1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bao cao tom tat bien phap thi gvdg tinh 2018 2019

9 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo tóm tắt biện pháp thi GVDG Tỉnh 2018 2019
Tác giả Nguyễn Thị Hải
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở (Tên trường cụ thể không rõ) - [Link trang chủ trường](#)
Chuyên ngành Dạy Học Và Đào Tạo
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2018-2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng giải pháp đã biết: - Mô tả ngắn gọn giải pháp đã biết: Trước đây, chưa có giải pháp nào được áp dụng nên học sinh còn bỡ ngỡ với phương pháp học theo mô hình trường học mới,

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BÁO CÁO TÓM TẮT HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN

(Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 7

theo mô hình trường học mới)

Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hải

Mã số: ………

1 Tình trạng giải pháp đã biết:

- Mô tả ngắn gọn giải pháp đã biết:

Trước đây, chưa có giải pháp nào được áp dụng nên học sinh còn bỡ ngỡ với phương pháp học theo mô hình trường học mới, chất lượng học tập môn Toán chưa cao

- Ưu khuyết điểm của giải pháp đã, đang được áp dụng tại cơ quan, đơn vị:

Các giải pháp đã, đang được áp dụng tại cơ quan, đơn vị có tính khả thi, có thể áp dụng thường xuyên, mang lại hiệu quả cao

2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

- Mục đích của giải pháp: Giúp học sinh lớp 7 yêu thích môn Toán, mạnh

dạn, tự tin chia sẻ kiến thức, từ đó nâng cao chất lượng học tập môn toán theo mô hình trường học mới

- Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp so với giải pháp đã, đang được áp dụng; mô tả chi tiết bản chất của giải pháp:

Đưa ra nhiều giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán

7 trường học mới Một số giải pháp có tính mới: Làm tốt công tác tuyên truyền về

mô hình trường học mới; phân hóa đối tượng học sinh, giao nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng, tăng cường các biện pháp giúp đỡ học sinh yếu; Tăng cường cho học sinh luyện tập các dạng bài tập đã học, kiểm soát chặt chẽ việc luyện tập của học sinh; kết hợp kiểm tra của thầy và của trò trong giờ học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; điều chỉnh thiết kế bài học cho phù hợp với học sinh; giải thích ngắn gọn, dễ hiểu

- Mô tả chi tiết nội dung của giải pháp:

2.1 Làm tốt công tác tuyên truyền về mô hình trường học mới

Bản thân giáo viên – người trực tiếp đứng lớp – cần có nhận thức đúng về

mô hình trường học mới, có niềm tin vào những thành công mà mô hình này mang lại, từ đó tuyên truyền tới học sinh, phụ huynh học sinh, tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, trong cộng đồng Trong năm học 2018–2019, tôi đã phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm tuyên truyền tới phụ huynh học sinh, các ban ngành đoàn thể, chính quyền địa phương qua các buổi gặp gỡ, giao lưu trong nhà trường các nội dung về đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá

Trang 2

học sinh theo mô hình trường học mới Việt Nam Nội dung tuyên truyền cụ thể như sau:

Việc tổ chức lớp học theo “Mô hình trường học mới” đã tạo ra không gian lớp học gần gũi, thân thiện với các em Thông qua bản đồ cộng đồng, góc cộng đồng đã tạo điều kiện để học sinh hiểu hơn về cộng đồng, thông qua hộp thư điều

em muốn nói, hộp thư vui đã tạo điều kiện để học sinh chia sẽ với bạn bè, thầy cô , thông qua góc học tập, thư viện lớp học đã tạo điều kiện để học sinh học tập tốt hơn

Tài liệu đạy học theo Mô hình trường học mới được viết lại tinh giản, thiết thực hơn sát với chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học dẫn đến không quá tải và học sinh dễ tiếp cận hơn Tài liệu được dùng cho cả ba đối tượng: Đối với học sinh, tài liệu học tập rất cụ thể, rõ ràng, có lôgô chỉ dẫn cụ thể giúp các em có thể

tự mình hoặc nhóm học tập để thực hiện nhiệm vụ học tập của mình Đối với giáo viên, tài liệu hỗ trợ cách hướng dẫn, tổ chức cho học sinh học tập có hiệu quả Đối với phụ huynh, tài liệu giúp họ có khả năng hỗ trợ con em học tập tại gia đình và cộng đồng

Mô hình trường học mới học sinh được học tập thông qua 10 bước học tập (Chủ yếu là tự học và hợp tác) nên học sinh được hoạt động nhiều hơn, các em được rèn các kỹ năng nhiều hơn đó là kỹ năng tự học, hợp tác, kỹ năng diễn đạt, trình bày, kỹ năng đánh giá và tự đánh giá, kỹ năng điều hành…, giúp các em tích cực, chủ động và tự tin trong quá trình học tập… vì vậy chất lượng giáo dục được nâng lên

Học sinh học theo mô hình trường học mới Việt Nam (GPE-VNEN) rất chủ động và linh hoạt Lớp có Hội đồng tự quản, bước đầu các em đã biết làm quen nhiệm vụ của mình Đặc biệt nội dung, phương pháp dạy học và hình thức tổ chức lớp học đã phát huy được tính tích cực, chủ động và khả năng tự học của học sinh Trong quá trình học tập, học sinh có nhiều cơ hội độc lập suy nghĩ, bộc lộ ý kiến riêng khi làm việc theo nhóm và có nhiều cơ hội phát huy năng lực hợp tác khi học nhóm, được tranh luận và bảo vệ ý kiến của mình, được cùng bạn bè chia sẻ những

ý tưởng, những kiến thức thực tế, được tự đánh giá bản thân và đánh giá các bạn

Học sinh được học trong môi trường học tập thân thiện, thoải mái, không bị

gò bó, luôn được gần gũi với bạn bè, với thầy cô, được sự giúp đỡ của bạn học trong lớp, trong nhóm và thầy cô, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi các em học sinh khá giỏi được phát huy, học sinh còn hạn chế, yếu kém được học sinh của nhóm và giáo viên giúp đỡ kịp thời ngay tại lớp

Đối với Mô hình VNEN, phụ huynh được tham gia đánh giá: phụ huynh được mời tham gia hoặc quan sát các hoạt động dạy học/giáo dục của nhà trường,

sử dụng tài liệu hướng dẫn học tập, đáp ứng các yêu cầu của học sinh trong quá trình học tập, nhất là những hoạt động học tập, sinh hoạt ở gia đình, ở cộng đồng

và nên ghi nhận định vào phiếu đánh giá Thông qua đó động viên, giúp đỡ các em

Trang 3

học tập, rèn luyện, phát triển kỹ năng sống, vận dụng kiến thức vào cuộc sống và tham gia các hoạt động xã hội, tìm hiểu về những sự vật, hiện tượng tự nhiên và văn hóa, lịch sử, nghề truyền thống của địa phương nên phụ huynh biết được mức độ học tập của các em và họ có trách nhiệm hơn trong việc tham gia giáo dục con em mình

Thông qua buổi tuyên truyền giúp cộng đồng và cha mẹ học sinh thấy được

mô hình trường học mới đã có sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần gắn trường học với cuộc sống Qua đó kêu gọi sự đồng cảm, chia sẻ và chung tay chăm lo giáo dục thế

hệ trẻ của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương, các ban ngành, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn, đặc biệt là cha mẹ học sinh của trường

2.2 Phân hóa đối tượng học sinh, giao nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng, tăng cường các biện pháp giúp đỡ học sinh yếu

Mức độ nhận thức của mỗi học sinh trong lớp không đều nhau Vậy làm gì

để có thể giúp các em đạt đến kết quả tốt nhất, tránh cho các em rơi vào những khó khăn thường trực trong giờ học? Đầu năm học, tôi khảo sát trình độ nhận thức của học sinh các lớp mình dạy rồi phân loại các em ở bốn mức độ: Giỏi, khá, trung bình, yếu Trong mỗi giờ dạy, tôi đều ra các câu hỏi ở các mức độ khó, trung bình, dễ phù hợp với từng đối tượng học sinh Học sinh khá, giỏi sẽ trả lời các câu hỏi ở mức độ khó, học sinh trung bình trả lời câu hỏi ở mức độ trung bình, học sinh yếu trả lời câu hỏi ở mức độ dễ Như vậy, học sinh toàn lớp đều được hoạt động, giờ học toán không còn bị nhàm chán

Khi dạy học theo mô hình trường học mới, dù giáo viên có tổ chức cho học sinh hoạt động theo hình thức nào (cá nhân, cặp đôi, nhóm…) thì khâu bắt buộc đó

là phải trải qua hoạt động cá nhân Trình độ nhận thức của học sinh trong lớp, nhóm không đồng đều dẫn đến có một số học sinh khá, giỏi hoàn thành nhiệm vụ

cá nhân trong khi nhiều học sinh khác chưa hoàn thành nhiệm vụ học tập mà giáo viên giao Nếu giáo viên không có biện pháp thích hợp thì học sinh khá, giỏi sẽ không có việc làm sinh ra chán nản, trong khi học sinh yếu hơn lại không thể tự mình hoàn thành nhiệm vụ, mà nếu trợ giúp từ giáo viên thì cũng sẽ mất nhiều thời gian và lại không khả thi vì giáo viên không thể trợ giúp các em cùng lúc Vì thế, giáo viên cần phân nhóm học tập cho toàn lớp (thường mỗi nhóm tôi kết hợp học sinh giỏi với học sinh yếu, học sinh khá với học sinh trung bình) theo hình thức

“đôi bạn cùng tiến” Sau đó tôi hướng dẫn các em cách giúp bạn trong nhóm: khi hoạt động nhóm, ở bước hoạt động cá nhân, nếu bạn nào không tự mình hoàn thành nhiệm vụ cá nhân thì có thể yêu cầu trợ giúp từ bạn khác trong nhóm Bạn học tốt hơn sẽ trợ giúp, hướng dẫn để bạn yếu hơn hoàn thành nhiệm vụ cá nhân, tuyệt đối không bỏ qua hoạt động cá nhân mà chuyển sang hoạt động cặp đôi hoặc nhóm Không chỉ trong các hoạt động trên lớp, tôi đề nghị các em tăng cường tự học ở nhà và “đôi bạn cùng tiến” cũng phát huy tác dụng cả trong giờ tự học để đạt được hiệu quả cao nhất Bên cạnh đó, tôi cũng quy định cho các em hình thức thi đua giữa các nhóm như sau:

- Mỗi học sinh đều có vở rèn toán

Trang 4

- Các nhóm trưởng (học sinh khá, giỏi) ra bài tập các phần kiến thức cũ bạn trong nhóm chưa hiểu, giải mẫu rồi cho bài tập tương tự để các bạn giải

- Giáo viên ra bài tập có các bài dễ, trung bình để cả lớp làm, đồng thời cũng cho một số bài tập khó dành cho học sinh khá, giỏi

- Giáo viên đưa ra thang điểm thi đua giữa các nhóm như sau:

a Phát biểu xây dựng bài: phát biểu đúng: +5 điểm, phát biểu sai: +2 điểm

b Điểm bài kiểm tra:

 Từ 9 10: + 10 điểm

 Từ 7 8,8 : + 5 điểm

 Từ 5  6,8 : + 1 điểm

 Từ 3  4,8 : – 3 điểm

 Từ 1 3,8 : – 5 điểm

 Từ 0 0,8 : – 10 điểm

c Nói chuyện : – 2 điểm

d Làm việc riêng : – 5 điểm

e Không làm bài tập : – 10 điểm

f Không thuộc bài : – 5đ

g Làm bài thiếu : – 2 điểm

h Thiếu dụng cụ học tập: – 3 điểm

i Không viết bài : – 5 điểm

k Trong một tuần nhóm trưởng không ra bài tập : – 10 điểm

Giáo viên giao cho lớp ban học tập của lớp theo dõi, cuối mỗi tuần tổng kết thi đua cho từng nhóm Sau bốn tuần nhóm nào có điểm cao nhất sẽ có phần thưởng từ giáo viên (thường là bút, vở hoặc bánh kẹo) Ngoài ra giáo viên còn thưởng cho nhóm nào giúp bạn tiến bộ nhiều nhất (do lớp bình chọn)

2.3 Tăng cường cho học sinh luyện tập các dạng bài tập đã học, kiểm soát chặt chẽ việc luyện tập của học sinh

Toán học là môn học đòi hỏi khả năng vận dụng cao, nếu chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu lí thuyết, các cách giải cơ bản mà không luyện giải thường xuyên thì các kiến thức đó chỉ nằm trong sách vở mà không trở thành kiến thức trong đầu mỗi học sinh Do đó, trong thực tế giảng dạy, giáo viên cần giao bài tập về nhà cho học sinh sau mỗi dạng bài tập dạy trên lớp Đồng thời, giáo viên cũng cần kiểm soát được việc làm bài tập về nhà của các em theo cách giao cho nhóm trưởng theo dõi, chấm điểm các thành viên trong nhóm và báo cáo với giáo viên vào tiết học toán cuối cùng của mỗi tuần (theo biểu điểm đã trình bày ở mục 3)

2.4 Kết hợp kiểm tra của thầy và của trò trong giờ học

Trang 5

Hầu hết giáo viên mới giảng dạy mô hình này lo lắng đến kết quả học tập của học sinh, nên thường can thiệp rất nhiều vào quá trình tự học và “nói rất nhiều” trong giờ học

Tinh thần là “đi lại nhiều hơn, quan sát nhiều hơn, lắng nghe nhiều hơn, trợ giúp khi cần và nói ít thôi”.

Khi kiểm tra kết quả hoạt động học của học sinh, giáo viên cần:

- Kiểm tra, đánh giá kết quả độc lập với học sinh và cùng tiến hành song song Có nghĩa, việc kiểm tra chéo của học sinh chỉ nhằm mục đích rèn các kĩ năng cho các em như trình bày, giao tiếp, nhận xét, đánh giá, Còn giáo viên kiểm tra là để theo dõi và đánh giá kết quả, thái độ học tập từ đó điều chỉnh việc dạy và học

- Rèn luyện kĩ năng kiểm tra, khuyến khích đặt thêm câu hỏi hoặc ví dụ

- Rèn kĩ năng nhận xét, đánh giá, chuyển giao nhiệm vụ của học sinh đến kiểm tra và kĩ năng trình bày của học sinh được kiểm tra

Cách làm đơn giản là giáo viên hãy đứng bên cạnh các em, nghe các em đặt câu hỏi và câu trả lời, theo dõi kết quả hoạt động, can thiệp khi cần thiết, không nên làm trước việc của các em Nếu cảm thấy mọi việc tạm ổn thì nên đến nhóm khác, không nên đứng chờ tại một nhóm

2.5 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy toán

Mô hình dạy học phổ biến hiện nay là kết hợp phương pháp dạy học truyền thống với việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại Việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phần mềm dạy học sẽ mang lại hiệu quả cao cho một tiết học toán trên lớp, đặc biệt là phân môn hình học, tăng cường tính trực quan và sinh động, tăng cường trao đổi thông tin giữa thầy và trò, hạn chế thời gian viết, vẽ hình của giáo viên, tăng cường tính chủ động, sáng tạo của học sinh bằng nhiều hình ảnh minh hoạ và hình vẽ động, dễ biến đổi và khai thác, đạt được nhiều ý đồ giảng dạy của giáo viên

Chẳng hạn, giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức trò chơi khởi động tạo hứng thú cho học sinh đầu giờ học:

Trang 6

Để minh họa cho các hoạt động thực hành: cắt, gấp hình, giáo viên minh họa các thao tác bằng hình động làm cho học sinh dễ hình dung hơn Sau đây là ví

dụ minh họa cho hoạt động cắt, ghép hình trong bài “Tổng ba góc của một tam giác”:

Rõ ràng, với đặc điểm chung của chương trình toán ở THCS, việc tăng cường nhiều hơn các yếu tố hình ảnh, hình vẽ nhờ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và các phần mềm sẽ quyết định sự thành công của một tiết dạy toán

2.6 Điều chỉnh thiết kế bài học cho phù hợp với học sinh

Sách Hướng dẫn học là tài liệu “3 trong 1”, là sách có tính định hướng duy nhất (cho tới nay) để học sinh căn cứ theo đó mà tự học Nhưng trong một tiết học, không phải lúc nào cũng có thể dạy như sách đã thiết kế, đôi lúc tùy đối tượng học sinh giáo viên có thể thiết kế lại bài học cho phù hợp, nhưng vẫn phải yêu cầu học sinh hoàn thành các bài tập trong sách Hướng dẫn học, đặc biệt sau đợt nghỉ dài do

Trang 7

dịnh Covid-19, giáo viên cần giảm tải nội dung chương trình nhưng vẫn phải đảm bảo chuẩn kiến thức – kĩ năng tối thiểu theo quy định của Bộ GD&ĐT

Chẳng hạn, trong bài “Đơn thức đồng dạng”, ở mục 2.a có thể bỏ qua yêu cầu thứ nhất:

và cho học sinh thực hiện luôn yêu cầu thứ hai: thảo luận tìm cách cộng, trừ hai đơn thức sau:

2.7 Giải thích ngắn gọn, dễ hiểu

Khi giảng dạy thực tế sẽ gặp những tình huống phải giải thích rõ ràng để làm sáng tỏ kiến thức, cũng như logic toán học Song đối tượng học sinh trung bình, yếu thì việc giải thích này sẽ làm cho các em khó hiểu, do đó nếu có cách giải thích nào đơn giản nhất mà vẫn đảm bảo mục tiêu, trọng tâm kiến thức thì giáo viên nên giải thích để học sinh dễ hiểu hơn Chẳng hạn, để giải thích cho học sinh hiểu định nghĩa nghiệm của đa thức một biến được trình bày trong sách hướng dẫn: “Nếu tại x = a, đa thức P(x) có giá trị bằng 0 thì ta nói a (hoặc x = a) là một nghiệm của đa thức P(x), giáo viên có thể nói ngắn gọn: “nghiệm của đa thức một biến là giá trị của biến làm cho đa thức có giá trị bằng 0” mà vẫn đảm bảo

Trang 8

mục tiêu của bài học: “hiểu được nghiệm của đa thức một biến” mà học sinh trung bình, yếu sẽ dễ hiểu hơn

3 Khả năng áp dụng của giải pháp:

Các giải pháp trên có thể vận dụng cho giáo viên trong dạy học môn toán 7 nói riêng và các bộ môn theo mô hình trường học mới nói chung, cũng có thể vận dụng các kinh nghiệm trên để giảng dạy cho các khối lớp học Toán theo chương trình hiện hành

4 Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp

- Theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã áp dụng sáng kiến (nếu có): Không

- Theo ý kiến của tác giả sáng kiến:

+ Trước khi áp dụng sáng kiến: Chất lượng dạy - học toán 7 theo mô hình trường học mới chưa cao

+ Hiệu quả sau khi áp dụng sáng kiến:

Qua thời gian áp dụng các kinh nghiệm vừa trình bày ở trên từ đầu năm học

2018 - 2019 đến nay đối với 35 em học sinh lớp 7B trường PTDT Nội trú THCS&THPT huyện Si Ma Cai đã thu được kết quả như sau:

+ Hình thành được phương pháp và kĩ thuật dạy học theo mô hình trường học mới Giáo viên đỡ phải nói nhiều cho một đơn vị kiến thức mà nhiều học sinh chưa hiểu

+ Nhiều học sinh mạnh dạn tự tin hơn

+ Không khí học tập sôi nổi hơn, các em thi đua nhau làm bài cho nhanh hơn để được đánh dấu vào Phiếu đánh giá nhóm

+ Đánh giá tương đối chính xác lực học của các em

+ Những em học chậm, học yếu hơn những em khác dần dần cũng đã mạnh dạn bày tỏ ý kiến, mạnh dạn hỏi bài khi không hiểu bài

Kết quả khảo sát cụ thể:

5 Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có):

Không

6 Tài liệu kèm theo gồm:

- Bản vẽ, sơ đồ: 0 (bản)

- Bản tính toán: 0 (bản)

- Các tài liệu khác: 0 (bản)

Xác nhận hiệu quả vận dụng của giải pháp Si Ma Cai, ngày 10 tháng 2 năm 2019

Người báo cáo

Nguyễn Thị Hải

Ngày đăng: 10/08/2023, 03:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w