1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tập Bài Giảng Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững

56 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tập Bài Giảng Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững
Thể loại Tập bài giảng
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 240,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH KHOA ĐỊA LÝ TẬP BÀI GIẢNG MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Tài liệu lưu hành nội bộ CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮN[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA ĐỊA LÝ

TẬP BÀI GIẢNG MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Tài liệu lưu hành nội bộ

Trang 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1.Định nghĩa môi trường và Phát triển bền vững

Luật BVMT Việt Nam (1994, điều 1, chương 1)

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhântạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởngtới đời sống, sản xuất sự tồn tại và phát triển của con người và thiênnhiên

Năm 1987, trong báo cáo của Hội đồng Thế giới về Môi trường

và Phát triển (WCED) với nhan đề “Tương lai chung của chúng ta”,khái niệm phát triển bền vững mới được sử dụng một cách chính thứctrên quy mô quốc tế và được định nghĩa như sau: “Phát triển bềnvững là phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưngkhông gây trớ ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau”

1.2.Phân loại Môi trường:

Theo quan điểm nguồn gốc phát sinh.

Có thể phân biệt hai loại vấn đề môi trường:

+ Loại vấn đề môi trường nguyên sinh: do sức mạnh thiênnhiên gây ra như động đất, lũ lụt, hạn hán, đất sụt, giông bão, núi lửahoạt động, khi những thiên tai đó gây thiệt hại cho tính mạng và tàisản của con người thì nó trở thành là tai hoạ của thiên nhiên Đối vớiloại vấn đề về môi trường này, hiện nay năng lực chế ngự của conngười vẫn còn rất hạn chế, nhưng đối với một số nhận thức nào đó vànăng lực phòng tránh thì vẫn đang được biến đổi không ngừng

+ Loại vấn đề môi trường thứ sinh: do hoạt động của conngười gây ra, thường được gọi là những tai hoạ do con người gây ra,

nó được phân thành ô nhiễm môi trường và sự phá hoại sinh thái

- Ô nhiễm môi trường: do nhân tố con người, nó làm chotrạng thái vật lí và thành phần hoá học của môi trường thay đổi Sovới ban đầu thì chất lượng môi trường bị giảm sút, xấu đi, bị đảo lộn,dẫn đến chỗ phá hoại hệ thống sinh thái, điều kiện sản xuất và sinh

Trang 3

sống bình thường của con người Nói một cách cụ thể, ô nhiễm môitrường là chỉ những phế thải có hại do hoạt động sản xuất của conngười thải ra, chủ yếu là 3 loại phế thải của công nghiệp (khí thải,chất phế thải và nước thải) phá hoại môi trường, bao gồm nhiều ônhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm sinh vật do vậtchất gây ra; ô nhiễm do tiếng ồn, ô nhiễm nhiệt, ô nhiễm phóng xạ, ônhiễm điện từ do các tác nhân vật lí gây ra.

- Phá hoại sinh thái: môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng

đã gây nguy hại cho sinh vật thì được gọi là phá hoại sinh thái môitrường Môi trường tự nhiên (MTTN) bị phá hoại là do hoạt động củacon người tác động phá hoại trực tiếp đối với thiên nhiên, như việcchặt phá rừng bừa bãi làm cho tài nguyên rừng bị suy kiệt, chăn nuôiquá nhiều gia súc làm cho đồng cỏ bị thoái hóa, khai hoang một diệntích khá lớn làm cho đất bị sa mạc hóa, bắt và săn bắn bừa bãi làmcho một số loài bị diệt chủng, trực tiếp phá hoại nguồn nước và đất…

Môi trường sống của con người thường phân thành:

- Môi trường tự nhiên (MTTN) gồm các nhân tố thiên nhiênnhư vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con ngườinhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng MặtTrời, núi, sông, biển cả, không khí, động và thực vật, đất và nước,…Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây nhà cửa,trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyênkhoáng sản phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ

- Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa conngười với con người Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định các cấpkhác nhau Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con ngườitheo một khuôn khổ nhất định tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợicho sự phát triển, làm cho cuộc sống con người khác với các sinh vậtkhác

Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo,bao gồm các nhân tố do con người tạo nên hoặc biến đổi theo, làmthành những tiện nghi trong cuộc sống như ô tô, máy bay, nhà ở,công sở, các khu đô thị, công viên ,…

1.3.Cấu trúc môi trường

Trang 4

Môi trường toàn cầu được xem như quyển môi trường(Environmental sphere) mà cấu trúc hợp phần của nó bao gồm nămhợp phần trong mối quan hệ tương tác với nhau trao đổi vật chất (m),năng lượng (e) và thông tin (i) Các hợp phần đó là địa quyển, khíquyển, thuỷ quyển, sinh quyển, nhân sinh quyển (còn gọi là tríquyển).

1.4.Chức năng môi trường

1.4.1 Chức năng cung cấp không gian sống

Môi trường là không gian (nơi) sinh sống của con người và thế

giới sinh vật (habitat) Chức năng này đòi hỏi môi trường phải có một

phạm vi không gian thích hợp cho mỗi con người và sinh vật

a/Đối với con người

Mỗi cá thể và gia đình đều cần một không gian nhất định đểphục vụ cho các hoạt động sống như nhà ở, chỗ làm việc, nơi nghỉ,dất để trồng trọt và chăn nuôi…Xã hội loài người trong quá trình pháttriển đã chiếm dần không gian của môi trường tự nhiên Trái Đất đểthiết lập quần cư nông thôn và đô thị, xây dựng đường sá, bến cảng,

xí nghiệp, trường học, bệnh viện…Theo tính toán, các nhà khoa họccho rằng trung bình mỗi ngày mỗi người đều cần khoảng 4 m3 khôngkhí sạch để hít thở, 2,5 lít nước để uống, 2000-2400 calo lương thực,thực phẩm Như vậy, chức năng này đòi hỏi môi trường phải có mộtphạm vi thích hợp cho mỗi con người và gia đình họ, cho cả cộngđồng và toàn nhân loại trên thế giới Do dân số thế giới ngày càngtăng dẫn đến diện tích không gian sống bình quân trên Trái Đất ngàycàng bị thu hẹp

Nhu cầu về không gian sống của con người thay đổi theo trình

độ khoa học và công nghệ Trình độ phát triển càng cao thì nhu cầukhông gian sản xuất sẽ càng giảm Tuy nhiên MTTN toàn cầu cũng cógiới hạn chịu đựng nhất định cung cấp không gian sinh tồn cho xã hộiloài người Hội nghị về môi trường nhân loại của Liên Hợp Quốc xuấtphát từ góc độ bảo vệ sự cân bằng sinh thái toàn cầu đã cảnh báorằng tài nguyên của Trái Đất chỉ có thể nuôi được 11 tỷ người là thích

Trang 5

hợp Nếu dân số thế giới đông hơn nữa sẽ vượt quá ngưỡng chịuđựng của môi trường.

Chức năng không gian sống của con người có thể phân thànhcác dạng cụ thể sau (Lê Văn Khoa, 2001):

- Chức năng xây dựng: cung cấp mặt bằng và nền móng cho các

đô thị, khu công nghiệp, kiến trúc hạ tầng và nông thôn

- Chức năng vận tải: cung cấp mặt bằng, khoảng không gian vànền móng cho giao thông đường thủy, đường bộ và đường không

- Chức năng sản xuất: cung cấp mặt bằng và phông tự nhiêncho sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp…

- Chức năng giải trí của con người: cung cấp mặt bằng, nềnmóng và phông tự nhiên cho việc giải trí ngoài trời của con người(trượt tuyết, trượt băng, đua ngựa…)

- Chức năng cung cấp năng lượng, thông tin

b/Đối với thế giới sinh vật

- Môi trường có chức năng cung cấp những điều kiện (khônggian, năng lượng, lương thực, thiên địch, tính chu kì…) để phát triểncác loài và các HST được thừa nhận như giá trị thực mang tải nhữngnơi cư trú có quy mô nhỏ của các loài sống vùng biên, của những loài

có phạm vi phân bố rộng, những điều kiện để phát triển HST

- Môi trường có chức năng làm nơi ở trong các hồ chứa: cungcấp không gian, nhịp điệu, phương thức và cơ chế cho sự tiến hóađược liên tục

Trang 6

tăng lên về số lượng, chất lượng và độ phức tạp theo trình độ pháttriển của xã hội Nhóm chức năng này còn gọi là các chức năng sảnxuất tự nhiên, gồm :

- Rừng tự nhiên có chức năng cung cấp nước, độ phì nhiêu củađất, nguồn gỗ củi và cải thiện điều kiện khí hậu

- Các thủy vực có chức năng cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vuichơi và các nguồn hải sản

- Động và thực vật cung cấp các nguồn gen quý hiếm

1.4.3 Chức năng tiếp nhận chất thải

Môi trường là nơi chứa đựng phế liệu thải ra từ quá trình sinhsống và hoạt động sản xuất của con người

Chức năng này trước đây trong các giai đoạn loài người còn sănbắt, hái lượm, nông nghiệp sơ khai, lúc dân số nhân loại còn ít, chủyếu do các quá trình phân hủy tự nhiên, làm cho phế thải sau mộtthời gian nhất định lại trở thành nguyên liệu thiên nhiên Sự gia tăngdân số nhanh chóng và quá trình công nghiệp hóa đã làm cho chứcnăng này trở nên vô cùng quan trọng

Nếu môi trường không còn làm nổi chức năng này thì chất lượngcuộc sống của con người dù thừa thãi về lương thực, hàng hóa, thôngtin cũng không còn có chất lượng cao Quá trình “Nhiễm độc hóa” môitrường thậm chí còn có thể dẫn xã hội loài người đến diệt vong.Nhóm chức năng này có các nội dung:

- Chức năng biến đổi lý hóa học: pha loãng, phân hủy hóa họcnhờ ánh sáng; hấp thụ; sự tách chiết các vật thải và độc tố

- Chức năng biến đổi sinh hóa: sự hấp thụ các chất dư thừa; chutrình nitơ và cácbon; khử độc bằng con đường sinh hóa

- Chức năng biến đổi sinh học: khoáng hóa các chất thải hữu cơ,mùn hóa …

1.4.4 Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin

Trang 7

Môi trường có chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho conngười.

- Cung cấp sự ghi chép lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóacủa vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa củaloài người cũng như tất cả các tư liệu khác như ở mức độ vi mô, vĩ

mô, sinh học cho nghiên cứu và giáo dục mà qua đó các nền văn hóaphát triển những bản sắc đặc thù của chúng

- Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tínhiệu và báo động sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vậtsống trên Trái Đất Chẳng hạn như phản ứng sinh lí của cơ thể sốngtrước khi xảy ra các tai biến tự nhiên như bão, động đất, núi lửa,băng giá…

- Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen,các loài động thực vật, các HST tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp,cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo và văn hóakhác

1.5.Mối quan hệ giữa tài nguyên môi trường và phát triển bền vững

Sự phát triển lâu dài và ổn định chỉ có thể đạt được dựa trênmột sự cân bằng nhất định của ba mặt: kinh tế - xã hội – môi trường

Trong một thời kỳ cụ thể, người ta có thể đặt một mặt nào đólên vị trí ưu tiên số một, song mức độ và thời hạn của sự ưu tiên đó là

có giới hạn

Chẳng hạn, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hầu như tất cả cácnước đều đã coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu số một Quan điểmkhá phổ biến vào thời kỳ đó là cho rằng phải “tạm thời” hy sinh tínhcông bằng xã hội và môi trường để có được tốc độ tăng trưởngnhanh Điều đó có nghĩa là chấp nhận sự bất bình đẳng trong xã hội

và một sự suy thoái môi trường nào đó Sau khi đạt được trình độkinh tế cao, lúc bấy giờ sẽ có điều kiện để khắc phục dần bất bìnhđẳng về phân phối thu nhập trong xã hội và làm trong sạch lại môitrường

Trang 8

Ở nhiều nước, cái giá cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh đó là sựmất cân bằng xã hội, là sự đói nghèo của một bộ phân dân cư, là sựthất học của một số thế hệ trẻ em, là sự mở rộng các khu nhà ổ chuột

đô thị, là tỉ lệ thất nghiệp kinh niên và thất nghiệp tạm thời luôn luôncao

Còn cái giá phải trả về mặt môi trường là mức độ ô nhiễm môitrường ngày càng cao, hiện tương hoang mạc xuất hiện trên nhữngvùng đất trước đây là rừng nguyên sinh hay các mỏ khoáng sản, cácdòng sông bị ô nhiễm vì nước thải và bầu trời xám xịt vì nạn khói bụicộng nghiệp…

Từ những bài học kinh nghiệm thực tiễn đó, con người đã bừngtỉnh và đã tìm cách tiếp cận mới đối với chiến lược phát triển khi coicác vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môitrường là ba yếu tố cấu thành của xã hội có quan hệ hữu cơ với nhau,thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển

Chương 2

SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 2.1 Suy thoái môi trường trên thế giới và ở Việt Nam 2.1.1.Trên thế giới

Hiện nay, nhiều vấn đề môi trường đang diễn ra rất phức tạp ởtất cả các quốc gia trên thế giới Báo cáo tổng quan môi trường toàncầu năm 2000 của Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP)

Trang 9

viết tắt là “ GEO -2000” là một sản phẩm của hơn 850 học giả trênkhắp thế giới, trên 30 cơ quan môi trường và các tổ chức khác củaLiên Hợp Quốc (LHQ) cùng phối hợp tham gia biên soạn Đây là mộtbáo cáo đánh giá tổng hợp về môi trường Toàn cầu khi bước sangmột thiên niên kỷ mới GEO-2000 đã tổng kết những gì chúng ta đãđược với tư cách là những người sử dụng và gìn giữ các hàng hóa vàdịch vụ môi trường trong thế kỷ XX và những khó khăn khi con ngươibước vào thế kỷ XXI Báo cáo đã khẳng định:

Thứ nhất: Các HST và sinh thái nhân văn toàn cầu bị đe dọa bởi

sự mất cân bằng sâu sắc trong năng suất và trong phân bố hàng hóa

và dịch vụ Một tỷ lệ đáng kể nhân loại hiện nay vẫn đang sống trong

sự nghèo khó và xu hướng được dự báo là sự khác biệt sẽ ngày càngtăng giữa những người thu được lợi ích từ phát triển kinh tế - côngnghệ và những người không bền vững theo hai thái cực: Sự phồnthịnh và sự cùng cực đang đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thốngnhân văn và cùng với nó là môi trường toàn cầu

Thứ hai: Thế giới hiện đang ngày càng biến đổi, trong sự phốihợp quản lý môi trường ở quy mô quốc tế luôn bị tụt hậu so với sựphát triển KT-XH Những thành quả môi trường thu được nhờ côngnghệ và những chính sách mới đang không theo kịp nhịp độ, quy môgia tăng dân số và phát triển kinh tế

Thứ ba: Khoảng 71% với 361 triệu km2 bề mặt Trái Đất đượcbao phủ bởi mặt nước Vì vậy, đã có các nhà khoa học đề nghị thay vìgọi Trái Đất bằng “Trái Nước” Tuy nhiên, trong số đó chỉ có khoảng2,5% là nước ngọt và chủ yếu ở dạng băng ở hai cực Bắc, Nam vàtrên các núi cao; lượng nước ngọt con người có thể sử dụng cho sảnxuất và đời sống chỉ khoảng 0,26% Do đó nước ngọt càng trở nênkhan hiếm và dự báo sẽ nảy sinh những xung đột về nguồn nướctrong thế kỉ XXI

Ngày 31/03/2005, tức là sau năm năm GEO-2000, tại London,một báo cáo nghiên cứu được thực hiện bởi 1.360 nhà khoa học của

95 quốc gia đã công bố với những cảnh báo hết sức nghiêm túc rằng2/3 TNTN có ảnh hưởng tích cực tới đời sống của con người đã vàđang bị hủy họai Các tác giả gọi hiện thực này là “một cảnh báo khắc

Trang 10

nghiệt” đối với toàn thế giới Nghiên cứu khẳng định rằng hành độngcủa con người đang tạo ra một sức ép lớn đối với cơ cấu tự nhiên củaTrái Đất và do vậy sẽ làm giảm khả năng sinh tồn của các hệ thốngtrong tương lai Những con số cụ thể được nêu trong báo cáo là:

- Vì nhu cầu của con người về thức ăn, nước sạch, gỗ, vậtliệu và nhiên liệu, nhiều vùng đã bị khai thác quá mức cho phép

- Nguồn nước sạch đã giảm đáng kể trong vòng 40 năm trởlại đây Con người hiện đang sử dụng 40 -50% lượng nước sạch

- Ít nhất ¼ nguồn cá đã được khai thác một cách vội vàng

Do vậy ở một số khu vực, lượng đánh bắt cá hiện chỉ còn ở mức dưới1% so với trước đây

- Từ năm 1980 khoảng 35% thực vật đã bị biến mất, 20%dải san hô ngầm của thế giới đã bị phá hủy và khoảng 20% khácđang bị đe dọa

- Nạn phá rừng và những thay đổi khác có thể làm tăngbệnh sốt rét, dịch tả, mở đường cho những bệnh mới nguy hiểm xuấthiện mà trước đây chưa từng được biết đến

2.1.2.Ở Việt Nam

a/Rừng bị suy thoái

Rừng là nguồn tài nguyên sinh vật quý giá nhất của đất nước ta.Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữchức năng sinh thái cực kỳ quan trọng Rừng tham gia vào quá trìnhđiều hoà khí hậu, đảm bảo sự chu chuyển ôxi và các nguyên tố cơbản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất,hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất và bờ biển, sụt lở đất

đá, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, của sự biếnđổi khí hậu, xâm nhập mặn, bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm,làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước

Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, vớiđịa hình rất đa dạng, khoảng 3/4 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậuthay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam đến á nhiệt đới ở vùng cao phíaBắc, đã tạo ra sự đa dạng về HST tự nhiên và sự phong phú về cácloài sinh vật Những HST đó bao gồm các loại rừng như rừng cây lá

Trang 11

rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đávôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừngngập mặn (RNM), rừng tràm, rừng ngập nước ngọt,…

Qua quá trình phát triển, độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảmsút đến mức báo động Nguyên nhân có nhiều , nhưng chủ yếu làchuyển đổi diện tích đất rừng sang diện tích đất nông nghiệp Tiếp đến lànạn cháy rừng hàng năm gây thiệt hại lớn đến diện tích rừng Chỉ riêng 5năm, từ 1999 – 2003 đã xảy ra 2213 vụ cháy rừng với 20.784 ha trong

đó có 6.536 ha rừng tự nhiên và 14.256 ha rừng trồng bị cháy

b/Suy thoái tài nguyên đất

Như đã biết, ¾ diện tích đất đai Việt Nam thuộc về vùng núi vàtrung du nên quá trình xói mòn đất và rửa trôi các chất dinh dưỡngxảy ra với cường độ mạnh Tính đến năm 2006, diện tích đất trốngđồi núi trọc ở nước ta vẫn còn lớn, khoảng 7 triệu ha Theo dự báodiện tích đất nông nghiệp phát triển tối đa cũng chỉ đạt tới 11 triệu

ha Nếu như tỷ lệ tăng dân số trung bình vẫn là 1,7% năm thì bìnhquân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người vẫn không vượt quángưỡng 1.300m2/ người Đây là ngưỡng rất thấp so với trị số trungbình của thế giới Mặt khác, do công nghiệp hóa, đô thị hóa và pháttriển giao thông nên tỷ lệ diện tích đất chuyên dùng ngày càng giatăng

c/Suy thoái tài nguyên nước ngọt

Nước mặt: Việt Nam có lượng mưa lớn, hệ thống sông ngòi dàyđặc, nên tài nguyên nước mặt khá phong phú Tổng lượng nước trungbình hàng năm là 880 tỷ m3, trong đó chỉ riêng lưu vực sông Hồng vàsông Cửu Long đã chiếm tới 75% lượng nước trên Tuy vậy lượngmưa phân bố không đồng đều theo thời gian trong năm và khôngđồng đều giữa các vùng, do đó ở các tỉnh Trung du Bắc Bộ,các tỉnhNam Trung Bộ và Tây Nguyên thường xảy ra hạn hán Mặt khác, dotác động động của nước thải công nghiệp và nước thải đô thị chưađược xử lí chảy vào, môi trường nước ở một số dòng sông đã bị ônhiễm nặng các chất ô nhiễm hữu cơ như sông Cầu, sông Nhuệ (BắcBộ), sông Thị Vải, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông

Trang 12

Nước ngầm: Theo tính toán, tiềm năng trữ lượng nước ngầmcủa Việt Nam ước khoảng 48 tỷ m3/năm (17 – 20 triệu m 3/ngày ).Hiện nay, hàng năm có thể khai thác xấp xỉ 1 tỷ m3 /năm (khoảng 2,3triệu m3 /ngày).

Nước khoáng: Trên lãnh thổ Việt Nam có nhiều mỏ nước khoáng

và hiện mới thăm dò được 38 mỏ với trữ lượng khoảng39.406m3/ngày

d/Suy thoái tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH)

Việt Nam được coi là một trong 15 trung tâm ĐDSH cao trên thếgiới Sự ĐDSH thể hiện ở thành phần loài sinh vật, thành phần gen,nơi cư trú của sinh vật ở các kiểu cảnh quan và HST khác nhau Tuynhiên, trong các năm gần đây ĐDSH đã bị giảm nhiều Nguyên nhânchủ yếu là do phát triển kinh tế – xã hội làm giảm nơi cư trú, do khaithác, săn bắt quá mức và ô nhiễm môi trường

2.2 Ô nhiễm môi trường trên thế giới và ở Việt Nam

2.2.1 Trên thế giới

Về phương diện kinh tế-môi trường, một loạt những tháchthức về môi trường toàn cầu được nhận dạng ngày càng đầy đủ vàsâu sắc hơn, trong đó nổi lên 10 thách thức chủ yếu sau đây:

- Không xử lí đúng kỹ thuật các chất thải công nghiệp và sinhhoạt khác của người và gia súc, hoặc các xác sinh vật chết gây ra

Ô nhiễm đất làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng,hủy diệt sự sống một số sinh vật trong những khu vực ô nhiễm nặng,đồng thời còn đe dọa sức khỏe con ngời thông qua vật nuôi, cây

Trang 13

trồng, thậm chí gây ra những biến dạng sinh thái và di truyền nặng

nề cho hệ sinh sống

(ii) Ô nhiễm không khí.

Sự phát triển công nghiệp và đời sống đô thị dựa trên “nềnvăn minh dầu mỏ” đang làm không khí bị ô nhiễm bởi các chất thảikhí SO2, NO2, CO, hơi chì, mồ hóng, tro và các chất bụi lơ lửng khácsinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu hay các chất cháy khác,cũng như do sự vận hành của các phương tiện vận tải, hay máy móccông nghiệp trong chu trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Theothống kê của LHQ, hiện có tới 50% dân số thành thị trên thế giớiđang sống trong môi trường không khí có mức SO2 vượt quá tiêuchuẩn và hơn một tỉ người đang sống trong môi trường có bụi than,bụi phấn vượt quá tiêu chuẩn cho phép và lượng khí thải có thể tănglên gấp 15 lần hiện nay trong vòng 25 năm tới Sự ô nhiễm không khí

có thể trực tiếp giết chết hoặc hủy hoại sức khỏe các sinh vật sống,hay gây ra”hiệu ứng nhà kính” và các trận mưa axít không biên giớilàm biến dạng và suy thoái môi trường, hủy diệt hệ sinh thái (80%nước hồ ở miền nam Na Uy đã bị axít hóa từ những trận mưa axít)

(iii) Ô nhiễm tiếng ồn.

Nhịp sống công nghiệp và đô thị hóa cao còn là nguồn gốcgia tăng độ ồn và chúng trực tiếp làm tổn hại hệ thần kinh, sức khỏe,trí tuệ, tình cảm và năng lực làm việc của con người Tiếng ồn, theođánh giá của các chuyên gia y tế, có tác hại đến con người khôngkém so với bụi và sự ô nhiễm không khí khác

(iv) Ô nhiễm phóng xạ, bức xạ.

Về nguồn gốc tự nhiên, đó là do những bức xạ Mặt Trời hoặc

từ vũ trụ phóng xuống Trái Đất ngày càng nhiều cùng với sự mỏng đicủa tầng ôdôn trước tình trạng ô nhiễm không khí nêu trên Về nguồngốc nhân tạo, đó là do quá trình con người gia tăng việc khai thác và

sử dụng các nhiên liệu hạt nhân trong sản xuất, y tế, cũng như do các

sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, do thử hay hủy bỏ vũ khí hạt nhân

và rò rỉ do bảo quản kém các chất thải hạt nhân, … Tất cả đều gây

Trang 14

hại trực tiếp và lâu dài đến sức khỏe và di truyền của sinh vật, thựcvật sống nếu bị nhiễm xạ quá liều lượng.

(v) Các tài nguyên không phục hồi được đang cạn dần.

Với tốc độ, qui mô khai thác ngày càng gia tăng như hiệnnay cho việc duy trì và đẩy nhanh phát triển kinh tế, chẳng bao lâunữa thế giới sẽ cạn kiệt một loạt mỏ khoáng sản đang đóng vai trònguyên liệu đầu vào quan trọng cho nền sản xuất công nghiệp đươngđại Điều này đặt nhân loại trước sức ép to lớn phải thay đổi nhanhchóng và hiệu quả toàn bộ cơ cấu công nghệ và các hàng hóa, cácdịch vụ sản xuất và sinh hoạt dựa trên chúng Trật tự kinh tế quốc tế

có thể bị đảo lộn, các vấn đề cơ cấu KTXH và cả chính trị sẽ gia tăng,một khi nền tảng sản xuất quốc gia và quốc tế dựa trên các nguồn tàinguyên thiên nhiên không thể phục hồi ngày càng teo dần và sẽ vĩnhviễn mất đi trên hành tinh này

(vi) Nước sạch ngày càng khan hiếm.

Hội nghị về môi trường của LHQ (3/1997) đã chính thức cảnhbáo: sau nguy cơ về dầu mỏ, loài người đang và sẽ phải đối mặt nguy

cơ phổ biến là thiếu các nguồn nước sạch cần thiết cho duy trì vàphát triển đời sống kinh tế – xã hội của mình Nguy cơ này xuất phát

từ các lí do sau:

- Nước sạch là nguồn tài nguyên có hạn và phân bố khôngđều Khoảng 95,5% nước trên Trái Đất là nước mặn nằm trong cácđại dương Chỉ có 2,53% tổng lượng nước là nước ngọt có thể dùngđược cho trồng trọt, sinh hoạt của con người

- Sự ô nhiễm các nguồn nước đang có nguy cơ gia tăng dothiếu xử lý cần thiết các loại rác thải sinh hoạt và công nghiệp, do cáchóa chất dùng trong nông nghiệp và các nguồn nhiễm xạ, nhiễm bẩn

từ các nguyên vật liệu khác dùng trong sản xuất Hiện nay, 40% lưulượng ổn định của các dòng sông trên Trái Đất bị ô nhiễm Nhìnchung, theo ước tính của LHQ, độ ô nhiễm nguồn nước thế giới có thểtăng 10 lần trong vòng 25 năm tới

Trang 15

- Nhu cầu tiêu dùng nước ngày càng tăng nhanh do sự gia tăngdân số và yêu cầu phát triển sản xuất, khiến lượng nước sạch bìnhquân đầu người ngày càng giảm Hiện nay, theo LHQ, trên thế giới cóhơn 100 trong số hơn 213 quốc gia và khu vực đang bị thiếu nước vớimức độ khác nhau (chiếm 60% diện tích châu lục), trong đó 43 quốcgia thiếu nước nghiêm trọng Trong các nước đang phát triển có tới60% dân số đang bị thiếu nước sạch sinh hoạt, 80% bệnh tật là liênquan trực tiếp nguồn nước bị nhiễm bẩn, mỗi năm có 25 triệu trẻ em

đã chết vì dùng nước không sạch

(vii) Các tài nguyên biển bị khai thác bừa bãi.

Bị buộc phải tiếp nhận 650 triệu tấn rác mỗi năm do con ngườithải ra hoặc bị thất thoát trong quá trình sản xuất, vận chuyển, biểnkhông chỉ thành thùng rác lớn nhất của Trái Đất và ngày càng bị ônhiễm nặng, mà các tài nguyên biển còn đang bị con người khai thácbừa bãi, mù quáng vì những lợi ích ngắn hạn (đánh bắt hải sản quámức cho phép, khai thác bờ biển tùy tiện để chăn nuôi, xây đảo, xâybến tàu, cảng, thị trấn, khai thác vật liệu xây dựng…) Theo dự báocủa LHQ, trong thế kỉ 21, trước sức ép của các vấn đề KTXH, cácnước sẽ đồng loạt tiến hành ra quân đại dương, mở ra thời kì mới,thời kì nền kinh tế đại dương Điều này cũng có nghĩa là sẽ gây ra sức

ép mạnh hơn đến tình trạng ô nhiễm môi trường và cạn kiệt các tàinguyên biển, tích lũy thêm các xung lực cho sự ô nhiễm và suy kiệttài nguyên thiên nhiên lan tỏa rộng, nhanh hơn trên toàn cầu thôngqua chu trình vận hành mang tính tương hỗ và khép kín của tự nhiên

(viii) Rừng bị thu hẹp cùng với sự gia tăng đất bị sa mạc hóa.

Từ khi con người bước ra khỏi cửa rừng thì đã bắt đầu pháhoại rừng một cách tự phát, với tốc độ nhanh bởi những nguyên nhânnhư:

- Do phá rừng để lấy đất làm nhà ở, mặt bằng sản xuất nôngnghiệp và công nghiệp, phát triển giao thông đã làm giảm 45% diệntích rừng

Trang 16

- Do nhu cầu khai thác gỗ làm vật liệu xây dựng, chất đốt,nguyên liệu sản xuất, chế biến…

- Do ô nhiễm môi trường (ô nhiễm nước, khí quyển, mưa axít

…)

Việc diện tích rừng bị thu hẹp đã kéo theo những tai họa khổng

lồ mang tầm vóc toàn cầu: làm biến dạng hệ sinh thái, tăng nguy cơkhan hiếm nước, thay đổi khí hậu và đi kèm với sự gia tăng các tai

họa thiên nhiên (lũ lụt, bão).

Tình trạng sa mạc hóa kéo theo một vòng luẩn quẩn khép kín:

sa mạc hóa làm tăng yêu cầu phá rừng và sử dụng hóa chất trongtrồng trọt để tăng sản lượng nông nghiệp, điều đó lại làm tăng suythoái và sa mạc hóa đất đai Đó là chưa kể đang xuất hiện một nghịch

lí là: tác động của hóa chất nông nghiệp đến tăng sản lượng và diệttrừ sâu có xu hướng giảm đi, trong khi tác động xấu đến chất lượngđất đai và môi trường của chúng lại gia tăng rõ rệt

(ix) Đa dạng hóa sinh học bị giảm sút nhanh chóng.

Do kết quả tiến hóa hàng tỉ năm, trong thiên nhiên hiện có

khoảng 5 - 10 triệu loài sinh vật, tạo ra sự đa dạng về giống, loài,gien và hệ sinh thái Sinh vật trên Trái Đất đang đứng trước nguy cơdiệt chủng lần thứ sáu, nhưng từ phía con người: từ sự săn bắn, chặtphá, cũng như ô nhiễm môi trường và các hệ quả khác phát sinh từcác hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người Tốc độ diệt chủngcác loài bởi bàn tay con người gây ra cao gấp 1.000 lần so với thiênnhiên Chỉ trong thế kỉ 20 này, đã có tới 75% giống cây trồng bị tuyệtchủng, 1/3 trong số 4.500 loài gia súc và gia cầm đã biết trên TráiĐất đang đối mặt nguy cơ này Sự sụt giảm đột ngột các loài sinh vật

đã làm mất đi nguồn tài nguyên quan trọng cho nhiều ngành công,nông nghiệp, trong đó có ngành dược phẩm (80% dược phẩm trongcác nước đang phát triển là có nguồn gốc thiên nhiên), đồng thời tạo

ra nguy cơ trực tiếp và tiềm tàng về mất cân bằng và sự suy thoáitoàn diện hệ thống sinh thái, mà trong đó bản thân con người là một

bộ phận hữu cơ

Trang 17

(x) Sự mất ổn định khí hậu và gia tăng các tai họa thiên nhiên.

Tình trạng ô nhiễm không khí do các tác nhân nêu trên cùng với

sự thu hẹp diện tích rừng bao phủ (vốn có tác dụng điều hòa khôngkhí tự nhiên) đang làm tăng “hiệu ứng nhà kính”; làm tăng nhiệt độtrên Trái Đất (trong vòng 100 năm qua, nhiệt độ trung bình trên TráiĐất tăng từ 0,3 đến 0,60C, dự báo sẽ tăng lên từ 1,5 đến 4,50C vàonăm 2030) Việc tăng dần nhiệt độ Trái Đất làm tan băng hai cực vàtăng mực nước cũng như nhiệt lượng của đại dương, hơi nước bốc lênnhiều hơn làm cho tốc độ khí lưu tăng nhanh, năng lượng nhiệt mangtheo gió bão cũng vì thế gia tăng, làm thay đổi hướng chuyển vận củacác dòng hải lưu nóng – lạnh gây hiệu ứng El Ninõ và Lanina khôngtheo chu kì

Cùng với những tai họa có nguồn gốc thiên nhiên khác đang có

xu hướng gia tăng như động đất, núi lửa… tổ hợp tất cả những yếu tố

và hậu quả đó sẽ làm cho khí quyển Trái Đất bị đảo lộn và thất thờnghơn, gây ra những thiên tai cực lớn toàn cầu như nước triều lạnh, hạnhán, lũ lụt, bão bụi, phá vỡ vòng tuần hoàn của quá trình tái sinh sảnxuất KTXH và của các cơ cấu sinh thái khác… Hậu quả sẽ thật khủngkhiếp và khó lường Những tổn thất con người và vật chất do môitrường suy thoái gây ra đã và đang vượt quá những tổn thất về người

và của từ các biến động xã hội và chiến tranh Năm 1998, các thiêntai trên thế giới đã gây tổn thất chung về vật chất lên tới 93 tỉ USD sovới 60 tỉ USD năm 1996

Trên thực tế 30 năm qua, số vụ thiên tai lớn không ngừng giatăng, con số người bị thương vong tăng bình quân 6%/ năm, tức vượt

ba lần tốc độ tăng dân số toàn cầu Theo dự báo, đến đầu thế kỉ 21,

số nạn nhân của môi trường sẽ lên đến ít nhất 50 triệu người ÔngG.H Brôn tơ ran, Chủ tịch Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới,thậm chí còn cho rằng, trừ chiến tranh hạt nhân, thì sự biến đổi củakhí hậu sẽ là mối đe dọa lớn nhất đối với sự tồn vong của loài người,thậm chí còn đe dọa cả tương lai của Trái Đất

Trang 18

Nhìn chung, thế giới ngày nay đang đứng trước nhiều thách thứcmôi trường mang tính chất và qui mô toàn cầu Sự ô nhiễm và sứcphá hoại do con người gây ra đối với tự nhiên đã vượt quá năng lựctái sinh, vượt quá ngưỡng chịu đựng của Trái Đất Con người đang rasức phá hủy thiên nhiên vì sự sống của mình, và do đó, cũng đangphá hủy cơ sở sống của chính bản thân mình.

(ii)Nguyên nhân

-Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

-Giao thông vận tải

-Xây dựng đô thị, hạ tầng kỹ thuật

-Sinh hoạt người dân

-Các nguồn khác

(iii)Hậu quả của ô nhiễm không khí

Ô nhiễm không khí làm hại sức khoẻ của người, đời sống sinhvật và gây ảnh hưởng xấu cho môi trường, đặc biệt là khí hậu toàncầu

Ảnh hưởng lên sức khoẻ con người

 Gây hại sức khoẻ

Ô nhiễm không khí có nhiều ảnh hưởng tai hại cho sức khoẻ conngười Chủng loại và sự trầm trọng của các ảnh hưởng này tùy thuộcloại hóa chất, nồng độ và thời gian nhiễm Các nhóm đặc biệt nhạy

Trang 19

cảm là những người bị rối loạn tim phổi, trẻ em, nhất là các bé hiếuđộng và những người bị cảm lạnh và nghẹt mũi phải thở bằng miệng.

Khó mà nói một chất độc cụ thể nào gây ra một bệnh cụ thểnào Vì các chất ô nhiễm tác động trong một thời gian dài, có sự cộnghưởng của nhiều chất và thời gian ủ bệnh lâu như bệnh khí thủng,viêm phế quản mãn tính, ung thư phổi và bệnh tim

 Sự tự vệ của cơ thể người chống ô nhiễm không khí

Rất may là hệ hô hấp người có nhiều cơ chế tự vệ chống lại ônhiễm không khí Khi ta hít vào, lông mũi chặn các bụi lớn và khi chất

ô nhiễm kích thích mũi thì ta nhảy mũi (hắc hơi) đẩy không khí ra.Hơn nữa vách mũi, khí quản, phế quản và vi phế quản được phủ chấtnhầy Chất nhầy thu giữ các bụi nhỏ và hòa tan các chất ô nhiễmkhông khí Phần lớn ống hô hấp được trải bởi màng tiêm mao, chúnguốn lượn đẩy chất nhầy và chất ô nhiễm về phía miệng, từ đó chúng

sẽ được tống ra ngoài cơ thể Nếu phổi bị kích thích, chất nhầy chảynhiều hơn tạo ra ho, đẩy không khí và các chất nhầy ô nhiễm ra ngoài

cơ thể

 Sự quá tải và xuống cấp của cơ chế tự vệ

Khi bị nhiễm chất ô nhiễm mạnh hay thời gian nhiễm kéo dài,tuy với nồng độ thấp, chất nhầy bị bão hòa, chất ô nhiễm sẽ vào sâutrong hệ hô hấp và gây hại nhiều hơn

Bụi mịn rất hại vì có thể vào sâu mang theo các chất độc gắnvào các bề mặt của phế quản hay phân bào Nhiễm khói thuốc lâu dài

và các chất ô nhiễm khác như ôzôn, SO2, NO2 làm hủy hoại tiêm mao

Do đó vi khuẩn và các hạt mịn xuyên thấu phế bào làm viêm nhiễm

và ung thư phổi

Ngoài ra hút thuốc lâu năm và nhiễm ô nhiễm không khí làmchất nhầy nhiều, ngăn chặn luồng khí và tạo ra ho Khi cơ của phếquản bị chai vì ho lâu, chất nhầy tích tụ và thở ngày càng khó, sẽ dẫnđến viêm phế quản mãn tính

Trang 20

Bệnh khí thủng xảy ra khi một số lớn phế bào bị hư hại làm chobệnh nhân không thể thở ra hết khí trong phổi, phế bào bị đóng lại,khí độc sẽ lan sang các phế bào kế cận, chúng mất khả năng đàn hồi

và có thể bị rách làm giảm diện tích cần thiết để oxi vào máu Bệnhnhân có thể chết vì suy tim hay nghẹt thở Bệnh khí thủng giết chếtnhiều người hơn ung thư và nan y

Ung thư phổi là do sự tăng trưởng bất thường của tế bào màngnhầy phế quản Hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu, nhưng nó cũng

do sự hít phải các chất ô nhiễm không khí: chất phóng xạ, bụi amiant,arsenic, Cr, Ni…

Các công nhân làm việc trong các nhà máy ô nhiễm không khí làđối tượng của các bệnh mãn tính Họ thường bị ho, thở ngắn, viêmphổi, viêm phế quản, khí thủng và ung thư phổi

Đáng chú ý là sợi Asbete (một loại amiant) dù với lượng nhỏcũng có thể gây ung thư phổi 15 đến 40 năm sau Tấm lợpfibrociment có sợi amiant là một nguy hiểm tiềm tàng cho chúng ta

Ảnh hưởng của chất ô nhiễm không khí lên cây trồng và các vật chất khác

SO2, O3, NO, các PAN gây hại hại trực tiếp cho cây khi chúngxâm nhập trực tiếp vào các lỗ tự nhiên trên lá, phá hủy lớp sáp bảo

vệ mặt lá, ức chế quang hợp Ngoài tác động trực tiếp, sự lắng tụ acid

sẽ rửa trôi các chất dinh dưỡng như calcium ra khỏi đất, giết vi sinhvật, đẩy nhôm ra khỏi các hạt đất vào trong nước và hủy diệt các rễ

tơ làm giảm sức hút nước và dưỡng chất

Các chất lắng tụ từ không khí làm hóa đen các bức tượng, nhà cửa, xe cộ, áo quần Các di tích, công trình kiến trúc cổ đang bị hủy hoại dần dần

(vi) Ô nhiễm không khí toàn cầu Thủng tầng ozon:

Phản ứng được tóm tắt như sau: Khí freon bị phân giải bởi tiacực tím (UV) trong tầng bình lưu, tạo ra gốc chloro tự do Gốc chloro

Trang 21

tự do có thể phản ứng với ôzôn ở màng ôzôn, làm giảm nồng độ vàloại trừ màng ngăn chặn tia cực tím.

(gốc chloro tự do) (ôzôn)

-Một phân tử của khí freon có thể phân hủy hàng ngàn phân tửôzôn, bởi vì gốc chloro tự do có khả năng tái tạo

Cl O + O Cl+ O2

(Oxit chloro) (gốc oxygen tự do) (Gốc chloro tựdo) (Oxygen phân tử)

Oxyd chloro cũng có thể phản ứng với ôzôn:

Hiệu ứng nhà kính (Green house effect)

Như đã biết, nhiệt độ bề mặt đất được tạo thành bởi sự cânbằng giữa năng lượng Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất và năng lượngbức xạ nhiệt của mặt đất phản xạ lên khí quyển Bức xạ Mặt Trời là

Trang 22

bức xạ sóng ngắn nên nó dễ dàng xuyên qua các lớp khí CO2 và tầngôzôn rồi xuống mặt đất, ngược lại, bức xạ nhiệt từ mặt đất phản xạ lạikhí quyển là bức xạ sóng dài, nó không có khả năng xuyên qua lớpkhí CO2 và lại bị khí CO2 và hơi nước trong không khí hấp thụ, do đónhiệt độ của khí quyển bao quanh Trái Đất sẽ tăng lên và làm tăngnhiệt độ bề mặt Trái Đất Hiện tượng này gọi là “hiệu ứng nhà kính”

vì lớp CO2 ở đây có tác dụng tương tự như lớp kính giữ nhiệt của nhàkính trồng rau xanh trong mùa đông nhưng với quy mô toàn cầu

(v)Biện pháp hạn chế ONKK

b/Ô nhiễm nước

(i)Khái niệm ô nhiễm môi trường nước

Môi trường nước có thể bị nhiễm bẩn hoặc bị ô nhiễm Nhiễmbẩn có thể làm màu sắc nước bị thay đổi nhưng chưa gây hại Ônhiễm môi trường nước là nồng độ chất gây ô nhiễm vượt quá mức

an toàn cho phép Ô nhiễm nguồn nước do sản xuất nông nghiệp vàcông nghiệp sẽ gây ô nhiễm cho nguồn nước uống và sinh hoạt

Một cách tổng quát, bất cứ sự thay đổi chất lượng nước về mặtvật lý, hóa học hay sinh học, mà sự thay đổi này có tác hại đến tất cảsinh vật, hay sự thay đổi này làm cho nước không thích hợp cho bất

cứ mục đích sử dụng nào thì được xem là ô nhiễm môi trường nước

(ii)Nguyên nhân

- Do khai thác và sử dụng quá mức tài nguyên nước mặt, nước

ngầm

- Do nước thải đô thị và công nghiệp

Nước thải bệnh viện hiện nay có khoảng hơn 1.000 bệnh viện,mỗi ngày thải ra hàng trăm nghìn m3 nước chưa qua xử lí hoặc xử líkhông đạt tiêu chuẩn môi trường Đây là nguồn chứa nhiều thànhphần nguy hiểm cho môi trường và còn là nguồn gây các bệnh truyềnnhiễm cho cộng đồng nếu không có biện pháp xử lí hiệu quả trước khithải ra môi trường

Trang 23

- Nước thải từ hoạt động nông nghiệp và nước thải từ các

nguồn khác tại khu vực nông thôn.

(iii)Tác hại của ô nhiễm môi trường nước

- Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng qua việc sử dụngnước cho sinh hoạt

- Khi môi trường nước bị ô nhiễm, khả năng xâm nhiễm, bayhơi, khuyếch tán vào môi trường lân cận rất cao và nhanh, từ đó kéotheo sự ô nhiễm dây chuyền và gây độc

Nhu cầu nước của thực động vật và con người rất lớn, do vậykhả năng tác hại của môi trường nước khi ô nhiễm thì rất nghiêmtrọng

(iv)Các giải pháp phát triển và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước

Hạn chế và giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước do biến đổi khíhậu toàn cầu, giảm nhẹ khí nhà kính theo kế hoạch hành động quốcgia

Từ năm 1994 đến năm 2020, xây dựng hơn khoảng 70 hồ chứathủy lợi, thủy điện với dung lượng 50 tỷ m3 và 46 hồ chứa loại vừa vớidung lượng trên 33 tỷ m3

Cải thiện nâng cấp và mở rộng các hệ thống thoát lũ, tiêu úng:Nâng cấp các hệ thống cũ; quy hoạch xây dựng bổ sung hệ thốngmới, độc lập với tưới nước, cấp nước và thực hiện nghiêm chỉnh cácLuật Tài nguyên nước, Luật BVMT, đê điều,… bảo đảm thoát lũ, bảo

vệ bờ sông; chỉnh trị dòng sông, cửa sông; thông, thoát lũ,…

Nâng cấp đê biển, đê cửa sông, củng cố, bồi trúc đê sông bảođảm an toàn đê với mực nước thiết kế đã quy định

Hạn chế và giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước do phát triển,

sử dụng tài nguyên nước không hợp lý

Cứng hóa kênh mương, nâng cấp công trình đầu mối, nâng cấphiệu quả quản lý, quản lý theo nhu cầu dùng nước chứ không phảiquản lý theo khả năng công trình tạo điều kiện thuận lợi cho sự thamgia quản lý xã hội của công dân và cộng đồng

Trang 24

c/Ô nhiễm đất

(i)Khái niệm ô nhiễm môi trường đất

Ngày nay, khi hoạt động của con người mở rộng ra nhiều lĩnhvực càng đa dạng thì chất thải và ô nhiễm ngày càng phức tạp vàcàng nhiều Môi trường đất có thể bị ô nhiễm do sự lan truyền từ môitrường không khí, chất ô nhiễm không khí khi lắng tụ sẽ rơi vào môitrường đất

Môi trường nước và đất có liên quan chặt chẽ với nhau do nước

có trên mặt đất, nước trong lòng đất Khi môi trường nước bị ô nhiễmthì tất yếu làm ô nhiễm môi trường đất

Ngoài ra môi trường đất còn bị ô nhiễm từ xác bã động thực vật,các chất thải độc hại bị chôn lấp và sẽ lan tỏa vào trong môi trườngđất

Ðất được xem là ô nhiễm khi nồng độ các chất độc tăng lên quámức an toàn, vượt trên khả năng tự làm sạch của môi trường đất

(ii)Nguyên nhân

Do đặc điểm điều kiện tự nhiên của nước ta với ¾ diện tích là đồinúi nên có độ dốc lớn (25 triệu ha đất dốc), khi có sự thay đổi về điềukiện khí hậu và sinh thái, đặc biệt là thảm thực vật dễ dẫn đến hiệntượng xói mòn, rửa trôi, sạt trượt lở đất làm suy thoái hóa học, mấtchất dinh dưỡng và chất hữu cơ; một số vùng (Bình Thuận, NinhThuận, …) nằm trong vùng khí hậu bán khô hạn, hiện tượng hạn hánxảy ra liên tục làm tăng thêm diện tích đất hoang mạc

- Do tác động trực tiếp từ hoạt động của con người như sự tăngdân số, đói nghèo, kỹ thuật canh tác không hợp lý, mất rừng, cháyrừng, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp,khai thác khoảng sản, … làm biến đổi các tính chất đất và mất đất,làm cho đất không còn tính năng sản xuất

Ngoài ra, các nguyên nhân gây ô nhiễm như đã nêu ở trên cũnggóp phần làm cho quá trình suy thoái môi trường đất trở nên trầmtrọng hơn

Trang 25

(iii)Tác hại của ô nhiễm đất

- Sự tồn tại của một số chất độc trong đất có tác dụngkhông tốt đến sự sinh trưởng của cây

- Suy kiệt dinh dưỡng, đất trở nên già cỗi, giảm diện tích đấtcanh tác

- Suy giảm năng suất cây trồng, đời sống sinh vật không ổnđịnh, gây sự bất ổn về xã hội

- Tàn phá về mặt sinh thái môi trường

Có nguy hại cho sức khỏe cộng đồng qua chuỗi thực phẩm của

hệ sinh thái

(iv)Sự bảo tồn đất đai

Tầm quan trọng của sự bảo tồn đất

Vấn đề chính của việc bảo tồn đất đai là giảm sự xói mòn,ngăn ngừa sự cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất và giảm sự lạmdụng quá mức đất canh tác

Sự bảo vệ đất thường ít được chính quyền và nông dânquan tâm do sự xói mòn xảy ra với tốc độ chậm và kéo dài Ví dụ như

sự xói mòn do gió và nước mưa xảy ra mỗi năm là 1 mm thì ta khôngthấy được tầm quan trọng của nó, nhưng nếu sau 25 năm hoặc hơnnữa thì đó là một vấn đề rất lớn, nó làm diện mạo của đất trở nênkhác hẳn Do đó, đây là một trong những yếu tố quan trọng vì nó ảnhhưởng đến việc canh tác, thay đổi sản lượng trồng trọt và giảm năngsuất rất lớn

Các đặc điểm chính trong việc bảo tồn đất đai

 Bảo vệ đất rừng, chống du canh du cư

Theo tài liệu FAO (1978) ở châu Á có tới 60 triệu ngườimiền núi đang sống theo lối du canh trên một diện tích rộng 170 triệu

ha Còn ở Việt Nam; dân du canh khoảng 5 triệu người

Trang 26

Dân du canh có nhiều cách canh tác, phổ biến là chặt phárừng vào mùa khô; cuối mùa khô đốt cho cây cỏ cháy hết, sau đótrồng lúa bắp, khoai mì,… Thường đất được sử dụng kiểu này sau 3năm là bị khô kiệt vì đất mặt bị xói mòn, rửa trôi…

Phương pháp tổ chức cho dân định canh, định cư là:

- Tổ chức họ tham gia trồng rừng và khai thác lâm sản

- Tổ chức họ trồng cây công nghiệp và làm ruộng lúa nước

- Ngoài ra Nhà nước phải hỗ trợ nguồn vốn và kỹ thuật, cóbiện pháp quản lý thích hợp và hiệu quả Phải có chính sách quản lýchặt chẽ đất nông nghiệp và giảm đến mức tối thiểu việc chuyển đấtnông nghiệp sang sử dụng cho mục đích khác

 Chống bỏ đất hoang, khai hoang mở rộng diện tích: cốgắng sử dụng hết phần đất trống đồi trọc (khoảng 12 triệu ha), không

bỏ đất hoang, phân bố các nơi trồng rừng, trồng đồng cỏ, cây côngnghiệp

 Chống xói mòn trên đất dốc:

Những nguyên nhân gây xói mòn là:

- Lượng mưa và cường độ mưa nhiều

- Độ dốc và chiều dài sườn dốc

- Độ bao phủ đất của cây

- Tính chất đất dễ bị rửa trôi, không kết cấu

Muốn chống xói mòn cần khắc phục những đặc tính trên

 Chống khô hạn

- Trồng rừng hoặc cây công nghiệp phủ kín đất

- Đắp bờ giữ nước, xây dựng các hồ chứa nước

- Sử dụng tiết kiệm nước, lọc nước thải công nghiệp để tái

sử dụng, tưới tiết kiệm

Trang 27

- Cải tạo tính vật lý đất để khả năng giữ nước của đất tốthơn.

 Cải tạo đất theo hướng sinh thái học

Việc canh tác nông nghiệp nên chú trọng phương thứcnông nghiệp sinh thái học Áp dụng các tiến bộ kỹ thuật sinh học vàonông nghiệp, chú trọng kỹ thuật thủy lợi, đa dạng hóa cây trồng, sửdụng biện pháp đấu tranh sinh học và vệ sinh đồng ruộng nhằm hạnchế việc dùng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ

Trang 28

d/Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học

(i)Khái niệm

Rừng là bộ phận tổ hợp quan trọng nhất, là HST điển hình trongsinh quyển, trong đó thực vật với các loài cây gỗ giữ vai trò chủ đạo.Rừng có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển KT –XH, sinh thái và môitrường Vì vậy người ta thường hay nói “rừng là lá phổi của hànhtinh”

Theo công ước về ĐDSH: ĐDSH là sự khác biệt trong mọi cơ thểsống có trong các HST ở trên đất liền, ở biển, ở các thủy vực, baogồm sự đa dạng trong loài, giữa các loài và các HST, cả các nguồn tàinguyên di truyền, các cơ thể hay các bộ phận của cơ thể, các chủngquần hay các hợp phần sinh học của toàn bộ các HST

từ 3.000 – 3.500 ha rừng, trong đó trên ½ diện tích rừng bị mất đi dolàm nương rẫy

- Chuyển đất có rừng sang đất sản xuất các cây kinh doanh,đặc biệt là phá rừng để trồng các cây công nghiệp như cà phê Ở TâyNguyên, trong tổng số diện tích trồng cà phê thì có 40 - 50% diện tích

- Do khai thác không có kế hoạch, kỹ thuật khai thác lạc hậulàm lãng phí tài nguyên rừng

Ngày đăng: 10/08/2023, 03:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1].Lê Văn Khoa (chủ biên) và nnk (2010), Môi trường và phát triển bền vững, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
[2].Trần Văn Thành (2004), Giáo trình Môi trường và phát triển bền vững, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Trần Văn Thành
Nhà XB: Tài liệu lưu hành nội bộ
Năm: 2004
[3].Lê Văn Khoa (chủ biên) và nnk (2009), Môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
[4].Nguyễn Hữu Long, Đào Ngọc Bích (chủ biên) và nnk (2015), Môi trường và giáo dục môi trường, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và giáo dục môi trường
Tác giả: Nguyễn Hữu Long, Đào Ngọc Bích
Nhà XB: Tài liệu lưu hành nội bộ
Năm: 2015
[5].www.monre.gov.vn [6].www.nea.gov.vn [7].www.Cenre.ac.vn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w