các hộ sản xuất theo VietGAP do CIDA tài trợ thu được năng suất là 65,8 tấn/ha, sản xuất theo quy trình thông thường là 50,2 tấn/ha thì các hộ sản xuất theo VietGAP do sở NN&PTNT Lâm Đồng tài trợ là 68,0 tấn/ha

Trang 40

○ Cơ cấu các loại chi phí

Bảng 4.17 Cơ cấu các loại chi phí đầu tư bình quân cho 1 ha cải bắp của các hộ

SX theo quy trình thông thường

Bình quân chung

Nguồn: số liệu điều tra của FAVRI, 2012

Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ cấu chi phí vật tư đầu vào có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm hộ tham gia sản xuất theo hướng VietGAP và theo quy trình thông thường Chẳng hạn như, tỷ lệ phân bón so với chi phí vật tư đầu vào chiếm cao nhất ở nhóm hộ sản xuất theo quy trình thông thường, lên tới 72,71%, trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm hộ sản xuất VietGAP do Sở Nông nghiệp và PTNT tài trợ đạt 53,64% và thấp nhất đối với nhóm

hộ sản xuất VietGAP do CIDA tài trợ, chỉ chiếm 47,87%

○ Kết quả và hiệu quả sản xuất cải bắp

Bảng 4.18 Kết quả và hiệu quả sản xuất cải bắp của các hộ nghiên cứu

(Tính bình quân trên 1 ha)

VietGAP

do CIDA tài trợ

VietGAP

do JICA tài trợ

Quy trình thông thường

Bình quân chung

I Chỉ tiêu kết quả

3 Giá trị sản xuất (GO) 1000đ 230.415,5 204.000,0 150.750,0 196.355,2

4 Chi phí vật tư đầu vào 1000đ 47.492,0 43.245,0 51.883,0 47.541,0

Ngày đăng: 07/06/2014, 17:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2. Quy hoạch vùng sản xuất Rau và Chè an toàn của Lâm Đồng năm 2011  TT  Địa phương  Diện tích RAT (ha)  Chè an toàn (ha) - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.2. Quy hoạch vùng sản xuất Rau và Chè an toàn của Lâm Đồng năm 2011 TT Địa phương Diện tích RAT (ha) Chè an toàn (ha) (Trang 20)
Bảng 4.4. Tài sản cố định phục vụ cho sản xuất mướp hương của các hộ tại Thanh  Hoá - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.4. Tài sản cố định phục vụ cho sản xuất mướp hương của các hộ tại Thanh Hoá (Trang 26)
Bảng 4.5. Chi phí sản xuất bình quân cho 1 ha mướp hương của các hộ nghiên cứu - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.5. Chi phí sản xuất bình quân cho 1 ha mướp hương của các hộ nghiên cứu (Trang 28)
Bảng 4.6. Cơ cấu các loại chi phí đầu tư bình quân cho 1 ha mướp hương của các hộ - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.6. Cơ cấu các loại chi phí đầu tư bình quân cho 1 ha mướp hương của các hộ (Trang 29)
Bảng 4.8. Kết quả và hiệu quả kinh tế của người kinh doanh - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.8. Kết quả và hiệu quả kinh tế của người kinh doanh (Trang 31)
Sơ đồ 1. Tỷ lệ lợi nhuận cho các tác nhân sản xuất và kinh doanh mướp hương tại  Thanh Hóa - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Sơ đồ 1. Tỷ lệ lợi nhuận cho các tác nhân sản xuất và kinh doanh mướp hương tại Thanh Hóa (Trang 32)
Bảng 4.9. Một số thông tin chung về các hộ sản xuất cải ngọt tại Thanh Hóa - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.9. Một số thông tin chung về các hộ sản xuất cải ngọt tại Thanh Hóa (Trang 33)
Bảng 4.12.  Kết quả và hiệu quả sản xuất cải ngọt của các hộ nghiên cứu - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.12. Kết quả và hiệu quả sản xuất cải ngọt của các hộ nghiên cứu (Trang 35)
Bảng 4.13. Kết quả và hiệu quả kinh tế của người kinh doanh - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.13. Kết quả và hiệu quả kinh tế của người kinh doanh (Trang 36)
Sơ đồ 2. Tỷ lệ lợi nhuận cho các tác nhân sản xuất v à kinh doanh cải ngọt tại Thanh Hóa - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Sơ đồ 2. Tỷ lệ lợi nhuận cho các tác nhân sản xuất v à kinh doanh cải ngọt tại Thanh Hóa (Trang 37)
Bảng 4.14. Một số thông tin chung về các hộ sản xuất cải bắp tại Lâm Đồng  Các chỉ tiêu  Dự án - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.14. Một số thông tin chung về các hộ sản xuất cải bắp tại Lâm Đồng Các chỉ tiêu Dự án (Trang 37)
Bảng 4.15. Tài sản cố định phục vụ sản xuất cải bắp tại Lâm Đồng - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.15. Tài sản cố định phục vụ sản xuất cải bắp tại Lâm Đồng (Trang 38)
Bảng 4.17. Cơ cấu các loại chi phí đầu tư bình quân cho 1 ha cải bắp của các hộ - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.17. Cơ cấu các loại chi phí đầu tư bình quân cho 1 ha cải bắp của các hộ (Trang 40)
Bảng 4.20. Kết quả và hiệu quả kinh tế của người kinh doanh rau thông thường - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
Bảng 4.20. Kết quả và hiệu quả kinh tế của người kinh doanh rau thông thường (Trang 42)
Sơ đồ  3b. T ỷ lệ lợi nhuận cho các tác nhân sản xuất v à kinh doanh c ải bắp theo đơn đặt hàng tại   Lâm Đồng - KẾT QUẢ điều TRA xác ĐỊNH CHI PHÍ, GIÁ THÀNH sản PHẨM KHI áp DỤNG các THỰC HÀNH sản XUẤT tốt (VietGAPGMPs, VietGAHP) đối với sản XUẤT RAU và CHĂN NUÔI gà AN TOÀN
3b. T ỷ lệ lợi nhuận cho các tác nhân sản xuất v à kinh doanh c ải bắp theo đơn đặt hàng tại Lâm Đồng (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w