MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1 2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................ 2 3. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 3 4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 3 5. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 3 6. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 4 7. Đóng góp của đề tài ........................................................................................ 4 8. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 4 9. Cấu trúc của đề tài .......................................................................................... 4 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC LUYỆN VIẾT CHỮ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC ................................................................................... 5 1.1. Cơ sở lý luận ............................................................................................... 5 1.1.1. Cơ sở tâm sinh lý của học sinh tiểu học .................................................... 5 1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ ........................................................................................ 7 1.1.3. Vị trí của dạy học Tập viết........................................................................ 7 1.1.5. Chương trình dạy Tập viết và quy định hiện hành về chữ viết ở tiểu học .......... 9 1.2. Cơ sở thực tiễn .......................................................................................... 12 1.2.1. Khảo sát thực trạng luyện viết chữ cho học sinh ..................................... 12 1.2.2. Kết quả khảo sát ..................................................................................... 13 1.2.2.1. Thực trạng học phân môn Tập viết, các kĩ năng viết và kiểu chữ viết của học sinh ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang ................ 13 1.2.2.2. Thực trạng dạy phân môn Tập viết cho học sinh ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang ............................................................. 16 Tiểu kết ............................................................................................................ 19 CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP LUYỆN VIẾT CHỮ NGHIÊNG NÉT THANH, NÉT ĐẬM CHO HỌC SINH LỚP 3 ............................................................. 20 2.1. Hướng dẫn học sinh tư thế ngồi, cách cầm bút, cách để vở cho phù hợp ... 20 2.2. Hướng dẫn học sinh luyện viết các nét cơ bản, nhóm chữ đồng dạng ........ 21 2.3. Hướng dẫn học sinh kỹ năng liên kết các nét chữ khi viết ......................... 24 Kiểu 2: liên kết phụ âm đầu với vần ................................................................. 26 2.4. Hướng dẫn học sinh luyện viết dấu phụ và dấu thanh ................................ 29 2.5. Hướng dẫn học sinh luyện viết tạo nét thanh nét đậm ................................ 32 2.6. Cách chọn bút, vở viết thích hợp cho quá trình luyện chữ đẹp ................... 33 Tiểu kết ............................................................................................................ 35 CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM ..................................................... 36 3.1. Mục đích thể nghiệm ................................................................................. 36 3.2. Đối tượng, thời gian và địa bàn thể nghiệm ............................................... 36 3.2.1. Đối tượng thể nghiệm ............................................................................. 36 3.2.2. Thời gian và địa bàn thể nghiệm ............................................................. 36 3.3. Nội dung và phương pháp thể nghiệm ....................................................... 36 3.3.1. Nội dung thể nghiệm .............................................................................. 36 3.3.2. Phương pháp thể nghiệm ........................................................................ 37 3.4. Các bài soạn thể nghiệm ............................................................................ 37 3.5. Kết quả thể nghiệm.................................................................................... 37 Tiểu kết chương 3 ............................................................................................ 39 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Nghe, nói, đọc, viết là những hoạt động ngôn ngữ khác nhau của con người. Trong đó, viết là hoạt động quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong dạy học ở nhà trường tiểu học. Đây là yêu cầu cơ bản đầu tiên đối với mỗi học sinh (HS) khi đi học, giúp HS chiếm lĩnh được ngôn ngữ để sử dụng trong giao tiếp và học tập đồng thời cũng là công cụ để học các môn học khác. Tập viết với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở tiểu học, có nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực viết cho HS. 1.2. Trong thực tiễn dạy học ở trường tiểu học, nhất là sau khi chương trình và sách giáo khoa (SGK) mới được triển khai, giáo viên (GV) và HS gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận nội dung chương trình mới và cách dạy học mới. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả của việc rèn luyện kỹ năng tiếng Việt và khả năng viết cho HS. Đồng thời, do tình hình công nghệ thông tin phát triển, nhiều HS và phụ huynh quan niệm việc gõ máy tính thành thạo có thể thay thế được chữ viết tay. Vì vậy, chữ viết của HS phổ thông, HS cấp tiểu học còn viết sai, viết xấu, viết cẩu thả… là một thực trạng phổ biến. 1.3. Trường Tiểu học Đông Hưng 1 nằm ở trung tâm huyện Lục Nam – Bắc Giang có rất nhiều điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, đội ngũ GV giàu kinh nghiệm trong giảng dạy. Tuy nhiên, việc áp dụng chương trình và SGK mới đã làm cho nhiều GV còn bỡ ngỡ, lúng túng. Hơn nữa, nhiều GV chưa quan tâm đúng mức đến việc tìm và vận dụng những biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học nói chung và dạy học Tập viết nói riêng. Một thực tế vẫn còn tồn tại đó là chất lượng chữ viết của HS chưa được tốt. Nhiều HS có khả năng viết đúng tốc độ viết theo yêu cầu của mỗi khối lớp nhưng chữ viết lại chưa đẹp, vở viết còn chưa biết giữ gìn, chưa viết được nhiều kiểu chữ… Đây là vấn đề đặt ra đối với nhà trường cũng như các cấp quản lý giáo dục cần phải quan tâm hơn nữa, sớm đưa ra các biện pháp khắc phục để GV và HS đạt được kết quả cao hơn trong dạy học viết chữ. Trên đây là những lí do để tôi lựa chọn và thực hiện đề tài: “Đề xuất biện pháp luyện viết chữ nghiêng, nét thanh nét đậm cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang” làm đối tượng nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học tập viết trong nhà trường tiểu học. Hy vọng rằng đây sẽ là tài liệu giúp các bạn giáo sinh sư phạm tiểu học có thể tham khảo trong quá trình học tập và giảng dạy sau này. 2 2. Lịch sử vấn đề Tập viết là một phân môn có nhiệm vụ quan trọng là hình thành năng lực tập viết cho HS. Học tốt phân môn này sẽ là cơ sở để HS học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác trong trường tiểu học. Vì vậy, việc vận dụng các phương pháp, biện pháp dạy học tập viết sao cho có hiệu quả là vấn đề mà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Người hướng dẫn: ThS Trịnh Thị Hồng
SƠN LA, NĂM 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn ThS Trịnh Thị Hồng, giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tây Bắc, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Tiểu học – Mầm non những người đã trực tiếp giảng dạy, trang bị cho em những kiến thứ quý báu trong thời gian học tập tại trường, cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Đông Hưng 1, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu và khảo sát thực tế
Qua đây em cũng gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp K50 Đại học giáo dục Tiểu học, cũng như gia đình, bạn bè những người luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Vân
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CỦA ĐỀ TÀI
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Đóng góp của đề tài 4
8 Phương pháp nghiên cứu 4
9 Cấu trúc của đề tài 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC LUYỆN VIẾT CHỮ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Cơ sở tâm sinh lý của học sinh tiểu học 5
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ 7
1.1.3 Vị trí của dạy học Tập viết 7
1.1.5 Chương trình dạy Tập viết và quy định hiện hành về chữ viết ở tiểu học 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1 Khảo sát thực trạng luyện viết chữ cho học sinh 12
1.2.2 Kết quả khảo sát 13
1.2.2.1 Thực trạng học phân môn Tập viết, các kĩ năng viết và kiểu chữ viết của học sinh ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang 13
1.2.2.2 Thực trạng dạy phân môn Tập viết cho học sinh ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang 16
Tiểu kết 19
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP LUYỆN VIẾT CHỮ NGHIÊNG NÉT THANH, NÉT ĐẬM CHO HỌC SINH LỚP 3 20
2.1 Hướng dẫn học sinh tư thế ngồi, cách cầm bút, cách để vở cho phù hợp 20
Trang 62.2 Hướng dẫn học sinh luyện viết các nét cơ bản, nhóm chữ đồng dạng 21
2.3 Hướng dẫn học sinh kỹ năng liên kết các nét chữ khi viết 24
Kiểu 2: liên kết phụ âm đầu với vần 26
2.4 Hướng dẫn học sinh luyện viết dấu phụ và dấu thanh 29
2.5 Hướng dẫn học sinh luyện viết tạo nét thanh nét đậm 32
2.6 Cách chọn bút, vở viết thích hợp cho quá trình luyện chữ đẹp 33
Tiểu kết 35
CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 36
3.1 Mục đích thể nghiệm 36
3.2 Đối tượng, thời gian và địa bàn thể nghiệm 36
3.2.1 Đối tượng thể nghiệm 36
3.2.2 Thời gian và địa bàn thể nghiệm 36
3.3 Nội dung và phương pháp thể nghiệm 36
3.3.1 Nội dung thể nghiệm 36
3.3.2 Phương pháp thể nghiệm 37
3.4 Các bài soạn thể nghiệm 37
3.5 Kết quả thể nghiệm 37
Tiểu kết chương 3 39
KẾT LUẬN 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71.2 Trong thực tiễn dạy học ở trường tiểu học, nhất là sau khi chương trình
và sách giáo khoa (SGK) mới được triển khai, giáo viên (GV) và HS gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận nội dung chương trình mới và cách dạy học mới Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả của việc rèn luyện kỹ năng tiếng Việt và khả năng viết cho HS Đồng thời, do tình hình công nghệ thông tin phát triển, nhiều
HS và phụ huynh quan niệm việc gõ máy tính thành thạo có thể thay thế được chữ viết tay Vì vậy, chữ viết của HS phổ thông, HS cấp tiểu học còn viết sai, viết xấu, viết cẩu thả… là một thực trạng phổ biến
1.3 Trường Tiểu học Đông Hưng 1 nằm ở trung tâm huyện Lục Nam – Bắc Giang có rất nhiều điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, đội ngũ GV giàu kinh nghiệm trong giảng dạy Tuy nhiên, việc áp dụng chương trình và SGK mới đã làm cho nhiều GV còn bỡ ngỡ, lúng túng Hơn nữa, nhiều GV chưa quan tâm đúng mức đến việc tìm và vận dụng những biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học nói chung và dạy học Tập viết nói riêng Một thực tế vẫn còn tồn tại
đó là chất lượng chữ viết của HS chưa được tốt Nhiều HS có khả năng viết đúng tốc độ viết theo yêu cầu của mỗi khối lớp nhưng chữ viết lại chưa đẹp, vở viết còn chưa biết giữ gìn, chưa viết được nhiều kiểu chữ… Đây là vấn đề đặt ra đối với nhà trường cũng như các cấp quản lý giáo dục cần phải quan tâm hơn nữa, sớm đưa ra các biện pháp khắc phục để GV và HS đạt được kết quả cao hơn trong dạy học viết chữ
Trên đây là những lí do để tôi lựa chọn và thực hiện đề tài: “Đề xuất biện pháp luyện viết chữ nghiêng, nét thanh nét đậm cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang” làm đối tượng nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học tập viết trong nhà trường tiểu học Hy vọng rằng đây sẽ là tài liệu giúp các bạn giáo sinh sư phạm tiểu học có thể tham khảo trong quá trình học tập và giảng dạy sau này
Trang 82 Lịch sử vấn đề
Tập viết là một phân môn có nhiệm vụ quan trọng là hình thành năng lực tập viết cho HS Học tốt phân môn này sẽ là cơ sở để HS học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác trong trường tiểu học Vì vậy, việc vận dụng các phương pháp, biện pháp dạy học tập viết sao cho có hiệu quả là vấn đề mà các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề chữ viết và dạy chữ viết, cụ thể là:
Công trình nghiên cứu: “Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học” của tác giả Lê A,
1982, nhà xuất bản (NXB), Đại học sư phạm (ĐHSP), tác giả đã khẳng định về vị trí, tính chất, nhiệm vụ của phân môn Tập viết ở tiểu học, cơ sở khoa học của việc dạy học tập viết, chương trình và sách giáo khoa dạy tập viết
Trong cuốn: “Dạy học chính tả cho học sinh Tiểu học theo vùng phương
ngữ”, tiến sĩ (TS) Võ Xuân Hào (chủ biên), 1995, dự án phát triển giáo viên
(GV) tiểu học, nhà xuất bản giáo dục (NXB GD), tác giả viết thêm đôi nét về dạy học tập viết trong nhà trường tiểu học
Bên cạnh đó cuốn: “Phương pháp dạy học Tiếng Việt”, giáo trình chính thức
đào tạo (ĐT) GV cao đẳng sư phạm (CĐSP) và sư phạm 12+2, do tác giả Lê A (chủ biên), tác giả đã đề cập đến phân môn Tập viết và các vấn đề lí luận về dạy học tập viết như vị trí, tính chất, nhiệm vụ dạy tập viết, chương trình tập viết, cơ
sở khoa học của việc dạy tập viết, phương pháp dạy tập viết Đồng thời còn hướng dẫn soạn giáo án, tiến trình lên lớp một giờ tập viết Tuy nhiên, sách xuất bản đã lâu mà chưa được chỉnh sửa bổ sung cho phù hợp với thực tế nên có nhiều vấn đề mới chưa được cập nhật
Trong cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số
cấp Tiểu học” (tài liệu bồi dưỡng GV) của dự án phát triển GV tiểu học đã
nghiên cứu một số biện pháp và hình thức hướng dẫn HS trong giờ tập viết Đây
là những vấn đề có ý nghĩa thực tiễn có thể áp dụng vào dạy học tập viết không chỉ với HS dân tộc thiểu số mà ngay cả những HS dân tộc Kinh thì những biện pháp này vẫn hoàn toàn có tác dụng tích cực Tuỳ theo trình độ của HS ở các vùng miền và trong các lớp mà GV vận dụng, biến đổi linh hoạt cho phù hợp với đối tượng của mình
Cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học” của BGD và ĐT, dự án
phát triển GV Tiểu học, NXB Hà Nội, (2005), tác giả nhấn mạnh đổi mới trong nội dung và phương pháp tập viết theo hướng tích cực hoá hoạt động của HS Thực hành kế hoạch bài dạy đạt hiệu quả, sự nắm vững kiến thức đã thu nhận
Trang 9được nhằm chủ động, có sáng tạo, có ý thức vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào thực tế giảng dạy
Cuốn “Dạy học lớp 3 theo chương trình Tiểu học mới”, NXB GD, 2006,
sách dự án phát triển GV Tiểu học Cùng với các môn học khác, cuốn sách đã cung cấp các mảng về nội dung, mục tiêu cụ thể cho các phân môn trong dạy học Tiếng Việt, phân môn Tập viết cũng được triển khai về các mặt kiến thức, kĩ năng và quy trình soạn giáo án để dạy học một tiết tập viết
Những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đề cập tới vấn đề tiếng Việt trên các phương diện: Vị trí, nhiệm vụ, nội dung chương trình, phương pháp dạy học nói chung, các yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng, một số biện pháp dạy học tập viết Đó là những nguồn tư liệu quý báu và làm cơ sở lí luận để tác giả thực hiện khóa luận
3 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu dựa trên những lí luận chung về dạy học tập viết, đồng thời căn cứ vào đặc điểm tiếp nhận của HS tiểu học, nội dung chương trình, yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng nhằm tìm hiểu và đề xuất biện pháp luyện viết chữ nghiêng, nét thanh nét đậm cho HS lớp 3 Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận gồm một số nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề luyện viết chữ cho HS Trường Tiểu học Đông Hưng 1, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất một số biện pháp luyện viết kiểu chữ nghiêng, nét thanh nét đậm cho HS Trường Tiểu học Đông Hưng 1, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
- Thiết kế một số giáo án và thể nghiệm sư phạm
- Tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết quả bước đầu thể nghiệm và rút ra tính khả thi của vấn đề nghiên cứu
5 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu một số biện pháp luyện viết chữ nghiêng, nét thanh nét đậm cho HS Trường Tiểu học Đông Hưng 1, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Trang 106 Phạm vi nghiên cứu
Do khả năng và thời gian có hạn nên tác giả chỉ nghiên cứu quá trình trên HS hai lớp ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, với tổng số 60 HS Trong đó: 30 HS lớp 3A1 và 30 HS lớp 3A2
Qua quá trình tập dượt công tác nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu sẽ tích lũy, bổ sung kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, thực tế phổ thông để chuẩn bị hành trang cho công tác ở trường phổ thông sau này
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp đọc phân tích, tổng hợp để xử lý dữ liệu liên quan
- Phương pháp thực hành: thiết kế một số giáo án và thể nghiệm sư phạm
9 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận được chia làm
3 chương có nội dung như sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc luyện viết chữ cho học sinh tiểu học Chương 2: Biện pháp luyện viết chữ nghiêng, nét thanh nét đậm cho học sinh lớp 3 Chương 3: Thể nghiệm sư phạm
Trang 11
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC LUYỆN
VIẾT CHỮ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Cơ sở tâm sinh lý của học sinh tiểu học
Phương pháp dạy học Tiếng Việt có quan hệ chặt chẽ với Tâm lý học, đặc biệt là với Tâm lý học lứa tuổi Nếu không có kiến thức về quá trình tâm lí ở người nói chung và ở HS lứa tuổi tiểu học nói riêng thì không thể giảng dạy tốt
và phát triển ngôn ngữ cho HS Sở dĩ như vậy là vì: trong quá trình dạy học ở tiểu học, HS ở lứa tuổi này (thường từ 6 tuổi đến 14 tuổi) được coi là đối tượng trung tâm của hoạt động học, tự giác, tích cực và chủ động tiếp thu tri thức thông qua những tác động của GV và nhận thức của bản thân, biến những tri thức thu nhận được thành hệ thống giá trị chuẩn mực mang đặc điểm và bản chất của cá nhân HS vừa là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể của quá trình nhận thức, chủ thể tự giáo dục có tính tự giác, tích cực và chủ động tổ chức quá trình học tập của bản thân Trong bất kỳ điều kiện và hoàn cảnh nào thì hiệu quả của quá trình dạy học cao hay thấp là do tự nhận thức của cá nhân chủ thể trực tiếp quyết định trên cơ sở sự tác động tích cực của các yếu tố khách quan
GV có trình độ chuyên môn tốt là 1 yếu tố quan trọng hàng đầu, nhưng chưa đủ
để trực tiếp quyết định chất lượng hiệu quả của việc dạy học, mà cần phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lý của HS lứa tuổi này
Giai đoạn các em đến trường tiểu học, đây là bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ Từ đây, hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động vui chơi ở giai đoạn mẫu giáo đã chuyển sang loại hoạt động mới là hoạt động học tập với đầy
đủ ý nghĩa của nó Sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo như vậy có tác động không nhỏ đến tâm sinh lý của trẻ Do đó, việc lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp dạy học nói chung và trong chương trình dạy học tập viết cũng chịu sự chi phối căn bản
Ở lứa tuổi này tri giác của HS tiểu học còn mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ định Do đó, HS khó phân biệt chính xác sự giống hay khác nhau giữa các sự vật Đối với việc tri giác các sự vật nghĩa là HS phải được cầm, nắm, sờ mó vào sự vật Những gì thường gặp trong cuộc sống, gắn bó với hoạt động của bản thân cùng với sự chỉ dẫn của GV và phù hợp với nhu cầu mới được HS tri giác Đặc biệt, với những gì trực quan sinh động sẽ được HS tri giác tốt hơn Do vậy, trong quá trình dạy học GV nên sử dụng các
Trang 12phương tiện trực quan khác nhau để HS dễ dàng nhận biết và ghi nhớ dấu hiệu bản chất của sự vật
Chú ý có chủ định của HS tiểu học còn yếu, chú ý không chủ định phát triển nhờ những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác lạ sẽ lôi cuốn sự chú ý và
đó là sự chú ý không có sự nỗ lực của ý chí Sự tập trung chú ý của HS chưa cao, thiếu bền vững và dễ bị phân tán Do đó, khi luyện viết chữ cho HS, GV cần sử dụng các hình thức, phương pháp dạy học phù hợp để duy trì sự chú ý của HS
Về khả năng ghi nhớ thì HS tiểu học có thể nhớ và giữ gìn chính xác những
sự vật hiện tượng cụ thể hơn những định nghĩa, những câu giải thích bằng lời Việc hiểu được mục đích ghi nhớ và tạo ra được tâm thế ghi nhớ thích hợp là điều quan trọng để HS ghi nhớ tài liệu học tập
Tưởng tượng cũng là một quá trình nhận thức quan trọng của HS tiểu học Để giúp cho HS tưởng tượng đúng hướng, GV cần tổ chức cho HS quan sát sự vật hiện tượng cụ thể, sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học và tài liệu học tập Ngôn ngữ chính xác, giàu cảm xúc, khớp với động tác, lời nói, cử chỉ điệu bộ… của người GV cũng được xem như là một phương tiện trực quan khi dạy học nói chung và dạy học Tiếng Việt nói riêng, giúp HS dễ dàng tiếp nhận kiến thức và nâng cao hiệu quả học tập
Ở lứa tuổi này đặc điểm về sinh lý của HS, GV cũng cần chú ý quan tâm: khi này thì toàn bộ độ cong của xương cột sống (ở cổ, ở ngực, ở thắt lưng) đang được hình thành Do đó, kích thước bàn ghế, tư thế ngồi tập viết ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cột sống HS ngồi bàn quá cao hoặc quá thấp, ngồi viết không đúng tư thế sẽ làm cong vẹo cột sống, để lại di hại cả đời Bộ xương đang
ở giai đoạn cốt hóa Các đốt ngón tay, các đốt cổ tay đến 11 tuổi và 12 tuổi mới kết thúc việc cốt hóa Đó là lý do giải thích vì sao HS gặp nhiều khó khăn khi nắm kỹ thuật viết chữ, vì đó là công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên trì và khéo léo Bàn tay chóng mỏi nên HS không thể viết nhanh và viết trong một thời gian quá dài Các cơ bắp và dây chằng phát triển nhanh chóng Những cơ lớn sớm phát triển hơn các cơ nhỏ Do đó, HS dễ thực hiện những cử động tương đối mạnh nhưng lại khó thực hiện những cử động nhỏ, tỉ mỉ như việc viết các con chữ Trên đây là một số đặc điểm về tâm sinh lý của HS tiểu học mà trong quá trình dạy học nói chung và trong thực hiện luyện viết chữ nói riêng GV cần phải nắm được Để dạy HS viết chữ hiệu quả, GV không những cần quan tâm đến tư thế viết mà còn phải tạo được hứng thú luyện viết chữ của HS
Trang 131.1.2 Cơ sở ngôn ngữ
Đặc điểm cấu tạo của chữ viết tiếng Việt là cơ sở quan trọng trong xây dựng phương pháp dạy học tập viết Chữ viết tiếng Việt được phân biệt theo hai nét cơ bản là nét thẳng và nét cong Nét thẳng có nét thẳng đứng, thẳng xiên và nét ngang Nét cong có dạng khép kín và dạng hở Phối hợp hai nét cơ bản trên thành các loại nét phức tạp hơn: nét móc, nét khuyết, nét thắt Như vậy, việc luyện chữ viết tiếng Việt trước hết là luyện các nét cơ bản, để viết được chữ viết đẹp thì việc luyện các nét cơ bản là rất quan trọng Ví dụ: để viết được chữ cái
“a” đúng, đẹp thì trước hết HS phải viết được đúng, đẹp hai nét cong kín và nét móc ngược phải Bởi lẽ, hai nét này là hai nét cơ bản cấu tạo nên chữ cái “a” Một ví dụ khác, với chữ cái “o” cũng vậy HS muốn viết đúng, đẹp thì trước
hết phải viết được đúng, đẹp các nét cong mà cụ thể là hai nét cong hở phải
và nét cong hở trái Chữ “o” được viết bởi một nét cong kín Từ hai ví dụ trên
cho thấy nếu người học chỉ viết được nét cong kín mà không biết viết được
nét móc ngược phải thì không thể viết đẹp chữ “a” được Do đó, mà người
học phải luyện tập tốt toàn bộ các nét cơ bản trong hệ thống chữ viết tiếng Việt Luyện các nét cơ bản là bài học thứ hai trong luyện viết chữ chỉ đứng sau bài học quan trọng khác đó là tư thế ngồi viết, cách cầm bút, đặt vở hay gọi chung là tư thế tập viết
Chữ viết tiếng Việt có nhiều chữ được cấu tạo bởi nhiều nét cơ bản gần
giống nhau Ví dụ: Các chữ cái l, h, k có cùng cấu tạo từ một nét cơ bản giống nhau là nét khuyết trên, các chữ cái o, ô, ơ có cùng cấu tạo từ một nét cơ bản
giống nhau là nét cong kín Đây chính là căn cứ để GV hình thành phương pháp luyện viết chữ, sắp xếp nội dung luyện tập Như vậy, luyện viết chính là luyện các nét cơ bản, luyện các nhóm chữ đồng dạng (những chữ có đặc điểm tương đồng về các nét cơ bản giống nhau) Việc sắp xếp theo nhóm chữ đồng dạng sẽ góp phần hữu ích cho người học ở cùng một thời gian được luyện tập cùng một nhóm nét cơ bản tương đối giống nhau Khi luyện tập các nét cơ bản đến luyện theo nhóm các chữ đồng dạng, HS sẽ được luyện các bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Điều đó không chỉ đảm bảo được tính khoa học trong luyện viết chữ mà còn phù hợp với khả năng nhận thức của HS tiểu học
1.1.3 Vị trí của dạy học Tập viết
Tập viết là một trong những phân môn có tầm quan trọng đặc biệt ở Tiểu học Phân môn Tập viết đã trang bị cho HS bộ chữ cái Latinh và những yêu cầu
kỹ thuật sử dụng bộ chữ cái trong học tập và giao tiếp Với ý nghĩa này, Tập viết không những có quan hệ mật thiết tới chất lượng các môn học khác mà còn góp
Trang 14phần rèn luyện một trong số các kỹ năng hàng đầu của việc học tiếng Việt trong nhà trường - kỹ năng viết chữ Nếu viết đúng chữ mẫu, rõ ràng, tốc độ nhanh thì
HS có điều kiện ghi chép bài tốt, nhờ vậy kết quả học tập sẽ cao hơn Viết xấu, tốc độ chậm sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập
cho việc rèn luyện năng lực viết thạo Để làm chủ tiếng nói về mặt văn tự HS phải rèn luyện cho mình năng lực đọc thông, viết thạo văn tự đó Hai năng lực này có quan hệ mật thiết với nhau HS học tiếng Việt phải đọc thông thạo chữ Quốc ngữ Đây chính là điểm khác biệt giữa người được học và người không được học tiếng Việt
Tập viết là một phân môn có tính chất thực hành Trong chương trình không có tiết lý thuyết, chỉ có các tiết rèn luyện kỹ năng Tính chất thực hành có mục đích của việc dạy học Tập viết cũng góp phần khẳng định tầm quan trọng của phân môn này ở trường Tiểu học
Ngoài ra, tập viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho HS những phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, tính kỷ luật và thị hiếu thẩm mĩ
1.1.4 Dạy học Tập viết là dạy các kỹ năng
Kỹ năng tập viết mà người học cần tập luyện đó là các kỹ năng viết các nét
cơ bản, kỹ năng viết dấu thanh, dấu phụ, viết chữ thường, chữ hoa và chữ số, kỹ năng viết liền nét… Ví dụ: Để viết được chữ a, HS phải thực hiện thao tác đầu tiên là viết nét cong kín, thao tác thứ hai là viết nét móc ngược phải liền kề với nét cong kín đó Nhưng để thực hiện tốt các kỹ năng này phải kể đến một nhóm các kỹ năng cơ bản được gọi là kỹ năng chuẩn bị tập viết Bao gồm kỹ năng ngồi viết, cách cầm bút, đặt vở, kỹ năng đưa bút tạo nét thanh, nét đậm… Hơn nữa, yếu tố tâm lý tạo không gian môi trường cũng là một tác động không nhỏ đến việc luyện kỹ năng viết các con chữ
Vậy luyện viết chữ cho HS chính là rèn các kỹ năng Khi kỹ năng viết các nét và liên kết các nét đã đạt đến mức độ thuần thục thì kỹ năng viết chữ sẽ trở thành kỹ xảo Song song với quá trình rèn kỹ năng viết chữ là rèn luyện cho HS các kỹ năng chuẩn bị cho việc viết chữ, đảm bảo đúng tư thế và không gây ảnh hưởng xấu đến đặc điểm sinh lý của HS như mắc các bệnh về cột sống, về mắt
do tư thế chuẩn bị để tập viết không đúng quy cách gây ra
Quá trình rèn kỹ năng viết chữ trải qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Giai đoạn này hình thành và xây dựng biểu tượng về chữ viết giúp
HS hiểu và ghi nhớ được hình dáng, kích thước viết từng chữ cái Các hiểu biết
Trang 15này sẽ giúp HS viết chữ một cách tự giác Nhờ vậy, kết quả đạt được sẽ nhanh
và chắc hơn
- Giai đoạn 2: Đây là giai đoạn củng cố, hoàn thiện biểu tượng về chữ viết thông qua các hình thức luyện tập viết chữ Giai đoạn này hướng dẫn HS luyện viết các chữ cái, liên kết các chữ cái để luyện viết từ, cao hơn là viết câu ứng dụng
Trong việc dạy hình thành kỹ năng viết chữ, GV cần phải quan tâm đến việc tạo các yếu tố cảm xúc tốt, tâm lý thoải mái để HS luôn hứng thú trong việc luyện viết Quá trình lĩnh hội và thể hiện chữ viết ở HS sẽ diễn ra rất nhanh nếu
HS viết với tâm lý vui vẻ, phấn chấn
1.1.5 Chương trình dạy Tập viết và quy định hiện hành về chữ viết ở tiểu học
♦ Chương trình dạy Tập viết
- Đối với lớp 1: viết đúng quy trình viết nét, viết chữ cái và liên kết chữ cái tạo thành chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch Viết thẳng hàng các chữ trên dòng kẻ, tập chép bài tập đọc có độ dài từ 20 đến 24 chữ, mắc không quá 5 lỗi chính tả
Tập tô các chữ cái hoa theo trình tự bảng chữ cái
Tập viết các vần chữ thường, cỡ vừa và nhỏ (là các từ gắn với bài đọc, gắn với các vần được ôn luyện trong bài đọc)
- Đối với lớp 2: viết đúng mẫu chữ cái viết hoa, thể hiện rõ đặc điểm thống nhất ở các nét cơ bản trong từng nhóm chữ viết hoa Kỹ thuật viết chữ liền nét giữa các chữ cái đứng sau chữ viết hoa không có nét móc, tập chép viết khoảng
50 chữ trong 15 phút không mắc quá 5 lỗi chính tả
Nội dung và yêu cầu tập viết luôn bám sát nội dung bài học SGK Tiếng Việt
2 (viết chữ hoa – viết ứng dụng) Theo đó, trong cả năm học, HS sẽ được viết toàn bộ bảng chữ cái viết hoa do BGD và ĐT mới ban hành (gồm 29 chữ cái viết hoa theo kiểu 1 và 5 chữ cái viết hoa theo kiểu 2), cụ thể:
26 chữ cái viết hoa (theo kiểu 1 và 2) được dạy trong 26 tuần (mỗi tuần 1 tiết, mỗi tiết dạy 1 chữ cái viết hoa theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt
8 chữ cái viết hoa (kiểu 1) được dạy trong 4 tuần (mỗi tuần 1 tiết, mỗi tiết dạy hai chữ cái viết hoa có dạng gần giống nhau A- Ă, E- Ê, O- Ô, U- Ư) Nội dung mỗi bài tập viết được thiết kế trên hai trang vở tập viết, có chữ mẫu trên dòng kẻ li (khoảng cách giữa hai dòng kẻ li trong vở là 0,25 cm) Trên trang lẻ HS tập viết 1 dòng chữ cái viết hoa cỡ vừa, 2 dòng chữ cái viết
Trang 16hoa cỡ nhỏ, 1 dòng viết ứng dụng (chữ ghi tiếng có chữ cái viết hoa) cỡ nhỏ,
ba dòng viết ứng dụng (cụm từ có chữ viết hoa) cỡ nhỏ và tập viết tự chọn kiểu chữ Trên trang chẵn HS được luyện viết tương tự như trang lẻ và đây là phần luyện viết ở nhà
- Đối với lớp 3: viết đúng và hình thành kỹ năng viết nhanh đồng thời biết trình bày bài viết, bài làm sạch đẹp, thực hiện nề nếp giữ vở sạch viết chữ đẹp, bài tập viết
có độ dài khoảng 70 chữ, trong 15 phút, không mắc quá 5 lỗi chính tả
Luyện tập củng cố kỹ năng viết các chữ thường và chữ hoa theo cỡ nhỏ với mức yêu cầu được nâng cao đúng và nhanh
Thực hành viết ứng dụng (câu, đoạn ngắn) nhằm bước đầu hoàn thiện kỹ năng viết chữ ở giai đoạn thứ nhất (lớp 1, 2, 3) của chương trình tiểu học Mỗi trang lẻ yêu cầu: hai dòng chữ viết hoa cỡ nhỏ (bao gồm: 1 dòng ôn lại chữ viết hoa hoặc tổ hợp chữ ghi âm đầu có chữ cái viết hoa đã học ở lớp 2, 1 dòng củng cố thêm 1 đến
2 chữ cái viết hoa hoặc câu ứng dụng (yêu cầu kết hợp), 2 dòng viết câu ứng dụng tên riêng (cỡ nhỏ), 4 dòng viết câu ứng dụng (tục ngữ, ca dao, thơ…) theo cỡ nhỏ
và phần tự chọn kiểu chữ) Mỗi trang chẵn luyện viết thêm: gồm những chữ viết hoa cần ôn luyện và một số chữ thường cần lưu ý về kỹ thuật nối nét (viết liền mạch) luyện viết tên riêng, câu ứng dụng trong bài và tập viết tự chọn kiểu chữ Như vậy, việc phân bố chương trình dạy học Tâp viết có sự thống nhất lôgíc
và phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS tiểu học Sự thống nhất ở đây thể hiện rất
rõ ràng trong việc phân bố chương trình ở mỗi khối lớp Ví dụ 1: đối với lớp 1,
HS được tập viết chữ cái hoa qua nội dung là nhận diện và tập tô, tập viết các nét cơ bản của các chữ cái; đến lớp 2, HS được tập viết và viết đúng được toàn
bộ những chữ cái viết hoa; đến lớp 3, HS thực hiện việc viết thành thạo, viết đúng Hơn nữa, chương trình tập viết còn thể hiện được sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của HS Ví dụ 2: tốc độ viết ở lớp 2 và lớp 3 theo chương trình Tập viết cũng khác nhau, nâng dần mức độ khó, mức độ thể hiện sự dẻo dai, sự tập trung chú ý của HS Sự thống nhất lôgíc và phù hợp với đặc điểm tâm sinh
lý của HS tiểu học nói chung và HS lớp 3 nói riêng đã thể hiện rất rõ ràng, vừa sức Việc nắm bắt được nội dung chương trình Tập viết là yêu cầu đối với mỗi
GV, bởi đó là cơ sở để GV lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học… sao cho đạt được đúng yêu cầu của mỗi khối lớp
♦ Quy định hiện hành về chữ viết ở tiểu học
- Mẫu chữ
Bắt đầu từ lớp 1, năm học 2002 – 2003, việc dạy và học viết chữ trong trường Tiểu học trên toàn quốc được thực hiện theo mẫu chữ trong trường Tiểu học ban
Trang 17hành kèm theo Quyết định số 31/2002/QĐ - BGD và ĐT ngày 14/6/2002 của Bộ trưởng BGD và ĐT
Các chữ cái viết thường, dấu thanh, chữ cái viết hoa và các chữ số trong bảng mẫu chữ kèm theo Quyết định nói trên có đặc điểm như sau:
Mẫu chữ cái viết thường:
Các chữ cái b, g, h, l, k, y được viết với chiều cao 2,5 đơn vị Tức bằng hai
lần rưỡi chiều cao các chữ cái ghi nguyên âm
Chữ cái t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị
Các chữ cái r, s được viết với chiều cao 1,25 đơn vị
Chữ cái d, đ, p, q được viết với chiều cao 2 đơn vị
Các chữ cái còn lại o, ô, ơ, a, ă, â, e, ê, i, u, ư, n, m, v, x viết với chiều cao
1 đơn vị
Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị Mẫu chữ cái viết hoa: chiều cao của các chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị, riêng
hai chữ cái viết hoa Y, G được viết với chiều cao 4 đơn vị
Mẫu chữ số: chiều cao của các chữ số là 2 đơn vị
Như vậy, tính đến năm học 2012 – 2013 chúng ta đã thực hiện được tròn 10 năm theo Quyết định số 31/2002/ QĐ - BGD và ĐT về “mẫu chữ trong trường Tiểu học” Trước đó, chúng ta đã có không ít những lần thay đổi kiểu chữ để đạt được các yêu cầu như: dễ đọc, dễ viết, đảm bảo phân biệt giữa chữ này với chữ khác, đảm bảo tính thẩm mỹ, tạo điều kiện cho việc viết liền mạch làm tăng tốc
độ khi viết Để đạt được những yêu cầu đó có thể kể đến những lần thay đổi kiểu chữ như: “Chữ viết cải cách giáo dục” (chưa chỉnh lý) với chủ trương bỏ các nét dư và do đó đã vi phạm nguyên tắc phân biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính thẩm mỹ và ảnh hưởng đến tốc độ viết Hay “Chữ viết chỉnh lý” đã xóa
bỏ quy định việc chủ trương xóa bỏ các nét dư, điều đó đã làm cho chữ viết được đẹp hơn, tốc độ viết tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, chữ viết này vẫn hơi lùn nên làm ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ
Đối với chữ viết hiện hành mà chúng ta đang sử dụng trong những năm gần đây đã có thêm những điểm mới đáng kể Bộ chữ hiện hành về cơ bản giống
bộ “Chữ viết chỉnh lý” nhưng một số chữ có sự điều chỉnh về chiều cao như: chữ l (cũ là 2 đơn vị), và được đổi mới cao 2,5 đơn vị… Điều đó làm tăng tính thẩm mỹ và bộ mẫu chữ trở nên đỡ lùn, đẹp hơn Đặc biệt việc vẫn sử
Trang 18dụng những nét dư trong mẫu chữ đã tạo được sự liên kết đảm bảo tốc độ và
sự mềm mại của chữ viết
- Kiểu chữ
Có thể dạy cho HS là cả 4 kiểu chữ bao gồm: Kiểu chữ đứng nét đều; kiểu chữ đứng, nét thanh nét đậm; kiểu chữ nghiêng nét đều; kiểu chữ nghiêng, nét thanh nét đậm Trong đó, kiểu chữ chung nhất mà tất cả mọi HS đều được luyện viết đó là kiểu chữ đứng nét đều
Như vậy, quy định hiện hành về chữ viết đã đưa ra mẫu chữ viết và một kiểu chữ cần luyện chung cho HS tiểu học, bên cạnh đó cũng không giới hạn những yêu cầu về kiểu chữ để luyện viết thêm (HS có thể luyện thêm ba kiểu chữ còn lại) Ở mỗi kiểu chữ lại có những nét đẹp riêng mà HS có thể lựa chọn để luyện viết thêm
♦ Nội dung khảo sát
- Thực trạng học phân môn Tập viết, các kĩ năng viết và kiểu chữ viết của học sinh ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang
- Thực trạng dạy phân môn Tập viết cho học sinh ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang
♦ Đối tượng khảo sát
- 15 GV trực tiếp giảng dạy phân môn Tập viết của các khối lớp 1, 2, 3 và
60 HS lớp 3A1 và lớp 3A2 Trường Tiểu học Đông Hưng 1
♦ Thời gian, địa bàn khảo sát
- Thời gian: Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013
- Địa bàn khảo sát: Trường Tiểu học Đông Hưng 1, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc
Giang
♦ Cách thức tiến hành
Qua việc điều tra bằng quan sát thực tế, bằng phiếu, cùng với việc trò chuyện, phỏng vấn dành cho cả GV và HS, tác giả đã thu được những kết quả khả quan nhất
Trang 19Hứng thú học tập là điều mà HS đạt đến đầu tiên hay cuối cùng của một môn học Có người cho rằng HS chưa biết gì về môn học thì lấy gì mà hứng thú
Có một điều chắc chắn, hứng thú là điều mà bất kì một HS nào khi muốn học tốt cũng cần đạt được ở một số môn học Do vậy, tạo hứng thú trong luyện viết chữ
là điều đầu tiên mà GV cần đem đến cho HS,trước khi dẫn dắt HS nắn nót từng con chữ Có như thế HS mới tích cực chủ động và yêu thích việc luyện viết, đúng như tinh thần của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Hứng thú học tập của môn học được hình thành thông qua không khí học tập của HS trong giờ học môn đó Bởi một không khí học tập được hứng khởi sẽ kích thích sự say mê giúp cho HS học tập tốt hơn Khi HS cảm thấy yêu thích môn học hoặc nhận ra được những giá trị của bộ môn thì động lực học tập sẽ rất lớn HS sẽ luôn tìm tòi khám phá thế giới trên cơ sở những kiến thức đã học, vận dụng có sáng tạo những kiến thức đó, từ đó nâng cao kết quả học tập Để thấy được hứng thú luyện viết chữ đẹp của HS, tôi tiến hành đưa ra câu hỏi: “Em có thích học Tập viết không?” và kết quả thu được là mỗi HS đều có mức độ thể hiện sự yêu thích khác nhau Tuy nhiên, kết quả đáng mừng là số lượng HS ở cả hai lớp 3A1 và 3A2 cùng có câu trả lời: “Rất thích” chiếm gần 60% Điều đó cho thấy nhiều HS đã có sự hứng thú với việc luyện viết chữ Do đó, nếu GV luôn tâm huyết khơi nguồn hứng thú, quan tâm hơn thì không chỉ số lượng HS thấy hứng thú với việc luyện viết sẽ rất lớn mà còn góp phần nâng cao chất lượng chữ viết của HS
Có hứng thú học rồi nhưng để học tốt thì tài liệu học tập cũng đóng một vai trò quan trọng Tài liệu học tập chính là công cụ hỗ trợ HS trong quá trình học Tập viết Qua điều tra, tôi thấy rằng HS cả hai lớp đều được trang bị tương đối đầy đủ các tài liệu cho phân môn Tập viết, 100% HS đều có đầy đủ SGK và vở
Trang 20Tập viết Còn các tài liệu khác như vở kẻ nghiêng dùng để luyện viết kiểu chữ nghiêng thì kết quả thu được ở lớp 3A1 chỉ có 10 HS chiếm 33,3%, lớp 3A2 có
8 HS chiếm 26,6% trả lời là có Cũng chính vì thiếu tài liệu học tập nên khi được hỏi: “Ngoài kiểu chữ viết đứng nét đều, em có luyện thêm các kiểu chữ khác không?” và được phản hồi từ phía HS là: Lớp 3A1 có 15/30 HS chiếm 50%, lớp 3A2 có 13/30 HS chiếm 43,3% trả lời là có Như vậy, có thể thấy số lượng HS chăm chỉ luyện viết thêm các kiểu chữ ở cả hai lớp vẫn còn là những con số khá khiêm tốn Có tài liệu luyện viết thêm thay cho các vở luyện viết trên lớp đã phần nào đánh giá được sự quan tâm của các bậc phụ huynh đối với chất lượng chữ viết của con em mình Kết quả thu được như trên cho thấy đã có không ít phụ huynh quan tâm đến chữ viết của HS như đã đáp ứng về tài liệu phục vụ cho việc này Nếu như được sự quan tâm hơn nữa và mức độ nhận thức của phụ huynh được nâng lên như việc phụ huynh nắm được các yêu cầu về chuẩn các kỹ năng khi viết chữ để có thể tận tình kèm cặp, hướng dẫn các em khi luyện viết ở nhà thì kết quả của việc luyện viết chữ chắc chắn sẽ theo chiều hướng tốt hơn
Tập viết cũng như các phân môn khác của môn Tiếng Việt các môn học khác, để học tốt, có kĩ năng viết tốt thì ngoài giờ học trên lớp, HS phải thường xuyên luyện viết ở nhà Để điều tra việc luyện viết ở nhà của HS lớp 3, tôi đã đưa ra câu hỏi: “Ngoài giờ Tập viết, luyện viết thêm trên lớp, em có thường xuyên luyện viết ở nhà không?” Và kết quả thu được là phần lớn các em đã có ý thức luyện viết ở nhà, biểu hiện bằng con số cụ thể là 15/30 HS chiếm 50% HS lớp 3A1 và 17/30 HS chiếm 56,7% HS lớp 3A2 trả lời là thường xuyên luyện viết ở nhà Nhưng bên cạnh đó, ở cả hai lớp 3A1 và 3A2 vẫn tồn tại ở mỗi lớp là 10% tổng số HS không bao giờ luyện viết chữ ở nhà Tồn tại thực tế trên là do nhiều HS còn thiếu đi sự quan tâm sát sao của phụ huynh đối với việc luyện viết
ở nhà Con số HS không bao giờ luyện viết thêm ở nhà tuy không là một con số lớn nhưng rất cần phải có những biện pháp thiết thực để xóa bỏ thực trạng này Mỗi một kiểu chữ viết lại có những nét đẹp riêng, biết viết thêm nhiều loại kiểu chữ là thể hiện sự linh hoạt cũng như vốn hiểu biết sâu rộng của người viết chữ Kiểu chữ nghiêng, nét thanh nét đậm là một trong bốn kiểu chữ viết mà HS được học trong phân môn Tập viết (bên cạnh kiểu chữ viết chung trong chương trình là kiểu chữ đứng nét đều) Để tìm hiểu hứng thú luyện viết thêm kiểu chữ này, tôi có đưa ra câu hỏi: “Em có thích luyện viết thêm kiểu chữ viết nghiêng, nét thanh nét đậm không?” Kết quả thu được lại là một con số gây ấn tượng đó
là có đến gần 60% HS của cả hai lớp đều đưa ra đáp án là “Rất thích” Đây là
Trang 21một số liệu rất đáng mừng vì để đạt đến mục đích nào đó thì niềm yêu thích đến được cái đích đó là hết sức quan trọng, là khởi đầu đầy triển vọng
♦ Về các kĩ năng viết chữ và kiểu chữ viết
Để nắm được kĩ năng viết chữ của HS, qua việc dự giờ và thu vở tập viết,
vở chính tả và chấm bài tôi nhận thấy rằng ưu điểm chung đó là các em đều đã thực hiện tương đối tốt các yêu cầu về mức chuẩn cần đạt ở các nội dung: khởi điểm đúng; đúng quy trình; đúng hình dáng; viết sạch sẽ Ở các yêu cầu này đều đạt mức trên 50%, đặc biệt với yêu cầu viết đúng hình dáng lớp 3A1 có đến 23/30 HS chiếm 76,6%, lớp 3A2 với 24/30 HS chiếm 80% tổng số HS mỗi lớp thực hiện tốt kĩ năng này Viết đúng hình dáng chữ điều đó chứng tỏ chữ viết của HS của cả hai lớp đã rõ ràng và dễ đọc Bên cạnh các kĩ năng mà đa số HS
đã thực hiện tốt thì vẫn phải kể đến thực trạng nhiều HS vẫn chưa thực hiện tốt yêu cầu về tư thế ngồi, cách cầm bút và viết liền nét Có ngồi đúng tư thế, cầm bút đúng thì việc luyện viết mới đảm bảo cho sự phát triển về thể chất, ngồi viết sai là nguyên nhân dẫn đến các bệnh về mắt, về cột sống của HS Theo số liệu ở bảng 1 thì với hai yêu cầu này số lượng HS thực hiện tốt không quá 13 em, tức chỉ chiếm khoảng 40% tổng số HS ở mỗi lớp Đây cũng là một vấn đề còn trăn trở chung của nhiều GV khi rèn viết chữ cho HS trong trường một thực tế vẫn còn tồn tại là nhiều HS chưa có được tư thế ngồi viết đúng, có kỹ năng viết liền nét, viết đúng vị trí dấu phụ dấu thanh là một số liệu đáng lo ngại Đây là một phần để đánh giá ý thức tự rèn luyện của HS và cũng là căn cứ để xem xét về sự quan tâm, tâm huyết của GV trong thực hiện yêu cầu luyện viết chữ cho HS của mình
Khi tiến hành thu vở chấm bài và thông qua 5 bài viết trong vở chính tả của
HS được cập nhật gần thời gian khảo sát nhất tôi nhận thấy một vài nội dung như sau: Lớp 3A1 có tới 15/30 HS (chiếm 50%), trong khi lớp 3A2 cũng có đến 16/30 HS (chiếm 53,3%) tổng số HS của cả lớp quen viết kiểu chữ nghiêng Điều đó một phần đã chứng tỏ rằng trong quá trình giảng dạy GV đã dành không
ít tâm huyết cho việc mở rộng các kiểu chữ viết cho HS Hơn nữa, HS là chủ thể của hoạt động học nên điều này phần nào đã phản ánh được sự yêu thích đặc biệt của nhiều HS với kiểu chữ này
Đối với kiểu chữ đứng nét đều thì đây là kiểu chữ mà HS đã được làm quen
và học tập ngay từ những ngày đầu khi đến trường tiểu học Hơn nữa đây là kiểu chữ được quy định giảng dạy chính thức trong chương trình tiểu học Bởi vậy,
HS đa phần vẫn quen viết kiểu chữ này Lớp 3A1 có 10/30 HS (chiếm 33,3%), lớp 3A2 có đến 9/30 HS (chiếm 30%) HS của cả lớp Việc HS có thể viết tốt
Trang 22kiểu chữ này sẽ là điều kiện thuận lợi để GV hướng dẫn các em luyện viết thêm kiểu chữ đứng, nét thanh nét đậm
Việc luyện viết được nhiều kiểu chữ khác nhau đã phần nào thể hiện được tinh thần ham học tập rèn luyện của HS, thể hiện được sự yêu thích đối với chữ viết tiếng Việt Để viết được một kiểu chữ viết đúng và đẹp đã là rất khó và để viết được nhiều hơn một kiểu chữ đúng và đẹp đối với HS tiểu học lại là một điều khó hơn rất nhiều Tuy qua việc điều tra tác giả chỉ thu nhận được kết qủa rất khiêm tốn từ phía HS về nội dung này nhưng đây cũng là một dấu hiệu đáng quý Lớp 3A1 đã có 3/30 HS (chiếm 10%) viết được kiểu chữ đứng, nét thanh nét đậm, 2/30 HS (chiếm 6,7%) có thể viết được kiểu chữ nghiêng, nét thanh nét đậm; lớp 3A2 cũng có 3/30 HS (chiếm 10%) viết được kiểu chữ đứng, nét thanh nét đậm, có 2/30 HS (chiếm 6,7%) viết được kiểu chữ nghiêng, nét thanh nét đậm Điều đó cho thấy đã có những HS của cả hai lớp 3A1 và 3A2 thực sự yêu thích việc luyện viết chữ đẹp
Từ việc phân tích trên, tác giả nhận thấy rằng cần thực sự quan tâm tới việc luyện viết chữ theo từng kiểu chữ ở thói quen đưa bút của HS Để các em quen viết kiểu chữ đứng có thể viết đúng, đẹp hơn và HS biết viết thêm kiểu chữ này
có nét thanh nét đậm Ở kiểu chữ nghiêng cũng vậy, GV cần biết hướng dẫn
mẫu chữ được quy định hiện hành) và nhất là có thể luyện cho HS viết kiểu chữ này có nét thanh nét đậm Đối với những HS viết tốt kiểu chữ đứng có thể hướng dẫn thêm để HS viết được cả kiểu chữ nghiêng
Kết quả thu nhận lại về kiểu chữ viết của HS ở trên cho thấy mỗi HS lại có
sự lựa chọn sự phù hợp về kiểu chữ theo sự “quen” của tay mình viết khác nhau Nhưng nổi bật nên đó là với hầu hết HS đều chưa viết được mỗi kiểu chữ có nét thanh, nét đậm Dừng lại ở hầu hết mỗi em đều là khả năng viết kiểu chữ nét đều Thực tế đó là do nguyên nhân chủ yếu từ việc các em chưa nắm được kỹ năng tạo nét thanh nét đậm, chưa hiểu được thế nào là sự phân biệt của hai loại nét này Đây là một thực trạng vẫn tồn tại cần khắc phục bởi lẽ khắc phục được điều này chính là đã giúp các em mở rộng được kiểu chữ viết của mình
1.2.2.2 Thực trạng dạy phân môn Tập viết cho học sinh ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1 – Lục Nam – Bắc Giang
Trường Tiểu học Đông Hưng 1 có tổng số 20 lớp học tập trung tại một địa điểm thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Trường có 28 GV và đều đạt chuẩn
GV tiểu học trong đó có: 13 GV trình độ đại học, 14 GV trình độ cao đẳng và 1
GV trình độ trung cấp Hầu hết các GV trong trường đều đạt GV dạy giỏi các
Trang 23cấp trong đó có 12 GV dạy gỏi cấp tỉnh, 13 GV dạy giỏi cấp trường và GV các môn chuyên
Trường có 4 lớp 3 với tổng số là 120 em, 100% HS đi học đúng độ tuổi Để nâng cao chất lượng chữ viết thì GV chính là người giữ vai trò chủ đạo Vì vậy, trình độ của GV, chữ viết của GV là một trong những yếu tố quan trọng Qua khảo sát thực tế ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1, tôi thấy rằng các GV tham gia dạy học lớp 3 đều đạt trình độ cao đẳng sư phạm trở lên và hầu hết các thầy
cô có quá trình giảng dạy lâu năm nên tích lũy được kiến thức và kinh nghiệm tương đối vững chắc Tuy vậy, để dạy tốt phân môn Tập viết hay bất cứ môn học nào thì nhận thức về tầm quan trọng của môn học là điều cần thiết, vì vậy tôi
đã đưa ra câu hỏi: “Theo thầy (cô), Tập viết so với các phân môn khác trong
môn Tiếng Việt là một phân môn như thế nào?” và đã được 75% GV trả lời là rất quan trọng còn 25% GV trả lời là bình thường Điều này cho thấy mỗi GV đều có sự nhận thức khác nhau về phân môn Tập viết Tuy nhiên, chúng ta phải khẳng định rằng luyện viết chữ góp phần quan trọng vào việc học các phân môn khác Vì vậy, GV không thể lơ là hay xem nhẹ trong quá trình dạy học
Đối với HS, việc luyện viết nhiều khi không dễ dàng, bên cạnh những thuận lợi các em vẫn còn gặp nhiều khó khăn Điều quan trọng là GV phải thấy được những khó khăn để có biện pháp khắc phục Để điều tra về những bất cập đó khi dạy luyện viết chữ, tác giả đã đưa ra câu hỏi “Khi dạy Tập viết, thầy (cô) thấy
HS thường gặp những khó khăn nào?” Kết quả thu được như sau: 33,3% GV trong trường được hỏi đã trả lời là khó khăn khi giới thiệu cách viết, 26,7% GV thì cho là khi hướng dẫn HS viết liền nét Đây là khó khăn lớn vì yêu cầu viết liền nét hay tiếp thu cách viết một từ ứng dụng đối với HS các lớp đầu Tiểu học
là một vấn đề không đơn giản Bên cạnh đó 40% GV lại cho rằng thường gặp khó khăn khi uốn nắn tư thế ngồi cho HS, bởi khi GV nhắc thì HS mới ngồi đúng tư thế GV trong trường đã giải thích rằng HS còn nhỏ nên nhanh quên, chưa ý thức được rõ tác hại khi ngồi viết sai tư thế, ngồi xiêu vẹo sẽ ảnh hưởng đến cột sống sau này Nên vẫn còn tình trạng rất nhiều HS ngồi viết sai tư thế,
mà theo quan sát của tác giả thì có một số lượng không nhỏ Đây là một thực
trạng cần phải khắc phục ngay để tránh những hậu quả đáng tiếc sau này
Đối với HS tiểu học, tư duy còn thiên về trực quan cụ thể, những gì nhìn thấy, nghe thấy sẽ giúp HS nhớ tốt hơn và hứng thú hơn Bởi vậy, đồ dùng trực quan là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong giờ học Để biết các thầy (cô) đã
sử dụng đồ dùng trực quan nào trong giờ luyện viết chữ, tôi có đưa ra câu hỏi:
“Khi luyện viết chữ, thầy cô thường sử dụng những đồ dùng trực quan nào?” và
Trang 24thu được kết quả sau: 100% GV thường xuyên sử dụng bảng gài và 100% GV sử dụng tranh mẫu chữ Bởi đây là đồ dùng chủ yếu mà bất kì giờ luyện viết chữ nào GV cũng cần khai thác Bảng phụ dùng trong giờ luyện viết chữ sử dụng để
GV viết câu ứng dụng Mục đích của việc sử dụng bảng phụ là giúp HS dễ quan sát hơn, lớp học tập trung hơn và góp phần tích cực vào việc luyện viết cho HS Tuy nhiên chỉ có 46,7% GV trả lời là sử dụng bảng phụ trong giờ luyện viết chữ, con số này tương đối ít vì thông thường GV sẽ viết trực tiếp lên bảng lớp Như vậy, có thể thấy rằng việc sử dụng đồ dùng trực quan trong luyện viết chữ ở Trường Tiểu học Đông Hưng 1 mặc dù đã được GV chú ý song vẫn chưa được coi trọng một cách đúng mực Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc nâng cao hiệu quả luyện viết chữ cho HS Việc sử dụng phương pháp dạy học sao cho hiệu quả cũng là một vấn đề đáng lưu ý Để khảo sát vấn đề này, tôi có đưa ra câu hỏi: “Khi dạy Tập viết thầy (cô) thường sử dụng phương pháp dạy học nào?” và có tới 100% GV trả lời thường xuyên sử dụng những phương pháp như: trực quan, đàm thoại gợi mở và phương pháp luyện tập Đây là tín hiệu đáng mừng, tuy nhiên việc vận dụng những phương pháp này vào dạy học sao cho có hiệu quả mới là vấn đề lớn Vì vậy, trong giờ luyện viết chữ GV phải lựa chọn và sử dụng linh hoạt, có thể kết hợp các phương pháp để tăng tính hấp dẫn, hiệu quả cho giờ học
Để nâng cao chất lượng chữ viết cho HS thì ngoài việc luyện viết trong giờ Tập viết cần thường xuyên chú ý rèn luyện kỹ năng viết cho HS khi có điều kiện thuận lợi Để biết được GV đã thực hiện việc dành thời gian luyện chữ cho HS
ra sao, tôi có đưa câu hỏi: “Ngoài giờ Tập viết, thầy (cô) còn luyện viết cho HS khi nào?” và đã có 83,3% GV trả lời là luyện viết trong giờ truy bài, có 66,7%
GV trả lời là luyện thêm cho HS vào tiết sinh hoạt tập thể, còn lại số ít chiếm 6,7%
GV đã dành việc luyện viết trong các môn học khác Luyện viết trong các môn học khác ở đây được hiểu là sự kết hợp thường xuyên giữa yêu cầu về chữ viết với sự nhận thức các kiến thức khoa học của các môn học đó Với những GV lựa chọn phương án này khi được hỏi trực tiếp thì đều trả lời là có dành cả thời gian luyện viết ở cả những giờ trên Như vậy, có thể thấy thầy (cô) trong nhà trường dù ít dù nhiều cũng đã dành sự quan tâm đến việc luyện viết chữ cho HS
Khi phỏng vấn các GV đang trực tiếp giảng dạy lớp 3 về những khó khăn của
HS khi luyện viết chữ, tôi thu nhận được một số ý kiến như sau:
Thầy Nguyễn văn Hưng, GV chủ nhiệm lớp 3A6 cho rằng: “Khi luyện
viết chữ học sinh thường lúng túng khi viết liền nét, đặc biệt là nối liền nét không thuận lợi”
Trang 25Khi chúng tôi hỏi về khả năng viết của những HS người dân tộc thiểu số, cô
Nguyễn Thị Xuân, GV chủ nhiệm lớp 3A2 cho rằng: “Nhìn chung học sinh
người dân tộc thiểu số trong trường cũng có trình độ và khả năng viết tương đương các học sinh người Kinh, chỉ có một số học sinh sống xa gia đình, ít được
sự quan tâm chỉ bảo nên khả năng viết còn yếu hơn Vì vậy, chúng tôi phải luyện cho các em nhiều hơn”
Khi tìm được khó khăn, tiếp theo cần phải đề cập đến đó chính là đề xuất các biện pháp khắc phục Khi được hỏi về vấn đề này, bằng kinh nghiệm thực tế giảng dạy nhiều năm các thầy cô đã đóng góp một số biện pháp đó là việc luyện viết chữ cho HS luôn cần đảm bảo về điều kiện ánh sáng, phòng học, bàn ghế của HS
Nhìn chung, trong quá trình điều tra thực trạng luyện viết chữ cho HS lớp 3 Trường Tiểu học Đông Hưng 1, tôi nhận thấy các thầy (cô) đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc này Song nhiều GV lại chưa thực sự coi trọng việc luyện viết bằng việc luyện các kỹ năng khác như: kỹ năng đọc, làm tính toán… Vì thế chưa thực sự đầu tư thời gian tâm huyết khơi gợi hứng thú cho HS trong việc luyện viết chữ
Tiểu kết
Tập viết là phân môn quan trọng nằm trong chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học Phân môn Tập viết ở tiểu học đã thực hiện việc hình thành kỹ năng viết chữ cho HS, đồng thời cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản về chữ viết và kỹ thuật viết chữ Qua việc luyện viết, GV có điều kiện định hướng việc cho HS luyện viết theo các kiểu chữ khác nhau như luyện viết chữ nghiêng, nét thanh nét đậm Bằng quá trình thực tiễn, tác giả đã tiến hành tìm hiểu thực trạng luyện viết và nhận thấy rằng: luyện viết nói chung và sự hiểu biết của GV
và phụ huynh HS về vấn đề luyện viết chữ cho HS tiểu học còn chưa sâu sắc, đôi khi còn đánh giá thấp vai trò này Mặt khác, đối tượng HS lớp 3 rất hiếu động, khả năng tập trung chú ý chưa cao, sự dẻo dai của cánh tay còn yếu Theo điều tra khảo sát cho thấy tỉ lệ đúng về viết liền nét, đúng độ cao, đúng về
vị trí dấu thanh vẫn còn chiếm SL khá khiêm tốn Chính vì vậy, đã dẫn đến thực trạng chữ viết của HS lớp 3 còn chưa đẹp, tốc độ viết còn chậm, đa phần HS chưa được luyện viết thêm và chất lượng chữ viết trong nhà trường còn thấp là điều không tránh khỏi
Trang 26CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP LUYỆN VIẾT CHỮ NGHIÊNG NÉT THANH, NÉT ĐẬM CHO HỌC SINH LỚP 3
2.1 Hướng dẫn học sinh tư thế ngồi, cách cầm bút, cách để vở cho phù hợp
GV cần thường xuyên quan tâm đến tư thế ngồi viết của HS, cách cầm bút, cách để vở để kịp thời uốn nắn sửa sai Tạo lập cho HS các thói quen chuẩn bị tập viết đúng Đối với tư thế ngồi viết, cách cầm bút cần thực hiện cho tất cả các kiểu chữ khi viết Tuy nhiên, với yêu cầu đặt vở thì với việc luyện viết chữ nghiêng cho HS cần đặc biệt có chú ý riêng
Khi ngồi viết, HS phải ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, ngực không tì vào bàn, đầu hơi cúi hai mắt cách vở từ 25 cm đến 30 cm Cánh tay trái đặt trên bàn bên trái vở, bàn tay trái tì vào mép vở giữ cho vở không bị xê dịch khi viết Cánh tay phải cũng đặt trên mặt bàn Với cách để tay như vậy, khi viết, bàn tay và cánh tay phải có thể dịch chuyển từ trái sang phải dễ dàng
Khi viết HS cầm bút và điều khiển bút viết bằng 3 ngón tay (ngón trỏ, ngón cái, ngón giữa) của bàn tay phải Đầu ngón tay trỏ đặt ở phía trên, đầu ngón tay giữa bên trái, phía bên phải của đầu bút tựa vào cạnh đầu gối của ngón tay giữa
Ba điểm tựa này giữ bút và điều khiển ngòi bút dịch chuyển linh hoạt Ngoài ra, động tác viết cần có sự phối hợp cử động của cổ tay, khuỷu tay và cánh tay
(nghiêng về bên trái) Điều này khác với cách đặt vở khi hướng dẫn HS viết chữ đứng Việc đặt vở như vậy khi thực hiện viết chữ nghiêng sẽ giúp HS không bị quá ngả người về một bên Lưu ý: GV khi hướng dẫn HS thực hiện yêu cầu ngồi viết đúng tư thế cần phải thường xuyên nhắc nhở cũng như làm mẫu để HS noi theo Tư thế ngồi viết hay chấm chữa bài trên bàn của GV chính là một hình ảnh trực quan thiết thực nhất cho HS Khi rèn kỹ năng này GV có thể nêu những hậu quả của việc khi không thực hiện tốt yêu cầu này như là gây ra các bệnh về cột sống và về mắt Đây chính là sự kết hợp giữa giáo dục ý thức, phẩm chất đạo đức với việc giáo dục kiến thức khoa học cho người học
HS tiểu học có đặc điểm tâm sinh lý riêng và đối với HS lớp 3 cũng có những đặc điểm đặc trưng đó Sự tập trung chú ý, khả năng ghi nhớ, tưởng tượng, đặc biệt là về sự vận động của hệ cơ và xương khi tiếp thu bất cứ một nội dung học tập nào cũng đều thể hiện một khẳ năng có giới hạn nhất định Do đó, GV cần phối hợp nhịp nhàng giữa việc học và việc giải trí cho HS hay có thể thay bằng
Trang 27những động tác thể dục đơn giản mà có thể vừa tránh được sự căng thẳng và sự mệt mỏi Ví dụ: GV dành thời gian khoảng 5 phút ở giữa tiết học cho HS vận đông tại chỗ các động tác thể dục đơn giản như xoay các khớp cổ, cổ chân, cổ tay và có thể cùng đồng thanh nói về việc luyện viết như sau:
Viết mãi mỏi tay
Cúi mãi mỏi lưng
Thể dục thế này
Là hết mệt mỏi
Hoặc khi luyện viết theo nhóm chữ đồng dạng thì trong phần giải trí cho HS,
GV có thể cho HS vưa thể dục tại chỗ kết hợp với miêu tả đặc trưng của nhóm chữ đồng dạng đó Ví dụ như: Khi học về nhóm chữ đồng dạng có tên gọi là nhóm “Quả nho” gồm các chữ: O; Ô; Ơ; Q, GV cho HS xoay các khớp kết hợp với thể hiện đặc trưng của nhóm này qua các câu thơ sau:
Đây nhóm quả nho
2.2 Hướng dẫn học sinh luyện viết các nét cơ bản, nhóm chữ đồng dạng
Nét chữ cơ bản là nét viết có hình dạng, cấu tạo nhất định Các nét chữ cơ
bản là những đơn vị nhỏ để cấu tạo nên mỗi con chữ Ví dụ: Chữ o được viết bởi một nét cơ bản cong kín còn chữ a lại được viết bởi hai nét gồm nét cong kín và
một nét móc ngược phải Đó đều là những nét cơ bản để cấu tạo nên bộ chữ cái, chữ số tiếng Việt Cho nên việc luyện chữ viết tiếng Việt theo kiểu chữ nghiêng
yếu đã thực hiện được yêu cầu về viết đúng hình dáng nhưng nét chữ cơ bản để đúng và đẹp dẫn đến viết chữ đẹp thì lại chưa làm được Yêu cầu luyện viết các
Trang 28nét cơ bản đã được đặt ra Bởi lẽ, có luyện tốt các nét này HS mới có thể viết đúng và đẹp từng kiểu chữ Hơn nữa, chính bởi chữ viết tiếng Việt được cấu tạo bởi các nét cơ bản nên đây chính là cơ sở để ta có thể xếp các chữ có cùng những nét chung đó vào một nhóm chữ Các chữ có cùng chung nét cơ bản giống nhau đều được xếp vào các nhóm chữ mà ta gọi đó là các nhóm chữ đồng dạng Căn cứ vào nét chữ có thể chia bảng chữ cái viết thường, chữ cái viết hoa
và chữ số thành các nhóm chữ đồng dạng như sau:
- Với chữ viết thường được chia làm 5 nhóm
Nhóm 1 gồm các chữ bắt đầu bằng nét cong: c, o, ô, ơ, x, a, ă, â, d, đ, q, g Nhóm 2 gồm các chữ bắt đầu bằng nét hất: i, t, u, ư, p, e, ê, y
Nhóm 3 gồm các chữ bắt đầu bằng nét móc: m, n, v
Nhóm 4 gồm các chữ bắt đầu bằng nét khuyết: b, h, k, l
Nhóm 5 gồm các chữ bắt đầu bằng nét xoắn: r, s
- Với nhóm chữ cái viết hoa được chia làm 6 nhóm:
Nhóm 1 gồm các chữ cái: A, Ă, Â, N, M
- Với chữ số được chia làm 3 nhóm:
Nhóm 1 gồm các chữ số chỉ có cấu tạo bởi các nét thẳng (1, 4, 7)
Nhóm 2 gồm các chữ số có cấu tạo bởi nét thẳng và nét cong (2, 3, 5) Nhóm 3 gồm các chữ số chỉ có nét cong (0, 6, 8, 9)
Việc hướng dẫn HS luyện viết theo các nhóm chữ sẽ mang tính khoa học hơn Bởi lẽ, ở lớp 3 HS đã được viết toàn bộ các chữ này, trong khi đó cùng một lúc HS được rèn luyện các chữ có cấu tạo bởi các nét tương đối giống nhau, các nét cơ bản một lần nữa lại được rèn luyện, hiệu quả chất lượng của chữ viết sẽ tốt hơn
Ví dụ 1: khi hướng dẫn HS luyện viết chữ thường với nhóm chữ bắt đầu bằng
nét móc: m, n, v Trước hết, GV cần có những gợi ý để HS tự tìm ra những điểm
Trang 29giống nhau giữa các chữ này như: về chiều cao, độ rộng, các nét cơ bản… hướng dẫn để HS tìm được những điểm khác nhau Với HS tiểu học, nội dung câu hỏi để hỏi nên sắp xếp từ dễ đến khó, có như vậy HS mới dễ dàng tiếp thu tri thức được Việc phân tích nhóm chữ đồng dạng cho HS hiểu được cũng cần thực hiện theo yêu cầu này Khi HS được phân tích nhóm chữ GV cần kết luận khái quát về nhóm chữ cũng như nêu tên nhóm chữ để HS nắm được Tiếp đó,
GV hướng dẫn tỉ mỉ yêu cầu của viết chữ m Với chữ n, v thì chữ n có cách viết tương tự như chữ m, chỉ là khi viết xong nét móc xuôi phải thứ nhất thì viết tiếp luôn nét móc hai đầu; còn với chữ v có hơi khác đó là HS phải viết được một nét
móc hai đầu trước, điểm cuối của nét móc hai đầu có sự mở rộng hơn đưa lên cao hơn và nối liền bởi một nét thắt nhỏ Với hai chữ đầu có nhiều điểm tương
đồng hơn nên GV chỉ cần hướng dẫn thật chi tiết chữ m, là HS có thể viết tốt được chữ n Tuy nhiên, khi viết chữ v có một lợi thế là HS đã được luyện tốt nét
móc hai đầu ở hai chữ m và n, nên có thể vận dụng vào để viết chữ này Cần đặc
biệt dựa vào những điểm giống và khác nhau của các chữ để hướng dẫn HS luyện viết một cách khoa học
Ví dụ 2: hướng dẫn HS luyện viết theo nhóm chữ hoa đồng dạng có cấu tạo bởi nét
cơ bản là nét móc trong nhóm chữ cái viết hoa: nhóm gồm các chữ cái A, Ă, Â, M, N
Đây là một nhóm chữ đồng dạng tương đối giống nhau về quy trình viết và
về cấu tạo các nét cơ bản Khi GV hướng dẫn HS quy trình viết chữ hoa A thì với hai chữ Ă, Â trở nên dễ dàng hơn với HS rất nhiều Và việc thực hiện nét viết đầu tiên trong chữ cái M, N cũng được HS tiếp thu nhanh vì đó là nét mà HS đã
được luyện ở cả ba chữ trước đó của nhóm Do đó, GV cần hướng dẫn tốt để HS
viết được đúng, đẹp chữ cái A làm cơ sở để luyện viết các chữ cái còn lại của
nhóm đó Tiếp theo, GV phải giúp HS tự chỉ ra được đặc điểm giống và khác nhau trong cấu tạo các nét cơ bản của cả nhóm để từ đó HS nắm được khái niệm bản chất nhất của nhóm chữ cái này và đặt tên cũng như là gọi đúng tên nhóm Việc luyện như vậy thì đến đây đã có ít nhất là ba lần HS được rèn kỹ năng viết
nét móc ngược phải, đây cũng là một nét cơ bản trong cả hai chữ M, N
Ví dụ 3: hướng dẫn HS viết chữ số theo nhóm chữ số đồng dạng có nét viết
cơ bản chỉ là các nét thẳng
Ở nhóm chữ số này gồm: 1, 4, 7 thì về quy trình viết của chúng là không
giống nhau điều đó dễ hiểu vì ở mỗi chữ số trong nhóm đều có điểm đặt bút không giống nhau nhưng chúng vẫn được xếp vào cùng một nhóm chữ là vì có cùng cấu tạo bởi các nét cơ bản là các nét thẳng và đều có chiều cao giống nhau
là 2 đơn vị Việc rèn cho HS kỹ năng viết theo nhóm chữ số này được tiến hành
Trang 30theo thứ tự từ bé đến lớn Ở nhóm này yêu cầu chính là rèn ở HS sự chính xác trong việc đưa bút bởi lẽ đó đòi hỏi cách đưa bút phải thật sự dứt khoát, rõ ràng Lưu ý: nhóm chữ chỉ có cấu tạo bởi nét viết cơ bản là những nét thẳng đã tạo điều kiện thuận lợi để GV hướng dẫn HS luyện kỹ năng tạo nét thanh, nét đậm Với việc luyện các chữ số này thể hiện sự thanh đậm rõ ràng đã là cơ sở để HS khái quát thành một quy trình chung trong cấu tạo các nét viết thanh đậm đó là toàn bộ các nét viết được đưa từ trên xuống đều là các nét đậm, còn lại là các nét thanh Điều này góp phần hình thành ở HS ý thức viết để tạo được những nét viết thanh đậm Vì thế, khi hướng dẫn HS luyện viết GV phải chú ý đến việc hướng dẫn tỉ mỉ nhất chữ số đầu tiên, trên cơ sở phân tích độ thanh đậm để HS
có thể viết tốt các chữ số còn lại
Hướng dẫn HS luyện kỹ năng viết theo nhóm các chữ cái đồng dạng đã tạo điều kiện để đặt các chữ cái, chữ số có cấu tạo từ các nét cơ bản cũng như quy trình viết tương đối giống nhau được sắp xếp ở cạnh nhau Thực hiện kỹ năng viết theo mỗi nhóm chữ đồng dạng đã góp phần luyện kỹ năng viết chữ cho HS một cách hiệu quả mà không gây sự nhàm chán Với việc hướng dẫn HS viết chữ đầu tiên của nhóm đó một cách tỉ mỉ để HS có thể viết được đúng, đẹp chữ đầu tiên của nhóm đồng dạng là đã tạo được hứng thú yêu thích của HS trong việc luyện nhóm chữ này Kế tiếp của việc luyện chữ viết đầu tiên đó thay vì
GV phải tiếp tục hướng dẫn toàn bộ quy trình viết từng chữ một, thì điểm tương đồng của những chữ này với chữ được luyện đầu tiên của nhóm đồng dạng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp HS có thể luyện viết bởi ít nhất trong đó có những nét cơ bản mà HS đã viết được tốt Như vậy, GV chỉ cần hướng dẫn trọng tâm những nét viết còn lại là khác của chữ cần luyện so với chữ viết đầu của nhóm đó Điều này không những đảm bảo được về thời gian cho việc luyện các kỹ năng viết chữ mà còn là sự làm việc một cách khoa học, đảm bảo được tính chủ động tích cực của cả người dạy và người học
2.3 Hướng dẫn học sinh kỹ năng liên kết các nét chữ khi viết
Do đặc điểm cấu tạo của bộ chữ cái ghi âm tiếng Việt chia làm hai trường hợp: Trường hợp nối nét thuận lợi và viết nối nét không thuận lợi, cụ thể như sau:
Trường hợp nối nét thuận lợi: Nối nét thuận lợi là nối hai chữ cái đứng cạnh nhau, trong đó giữa chữ cái đứng trước và chữ cái đứng sau đã có sẵn nét liên kết với nhau GV cần lấy ví dụ cụ thể cho từng trường hợp nối nét thuận lợi để giúp HS có kỹ năng liên kết các nét chữ
Ví dụ1: khi dạy viết vần "in" GV phân tích cả hai chữ cái i và chữ cái n đều
có nét liên kết nên khi hướng dẫn HS quy trình viết liền mạch i nối với n như
Trang 31sau: từ điểm dừng bút của chữ cái i rê tiếp nét bút lên trên một chút tạo nét nối sang điểm đặt bút của chữ cái n Kết thúc vần "in" là điểm dừng bút của chữ cái
n, HS mới nhấc bút
Ở loại liên kết này xảy ra hai kiểu:
Kiểu 1: liên kết trong nội bộ vần
Thứ tự dạy hệ thống vần theo sách Tiếng Việt 1 hiện nay và theo vở Tập viết như sau:
Vần không có âm đệm (âm đầu vần) được dạy trước các vần có âm đệm Khi
dạy viết các kiểu vần này cần lưu ý điều tiết khoảng cách giữa âm chính (âm giữa vần) và âm cuối (âm cuối vần) để khoảng cách giữa các con chữ là 2/3 đơn
vị chữ (hay bằng 1 con chữ o)
Nét nối của chữ cái đứng sau là nét hất trong các chữ u, i, y, nét móc xuôi
chữ cái đứng trước đơn giản hơn Ví dụ: Khi hướng dẫn viết vần "ất" GV phải hướng dẫn viết a nối với t liền mạch thì sau khi thực hiện viết chữ a, rê bút từ điểm dừng bút của chữ cái a tạo nét nối đến điểm đặt bút của chữ cái t Kết thúc vần at là điểm dừng bút của chữ cái t Sau đó, thực hiện lia bút lên đầu chữ cái â
viết dấu phụ và dấu thanh còn lại
Với các nét tròn đầu, việc thực hiện liên kết phức tạp hơn Người viết cần điều tiết nét kết thúc của chữ cái đứng trước sao cho điểm nối với điểm đặt bút của nét chữ đi sau cần tự nhiên, không có chỗ gãy
Ví dụ 2: khi dạy viết vần "en", GV cần hướng dẫn nối viết e với n liền mạch Nhận thấy chữ cái n đứng sau có nét móc xuôi nên việc nối nét phức tạp hơn, vì vậy để đảm bảo quy trình viết liền mạch tại điểm nối của chữ cái e và n được tự nhiên không có nối gãy thì HS cần điều tiết nét kết thúc của chữ e cao lên một chút rồi rê bút đến điểm đặt bút của chữ cái n
Vần có âm đệm ghi bằng chữ cái “u” dạy sau Trong trường hợp này chữ cái ghi âm đệm (âm đầu vần) là chữ cái u, chữ cái ghi âm chính là chữ cái ê, y Tuy nhiên, việc thực hiện kiên kết giữa u với y khác biệt giữa liên kết u với ê, vì điểm đặt bút của e thấp hơn y Với vần "uy", GV cần hướng dẫn HS nối u với y