1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận các giải pháp hạn chế tính mùa vụ của hoạt động du lịch biển sầm sơn

40 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận Các Giải Pháp Hạn Chế Tính Mùa Vụ Của Hoạt Động Du Lịch Biển Sầm Sơn
Tác giả Trần Hồng Nhung
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hà
Trường học Trường Đại Học Thể Thao - Du Lịch Thanh Hóa
Chuyên ngành Du lịch
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế nhưng qua thời gian vụ mùa thì du lịch biển Sầm Sơn lại rất vắng vẻ, các nhà hàng khách sạn buộc phải tạm đóng cửa vì số lượng khách rất ít, một số khác buộc phải trả mặt bằng vì khô

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ THAO - DU LỊCH THANH HÓA

KHOA: DU LỊCH -*** -

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Hà Sinh viên thực hiện: Trần Hồng Nhung

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sinh viên

Trên đường học tập, không thể không có dấu chân giúp đỡ ít hay nhiều từ mọi

người Bởi vì nếu không có những sự giúp đỡ thì chúng ta không bao giờ có thể

chạm được đến sự thành công

Trước tiên, Em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến Cô Nguyễn Thị Hà –

giảng viên khoa du lịch trường Đại học Văn Hóa - Thể thao - Du lịch Thanh

Hóa, người đã tận tình chỉ bảo, góp ý, hỗ trợ, em và các bạn trong suốt quá

trình học tập tại trường cũng như trong quá trình thực hiện bài tiểu luận này

Trong quá trình, làm bài tiểu luận khó tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong

nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô để bài viết được hoàn thiện hơn

Từ sâu thẳm lòng mình, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đối với gia đình,

người thân yêu , Cảm ơn những người bạn thân thiết đã luôn đồng hành, hỗ trợ

trong suốt quá trình học tập, sinh hoạt, nghiên cứu đề tài

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

TRANG BÌA

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU………5

1.Lý do chọn đề tài……… 5

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 6

3.Đối tượng,phạm vi nghiên cứu……….6

4 Mục đích nghiên cứu……… 6

5 Phương Pháp nghiên cứu……….6

6 Bố cục của đề tài……… 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍNH MÙA VỤ DU LỊCH 1.1 khái niệm……… 8

1.2 bản chất và đặc điểm của tính mùa vụ………8

1.2.1 bản chất……… 8

1.2.2 đặc điểm……… 9

1.3 Các yếu tố gây nên tính mùa vụ………10

1.3.1 Điều kiện khí hậu……… 10

1.3.2 Thời gian Rỗi………11

1.3.3 Phong tục quán……… 11

1.3.4 Các yếu tố khác……….12

1.4 Những ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch…………13

1.4.1 Ảnh hưởng đến việc khai thác tài nguyên và môi trường du lịch……….13

1.4.2 Ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý và hiệu quả kinh doanh…… 14

1.4.3 Ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nhân lực……… 15

1.4.4 Ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của du khách………15

1.5 Một số kinh nghiệm hạn chế ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ lên hoạt động du lịch……… 15

Tiểu kết Chương 1……… 16

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍNH THỜI VỤ CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SẦM SƠN……… 17

2.1 Khái quát về Sầm Sơn……… 17

2.1.1 Vị trí của Sầm Sơn trong chiến lược phát triển du lịch………17

2.1.2 Tiềm năng du lịch Sầm Sơn……….18

2.1.3 Thực trạng phát triển du lịch……….21

2.2 Các yếu tố hình thành tính thời vụ du lịch tại Sầm Sơn……… 25

2.2.1 Yếu tố tự nhiên……… 26

2.2.2 Yếu tố kinh tế xã hội……… 26

Trang 4

2.2.3 Yếu tố tổ chức, kỹ thuật………26

2.3 Tác động của tính thời vụ đến cung du lịch tại Sầm Sơn……….27

2.3.1 Tác động đến công tác tổ chức quản lý………27

2.3.2 Tác động đến hiệu quả kinh doanh……… 28

2.3.3 Tác động đến tài nguyên và môi trường du lịch ……… 29

2.3.4 Tác động đến chất lượng dịch vụ du lịch……… 29

2.4 Những giải pháp Sầm Sơn đã thực hiện để giảm thiểu tính thời vụ …… 30

2.4.1 Giải pháp về quy hoạch, chính sách đầu tư phát triển du lịch………30

2.4.2 Giải pháp quản lý nhà nước về du lịch……… 30

2.4.3 Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch ………31

2.5 Đánh giá chung……… 31

2.5.1 Những mặt đã đạt được……….31

2.5.2 Những mặt tồn tại, hạn chế………32

Tiểu kết chương 2………32

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG BẤT LỢI CỦA TÍNH MÙA VỤ ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH BIỂN SẦM SƠN 3.1 Mục tiêu phát triển du lịch Sầm Sơn……….33

3.2 Định hướng phát triển du lịch biển Sầm Sơn………33

3.3 Các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của tính mùa vụ du lịch…34 3.3.1 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường……….34

3.3.2 Tăng cường công tác tuyên truyền quảng cáo thu hút khách ngoài vụ mùa

3.3.3 Tăng mức độ đón tiếp khách trong toàn năm……….35

3.3.4 Chủ động phương án sử dụng nhân sự và cơ sở vật chất kỹ thuật trong mùa vụ thấp điểm………35

3.3.5 Sử dụng có hiệu quả các khuyến khích kinh tế……….36

3.4 Khuyến nghị……… 36

3.4.1 Đối với các cấp quản lý………36

3.4.2 Đối với doanh nghiệp kinh doanh du lịch………37

3.4.3 Đối với cộng đồng dịa phương……….37

KẾT LUẬN………38

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

PTDL: Phát triển du lịch

Hubway : Công trình ki-ốt công cộng phục vụ bar, cà phê, giải khát kết hợp nghỉ chân và ngắm biển

GTVT : Giao thông vận tải

UBND : Ủy ban nhân dân

VH-TT : Văn hóa thông tin

VHTTDL: Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sầm Sơn là một vùng đất có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời , tọa lạc trên mảnh đất Thanh Hóa “địa linh nhân kiệt” với những cảnh đẹp non nước sơn thủy hữu tình, bãi biển Sầm Sơn là một trong những điểm đến nổi bật và được thiên nhiên ưu ái cho mặt biển xanh trong, bao la, hùng vĩ; những bãi cát trải dài bất tận và không khí trong lành, thoáng đãng đến yên lòng.Nhận thấy được tiềm năng phát triển du lịch biển nên Bãi tắm Sầm Sơn được khai thác khá sớm, từ năm 1906 người Pháp vì nhận thấy nhiều ưu điểm thích hợp cho nghỉ dưỡng, từ đó Sầm Sơn đã nhanh chóng trở thành nơi nghỉ mát nổi tiếng cho cả Đông Dương Bãi Biển Sầm Sơn được xét là một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam và luôn là bãi biển đông khách nhất miền Bắc, Việt Nam Tuy nhiên thì hoạt động du lịch biển Sầm Sơn chỉ hoạt động sôi nổi, tập trung

và mùa vụ chính vì thế đã mang lại nhiều ảnh hưởng đến hoạt động du lịch tại Sầm Sơn Một thực tế cho thấy vào mùa du lịch từ tháng 4 đến tháng 8 lượng

du khách tập trung ổ ạt về bãi biển Sầm Sơn gây nên tình trạng quá tải du lịch, nhà hàng khách sạn không đủ sức chứa, công suất sử dụng buồng phòng đạt 100%, thậm chí vào những ngày cuối tuần du khách còn hạn chế trong việc đặt phòng khách sạn Thế nhưng qua thời gian vụ mùa thì du lịch biển Sầm Sơn lại rất vắng vẻ, các nhà hàng khách sạn buộc phải tạm đóng cửa vì số lượng khách rất ít, một số khác buộc phải trả mặt bằng vì không đủ doanh thu để hoạt động Nhìn chung, hoạt động du lịch biển Sầm Sơn chịu tác động rất lớn bởi tính mùa

vụ, có tác động lớn đến hoạt động du lịch trong một năm của thành phố Biển Sầm Sơn Điều này đã và đang là câu hỏi rất lớn đặt ra cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách, và các doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn Chính vì thế, cho đến thời điểm hiện tại thì các nhà nghiên cứu về hoạt động du lịch biển Sầm Sơn chỉ dừng lại ở một số bài báo trên các tạp chí hoặc những nỗ lực đưa ra các giải pháp mang tính riêng lẻ của các doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn mà chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào đưa ra những luận cứ khoa học về bản chất, nguyên nhân hình thành, hướng tác động cũng như các giải pháp tối ưu hiệu quả nhất nhằm giảm thiểu các tác động xấu của tính mùa vụ

du lịch Việc xác định các yếu tố chính của hiện tượng này sẽ làm cơ sơ cho các đề xuất biện pháp hạn chế tối đa sự tiêu cực của tính mùa vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch tại bãi biển Sầm Sơn Mặt khác, việc nghiên cứu tính mùa vụ du lịch không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn đối với hoạt động phát triển du lịch tại bãi biển Sầm Sơn Với lý do trên, tác giả

quyết định lựa chọn đề tài “ Các giải pháp hạn chế tính mùa vụ của hoạt

động du lịch biển Sầm Sơn” Trên cơ sở đó, sẽ đề xuất các giải pháp hạn chế

Trang 6

tính mùa vụ theo tiếp cận điều tiết cầu và cung, trong dài hạn và ngắn hạn để khắc phục những tác động tiêu cực của tính thời vụ mang lại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đề tài du lịch không chỉ được nhiều chuyên gia chú tâm biên khảo, mà còn được không ít nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác quan tâm Những năm cuối thập niên 60, trên thế giới đã xuất hiện một số nghiên cứu về tính thời vụ trong

du lịch, điển hình là các tác giả V.Hunziker, J.Planina, Vấn đề nghiên cứu chính được đề cập đó là nguồn gốc, bản chất, đặc điểm của tính thời vụ cũng nhờ các yếu tố quyết định độ dài của thời vụ du lịch Trong thời kỳ này, các nhà quản lý hoạt động du lịch bước đầu đặt ra nhiệm vụ hạn chế những tác động bất lợi của một vài yếu tố nhằm giảm thiểu sự dao động của tính thời vụ du lịch tại các Trung tâm Du lịch điển hình Hiệp hội Khách sạn quốc tế (IHA) đã thành lập

Ủy ban chuyên trách về tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh khách sạn Ở những góc độ khác nhau, cũng đã có những đề tài nghiên cứu về tính mùa vụ của hoạt động du lịch Biển Bên cạnh đó, trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển ngành Du lịch Biển ở Sầm Sơn, các cấp lãnh đạo đã có nhiều văn bản chỉ đạo Ngoài ra, trong một số tạp chí như: Tạp chí Du lịch, các báo, đài truyền hình Trung ương và địa phương, mạng Internet… cũng có giới thiệu nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu không chuyên, các nhà báo,…về tính mùa vụ trong hoạt động du lịch biển.Tuy vậy , các bài viết nêu trên chỉ đề cập những giải pháp không chuyên sâu tại từng thời điểm; bên cạnh đó điều kiện phát triển du lịch biển hiện nay ở Sầm Sơn đã có nhiều thay đổi, rất cần phải cập nhật và có biện pháp phù hợp với hoàn cảnh mới Vì vậy đề tài tiểu luận này sẽ là bước tiếp nối

để đóng góp vào sự phát triển du lịch biển của thành phố bền vững hơn

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: là tính mùa vụ du lịch và ảnh hưởng bất lợi của tính

mùa vụ du lịch đến hoạt động kinh doanh du lịch tại bãi biển Sầm Sơn

- Phạm Vi nghiên cứu:

+ Phạm vi không gian: bài tiểu luận chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ du lịch để đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tối thiểu các tác động bất lợi đó đến hoạt động du lịch biển chủ yếu trong phạm vi thành phố Sầm Sơn- tỉnh Thanh Hóa

+ Phạm Vi thời gian: nghiên cứu tiến hành trong 2 tháng (6 /2023-7/ 2023

Trang 7

Bài tiểu luận này sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Phương pháp này nhằm nghiên cứu,

xử lý tài liệu dựa trên cơ sở các số liệu, tư liệu, tài liệu từ các nguồn khác nhau

và từ thực tế Tổng quan tài liệu có các thông tin đã được kiểm nghiệm, cập nhật những vấn đề trong và ngoài nước Vì thế, đây là phương pháp được sử dụng trước tiên và khá phổ biến, để phục vụ trong các đề tài nghiên cứu khoa học Dựa trên nguồn tài liệu thu thập được, tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm: khái quát được cơ sở lí luận và thực tiễn về tính mùa vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch biển,đánh giá chính xác nguồn lực và thực trạng tính mùa vụ trong hoạt động du lịch biển tại Sầm Sơn

- Phương pháp khảo sát thực địa: Đây là phương pháp quan trọng để thu thập

được những thông tin thực tế làm cho đề tài thêm tính thuyết phục Vì công tác thực địa có mục đích cơ bản là kiểm tra chỉnh lý và bổ sung những tư liệu,thông tin quan trọng cần thiết Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu đề tài có cái nhìn khách quan, có những đánh giá đúng đắn về vấn đề, hiểu vấn đề một cách sâu sắc và tránh được tính phiến diện khi nghiên cứu đề tài

- Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này có vai trò quan trọng

trong việc nghiên cứu nhu cầu của du khách Để nắm bắt được những nhu cầu,

sở thích thì phỏng vấn họ trực tiếp hoặc qua các phiếu điều tra là hiệu quả nhất Điều tra xã hội học giúp hiểu thị trường tiềm năng, nắm được tâm tư nguyện vọng của những du khách và những người đang làm trong ngành du lịch

- Phương pháp hỏi các chuyên gia: Nhằm lấy ý kiến đóng góp của các chuyên

gia du lịch để từ đó có được các đề xuất giải pháp khoa học về tính mùa vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch biển Đồng thời xin ý kiến đóng góp để đưa ra các biện pháp phù hợp,khả thi nhằm hạn chế tác động bất lợi của tính mùa vụ hoạt động kinh doanh du lịch biển tại Sầm Sơn

- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp tất cả những giải pháp hạn chế tính mùa vụ

trong hoạt động kinh doanh du lịch biển Sầm Sơn để xây dựng một bức tranh tổng thể về phát triển du lịch biển

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tham khảo, nội dung chính của đề tài tiểu luận gồm có 3 chương như sau:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tính mùa vụ du lịch

+ Chương 2:Du lịch biển Sầm Sơn và tác động của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch biển Sầm Sơn

+ Chương 3: Một số giải pháp nhằm giảm thiểu bất lợi cúa tính mùa vụ đến hoạt động du lịch biển Sầm Sơn

Trang 8

 Cường độ nhu cầu du lịch không giống nhau giữa các tháng trong năm tạo

ra các thời kì có lượng cầu khác nhau, đó là các mùa du lịch ao gồm:

- Mùa chính du lịch: là khoảng thời gian có cường độ tiếp nhận khách du lịch

-Trước (sau) mùa chính du lịch: là khoảng thời gian có cường độ tiếp nhận

khách du lịch thấp hơn mùa chính, xảy ra trước (sau) mùa chính

gian rỗi, phong tục tập quán, tín ngưỡng, thu nhập )

- Thời gian của mùa du lịch chính, không phải là đại lượng bất biến mà có sự

thay đổi Nó phụ thuộc vào một số yếu tố sau:

+ Phụ thuộc vào tính chất và xu hướng phát triển của hoạt động du lịch

+ Phụ thuộc vào sở thích đi du lịch của du khách

Trang 9

- Một điểm du lịch có thể có một hoặc nhiều thời vụ du lịch tùy thuộc vào khả năng đa dạng hóa các loại hình du lịch Các mùa vụ du lịch là do nhu cầu du lịch không giống nhau giữa các tháng trong năm tạo ra các thời kỳ có lượng cầu khác nhau, đó là các thời vụ (hay mùa trong du lịch)

+ Lượng du khách tăng dần ở thời kỳ đầu mùa, cao nhất ở mùa chính, sau đó lượng khách giảm dần ở thời kỳ cuối vụ Thời gian còn lại trong năm được gọi

là ngoài mùa, ở một số nước gọi là mùa chết

+ Mùa vụ du lịch của một điểm du lịch càng ngắn thì tính thời vụ của điểm du lịch đó càng cao và ngược lại

- Một nước hoặc một vùng du lịch có thể có một hoặc nhiều thời vụ du lịch, tùy thuộc vào các thể loại du lịch phát triển ở đó

+ Tùy vào tài nguyên du lịch tại một nước hoặc một vùng du lịch mà có loại hình du lịch nghỉ biển hay nghỉ núi thì ở đó chỉ có một mùa du lịch vào mùa hè hoặc mùa đông Ví dụ, các vùng biển miền Bắc như Đồ Sơn, Sầm Sơn, ở Việt Nam chỉ kinh doanh và phát triển loại hình du lịch nghỉ biển là chủ yếu thì mùa

du lịch sẽ là mùa hè Nhưng cũng tại khu nghỉ mát biển có nhiều nguồn tài nguyên du lịch nhân văn, thì phát triển mạnh cả 2 loại hình du lịch: nghỉ biển vào mùa hè và du lịch tâm linh vào mùa đông, tạo thành 2 mùa vụ du lịch ở đó

nhau đối với các thể loại du lịch khác nhau

Các loại hình du lịch đều phụ thuộc rất lớn vào yếu tố tự nhiên và việc tạo ra tính thời vụ trong du lịch cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tự nhiên này Ví dụ như du lịch nghỉ biển (mùa hè), du lịch trượt tuyết (mùa đông) bao giờ cũng có mùa vụ ngắn hơn và cường độ mạnh hơn so với du lịch chữa bệnh thường có mùa dài hơn và cường độ mùa chính yếu hơn

mức độ phát triển và kinh nghiệm kinh doanh du lịch của các quốc gia du lịch, điểm du lịch và các nhà kinh doanh du lịch

Cùng kinh doanh một loại hình du lịch với các điều kiện về tài nguyên du lịch tương đối nhưng tại các nước, vùng, cơ sở kinh doanh du lịch, có kinh nghiệm

Trang 10

kinh doanh du lịch tốt hơn thì thời vụ du lịch thường kéo dài hơn và cường độ của mùa du lịch yếu hơn, ngược lại tại các nước, vùng, cơ sở du lịch mới phát triển, chưa có nhiều kinh nghiệm kinh doanh thì thời vụ du lịch ngắn hơn Ở các nước du lịch phát triển thì mùa du lịch dài hơn và cường độ mùa du lịch chính yếu hơn, tại đó mùa du lịch ngắn hơn nhưng diễn ra với cường độ mạnh hơn

- Cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau theo thời gian của chu kì kinh doanh

Thời vụ chính (mùa chính) là thời gian mà ở đó cường độ lớn nhất, thời kì có cường độ nhỏ hơn, trước hoặc sau mùa chính gọi là thời vụ trước mùa và thời vụ sau mùa Thời gian còn lại trong năm gọi là ngoài mùa Tại một số quốc gia, vùng, chỉ kinh doanh du lịch nghỉ biển là chủ yếu, thời gian ngoài mùa chính gọi

là “mùa chết”

- Cường độ và độ dài của thời vụ du lịch phụ thuộc vào:

+ Cơ cấu của khách đến vùng du lịch: Tại những địa điểm dành cho khách du

lịch là thanh, thiếu niên thường có mùa ngắn hơn, cường độ mạnh hơn so với những địa điểm phục vụ khách trung niên Bởi đó là dịp đối tượng khách du lịch này được nghỉ hè, hoặc những dịp nghỉ lễ ngắn ngày, thường đi theo đoàn, nhóm, gây ra sự tăng đột biến về khách du lịch tại các điểm đến Sau khi kết thúc các kì nghỉ lượng khách tại các điểm đến giảm đi nhanh chóng

+ Số lượng các cơ sở lưu trú chính: Ở những địa điểm có nhiều cơ sở lưu trú

chính như hotel, resort, nhà nghỉ, khu điều dưỡng, motel thì mùa du lịch kéo dài, cường độ mùa chính yếu hơn so với những nơi có nhiều nhà trọ, camping,

1.3 Các nhân tố gây nên tính mùa vụ

1.3.1 Điều kiện khí hậu

- Khí hậu là một trong những yếu tố thuộc về tự nhiên và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tính thời vụ trong kinh doanh du lịch Thay đổi khí hậu theo mùa làm thay đổi hoạt động du lịch trong năm Khí hậu tác động đến mạnh

cả cung và cầu du lịch

+ Về mặt cung: đa số các điểm tham quan du lịch giải trí đều tập trung số lượng lớn vào mùa hè tại các điểm du lịch khí hậu mát mẻ như các điểm du lịch nghỉ dưỡng biển, núi,…

+ Về mặt cầu thì mùa hè là mùa có lượng khách cao nhất

- Ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu thể hiện rõ nét ở loại hình du lịch biển, nghỉ núi và du lịch chữa bệnh Đối với loại hình du lịch nghỉ dưỡng biển các nhân tố như nhiệt độ, ánh nắng, độ ẩm, hướng gió và một số đặc điểm như vị trí địa lý, độ nông, độ sâu, chiều dài – rộng của bãi tắm, sẽ quyết định trực tiếp đến nhu cầu của khách du lịch

Ví dụ: đối với khách du lịch Bắc Âu, nhiệt độ nước biển phù hợp để tắm là từ

15-16ºC nên mùa du lịch có thể kéo dài hơn Với du khách ở vùng khí hậu khác,

Trang 11

nhiệt độ thích hợp để tắm biển phải từ 20-25ºC, vì thế mùa du lịch cũng bị ngắn lại Như vậy, giới hạn của mùa du lịch được xác định bởi yếu tố khí hậu và phụ thuộc vào sở thích, nhu cầu của du khách với những tiêu chuẩn, mục đích sử dụng tài nguyên du lịch khác nhau

+ Đối với các loại hình du lịch khác như du lịch chữa bệnh, du lịch văn hóa, du lịch tâm linh, du lịch công vụ ảnh hưởng của khí hậu là không lớn, có nghĩa khí hậu tác động rất ít đến tài nguyên du lịch, do vậy chất lượng tài nguyên du lịch nhân văn không thay đổi qua thời gian như tượng, viện bảo tàng

1.3.2 Thời gian nhàn rỗi:

- Thời gian nhàn rỗi của các nhóm đối tượng khách phân bổ không đồng đều làm ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch Chỉ khi có thời gian rỗi, con người mới đi

du lịch Tác động của thời gian rỗi lên tính thời vụ trong kinh doanh du lịch thường được xét từ hai khía cạnh:

+ Thứ nhất, thời gian nghỉ phép trong năm có thể tác động lên thời vụ du lịch

do độ dài của thời gian nghỉ phép và thời gian sử dụng phép trong năm Nếu thời gian nghỉ phép ngắn, khách du lịch thường đi du lịch một lần trong năm lựa chọn chủ yếu thời gian chính vụ, cường độ du lịch sẽ tăng cao vào mùa chính Ngược lại, khi thời gian nghỉ phép dài ngày, du khách sẽ lựa chọn đi du lịch nhiều lần trong một năm, xu hướng đi du lịch tập trung vào mùa chính sẽ giảm,

sẽ làm giảm cường độ du lịch ở mùa chính, thu hút nhu cầu ngoài mùa Sự gia tăng thời gian nhàn rỗi là yếu tố góp phần làm giảm cường độ tập trung nhu du lịch vào mùa chính vụ và tăng cường độ vào ngoài mùa du lịch

- Việc phân bổ thời gian sử dụng phép trong năm của các tầng lớp nhân dân lao động cũng ảnh hưởng đến tính thời vụ du lịch

- Một số đối tượng như cán bộ giáo viên trong trường học nghỉ hè hoặc nghỉ đông, nông dân thường đi du lịch vào thời gian không bận công việc mùa màng hoặc các nhà máy ngưng hoạt động và công nhân được nghỉ phép, điều này góp phần làm tăng nhu cầu vào vụ du lịch chính

+ Thứ hai, thời gian nghỉ học của các trường học tác động lên thời gian rỗi của

học sinh và phụ huynh, sinh viên, điều này có tác động trực tiếp trong việc lựa chọn thời gian đi du lịch của các bậc cha mẹ có con ở độ tuổi từ 6 - 15 Ví dụ, kì nghỉ phép của học sinh ở Hà Lan là 75 ngày, Italia là 152 ngày Ở Việt Nam, kỳ nghỉ hè của học sinh, sinh viên trùng với mùa du lịch biển nên đã làm tăng cường độ mùa du lịch chính Ngược lại, đối tượng hưu trí số lượng ngày càng nhiều, họ có thể đi du lịch bất kì thời gian nào trong năm nếu có điều kiện kinh

tế, vì thế đây là lực lượng du khách làm giảm cường độ mùa du lịch chính

1.3.3 Phong tục tập quán

- Dưới tác động của các điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán được hình thành qua thời gian, dần trở thành lâu đời và có giá trị trong đời sống cộng đồng

Trang 12

dân cư các vùng, miền với những bản sắc khác nhau, mang tính đặc sắc, hấp dẫn riêng Điều kiện kinh tế xã hội thay đổi sẽ tạo ra nhiều phong tục, tập quán mới bên cạnh những phong tục truyền thống được cộng đồng tôn trọng gìn giữ

- Có thể nhận thấy rất rõ, khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 3 âm lịch, ở Việt Nam có rất nhiều lễ hội, lễ tục diễn ra, đây chính là khoảng thời gian quý cho những khách du lịch quan tâm đến du lịch tâm linh, phong tục tập quán quốc gia, vùng miền

1.3.4 Các yếu tố khác

1.3.4.1 Điều kiện về tài nguyên du lịch

- Tài nguyên là yếu tố tác động lên cả cung và cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm các yếu tố liên quan đến các điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa, kinh

tế, xã hội vốn có trong tự nhiên hoặc do con người tạo thành Những yếu tố này tồn tại, gắn liền với môi trường tự nhiên, xã hội, đặc thù của mỗi địa phương, vùng miền Khi các yếu tố đó được phát hiện, khai thác, sử dụng cho mục đích phát triển du lịch thì chúng trở thành tài nguyên du lịch

- Tài nguyên du lịch tác động đến thời vụ du lịch ở hai khía cạnh:

+ Thứ nhất, tài nguyên du lịch là yếu tố hình thành sản phẩm du lịch, có tính

quyết định đến sự phát triển các loại hình du lịch Các loại hình du lịch này có khả năng đáp ứng cầu du lịch nhất định Do tác động của các yếu tố khí hậu, phong tục tập quán cấu thành tài nguyên du lịch nên các loại hình du lịch bị ảnh hưởng tính thời vụ du lịch

Ví dụ: Du lịch tâm linh , thám hiểm các hang động có thể diễn ra quanh năm nên

tính thời vụ thể hiện ít hơn so với loại hình du lịch nghỉ biển, du lịch lễ hội chỉ diễn ra trong khoảng thời gian, không gian cụ thể

- Điều kiện tài nguyên du lịch chỉ có thể phát triển loại hình du lịch gây ảnh hưởng đến thời vụ du lịch của điểm du lịch tương ứng Độ dài của thời vụ du lịch ở một vùng phụ thuộc vào các loại hình du lịch phát triển ở vùng đó

- Giới hạn của mùa du lịch được xác định bởi yếu tố khí hậu có thể mở rộng hay hạn chế phụ thuộc vào sở thích, nhu cầu, tiêu chuẩn và mục đích sử dụng tài

nguyên du lịch khác nhau Ví dụ: tiêu chuẩn đánh giá mức độ thuận lợi của loại

hình du lịch lặn biển với du khách ở các nước là khác nhau, ở Việt Nam, nhiệt

độ nước biển dao động từ 26-30ºC, còn ở Hàn Quốc thì dao động từ 15-26ºC

+ Thứ hai, tài nguyên du lịch là điều kiện thực hiện các hoạt động du lịch: Khí

hậu là yếu tố quan trọng của tài nguyên du lịch ảnh hưởng đến thời vụ du lịch Khí hậu xác định thông số tối ưu của mùa du lịch nghỉ dưỡng biển, núi, thể thao mùa đông Ngoài ra, vị trí địa lý, khoảng cách đến các trung tâm vận chuyển khách, điều kiện địa hình cũng là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện thực hiện các hoạt động du lịch

1.3.4.2 Yếu tố mang tính tổ chức - kỹ thuật

Trang 13

- Yếu tố mang tính tổ chức - kỹ thuật ảnh hưởng đến độ dài của thời vụ du lịch, thể hiện ở sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch của một điểm du lịch, thông qua

khả năng cung cấp dịch vụ

- Chất lượng dịch vụ và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến độ dài của thời vụ du lịch Ví dụ, những cơ sở lưu trú chính như hotel, resort, ở biển thì có thời gian kinh doanh dài hơn cơ sở lưu trú phụ như camping hay bungalow,

+ Chuẩn bị về cơ sở vật chất kỹ thuật để đón tiếp khách du lịch, bao gồm: cơ sở

hạ tầng xã hội như giao thông, điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc, ngân hàng, cơ sở y tế ; cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch như cơ sở lưu trú,

ăn uống, vui chơi giải trí, dịch vụ bổ sung, phương tiện vận chuyển Nếu chuẩn

bị tốt, kĩ lượng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho du khách ăn, nghỉ, đi lại, vui chơi

giải trí

+ Chuẩn bị về mặt tổ chức đón tiếp khách du lịch của các tổ chức và cơ sở kinh doanh du lịch Có chiến lược, chính sách marketing phát triển du lịch như chính sách giá cả, các tổ chức kinh doanh dịch vụ lưu trú - du lịch thường giảm giá trước và sau mùa chính; chính sách khuyến mãi để kéo dài thời vụ du lịch; chính sách tặng quà để giữ lượng khách, các hoạt động quảng cáo, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua các trang mạng xã hội có sức ảnh hưởng tới sự phân bố luồng khách du lịch, du khách nắm được thông tin về điểm

du lịch từ đó có kế hoạch đi du lịch vào thời điểm có lợi nhất cho bản thân

- Luôn đảm bảo có một đội ngũ lao động sẵn sàng đáp ứng được cả về số lượng

và chất lượng phục vụ du khách một cách tốt nhất với phương châm “ chân

thành, nhiệt tình, hiếu khách”

1.4 Những ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch

1.4.1 Ảnh hưởng đến việc khai thác tài nguyên và môi trường du lịch

- Sức chứa của các điểm du lịch có giới hạn, trong mùa cao điểm, gây nên sự quá tải cho sức chứa của điểm du lịch, mang lại tác động tiêu cực đến đối tượng

du lịch như làm giảm giá trị thẩm mỹ, phá hoại cảnh quan, xuống cấp di tích, ô nhiễm môi du lịch, về lâu dài làm giảm giá trị du lịch của các tài nguyên du lịch

tự nhiên và các tài nguyên nhân văn được khai thác cho hoạt động du lịch Trong quá trình phát triển, tài nguyên môi trường du lịch và hoạt động du lịch có mối quan hệ tương trợ với nhau chặt chẽ, vì thế sự suy giảm chất lượng của môi trường sẽ làm giảm sức hút của hoạt động du lịch

- Ngoài mùa du lịch chính là thời gian vắng khách, thời gian để tu bổ, tôn tạo, khôi phục lại sau một thời gian sử dụng tối đa cho hoạt động du lịch Có những đối tượng như các bãi biển, hang động, thác nước…có thể phục hồi được sau một thời gian khai thác, tuy nhiên có những đối tượng không thể phục hồi được như các khu bảo tồn thiên nhiên, các di tích văn hóa lịch sử,…Dễ dàng thấy, tính

Trang 14

thời vụ trong du lịch gây ra ảnh hưởng bất lợi cho tài nguyên và môi trường du lịch ở hai khía cạnh: gây ra sự quá tải vào mùa du lịch chính và sự lãng phí tài nguyên vào - ngoài vụ du lịch

1.4.2 Ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý và hiệu quả kinh doanh

- Khi vào mùa cao điểm (mùa du lịch chính), khách du lịch tập trung với số lượng lớn sẽ gây ra sự mất cân bằng trong nhiều hoạt động tại điểm đến, trong

đó có vấn đề bảo vệ trật tự an ninh, an toàn xã hội Vì thế, tính thời vụ du lịch gây ra những khó khăn cho việc quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở cả cấp trung ương và địa phương Làm ảnh hưởng đến công tác quản lý giao thông, môi trường, lưu trú và quản lý chất lượng dịch vụ

- Trước và sau mùa du lịch chính, số lượng khách du lịch giảm xuống và giảm tới mức bằng không thì những khoản thu nhập từ thuế và lệ phí do du lịch đem lại cho hoạt động du lịch cũng giảm

- Tính thời vụ du lịch tác động lên hiệu quả hoạt động kinh doanh ở 2 khía cạnh tích cực và tiêu cực

+ Về mặt tích cực: Tính thời vụ góp phần lớn tác động tích cực đến đời sống

kinh tế, xã hội của địa phương Vào mùa du lịch, lượng khách tập trung đông, các nhu cầu về hàng hóa dịch vụ cũng tăng cao Các cơ sở kinh doanh tại các khu du lịch có nhiều cơ hội sản xuất, kinh doanh, mở nhiều loại hình dịch vụ phục vụ nhu cầu của du khách đồng thời tuyển thêm nhiều lao động tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập Nắm bắt được thời vụ du lịch chính làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch, đóng góp nghĩa vụ cho ngân sách nhà nước một khoản lợi nhuận không nhỏ Vào mùa du lịch tại các khu du lịch còn tác động thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, giải quyết việc làm cho các lực lượng lao động gián tiếp khác như công nghiệp tiêu dùng, nông nghiệp

cũng được lợi từ du lịch

+ Về mặt tiêu cực:

 Vào mùa du lịch chính, cơ sở vật chất kĩ thuật sử dụng với công suất lớn, quá tải và để lãng phí trong thời điểm trước và sau mùa du lịch chính dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu

 Tại các cơ sở lưu trú, ăn uống, dịch vụ khác,…với quy mô nhỏ ngoài mùa

du lịch là thời gian vắng khách, vì thế nảy sinh tâm lý kinh doanh “làm ba tháng ăn cả năm” trong mùa du lịch, dẫn đến việc tăng giá hàng hóa dịch

vụ, ép giá, tranh giành khách lẫn nhau, gây mất trật tự, mỹ quan khu du lịch và mất thiện cảm cho du khách về đô thị du lịch

 Thời điểm ngoài mùa vụ: Khi cầu du lịch giảm xuống và giảm tới mức bằng không dẫn tới các tác động tiêu cực tới hiệu quả kinh doanh du lịch: chất lượng phục vụ kém ; hiệu quả kinh tế kém trong kinh doanh; tình

Trang 15

trạng thất nghiệp cho một lượng lớn nhân viên; tổ chức hạch toán; tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật hư hỏng

1.4.3 Ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nhân lực:

- Ngoài mùa chính, để duy trì hoạt động, các cơ sở kinh doanh phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau: cho một số lao động nghỉ việc hoặc không lương, giảm lương, lao động chính thức được tính toán và hạn chế trả lương, chi phí khác ở mức thấp Điều này gây tác động tiêu cực đến đời sống vật chất tinh thần

của lao động trong doanh nghiệp

- Mùa thấp điểm, nhân lực lao động tại các khu du lịch không có việc hoặc mức lương rất thấp dù có việc làm, do các cơ sở kinh doanh du lịch hầu như vắng khách hoặc đóng cửa Một số lượng lớn lao động phải chuyển đổi việc làm hoặc

bỏ việc, thất nghiệp

1.4.4 Ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của du khách

Vào mùa vụ du lịch chính, lượng du khách tập trung quá đông dẫn đến hiện tượng quá tải Chính vì thế tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, vui chơi, không đủ điều kiện để đáp ứng hoặc buộc khách du lịch phải trả tiền với mức giá cao so với ngày bình thường gây nên ấn tượng xấu cho

du khách hoặc chất lượng dịch vụ mang lại không đáp ứng được tốt so với số tiền Bên cạnh đó còn một số cá nhân và cơ sở kinh doanh thiếu ý thức ép giá, lôi kéo cạnh tranh không lành mạnh, gây mất mỹ quan đô thị du lịch và vô tình làm mất đi một lượng lớn du khách

1.5 Một số kinh nghiệm hạn chế ảnh hưởng bất lợi của tính mùa vụ lên hoạt động du lịch

1.5.1 Khả năng kéo dài độ dài của thời vụ du lịch

- Nhận thấy được tầm ảnh hưởng lớn do tác động tiêu cực của tính thời vụ lên hoạt động du lịch, các nhà nghiên cứu du lịch ở các nước phát triển đã tiến hành cuộc thử nghiệm có hệ thống để kéo dài độ dài của thời vụ du lịch Những nỗ lực đó đã đạt được những kết quả rất khả quan Vấn đề cốt lõi là phải thiết lập và thực hiện được một chương trình hoàn chỉnh kéo dài mùa du lịch trên phạm vi toàn lãnh thổ, cho các loại hình du lịch trong mỗi khu du lịch

- Thành tựu khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm của các nước có du lịch phát triển

đã đưa ra các giải pháp nhằm kéo dài độ dài của thời vụ du lịch:

+ Tặng thêm các loại hình (kinh doanh) dịch vụ bổ sung: giải trí, tiêu khiển, thể thao, câu lạc bộ

+ Dùng chính sách khuyến khích ngoài thời vụ chính: giảm giá, thêm dịch vụ không mất tiền, tặng quà, tổ chức các lễ hội,…

- Từ cơ sở trên để tìm ra các khả năng kéo dài độ dài thời vụ du lịch đối với các loại hình du lịch khác ở các trung tâm du lịch Chẳng hạn ở các điểm du lịch

Trang 16

biển, có thể khai thác tiềm năng để phát triển du lịch nghỉ dưỡng vui chơi giải trí như golf, khu vui chơi thể thao nước,… ngoài mùa du lịch chính

1.5.2 Tạo điều kiện cho thời vụ thứ hai

Việc tạo điều kiện cho thời vụ thứ hai là giải pháp quan trọng để giảm thiểu tác động tiêu cực của tính thời vụ du lịch đối với các khu du lịch Để làm được điều này cần phải xác định được những thể loại du lịch mới có thể phát triển đạt hiệu quả kinh doanh cao

Các phương hướng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của tính thời vụ du lịch cần được thực hiện liên tục, phát triển du lịch song song với việc làm đa dạng nội dung, cung cầu du lịch và đối thủ cạnh tranh Đối với giải pháp này làm tăng khả năng tiếp nhận khách du lịch trong năm, kéo dài mùa du lịch và hướng tới phát triển du lịch bền vững

+ Ví dụ: hoạt động của các khu du lịch biển có thể đa dạng hóa loại hình bằng

du lịch chữa bệnh, du lịch văn hóa kết hợp với tài nguyên nhân văn tại đó, nhằm thu hút lượng khách đến trước và sau mùa du lịch

+ Các khu du lịch mùa hè có thể thu hút thêm khách du lịch vào các tháng mùa đông,xuân ,… khách du lịch đến nghỉ dưỡng núi kết hợp thể thao mạo hiểm,

Trang 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍNH THỜI VỤ CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI SẦM SƠN

2.1 Khái quát về Sầm Sơn:

2.1.1 Vị trí của Sầm Sơn trong chiến lược phát triển du lịch

Sầm Sơn nằm ở phía đông tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 16km, cách thủ đô Hà Nội 176 km về phía đông nam Phía bắc giáp huyện Hoằng Hóa với sông Mã là ranh giới tự nhiên, Phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ, Phía đông nam giáp huyện Quảng Xương, Phía tây giáp thành phố Thanh Hóa.Thị xã Sầm Sơn

có 11 đơn vị hành chínhgồm 8 phường, 3 xã, với tổng diện tích tự nhiên 44,94 km² km² (đường bờ biển kéo dài gần 15km từ Lạch Hới đến chân núi Trường Lệ, trong đó 5km có thể làm bãi tắm) Theo thống kê năm 2019 dân

số Sầm Sơn 108.320 người.)

Sầm Sơn được người Pháp phát hiện đầu thế kỷ XX, Từ năm 1907, người Pháp

đã nhận thấy và bắt đầu khai thác giá trị du lịch của bãi biển Sầm Sơn để xây dựng thành nơi nghỉ mát phục vụ người Pháp và vua quan triều Nguyễn Đây là thời điểm đánh dấu sự ra đời của du lịch Sầm Sơn

+ Trong cuộc kháng chiến chống Pháp các hoạt động du lịch Sầm Sơn bị đình trệ, hầu hết cơ sở hạ tầng, vật chất bị phá hủy Từ năm 1954 đến những năm 80

du lịch Sầm Sơn ảnh hưởng không nhỏ của thời kì kháng chiến, sản phẩm đơn

sơ, hiệu quả kinh tế không cao, các điểm du lịch bị tàn phá nặng nề Tháng 7/1960, Trong lần về thăm Sầm Sơn khi ấy, ngoài làng chài Vinh Sơn, ác Hồ còn lên núi Trường Lệ, thăm đền Cô Tiên, động viên cán bộ, công nhân viên nhà khách Công Đoàn, gặp các đồng chí lãnh đạo Sầm Sơn và lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa Trước khi rời đi, ác đã căn dặn: “ Sầm Sơn phải tận dụng lợi thế của mình để phát triển du lịch mà thu lấy tiền” Ngày 18/12/1981 chính thức thành lập thị xã du lịch nghỉ mát Sầm Sơn Trải qua gần 35 năm xây dựng và phát triển, thị xã Sầm Sơn đang ngày một đổi mới, vững bước đi lên xây dựng thị xã thành đô thị thành thành đô thị du lịch hiện đại, văn minh, phát triển bền vững

và vào ngày 19/4/2017 thành lập thành phố Sầm Sơn

Với những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội và kiến tạo đô thị, Sầm Sơn đã được quy hoạch là 1 trong 12 đô thị du lịch trọng điểm của quốc gia Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân thành phố Sầm Sơn đang nỗ lực, quyết tâm đổi mới và nâng cao chất lượng du lịch, để Sầm Sơn tỏa sáng hơn nữa trong tương lai, xứng đáng với sự tin tưởng, kỳ vọng của Bác Hồ kính yêu

2.1.2 Tiềm năng du lịch Sầm Sơn

2.1.2.1 Tài nguyên tự nhiên

 Địa hình : chia thành 4 vùng rõ rệt

* Vùng triều ngập mặn: gồm vùng đất trũng bên bờ sông Đơ từ cống Trường Lệ

đến sông Mã và vùng triều ngập mặn Quảng Cư Từ khi đắp đập Trường Lệ

Trang 18

vùng đất trũng này được ngọt hoá dần và được trồng lúa năng suất thấp, nuôi trồng hải sản, trồng sen…

* Vùng cồn cát cao: gồm khu vực nội thị, trải dài từ chân núi Trường Lệ đến bờ

Nam Sông Mã Địa hình ở đây tương đối bằng phẳng, dốc thoải , thuận lợi cho việc xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, trung tâm hành chính và các khu dân cư,…

* Vùng ven biển: gồm khu vực phía Đông đường Hồ Xuân Hương từ chân đền

Độc Cước (phường Trường Sơn) kéo dài đến hết địa phận xã Quảng Cư Đây là dải cát mịn, thoải, dốc dần ra biển phù hợp với yêu cầu của bãi tắm

* Vùng núi Bao gồm toàn bộ núi Trường Lệ, nằm sát biển, độ cao trung bình

khoảng 50 mét, đỉnh cao nhất đạt 76 mét, có các vách đá dốc đứng về phía biển tạo nên sự hùng vĩ của núi Trường Lệ, rất thích hợp cho các loại hình du lịch leo núi, du lịch mạo hiểm Ngoài ra ở đây còn có những bãi cỏ rộng và những sườn thoải phù hợp cho du lịch cắm trại, vui chơi giải trí…

 Khí hậu

- Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt là mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa

+ Chế độ nhiệt: Sầm Sơn có chế độ nhiệt tương đối cao, nhiệt độ trung bình năm

khoảng 23oC Nhiệt độ trung bình mùa hè (tháng 5 – 9) là 25oC, tháng nóng nhất nhiệt độ lên đến 40oC; nhiệt độ trung bình mùa đông (từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau) là 200

C, tháng lạnh nhất có thể xuống đến 5oC Tổng tích ôn cả năm khoảng 8.6000

C; số giờ nắng cao, trung bình 1700 giờ/năm Tháng có số giờ nắng cao nhất (tháng 7) là 225 giờ, tháng có số giờ nắng thấp nhất (tháng 2)

là 46 giờ

+ Chế độ gió: Sầm Sơn chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính là gió mùa Đông

Bắc và gió mùa Tây Nam Gió mùa Đông ắc thường xuất hiện vào mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau), bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông ắc mang theo không khí lạnh, làm nhiệt độ giảm xuống từ 5 – 10oC

so với nhiệt độ trung bình năm Về mùa hè (từ tháng 3 – 11) gió thịnh hành là Đông Nam mang theo hơi nước gây mưa nhiều Riêng đầu mùa hè thường xuất hiện gió Tây khô nóng (gió Lào) ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống

+ Chế độ mưa: Lượng mưa ở Sầm Sơn khá lớn, trung bình năm từ 1600 – 1900

mm, nhưng phân bố rất không đều giữa hai mùa Mùa khô (từ tháng 12 – 4 năm sau) lượng mưa rất ít, chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm, ngược lại mùa mưa (từ tháng 5 – 11) tập trung tới 85% lượng mưa cả năm Mưa nhiều nhất vào tháng 8, lượng mưa có năm lên tới gần 900 mm Ngoài ra trong mùa này thường có giông, bão kèm theo mưa lớn gây úng lụt cục bộ

+ Chế độ thủy triều: Thủy triều ở khu vực Sầm Sơn có chế độ nhật triều đều Về

mùa hè thủy triều lên lúc 7 giờ và xuống lúc 14 – 16 giờ chiều; mùa đông thì ngược lại xuống lúc 6 – 9 giờ là lên lúc 14 – 16 giờ iên độ triều trung bình

Trang 19

khoảng 1,2 – 1,6 mét, cao nhất đạt 2 – 2,5 mét, thích hợp cho các hoạt động du lịch tắm biển

 Tài nguyên nước

* Về nước mặt: 2 sông chính chảy qua là sông Mã và sông Đơ; tổng lưu lượng

dòng chảy trung bình khoảng 14 tỷ m3/năm Hiện nay việc khai thác nguồn nước mặt gặp nhiều khó khăn do nằm ở vùng cửa sông ven biển nước bị nhiễm mặn Mặt khác nguồn nước phân bố không đều trong năm, mùa mưa lưu lượng dòng chảy lớn, gây ngập úng; ngược lại vào mùa khô lưu lượng dòng chảy nhỏ,thường gây hạn hán… ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân

* Về nước ngầm: Nước ngầm khá phong phú nhưng chất lượng thấp Mặt khác,

thời gian qua do khai thác quá mức nên bị nhiễm mặn, đặc biệt các mạch sâu bị nhiễm mặn rất nặng, không thể sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất

 Tài nguyên thuỷ sản

- Bãi cá nổi ven bờ từ Nghệ An trở ra phía Bắc có trữ lượng khoảng 12.000 – 15.000 tấn, chủ yếu là cá lầm, cá trích, còn lại là cá nục, cá cơm, cá lẹp…

- Bãi cá nổi vùng Lạch Hới – Đông Nam Hòn Mê có trữ lượng 15.000 – 20.000 tấn, chủ yếu là cá lầm, cá trích, cá nục, còn lại là cá thu, bạc má,,…

- Các bãi cá đáy phía Nam đảo Hòn Mê đến Lạch Ghép và Lạch Hới – Đông Nam Hòn Mê

- Về tôm biển: Có hai bãi tôm chính là bãi tôm Hòn Nẹ – Lạch Ghép và bãi tôm

Lạch Bạng – Lạch Quèn, có trữ lượng cao trong khu vực Vịnh Bắc Bộ Khả năng khai thác hàng năm khoảng 1.000 – 1.300 tấn, chủ yếu là tôm bộp, tôm sắt

và hơn 7.000 tấn moi biển

- Về mực: Vùng biển Thanh Hoá và phụ cận có nguồn lợi mực phong phú với

trữ lượng 13.000 – 14.000 tấn; Khả năng khai thác hàng năm khoảng 5.000 – 6.000 tấn, trong đó khoảng 3.000 – 4.000 tấn mực ống và 1.500 – 2.000 tấn mực nang

- Ngoài ra, vùng biển và ven biển có nhiều loại hải đặc sản khác có giá trị kinh

tế cao và được ưa chuộng trên thị trường như ốc hương, sứa, tôm hùm, cua,

- Về nuôi trồng thuỷ sản: Sầm Sơn có trên 158,7 ha mặt nước thuận lợi cho

nuôi trồng thủy sản Toàn bộ diện tích này nằm trong đê sông Mã, đã hình thành các ao, đầm có thể nuôi trồng nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, ghẹ, rong câu…

Cảnh quan tự nhiên

- Sầm Sơn có bờ biển dài khoảng 9 km, từ cửa Hới (sông Mã) đến Vụng Tiên (Vụng Ngọc) với các bãi biển đẹp như bãi biển nội thị (A, B, C, D), bãi biển Quảng Cư, ãi Nix,… Có đặc điểm chung là rộng, bằng phẳng, độ dốc thoải, bãi cát trắng mịn, sóng biển vừa phải, nước biển ấm, trong xanh có nồng độ muối trên dưới 30%, ngoài ra còn có Canxidium và nhiều khoáng chất khác có tác

Trang 20

dụng chữa bệnh… rất phù hợp cho tắm biển và các hoạt động vui chơi giải trí Hiện nay, Sầm Sơn mới khai thác 3 bãi biển ở khu vực nội thị vào mục đích du lịch, chủ yếu là tắm biển Thời gian tới có thể khai thác các bãi biển ở khu vực Quảng Cư và Nam Sầm Sơn, hình thành một khu du lịch – nghỉ dưỡng biển lớn của vùng và cả nước với các hoạt động du lịch phong phú và đa dạng như: tắm biển, nghỉ dưỡng và các loại hình thể thao, vui chơi giải trí khác…

- Bên cạnh đó, Sầm Sơn còn có núi Trường Lệ cao 76 mét được ví như hòn ngọc của Sầm Sơn, rất thích hợp cho loại hình du lịch leo núi, du lịch mạo hiểm Mặt khác ở đây có những bãi cỏ rộng, những sườn thoải ,…phù hợp cho du lịch cắm trại và các hoạt động vui chơi giải trí khác Trên núi Trường Lệ còn có các

di tích như đền Độc Cước, đền Cô Tiên, đền Tô Hiến Thành… rất có giá trị du lịch văn hóa, du lịch tâm linh Phải kể tới hòn Trống Mái là cảnh quan tự nhiên độc đáo của Sầm Sơn cũng như của cả nước, rất hấp dẫn khách du lịch

- Ngoài ra, cảnh quan tự nhiên dọc hai bờ sông Mã, sông Đơ cũng là điều kiện

lý tưởng để Sầm Sơn phát triển các tuyến du lịch sinh thái trên sông, biển Đặc biệt sông Đơ chảy dọc Sầm Sơn có cảnh quan tự nhiên với các đầm sen ở phía Nam đền An Dương Vương là nguồn tài nguyên du lịch tiềm năng của Sầm Sơn

để phát triển du lịch sinh thái

2.1.2.2 Tài nguyên Nhân Văn

- Song Song với tài nguyên du lịch tự nhiên, Sầm Sơn còn có nguồn tài nguyên

du lịch nhân văn khá phong phú gồm các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, ngành nghề truyền thống và các giá trị văn hóa khác Theo thống kê, trên địa bàn Sầm Sơn có 16 di tích, là một trong số các địa phương có tỷ lệ di tích cao trong

cả nước, trong đó có 6 di tích cấp Quốc gia gồm:

+ Đền Độc Cước (hay còn gọi là đền Thượng), nằm trên hòn Cổ Giải thuộc dãy

núi Trường Lệ Đền thờ thần Độc Cước, được xây dựng cách đây 700 năm Hàng năm người dân Sầm Sơn tổ chức lễ hội bánh trưng, bánh dầy vào ngày 12 tháng 5 âm lịch để tế thần

+ Đền Cô Tiên, nằm trên hòn Đầu Voi ở phía Tây núi Trường Lệ, phía trên

Vụng Ngọc Đây là đền thờ Chúa Liễu Hạnh, trước đây là nơi thờ vọng thần Độc Cước

+ Đền Tô Hiến Thành (hay còn gọi là đền Trung), thờ Thái úy Tố Hiến Thành,

vị quan thanh liêm, cương trực của triều Lý

+ Hòn Trống Mái là danh thắng nổi tiếng gắn với huyền thoại về một mối tình

Ngày đăng: 09/08/2023, 18:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chiến lược marketing du lịch đến năm 2020, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược marketing du lịch đến năm 2020
2.Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
3.Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2009), Giáo trình Kinh tế du lịch, NX Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa
Năm: 2009
8. Bùi Thị Hải Yến (2005), Quy hoạch du lịch, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch du lịch
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
9. Ban Quản lý Di tích và danh thắng Thanh Hóa (2009), Lễ hội xứ Thanh tập I, NXB Thanh Hóa, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội xứ Thanh tập I
Tác giả: Ban Quản lý Di tích và danh thắng Thanh Hóa
Nhà XB: NXB Thanh Hóa
Năm: 2009
6. Cổng thông tin điện tử thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa https://samson.thanhhoa.gov.vn/portal/pages/Tong-quan-ve-Sam-Son.aspx 7. samson.thanhhoa.gov.vn Link
5. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thanh Hóa. Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Thanh Hóa, 2016 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w