Chuyên đề tốt nghiệp: Giải pháp nâng cao năng lực phòng chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp của thành phần kinh tế dân doanh tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc-tỉnh Đồng Tháp từ năm 2011 đến năm 2013
Trang 1MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẤT THU THUẾ
VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ THẤT THU THUẾ……… 1 1.1.1 Khái niệm……… 1 1.1.2 Hậu quả của thất thu thuế……….3 1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG PHÒNG,
CHỐNG THẤT THU THUẾ ĐỐI VỚI
CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ DÂN DOANH……… 4 1.2.1 Sự cần thiết phải phòng, chống thất thu thuế giá trị gia tăng
và thuế thu nhập doanh nghiệp……… 4
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA PHƯƠNG……… … 8
Trang 22.1.1 Vị trí địa lí……… 8 2.1.2 Đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội……… 9 2.2 TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÍ THEO
MÔ HÌNH CHỨC NĂNG CỦA CHI CỤC THUẾ……….……….…11 2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Chi cục Thuế …….……… 11 2.2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy theo
mô hình chức năng của Chi cục Thuế… … ………12 2.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy………12 2.3 CÔNG TÁC QUẢN LÍ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ DÂN DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ SA ĐÉC
2.3.1 Tình hình phát triển của các thành phần
kinh tế dân doanh tại thành phố Sa Đéc……… …17 2.3.2 Kết quả công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các thành phần kinh tế dân doanh
tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc……… 23 2.3.3 Thực trạng công tác chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các thành phần kinh tế dân doanh
tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc………26
2.3.3.1 Các hình thức thất thu thuế giá trị gia tăng
và thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế……… …….262.3.3.2 Các biện pháp mà Chi cục Thuế đã áp dụng để tăng cường
công tác quản lý thu và chống thất thu thuế giá trị gia tăng
và thuế thu nhập doanh nghiệp….……… 29
2.2.4 Đánh giá chung về công tác chống thất thu thuế giá trị gia tăng
và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các thành phần kinh tế dân doanh tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc……… ………46
2.2.4.1 Những kết quả đạt được……….………462.2.4.2 Hạn chế và nguyê nhân……… 47
Trang 3CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC PHÒNG, CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ DÂN DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ SA ĐÉC
3.1 MỤC TIÊU CỦA CÔNG TÁC TĂNG CƯỜNG PHÒNG,
CHỐNG THẤT THU THUẾ……… ………49
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ DÂN DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ SA ĐÉC……… …50
3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế……… ………50
3.2.2 Tổ chức tốt công tác cán bộ……… ………52
3.2.3 Tăng cường sự phối hợp với các cơ quan có liên quan….……… 53
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ………53
3.3.1 Tăng cường quản lý người nộp thuế………53
3.3.2 Quản lý chặt chẽ căn cứ tính thuế………54
3.3.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra……….57
3.3.4 Xử lý nhanh, gọn các khoản nợ thuế………58
KẾT LUẬN
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 41 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Thuế không chỉ là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý nền kinh tế màcòn là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước Thông qua việc thu thuế nhà, nước
có thể tập trung một phần nguồn lực xã hội để có thể thực hiện chức năng của mình
Từ khi nước ta thực hiện đổi mới, Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển nềnkinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo mọi điều kiện thuận lợicho các thành phần trong xã hội có thể tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật trong
đó có việc tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp Nhà nước cho phép các cá nhân, tổchức trong xã hội được tự do sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật Nhờchính sách thông thoáng của nhà nước đặc biệt là khi Luật Doanh nghiệp 2005 được ápdụng và sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta, cùng với sự hội nhập ngàycàng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp nhất là các thành phần kinh tếdân doanh phát triển ngày càng mạnh mẽ cả về quy mô, số lượng và lĩnh vực hoạtđộng Các thành phần kinh tế dân doanh kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ởnhiều địa bàn khác nhau do vậy cũng đã góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế của đất nước Tuy nhiên ở nước ta hiện nay việc quản lý thuế đối với các doanhnghiệp này vẫn còn nhiều bất cập Mặc dù hai Luật thuế Giá trị gia tăng và Thu nhậpdoanh nghiệp đã thực hiện được một thời gian khá dài nhưng công tác quản lý chưachặt chẽ vẫn còn nhiều kẽ hở vì vậy một số doanh nghiệp đã lợi dụng để gian lận thuế,
do đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành thuế nói chung và Chi cụcThuế thành phố Sa Đéc nói riêng là phải tăng cường chống thất thu thuế giá trị gia tăng
và thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp, tổ chức có hoạt động sản xuất,kinh doanh nhất là đối với các thành phần kinh tế dân doanh nhằm tránh thất thoát choNgân sách nhà nước và đảm bảo sự công bằng cho các doanh nghiệp trong việc thựchiện nghĩa vụ thuế với nhà nước
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, em xin chọn đề tài “Giải pháp nâng caonăng lực phòng, chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệpcủa thành phần kinh tế dân doanh tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc-tỉnh Đồng Tháp
từ năm 2011 đến năm 2013” làm chuyên đề tốt nghiệp Trên cơ sở phân tích thựctrạng thất thu và chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 5đối với các thành phần kinh tế dân doanh ở Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc từ năm
2011 đến năm 2013, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực phòng,chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các thànhphần kinh tế dân doanh tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc
Do kiến thức còn nhiều hạn chế nên trong quá trình thực hiện khóa luận tốtnghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được nhiều ý kiếngóp ý, đánh giá của quí thầy cô về bài viết này nhằm giúp em bổ sung và học hỏithêm nhiều kiến thức hơn nữa
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Phân tích thực trạng thất thu và chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thunhập doanh nghiệp đối với các thành phần kinh tế dân doanh ở Chi cục Thuế thànhphố Sa Đéc từ năm 2011 đến năm 2013
Đối chiếu với sự cần thiết phải tăng cường công tác phòng, chống thất thu thuếgiá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp từ đó đề xuất những giải pháp nhằmnâng cao năng lực phòng, chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanhnghiệp đối với các thành phần kinh tế dân doanh tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài này được thực hiện dựa vào số liệu từ hệ thống dữ liệu ngành thuế vàmột số văn bản hướng dẫn về thuế GTGT và huế TNDN của ngành, vận dụng cácphương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và trao đổi với các cán bộ côngchức của bộ phận chuyên môn trong cơ quan
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
* Đối tượng nghiên cứu: là giải pháp nhằm nâng cao năng lực phòng, chốngthất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các thành phầnkinh tế dân doanh tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp
Trang 6* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp
- Về thời gian: Đề tài này được thực hiện từ đầu năm 2011 đến hết năm 2013
- Số liệu phân tích: Số liệu từ đầu năm 2011 đến hết năm 2013
Nội dung đề tài gồm ba phần:
Chương 1: Tổng quan về thất thu thuế và sự cần thiết phải tăng cường công tácphòng, chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng thất thu và chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuếthu nhập doanh nghiệp đối với các thành phần kinh tế dân doanh ở Chi cục Thuếthành phố Sa Đéc từ năm 2011 đến năm 2013
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực phòng, chống thất thu thuế giátrị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các thành phần kinh tế dân doanhtại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẤT THU THUẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ THẤT THU THUẾ:
Trang 71.1.1 Khái niệm:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhànước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích
công Lịch sử đã chứng minh thuế ra đời là cần thiết khách quan gắn liền với sự ra
đời, tồn tại và phát triển của nhà nước
Thất thu thuế được hiểu là hiện tượng trong đó những khoản tiền từ các cánhân, tổ chức có tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hay có những điềukiện cơ sở vật chất nhất định so với khả năng của họ cần phải động viên vào NSNN,song vì những lý do xuất phát từ phía nhà nước hay người nộp thuế mà nhữngkhoản tiền đó không được nộp vào NSNN
Dạng thất thu thuế là những biểu hiện bên ngoài của thất thu thuế theo nhữngtiêu thức nhất định Do đó có thể khái quát các dạng thất thu thuế cơ bản như sau:
* Thất thu thuế do không bao quát hết số cơ sở sản xuất, kinh doanh: nguyênnhân này do các cơ sở sản xuất, kinh doanh không đăng ký kinh doanh, không đăng ký
mã số thuế hoặc đăng ký kinh doanh nhưng chưa đăng ký mã số thuế mà vẫn tiến hànhsản xuất, kinh doanh Hoặc cũng có thể do các cơ sở này xin tạm nghỉ kinh doanh, giảithể kinh doanh nhưng thực tế vẫn tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh
* Nhiều đối tượng cố tình kê khai không đúng số thuế phải nộp theo quy địnhcủa pháp luật cũng như thực tế mà họ đang kinh doanh Các doanh nghiệp cũng nhưcác hộ kinh doanh nộp thuế theo kê khai thấp hơn so với số thuế thực tế phải nộpbằng cách khai tăng chi phí, giảm doanh thu thậm chí kê khai sai thuế suất
* Thất thu từ hoạt động xây dựng, du lịch lữ hành, vận tải tư nhân, cho thuênhà nghỉ còn lớn Do nhà nước ta chưa có các quy định cụ thể để quản lý các hoạtđộng này có hiệu quả Cũng chính vì vậy mà các cá nhân, các hộ kinh doanh, cácdoanh nghiệp thường không khai báo, không đăng ký nộp thuế nhằm trốn, tránhnghĩa vụ nộp thuế với nhà nước
* Thất thu do chưa bao quát hết thu nhập của người nộp thuế cũng như sốlượng người phải nộp thuế thu nhập cá nhân Hiện nay, số lượng người lao độnghành nghề tự do ở nước ta còn lớn, thu nhập của người lao động ở nước ta có từ
Trang 8nhiều nguồn thu khác nhau và thường lớn hơn nhiều so với quỹ lương nhưng nhànước chỉ có thể quản lý được phần thu nhập thông qua quỹ lương mà các cơ quan,đơn vị chi trả, còn những khoản thu nhập từ các nguồn khác thì chưa có biện phápquản lý hiệu quả.
Do đó, tình trạng thất thu thuế như trên có thể đề cập đến một số nguyên nhânchủ yếu như sau:
+ Do xuất phát từ người nộp thuế: Trong lịch sử phát triển của xã hội nhà nước
ra đời là tất yếu khách quan trong xã hội có giai cấp Để có thể đảm bảo quyền lợicủa giai cấp thống trị, nhà nước cần có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêucủa mình Nguồn này được lấy bằng cách động viên một phần thu nhập của các tầnglớp trong xã hội Với quyền lực của mình, nhà nước đặt ra các loại thuế buộc mọi cánhân và tổ chức trong xã hội phải tuân theo Nhu cầu chi tiêu của nhà nước càngnhiều thì mức động viên của thuế càng cao Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trườngmục tiêu của các nhà kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận, vì vậy họ luôn tìm cách đểlàm tăng doanh thu, giảm chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, vàthuế cũng là một khoản chi mà họ phải nộp cho nhà nước nên sẽ làm giảm lợi nhuận
mà các nhà kinh doanh này thu được Như vậy, trong thuế luôn tồn tại mâu thuẫngiữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của người kinh doanh, chính vì lẽ đó tình trạngthất thu thuế, gian lận về thuế là không thể tránh khỏi
+ Thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế đã được cải thiện nhiều song vẫn cònnhiều hạn chế gây khó khăn cho người nộp thuế Nhiều quy trình quản lý thuế còn nhiềubất cập chưa sửa đổi do vậy gây tâm lý e ngại đến cơ quan thuế của người nộp thuế
+ Công tác kiểm tra, thanh tra thuế mặc dù đã được cải thiện nhưng hiệu quả
vẫn chưa cao Do đó chưa thể phát hiện được vi phạm của các doanh nghiệp, cơ sởkinh doanh Bên cạnh đó, việc xử lý các hành vi gian lận về thuế còn chưa nghiêm,mức xử phạt còn nhẹ chưa có tính răn đe dẫn đến một số doanh nghiệp, cơ sở kinhdoanh vẫn còn tái phạm
+ Hệ thống thuế ngày càng tăng cả về số lượng và thể loại, nhiều loại thuế cómức thuế suất còn quá cao, nhưng nhiều loại thuế lại có mức thuế suất quá thấp do
Trang 9vậy chưa đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người lao độngdẫn đến việc thực hiện thuế còn gặp nhiều khó khăn.
1.1.2 Hậu quả của thất thu thuế:
Thất thu thuế xảy ra sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đất nước như:
* Ảnh hưởng tới chi tiêu của nhà nước:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của nhà nước, ở nước ta thu từ thuế đóng góp khoảng80% vào ngân sách (trừ thu từ dầu) Thông qua việc thu thuế, nhà nước tập trung mộtphần nguồn lực xã hội để duy trì hoạt động bộ máy nhà nước, tuy nhiên khi xảy ra tìnhtrạng thất thu thuế thì nguồn thu của nhà nước sẽ giảm đi, khi đó sẽ ảnh hưởng đến kếhoạch chi tiêu của nhà nước Đứng trước tình hình đó nhà nước buộc phải:
- Giảm bớt các khoản chi đã dự định: Khi đó kế hoạch của nhà nước sẽ phảithay đổi, do vậy các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội có thể sẽ không đạt được như kế hoạch
đã đề ra
- In thêm tiền chi tiêu để thực hiện theo kế hoạch đã đề ra: Khi đó lượng tiềnđưa vào lưu thông quá nhiều sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát ảnh hưởng nghiêmtrọng tới sự ổn định và phát triển của đất nước
- Vay nợ của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước: Khi đó sẽ để lại gánhnặng nợ trong tương lai nhất là khi các khoản đầu tư này không mang lại hiệu quảnhư mong muốn
* Ảnh hưởng đến việc điều chỉnh, định hướng cơ cấu nền kinh tế:
Thông qua chính sách thuế nhà nước có thể điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theovùng, theo lãnh thổ, theo lĩnh vực đảm bảo sự phát triển hài hòa, đồng đều giữa cácvùng trong cả nước
* Ảnh hưởng đến mọi mặt của xã hội:
- Một trong những mục tiêu của thuế là đảm bảo công bằng xã hội Thế nhưngkhi xảy ra tình trạng thất thu thuế thì có doanh nghiệp nhà nước thu đủ thuế, códoanh nghiệp nhà nước chỉ thu được một phần thuế, thậm chí có doanh nghiệp nhànước không thu được thuế do đó sẽ có sự không công bằng trong việc thực hiệnnghĩa vụ thuế đối với nhà nước Ngoài ra thông qua thu thuế, nhà nước có nguồn tài
Trang 10chính để thực hiện phân bổ lại của cải xã hội Ví dụ như xây dựng cơ sở hạ tầng chovùng còn khó khăn, chi trợ cấp cho người nghèo…nhưng khi thất thu thuế xảy ra thìnhà nước có thể sẽ không có khả năng để thực hiện.
- Bên cạnh đó khi xảy ra tình trạng thất thu thuế còn tạo ra sự cạnh tranhkhông lành mạnh giữa các doanh nghiệp, những doanh nghiệp gian lận được thuế sẽ
có lợi thế hơn những doanh nghiệp không gian lận được thuế Khi đó còn ảnhhưởng đến kỷ cương xã hội, những doanh nghiệp trốn thuế họ tìm cách lẩn tránh sựkiểm tra của nhà nước, thậm chí còn tìm cách khác để gian lận thuế tiếp, còn cácdoanh nghiệp trước kia không gian lận thuế nhưng thấy doanh nghiệp khác trốnđược, có lợi thế trong kinh doanh thì họ có thể noi gương mà vi phạm
- Như vậy có thể thấy rằng, thất thu thuế có ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọimặt của xã hội, đến sự phát triển bền vững của đất nước Do vậy, chống thất thuthuế là đòi hỏi khách quan của mọi nền kinh tế
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG PHÒNG, CHỐNG THẤT THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ DÂN DOANH:
1.2.1 Kinh tế dân doanh và vai trò của nó trong nền kinh tế Việt Nam:
1.2.1.1.) Khái niệm và phân loại:
a) Khái niệm:
Các thành phần kinh tế dân doanh là một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốcdân, các thành phần kinh tế dân doanh do kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác hợpthành Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện phát triển nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các thành phần kinh tế dân doanh được khuyếnkhích phát triển, đây là điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế dân doanh trỗidậy Các tổ chức thành phần kinh tế dân doanh đã nhanh chóng thích ứng với nềnkinh tế thị trường, tiếp cận nhanh với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ,tham gia vào tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh
b) Phân loại:
Trang 11Ở nước ta hiện nay, xét cụ thể về loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh
tế dân doanh bao gồm: Công ty, Hợp tác xã, Doanh nghiệp tư nhân, Hộ cá thể và Cánhân kinh doanh
- Công ty là loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, là đơn
vị kinh tế do các cá nhân tự bỏ vốn thành lập, trách nhiệm, quyền hạn và lợi nhuậnđược phân chia theo tỷ lệ vốn góp, loại hình công ty được tổ chức gồm hội đồng quảntrị, ban giám đốc, ban kiểm soát và dưới đó là các bộ phận trực tiếp sản xuất kinhdoanh Công ty có 2 loại đó là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần + Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 2 thành viên trở lên chỉ chịu trách nhiệmtrong phạm vi vốn góp của mình trong công ty
+ Công ty cổ phần gồm ít nhất là ba thành viên, thành lập do sự góp vốn của các
cổ đông mỗi cổ đông chỉ chịu trách nhiệm theo phần vốn góp của mình trong công ty
- Hợp tác xã là đơn vị kinh tế do nhiều lao động tự nguyện tham gia góp vốn
để tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh Hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắcdân chủ, bình đẳng đối với mọi xã viên nhằm kết hợp sức mạnh của tập thể xã viên,ban chủ nhiệm hợp tác xã có trách nhiệm quản lý mọi hoạt động của hợp tác xã.
- Doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh tế do một ngườiđứng ra tổ chức và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, trong quá trìnhhoạt động kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
- Cá nhân, hộ cá thể kinh doanh có mức vốn thấp hơn mức vốn pháp định củadoanh nghiệp tư nhân, họ tự bỏ vốn ra kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quảkinh doanh của mình, bộ phận kinh tế tư nhân cá thể này chiếm một số lượng lớntrong khu vực các thành phần kinh tế dân doanh
Chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay đã tạo điều kiện thuậnlợi cho các thành phần kinh tế dân doanh ngày càng phát triển, đặc biệt trong giaiđoạn hiện nay Nhà nước ta thực hiện cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nướclàm cho các thành phần kinh tế dân doanh càng khẳng định được vị trí của mìnhtrong nền kinh tế
Trang 121.2.1.2.) Đặc điểm của các thành phần kinh tế dân doanh:
Một là: Các thành phần kinh tế dân doanh có quy mô hoạt động sản xuất kinh
doanh nhỏ, tham gia vào tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh Các tổ chức cácthành phần kinh tế dân doanh ở nước ta được hình thành chủ yếu do một số tư nhân
cá thể tự bỏ vốn ra để tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, một phần được hìnhthành từ các doanh nghiệp Nhà nước sản xuất kinh doanh thua lỗ, hoặc phá sản tiếnhành cổ phần hoá thành các doanh nghiệp tư nhân Do đó chưa có quá trình để tích
tụ, tập trung vốn nên hầu hết các tổ chức thành phần kinh tế dân doanh đều hoạt độngvới số vốn ít ỏi, chủ yếu hoạt động bằng vốn tự có của mình, còn việc sử dụng vốnvay của các Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác còn nhiều hạn chế Chonên đại bộ phần các tổ chức các thành phần kinh tế dân doanh đều có cơ sở vật chấtcòn nhiều hạn chế, sử dụng trang thiết bị cũ kỹ do đó năng lực sản xuất kinh doanhcòn nhiều hạn chế, năng suất lao động thấp, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao,chưa có điều kiện để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
- Trong nền kinh tế nước ta các tổ chức thành phần kinh tế dân doanh có sốlượng tương đối lớn, mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh là tìm kiếm lợinhuận Với tính năng động, sáng tạo của mình, các tổ chức thành phần kinh tế dândoanh tham gia vào hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoại trừmột số ngành nghề do Nhà nước độc quyền quản lý hoạt động Do các tổ chứcthành phần kinh tế dân doanh tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh của mình, lời ăn, lỗ chịu nên họ nhận thấy lĩnh vực hoạt động sản xuấtkinh doanh nào có hiệu quả, thu lợi nhuận cao thì họ sẽ đầu tư vào lĩnh vực đó vàrồi khi gặp khó khăn họ lại chuyển sang hoạt động kinh doanh ở lĩnh vực khác nếuthấy hoạt động kinh doanh ở đó thuận lợi hơn
Hai là: Các thành phần kinh tế dân doanh có trình độ tổ chức sản xuất kinh
doanh chưa cao Ở các nước trên thế giới có những Công ty hoạt động rộng trênnhiều quốc gia, có tiềm lực kinh tế rất lớn, trình độ tổ chức hoạt động kinh doanhrất cao Nhưng ở nước ta hiện nay các doanh nghiệp nói chung và đối với các thànhphần kinh tế dân doanh nói riêng mới tiếp cận với nền kinh tế thị trường, cơ sở vậtchất còn nghèo nàn, năng lực sản xuất chưa cao, chưa có điều kiện để mở rộng quy
Trang 13mô hoạt động sản xuất kinh doanh Việc tiến hành tổ chức hoạt động sản xuất kinhdoanh chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm lâu đời, lực lượng lao động rất đôngnhưng số lượng lao động được đào tạo và có tay nghề cao còn ít, đặc biệt là đối vớiđội ngũ làm công tác quản lý điều hành Cho nên, ngoại trừ một số ít các thành phầnkinh tế dân doanh đứng vững trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất kinhdoanh có hiệu quả thì nhiều các thành phần kinh tế dân doanh phải rất khó khăn mớiduy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong sự cạnh tranh khốc liệtcủa nền kinh tế thị trường.
1.2.1.3 Vai trò của các thành phần kinh tế dân doanh:
a) Các thành phần kinh tế dân doanh thu hút lao động trong xã hội, góp phầnlàm giảm tỷ lệ thất nghiệp
Từ khi thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,nhiều tổ chức các thành phần kinh tế dân doanh được thành lập, đặc biệt trongnhững năm gần đây các tổ chức thành phần kinh tế dân doanh ngày càng phát triểnmạnh mẽ cả về số lượng cũng như quy mô hoạt động do đó đã thu hút được mộtkhối lượng lớn lao động trong xã hội tham gia vào hoạt động SXKD ở khu vực kinh
tế này, làm giảm đáng kể tỷ lệ người lao động không có việc làm trong xã hội b) Các thành phần kinh tế dân doanh đã tạo ra một khối lượng lớn của cải vậtchất cho xã hội, góp phần làm tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường với tính năng động, sáng tạo của mình, các thànhphần kinh tế dân doanh đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế, tạo ra được một khốilượng lớn hàng hoá dịch vụ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
ra nước ngoài, làm tăng kim ngạch xuất khẩu Với các khoản đóng góp cho ngân sáchnhà nước thì đóng góp của các thành phần kinh tế dân doanh cho ngân sách nhà nướccũng rất lớn, trong những năm gần đây trong tổng thu ngân sách nhà nước thì chiếmtới gần 40% là thu từ các thành phần kinh tế dân doanh, do vậy để khơi tăng nguồnthu ngân sách từ khu vực các thành phần kinh tế dân doanh Nhà nước cần phải tạomôi trường cho các thành phần kinh tế phát triển, coi trọng việc đầu tư vào cơ sở hạ
Trang 14tầng để các tổ chức kinh tế này mở rộng liên doanh với các doanh nghiệp trong vàngoài nước, thúc đẩy sản xuất phát triển
c) Sự phát triển của các thành phần kinh tế dân doanh đã tạo điều kiện khaithác tối đa nguồn lực của đất nước
Trải qua hơn 25 năm đổi mới, mặc dù đạt được nhiều thành tựu nhưng trình độnền kinh tế nước ta vẫn còn thấp trong khi tiềm năng phát triển của nền kinh tế cònrất lớn, kinh tế Nhà nước không thể khai thác và tận dụng hết được những tiềmnăng này Vì vậy cần phải phát triển các thành phần kinh tế dân doanh mới có thểkhai thác tốt các nguồn lực của đất nước Việc khuyến khích các thành phần kinh tếdân doanh phát triển sẽ huy động được một lượng vốn lớn đang nằm trong dân, tạođiều kiện cho năng lực con người được giải phóng và phát huy mạnh mẽ Mọi cánhân, tổ chức đều cố gắng phát huy tối đa khả năng của mình, tìm kiếm, khai tháccác nguồn lực vì lợi ích của chính bản thân Đó là động lực kích thích sự phát triểncủa lực lượng sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển
1.2.2 Sự cần thiết phải chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các thành phần kinh tế dân doanh:
1.2.2.1) Xuất phát từ tầm quan trọng của thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanhnghiệp:
Ở Việt Nam, thuế GTGT và TNDN là hai sắc thuế có đóng góp lớn nhất choNSNN hàng năm
Với xu hướng hội nhập của kinh thế thế giới nhất là từ khi nước ta đã gia nhậpWTO, theo cam kết nhiều loại thuế nhập khẩu đã được miễn, giảm đồng nghĩa với
đó là một nguồn ngân sách lớn của nhà nước đã bị mất đi Vì vậy để đảm bảo chitiêu của mình bên cạnh việc nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách thuế, nhà nướccần phải tăng cường các biện pháp quản lý các loại thuế nhằm đảm bảo hạn chế đếnmức thấp nhất tình trạng thất thu thuế nhất là đối với thuế GTGT và TNDN
Ngoài ra việc quản lý tốt hai sắc thuế GTGT và TNDN sẽ góp phần đảm bảo
sự công bằng giữa các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà
Trang 15nước, bên cạnh đó nhà nước có thể có nguồn tài chính để thực hiện các mục tiêu xãhội của mình.
1.2.2.2.) Thực trạng quản lý thuế ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế gây thất thu lớncho ngân sách nhà nước:
Số lượng các thành phần kinh tế dân doanh ở nước ta tăng nhanh trong nhữngnăm gần đây Năm 2011 mới chỉ có 166.440 đơn vị doanh nghiệp của các thànhphần kinh tế dân doanh thì đến năm 2012 đã lên tới 173.625 đơn vị doanh nghiệp vàđến năm 2013 đã là 178.938 đơn vị doanh nghiệp Tuy nhiên trên thực tế khôngphải các thành phần kinh tế dân doanh nào cũng đăng ký kinh doanh, hoặc có đăng
ký kinh doanh nhưng không đăng ký mã số thuế ngay do vậy đã gây ra không ít khókhăn cho cơ quan thuế trong việc quản lý đối với các doanh nghiệp này
Mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhưng luật thuế GTGT và TNDN ởnước ta vẫn còn hạn chế, bất cập chính vì vậy đã tạo kẽ hở cho một số doanh nghiệp
mà chủ yếu là các thành phần kinh tế dân doanh lợi dụng để lách luật nhằm mưu lợicho riêng mình không những làm mất nguồn thu cho NSNN mà còn gây mất ổnđịnh cho nền kinh tế Hiện nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, cácgiao dịch trên thị trường ngày càng phức tạp, các hoạt động gian lận về thuế do vậycũng diễn ra ngày càng tinh vi và phức tạp rất khó phát hiện
* Trong luật thuế GTGT: Đặc điểm nổi bật của thuế GTGT là việc khấu trừđầu vào được thực hiện căn cứ trên hóa đơn mua vào do đó tạo điều kiện cho việcthu thuế ở khâu sau đó Tuy nhiên để thực hiện đòi hỏi phải quản lý được công tácghi chép hóa đơn, sổ sách phải rõ ràng, minh bạch Bên cạnh đó đòi hỏi ý thức chấphành pháp luật của người nộp thuế phải cao Song các doanh nghiệp nhất là cácthành phần kinh tế dân doanh với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệpnày thường tìm cách trốn, tránh thuế và một trong những cách đó là tăng số tiềnthuế khấu trừ đầu vào không có thật Ngoài ra lợi dụng chính sách hoàn thuế nhiềudoanh nghiệp đã lập hồ sơ khống xin hoàn thuế với số thuế lên tới hàng chục tỷđồng, số tiền này rất khó có thể thu hồi lại được Hiện nay với cơ chế tự khai, tựtính và tự nộp thuế các doanh nghiệp cũng lợi dụng triệt để nhằm chiếm dụng tiềnthuế của nhà nước bằng cách kê khai thuế đầu ra giảm, thuế đầu vào tăng lên so với
Trang 16thực tế hoặc nộp chậm tiền thuế Bên cạnh đó lợi dụng chính sách của nhà nước chophép chuyển số thuế GTGT chưa khấu trừ hết sang kỳ sau mà nhiều doanh nghiệplợi dụng lập chứng từ không đúng làm cho thuế đầu ra luôn nhỏ hơn đầu vào.
* Đối với thuế TNDN: Với trình độ quản lý còn hạn chế, trình độ kế toán cònyếu, ý thức chấp hành luật thuế chưa cao các doanh nghiệp đặc biệt là các thànhphần kinh tế dân doanh thường tìm cách trốn, tránh thuế Các hình thức chủ yếu màdoanh nghiệp thường áp dụng như: không kê khai đăng ký thuế, không nộp tờ khaiquyết toán thuế….các doanh nghiệp còn tìm cách làm giảm doanh thu (ví dụ như bỏsót doanh thu, bán hàng không xuất hóa đơn…), hay khai tăng các khoản chi phíđược trừ (như lợi dụng chính sách của nhà nước cho phép các doanh nghiệp tự xâydựng mức tiêu hao vật tư mà một số doanh nghiệp đã khai khống vật tư dùng chosản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, hay lập hai hệ thống sổ sách làm cho kếtquả phản ánh trên sổ sách khi cán bộ thuế kiểm tra không đúng với thực tế…) đểlàm tăng các khoản được trừ qua đó có thể làm giảm thu nhập tính thuế
1.2.2.3.) Xuất phát từ các thành phần kinh tế dân doanh:
Sự tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp xuất phát từ nhiều yếu tố trong đó
có một số yếu tố chủ yếu sau:
- Mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp nhất là các thành phần kinh tế dândoanh phụ thuộc vào sự hiểu biết về luật thuế, những yêu cầu của luật thuế Nhiềudoanh nghiệp không nhận thức được, hoặc không hiểu được nghĩa vụ thuế cũng nhưquy trình tuân thủ Chính điều này làm gia tăng tỷ lệ lỗi trong kê khai, quyết toánthuế và cản trở việc tuân thủ pháp luật thuế của các doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp mới thành lập thường thiếu kiến thức về luật thuế, nghĩa
vụ thuế và quy trình tuân thủ thuế, các hoạt động trốn thuế, tránh thuế thường thô sơ
và dễ bị phát hiện Ngược lại, các doanh nghiệp “có tuổi” thường hiểu rõ về luậtthuế và quy trình nộp thuế vì vậy nếu không có chính sách thuế hợp lý, cơ chế ràngbuộc chặt chẽ, chế tài xử lý nghiêm thì họ thường sử dụng các biện pháp tinh vi đểtrốn, tránh thuế
Trang 17- Yếu tố tâm lý của các doanh nghiệp: Bên cạnh đó là tâm lý lo lắng về khảnăng xảy ra vi phạm pháp luật thuế như tính toán sai thu nhập chịu thuế, thanh toánkhông đúng làm cho họ ngại khi đến cơ quan thuế nộp thuế.
- Ngoài ra còn có một số yếu tố khác như: Lãi suất thị trường, lãi suất ngânhàng cũng ảnh hưởng đến quyết định tuân thủ, trì hoãn, hay không tuân thủ thuế.Khi lãi suất tăng cao doanh nghiệp sẽ trì hoãn việc nộp thuế hoặc có khả năng trốn,tránh thuế Hay như tình trạng lạm phát quá cao sẽ ảnh hưởng tới mức sinh lợi từhoạt động sản xuất kinh doanh do vậy cũng có thể ảnh hưởng tới việc tuân thủ nghĩa
vụ thuế của doanh nghiệp
Sự vi phạm dù là vô tình hay cố ý đều có ảnh hưởng xấu đến nhiều khía cạnhcủa đất nước Do đó có thể nói sự tăng cường công tác chống thất thu thuế đối vớicác doanh nghiệp đặc biệt là các thành phần kinh tế dân doanh là vô cùng cần thiết
để góp phần làm tăng thu cho NSNN, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho cácdoanh nghiệp cũng như các thành phần khác trong nền kinh tế, phát huy và nângcao vai trò điều tiết, định hướng kinh tế của nhà nước, góp phần đưa chính sáchthuế vào cuộc sống để cho các sắc thuế nói chung cũng như hai sắc thuế GTGT vàTNDN nói riêng không chỉ là công cụ đắc lực của nhà nước trong điều tiết nền kinh
tế mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển
Trang 18CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG THẤT THU VÀ PHÒNG, CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Ở CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỪ NĂM
Trang 19- Phía Bắc giáp thành phố Lấp Vò.
- Phía Đông giáp thành phố Cao Lãnh
- Phía Nam giáp thành phố Châu Thành
- Phía Tây giáp thành phố Lai Vung
Địa hình khá thuận lợi về mặt giao thông: Có hệ thống giao thông đường thuỷ
và đường bộ nối liền với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và Thànhphố Hồ Chí Minh; Phía Bắc có sông Tiền, phía Tây có kênh rạch chằng chịt nối liềnvới sông Hậu, đường bộ có Quốc lộ 80, tỉnh lộ 848 và 03 khu công nghiệp: khucông nghiệp A1, khu công nghiệp C và khu công nghiệp C mở rộng đang hoạt động
đã tạo điều kiện cho thành phố Sa Đéc phát triển kinh tế trên nhiều lĩnh vực, là tiền
đề phát triển các mặt hàng truyền thống, giữ vai trò là đầu mối, là thị trường trungtâm của tỉnh, của khu vực trong việc cung cấp hàng lương thực, thực phẩm chế biến(bánh phồng tôm, bột gạo), cơ khí, hoa kiểng,
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội:
Thành phố Sa Đéc là khu vực kinh tế trọng tâm ở phía Nam của tỉnh ĐồngTháp, có hệ thống giao thông khá thuận lợi, cơ sở hạ tầng thường xuyên được đầu
tư phát triển mở rộng; các khu công nghiệp với nhiều doanh nghiệp đã và đang hoạtđộng, tạo điều kiện cho việc đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh với nhiều ngànhnghề đa dạng, lưu thông hàng hóa trong và ngoài khu vực ngày càng ổn định
Năm 2013 thành phố Sa Đéc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trongđiều kiện toàn tỉnh Đồng Tháp nói chung và tại địa phương thành phố Sa Đéc nóiriêng còn gặp những khó khăn nhất định: tình hình thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiềunơi; giá trị sản xuất công nghiệptiểu thủ công nghiệp có tăng trưởng nhưng chưa thật
sự ổn định và bền vững; du lịch thành phố chưa phát triển; việc ứng dụng tiến bộkhoa học trong sản xuất nông nghiệp còn hạn chế; tình hình gạo xuất khẩu giảm sonăm trước do ảnh hưởng giá cả và nguồn gạo nguyên liệu thường xuyên biến động;tình hình giá cả các mặt hàng tiêu dùng tăng mạnh làm sức mua của người dân bị hạn
Trang 20chế; tình hình vi phạm về an ninh trật tự và an toàn giao thông vẫn còn diễn ra trênđịa bàn thành phố Trước những khó khăn chung của địa phương, cấp Ủy và Uỷ bannhân dân thành phố Sa Đéc đã tập trung công tác chỉ đạo, điều hành đối với cácngành, các cấp và lãnh đạo nhân dân từng bước khắc phục khó khăn, phát huy thếmạnh của địa phương, nên tình hình kinh tế vẫn ổn định và tiếp tục tăng trưởng.
Bảng 2.1: Tỷ trọng các ngành trong tổng GDP
Đơn vị: %
Ngành Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Công nghiệp, xây dựng 40,67% 41,08% 43,02%
Thương mại, dịch vụ 53,03% 53,98% 55,66%
(Nguồn: Đội Kê KhaiKế Toán ThuếTin Học)
Qua bảng số liệu trên ta thấy cơ cấu kinh tế của thành phố Sa Đéc có bướcchuyển biến tích cực Tỷ trọng nông lâm thủy sản giảm; tỷ trọng công nghiệp, xâydựng và thương mại dịch vụ tăng Cụ thể là:
Trang 21- Ngành công nghiệp, xây dựng: tỷ trọng GDP năm 2011 đạt 40,67%, năm
2012 đạt 41,08% (tương ứng tăng 0,41% so với năm 2011) và năm 2013 đạt43,02%, (tương ứng tăng 1,94% so với năm 2012)
- Ngành thương mại, dịch vụ: tỷ trọng GDP năm 2011 đạt 53,03%, năm 2012đạt 53,98% (tương ứng tăng 0,95% so với năm 2011) và năm 2013 đạt 55,66%,(tương ứng tăng 1,68% so với năm 2012)
- Ngành nông lâm thủy sản: có xu hướng giảm Tỷ trọng GDP năm 2011 đạt6,30%, năm 2012 giảm còn 4,94% (tương ứng giảm 1,36% so với năm 2011), năm
2013 giảm còn 1,32% (tương ứng giảm 3,62% so với năm 2012)
Như vậy qua bảng số liệu cho ta thấy, cơ cấu kinh tế của thành phố Sa Đéc cónhững chuyển biến khá rõ rệt Do đó, mục tiêu đề ra của thành phố là đến năm 2020
cơ bản sẽ là thành phố có nền công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, từ đó làmgia tăng nguồn thu cho Ngân sách thành phố
Với chính sách mở cửa, thu hút đầu tư, thành phố Sa Đéc hiện đang thu hútđược một lượng lớn các doanh nghiệp đến đầu tư đem lại nguồn thu lớn trong việcthực hiện ngân sách Trong những năm qua Chi cục Thuế luôn hoàn thành tốt kếhoạch thu ngân sách được giao Năm 2012 số thu thuế từ khu vực các thành phầnkinh tế dân doanh đạt 39.908 triệu đồng, đạt 102% dự toán pháp lệnh trong đó thucủa các thành phần kinh tế dân doanh là 27.909,3 triệu đồng Năm 2013 số thu cácthành phần kinh tế dân doanh tại Chi cục Thuế là 59.170,3 triệu đồng đạt 104,2%
dự toán pháp trong đó thu của các thành phần kinh tế dân doanh là 43.363,2 triệuđồng tăng 55,3% so với cùng kỳ
2.2 TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÍ THEO MÔ HÌNH CHỨC NĂNG CỦA CHI CỤC THUẾ:
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc:
Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc được thành lập theo quyết định số 315/QĐ/TC–TCCB ngày 21/8/1990 của Bộ Tài chính Trụ sở Văn phòng Chi cục Thuế đặt tại ĐườngNguyễn Sinh Sắc, khóm Hòa Khánh, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
Trang 22Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành dọc và
Ủy ban nhân dân cùng cấp, có trách nhiệm quản lý, khai thác, bồi dưỡng nguồn thutrên địa bàn theo sự phân công của cấp trên và tổ chức thực hiện hoàn thành chỉ tiêuthu hàng năm
Hiện tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc có tổng số cán bộ là 54 người gồm 50biên chế, 04 hợp đồng
Số lượng cán bộ nữ 17 người chiếm 31,48%, cán bộ nam 37 người chiếm68,51% Điều này phù hợp với nhiệm vụ đặc thù của ngành thuế, nhất là ở các bộphận trực tiếp tiếp xúc với cơ sở kinh doanh, trực tiếp kiểm tra tình hình kinh doanhtrên địa bàn
2.2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy theo mô hình chức năng của Chi cục Thuế thành phố
Trang 23Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc được sắp xếp theo đúng quy định tại QuyếtĐịnh số: 503 và 504/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 của Tổng cục Thuế về việc quyđịnh chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế vàchức năng nhiệm vụ của các Đội thuế thuộc Chi cục Thuế
- Ở Trung ương có Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính
- Ở Tỉnh (thành) có Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế, đồng thời chịu sựlãnh đạo song trùng của Uỷ ban nhân dân cùng cấp
- Ở Thành phố (thị) có Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế và chịu sự lãnh đạosong trùng của Uỷ ban nhân dân cùng cấp
Bộ máy tổ chức Chi cục Thuế hiện đang hoạt động theo hình thức kết hợp trựctuyến, phân công Lãnh đạo Chi cục Thuế phụ trách các Đội như sau:
- Chi cục Thuế trưởng Nguyễn Hữu Dũng, trực tiếp điều hành, chỉ đạo công
tác tổ chức hành chính nhân sự và tài vụ của Đội Hành chínhNhân sựTài vụẤnchỉ công tác kiểm tra nội bộ; công tác thanh tra thuế; công tác tiếp dân; chỉ đạo quản
lý và khai thác nguồn thu phát sinh trên địa bàn thành phố
- Phó Chi cục Thuế trưởng Lê Thùy Nga, giúp Chi cục Thuế trưởng chỉ đạo,
điều hành công tác của Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ; Đội Thuế liên xã phường;công tác quản lý thuế TNCN và công tác Nghiệp vụ Dự toán
- Phó Chi cục Thuế trưởng Hồ Thanh Liêm, giúp Chi cục Thuế trưởng chỉ
đạo điều hành công tác của Đội trước bạThu khác và TNCN; công tác quản lý ấnchỉ của Đội Hành chínhNhân sựTài vụẤn chỉ; công tác bộ phận một cửa; côngtác tuyên truyền hỗ trợ của Đội Tuyên truyền–Hỗ trợ và Nghiệp vụDự toán
- Phó Chi cục Thuế trưởng Nguyễn Thanh Hùng, giúp Chi cục Thuế trưởng chỉ
đạo, điều hành công tác của Đội Kiểm tra thuế và Đội Kê khai–Kế toán thuế tin học
2.2.4 Chức năng nhiệm vụ của từng đội thuế:
- Đội Hành chínhNhân sựTài vụẤn chỉ
Trang 24+ Chức năng: Giúp Chi cục Thuế trưởng Chi cục Thuế thực hiện công tác
hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý nhân sự; quản lý tài chính, quản trị;quản lý ấn chỉ trong nội bộ Chi cục Thuế quản lý
+ Nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch hàng năm về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất,
kinh phí hoạt động và quản lý ấn chỉ thuế của Chi cục Thuế ; tổ chức thực hiện côngtác hành chính, văn thư, lưu trữ; thực hiện chế độ quản lý, sử dụng công chức thuế,lao động, tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng công chức thuế, công tác bảo vệ chính trịnội bộ của Chi cục Thuế theo phân cấp quản lý
- Đội Kiểm tra thuế:
+ Chức năng: Giúp Chi cục Thuế trưởng Chi cục Thuế thực hiện công tác
kiểm tra, giám sát kê khai thuế; giải quyết tố cáo liên quan đến NNT; chịu tráchnhiệm thực hiện dự toán thu thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế
+ Nhiệm vụ: Kiểm tra tính trung thực, chính xác của hồ sơ khai thuế; kiểm tra
việc thực hiện chính sách pháp luật về thuế tại trụ sở của NNT; kiểm tra các tổ chứcđược ủy nhiệm thu thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế; Thực hiện các thủ tụcmiễn thuế, giảm thuế, trình Lãnh đạo Chi cục Thuế ra quyết định; kiểm tra, đốichiếu xác minh hóa đơn và trả lời kết quả xác minh hóa đơn theo quy định; kiểm traviệc chấp hành các quy định về quản lý, sử dụng biên lai, ấn chỉ thuế; Tổ chức hoạtđộng tiếp dân tại trụ sở cơ quan thuế để nắm bắt, xem xét, giải quyết những thôngtin phản ánh của nhân dân về hành vi vi phạm chính sách, pháp luật thuế của NNT;kiểm tra xác minh, giải quyết tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật thuế của NNTthuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục Thuế
- Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ và Nghiệp vụ - Dự toán:
+ Chức năng: Giúp Chi cục Thuế trưởng Chi cục Thuế hướng dẫn về nghiệp vụ
quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế cho cán bộ, công chức thuế trong Chi cụcThuế; xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu NSNN được giao của Chi cục Thuế
+ Nhiệm vụ: Xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện công tác xây dựng
dự toán thu; triển khai, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế cho các bộ phận, côngchức thuế trong Chi cục Thuế; phân tích tình hình sản xuất kinh doanh và các biến
Trang 25động ảnh hưởng đến kết quả thu NSNN; đánh giá, dự báo khả năng thu NSNN, tiến
độ thực hiện dự toán thu thuế của Chi cục Thuế; phối hợp với các cấp, các ngành cóliên quan triển khai các biện pháp quản lý thu thuế trên địa bàn; tham mưu, đề xuấtvới cơ quan thuế cấp trên, lãnh đạo Chi cục Thuế các biện pháp nâng cao hiệu quảcông tác quản lý thu thuế; rà soát, thẩm định về nội dung, thể thức, thủ tục hànhchính các văn bản do Chi cục Thuế soạn thảo
- Đội Kê khaiKế toán thuế và Tin học:
+ Chức năng: Giúp Chi cục Thuế trưởng Chi cục Thuế thực hiện công tác
đăng ký thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế theo phân cấp quảnlý; quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học; triển khai, cài đặt, hướng dẫn
sử dụng các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế
+ Nhiệm vụ: Thực hiện công tác đăng ký thuế, đóng và cấp mã số thuế cho
NNT trên địa bàn; quản lý việc thay đổi tình trạng hoạt động SXKD và thực hiệncác thủ tục chuyển đổi đối với NNT thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế; xử lý
hồ sơ khai thuế, hồ sơ hoàn thuế, các tài liệu, chứng từ có liên quan đến nghĩa vụthuế của NNT theo quy định; đề xuất nhu cầu, lắp đặt, quản lý, vận hành, bảo hành,bảo trì, bảo dưỡng hệ thống mạng, trang thiết bị tin học tại Chi cục Thuế; tổ chứccài đặt, hướng dẫn, hỗ trợ cán bộ thuế vận hành, sử dụng các phần mềm ứng dụngphục vụ công tác quản lý tại Chi cục Thuế
- Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế:
+ Chức năng: Giúp Phó Chi cục Thuế trưởng Chi cục Thuế thực hiện công tác
quản lý nợ thuế, cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt đối với NNT thuộc phạm viquản lý của Chi cục Thuế
+ Nhiệm vụ: Thực hiện các thủ tục thu tiền thuế nợ, tiền phạt; theo dõi, đôn
đốc, tổng hợp kết quả thu hồi tiền thuế nợ, tiền phạt vào NSNN; thực hiện xác nhậntình trạng nợ NSNN; lập hồ sơ đề nghị và thực hiện cưỡng chế và đề xuất biện phápthực hiện cưỡng chế thu tiền thuế
- Đội thuế liên xã, phường, thị trấn:
Trang 26+ Chức năng: Giúp Phó Chi cục Thuế trưởng Chi cục Thuế quản lý thu thuế
các tổ chức (nếu có), cá nhân nộp thuế trên địa bàn xã, phường được phân công(bao gồm các hộ SXKD công thương nghiệp và dịch vụ, kể cả hộ nộp thuế TNCN;thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên )
+ Nhiệm vụ: Tổ chức cho NNT trên địa bàn được đăng ký mã số thuế; hướng
dẫn NNT trên địa bàn thực hiện pháp luật về thuế; thực hiện điều tra doanh thu, ấnđịnh thuế với trường hợp khóan ổn định đối với NNT thuộc phạm vi quản lý củaĐội theo quy định của pháp luật; tiếp nhận tờ khai đăng ký thuế, tờ khai thuế, hồ sơmiễn thuế, giảm thuế (nếu có) chuyển Đội Kê khaiKế toán thuế và Tin học xử lý;tiếp nhận đơn ngừng nghỉ kinh doanh trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định;phát hiện, theo dõi, quản lý thu đối với cơ sở xây dựng cơ bản vãng lai; phối hợpvới Đội Quản lý thu nợ thực hiện cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt đối với NNTthuộc phạm vi quản lý của đội thuế liên xã, phường; đề xuất quyết định uỷ nhiệmthu, giám sát và đôn đốc uỷ nhiệm thu thực hiện thu nộp thuế theo đúng quy định;thực hiện công tác đối chiếu xác minh hóa đơn và trả lời kết quả xác minh hóa đơntheo yêu cầu; phối hợp với Đội Kiểm tra thuế tham gia kiểm tra NNT, các tổ chức,
cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế, các quyết địnhhành chính thuế theo quy định của pháp luật
- Đội Trước bạ và thu khác và thuế thu nhập cá nhân:
+ Chức năng: Giúp Phó Chi cục Thuế trưởng Chi cục Thuế quản lý thu lệ phí
trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, các khoản đấugiá về đất, tài sản, tiền thuê đất, thuế tài sản (sau này), phí, lệ phí và các khoản thu
khác (sau đây gọi chung là các khoản thu về đất bao gồm cả thuế TNCN đối với chuyển nhượng bất động sản, nhận thừa kế, quà tặng, lệ phí trước bạ và thu khác)
phát sinh trên địa bàn thuộc phạm vi Chi cục Thuế quản lý
+Nhiệm vụ: Kiểm tra hồ sơ khai thuế; tính thuế; phát hành thông báo thu các
khoản thu về đất, lệ phí trước bạ và các khoản thu khác; tổ chức thu nộp hoặc phốihợp với Kho bạc để thu nộp tiền thuế về các khoản thu về đất, lệ phí trước bạ và thukhác theo thông báo; xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện công tác kiểm tra,
Trang 27giám sát kê khai thuế TNCN trên địa bàn và chỉ đạo các đội thuế có liên quan tổchức thực hiện; thực hiện công tác kiểm tra giám sát kê khai thuế TNCN của ngườinộp thuế là các cơ quan hành chính sự nghiệp, đoàn thể thuộc và trực thuộc Uỷ bannhân dân cấp quận, thành phố quản lý (trừ các đối tượng là cơ sở sản xuất kinhdoanh do Đội Kiểm tra thực hiện); tổ chức kiểm tra hoặc phối hợp kiểm tra việcthực hiện chính sách pháp luật về thuế TNCN của các đơn vị chi trả thu nhập, các tổchức được ủy nhiệm thu thuế TNCN theo quy định của Luật Quản lý thuế; kiểm traxác minh, giải quyết khiếu nại về thuế TNCN của người nộp thuế thuộc thẩm quyềnquản lý của Chi cục Thuế.
2.3 CÔNG TÁC QUẢN LÍ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ DÂN DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ SA ĐÉC:
2.3.1 Tình hình phát triển của các thành phần kinh tế dân doanh tại thành phố
Sa Đéc:
Trong những năm gần đây số lượng các thành phần kinh tế dân doanh trên địabàn thành phố tăng lên nhanh chóng cùng với nhịp độ gia tăng nhanh của các doanhnghiệp này trong cả nước Tính đến thời điểm 31/12/2011 toàn thành phố mới chỉ có
440 thành phần kinh tế dân doanh thì tính đến hết năm 2012 đã tăng lên là 453 thànhphần kinh tế dân doanh Theo thống kê của Chi cục Thuế thì tính đến thời điểm31/12/2013 toàn Chi cục Thuế hiện đang quản lý 483 thành phần kinh tế dân doanh.Các thành phần kinh tế dân doanh trong thành phố tăng nhanh trong nhiều loạihình, cụ thể:
Bảng 2.2: Bảng số lượng các thành phần kinh tế dân doanh theo loại hình
doanh nghiệp tại thành phố Sa Đéc
Đơn vị: đơn vị
Loại hình kinh tế
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Sốlượng
Tỷ lệ
%
Sốlượng
Tỷ lệ
%
Sốlượng
Tỷ
lệ %Công ty TNHH 206 46,8 221 48,8 229 47,4
Trang 28(Nguồn: Đội Kê Khai - Kế Toán Thuế - Tin Học)
Qua số liệu phân tích trên, nhìn chung ở tổng thể số đơn vị của từng loại hìnhkinh tế trên địa bàn thành phố Sa Đéc ngày càng tăng, trong năm 2011 cả thành phố
có 440 doanh nghiệp Sang năm 2012 số doanh nghiệp trong thành phố là 453doanh nghiệp, tăng 13 doanh nghiệp so với năm 2011, tỷ lệ tăng 2,95% Đến năm
2013 số doanh nghiệp trong thành phố là 483 doanh nghiệp, tăng 30 doanh nghiệp
so với năm 2012, tỷ lệ tăng là 6,62%
Đi sâu vào phân tích cụ thể của từng loại hình kinh tế như sau:
- Công ty TNHH: là loại hình kinh tế có số đơn vị chiếm cao nhất trong tất cả cácloại hình kinh tế của các thành phần kinh tế dân doanh
Năm 2011 có 206 đơn vị chiếm 46,8%, sang năm 2012 là 221 đơn vị (tăng 15đơn vị) chiếm 48,8% so với năm 2011, số đơn vị hoạt không dừng lại ở đó mà tiếp tụctăng, đến năm 2013 là 229 đơn vị (tăng 8 đơn vị) chiếm 47,4% so với năm 2012
- DNTN: là loại hình kinh tế có số doanh nghiệp chiếm nhiều thứ 2
Năm 2011 có 131 đơn vị chiếm 29,8%, song bước sang năm 2012 có 128 đơn
vị (giảm 3 đơn vị) chiếm 28,3% so với năm 2011 Đến năm 2013 có 133 đơn vị(tăng 5 đơn vị) chiếm 27,5% so với năm 2012
- Khác: chiếm nhiều thứ 3 sau loại hình kinh tế công ty TNHH và DNTN.Năm 2011 có 49 đơn vị chiếm 11,1% song bước sang năm 2012 giảm xuốngcòn 42 đơn vị (giảm 7 đơn vị) chiếm 9,35% so với năm 2011 Và đến năm 2013 là
54 đơn vị (tăng 12 đơn vị) chiếm 11,3% so với năm 2012
- Chi nhánh: chiếm thứ 4
Trang 29Năm 2011 có 20 đơn vị chiếm 4,5%, năm 2012 có 24 đơn vị (tăng 4 đơn vị)chiếm 5,3% so với năm 2011 Và đến năm 2013 là 25 đơn vị (tăng 12 đơn vị) chiếm5,2% so với năm 2012.
- Qũy tín dụng: là loại hình kinh tế có số đơn vị chiếm thấp nhất trong tất cảcác loại hình kinh tế của các thành phần kinh tế dân doanh
Năm 2011 có 10 đơn vị chiếm 2,3%, năm 2012 có 10 đơn vị chiếm 2,2% so vớinăm 2011 Và đến năm 2013 là 9 đơn vị (giảm 1 đơn vị) chiếm 1,9% so với năm 2012
Từ các phân tích trên cho thấy thời gian qua tổng thể các thành phần kinh tế dândoanh trên địa bàn ngày càng tăng đây là dấu hiệu đáng mừng chứng tỏ luật thuếGTGT và thuế TNDN ngày càng đi vào đời sống kinh tế xã hội ở địa phương Các đốitượng là doanh nghiệp cũng gia tăng về số lượng lẫn quy mô càng khẳng định hơn việcthực thi thuế GTGT đã khuyến khích người dân đầu tư vào hoạt động sản xuất kinhdoanh Số lượng doanh nghiệp mỗi năm đều tăng cho thấy các doanh nghiệp đang pháttriển tốt, giải quyết được công ăn việc làm cho lao động ở địa phương
Bên cạnh đó, các thành phần kinh tế dân doanh trên địa bàn thành phố chủ yếu
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp này tiến hành các hoạt động sảnxuất, kinh doanh ở nhiều địa bàn, nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau như: sảnxuất, xây dựng, thương nghiệp, dịch vụ và cũng đóng góp đáng kể vào NSNN
Trang 30Bảng 2.3: Cơ cấu ngành nghề và đóng góp của các thành phần kinh tế dân doanh trên địa bàn thành phố 3 năm qua.
Tỷtrọng(%)
Số thuế
Tỷtrọng(%)
Số đơnvị
Tỷtrọng(%)
Số thuế
Tỷtrọng(%)
Số đơnvị
Tỷtrọng(%)
Số thuế
Tỷtrọng(%)Sản xuất 249 56,6 4.367 9,4 254 56,1 6.767 10,4 269 55,7 9.543 10,7
Thương nghiệp 94 21,4 35.764 77,2 96 21,2 49.527 76,1 101 20,9 66.329 75,1Xây dựng 41 9,3 4.705 10,2 42 9,3 7.233 11,1 42 8,7 10.784 12,2Vận tải 15 3,4 924 1,9 16 3,5 1.122 1,7 18 3,7 1.346 1,5Tổng 440 100 46.330 100 453 100 65.070 100 483 100 88.390 100
(Nguồn: Đội Tuyên truyền - Hỗ trợ và Nghiệp vụ - Dự toán)
Trang 31Qua bảng số liệu trên ta thấy, số lượng đơn vị hoạt động và số thuế đóng gópthuộc các ngành nghề trong khu vực kinh tế dân doanh của thành phố Sa Đéc có nhữngbước tiến tích cực Cụ thể như sau:
- Về số thu thuế: có tỷ trọng đứng thứ 3 trong tổng số thuế đóng góp của thànhphần kinh tế dân doanh trên địa bàn thành phố Sa Đéc
Năm 2011 số thuế đóng góp là 4.367 triệu đồng chiếm 9,4% Năm 2012 số thuếđóng góp là 6.767 triệu đồng (tăng 2.400 triệu đồng so năm 2011) chiếm 10,4% Năm
2013 số thuế 9.543 triệu đồng (tăng 2.776 triệu đồng so năm 2012) chiếm 10,7%.Nhân tố tác động tích cực nêu trên là do sự chuyển biến tích cực của các đơn vịdoanh nghiệp sản xuất, chế biến lương thực, thực phẩm như: hủ tiếu, bột lọc,…do đó
đã thúc đẩy ngành nghề kinh doanh này ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu sốthu thuế trên địa bàn thành phố
Trang 32- Về số thu thuế: có tỷ trọng cao nhất trong tổng số thuế đóng góp của thành phầnkinh tế dân doanh trên địa bàn thành phố Sa Đéc.
Năm 2011 số thuế đóng góp là 35.764 triệu đồng chiếm 77,2% Năm 2012 số thuếđóng góp là 49.527 triệu đồng (tăng 13.763 triệu đồng so năm 2011) chiếm 76,1% Năm
2013 số thuế 66.329 triệu đồng (tăng 16.802 triệu đồng so năm 2012) chiếm 75,1%.Đạt kết quả trên do tình hình kinh doanh lương thực trên địa bàn trong 3 năm quaphát triển mạnh và sự phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý hoạt động kinh doanhcủa các ngành chức năng trên địa bàn đã góp phần ổn định hoạt động kinh doanh, kêkhai nộp thuế của doanh nghiệp
- Về số thu thuế: có tỷ trọng đứng thứ 2 trong tổng số thuế đóng góp của thànhphần kinh tế dân doanh trên địa bàn thành phố Sa Đéc
Năm 2011 số thuế đóng góp là 4.705 triệu đồng chiếm 10,2% Năm 2012 số thuế
7.233 triệu đồng (tăng 2.528 triệu đồng so năm 2011) chiếm 11,1% Năm 2013 số thuế
10.784 triệu đồng (tăng 3.551 triệu đồng so năm 2012) chiếm 12,2%
Ngành này có tỷ trọng đứng thứ 2 trong tổng thuế hàng năm và tăng đều qua cácnăm Đạt kết quả trên do công tác đầu tư xây dựng cơ bản được Uỷ ban nhân dân thànhphố Sa Đéc đã tập trung đẩy mạnh để xứng tầm với một đô thị loại III Trong thời giantới nguồn thu từ ngành này có tiềm năng phát triển mạnh do còn nhiều dự án đầu tư xâydựng đang được chuẩn bị đầu tư
Trang 33- Về số thu thuế: có tỷ trọng số thuế đóng góp thấp nhất trong tổng số thuế đónggóp của thành phần kinh tế dân doanh trên địa bàn thành phố Sa Đéc.
Năm 2011 số thuế đóng góp là 570 triệu đồng chiếm 1,3% Năm 2012 số thuế 421
triệu đồng (giảm 149 triệu đồng so năm 2011) chiếm 0,6% Năm 2013 số thuế 388 triệu đồng (giảm 33 triệu đồng so năm 2012) chiếm 0,4%.
Nguyên nhân làm giảm số thu đối với ngành này là do hai năm qua tình hình kinh
tế gặp nhiều khó khăn dẫn đến các nhu cầu về dịch vụ trên địa bàn thành phố giảm.Một số đơn vị không có khả năng cạnh tranh phải thu hẹp quy mô hoạt động kinhdoanh hoặc giải thể doanh nghiệp
- Về số thu thuế: có tỷ trọng số thuế đóng góp đứng thứ 4 trong tổng số thuế đónggóp của thành phần kinh tế dân doanh trên địa bàn thành phố Sa Đéc
Năm 2011 số thuế đóng góp là 924 triệu đồng chiếm 1,9% Năm 2012 số thuế1.122 triệu đồng (tăng 198 triệu đồng so năm 2011) chiếm 1,7% Năm 2013 số thuế1.346 triệu đồng (tăng 224 triệu đồng so năm 2012) chiếm 1,5%
Trang 34Chính nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế dân doanh khôngnhững góp phần vào việc tăng thu cho NSNN mà còn góp phần giải quyết một lượng lớnlao động trong thành phố cũng như lao động ở các thành phố, các tỉnh khác đến làm việc.Với sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn quy mô hoạt động, số thu từ cácthành phần kinh tế dân doanh vào tổng thu NSNN cũng tăng lên rõ rệt qua các năm.Điều đó cho thấy các thành phần kinh tế dân doanh đang làm ăn có hiệu quả và ngàycàng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc quản lý thu thuế nhất là thuế GTGT và thuế TNDN đối với cácthành phần kinh tế dân doanh trên địa bàn thành phố còn gặp nhiều khó khăn Thực tếcho thấy trong ba năm qua số lượng doanh nghiệp mới xuất hiện nhiều song số lượngdoanh nghiệp hiện không hoạt động cũng lớn (năm 2011 có 26 doanh nghiệp xin tạmnghỉ kinh doanh, đến năm 2012 có 32 doanh nghiệp tạm nghỉ kinh doanh Tính đến cuốinăm 2013 thành phố có 41 doanh nghiệp giải thể); ý thức chấp hành Luật Quản lý thuếcủa một số thành phần kinh tế dân doanh trên địa bàn thành phố chưa cao dẫn đến nhiềudoanh nghiệp còn nợ đọng tiền thuế, tiền chậm nộp Từ đó đã làm ảnh hưởng không nhỏtới sự phát triển kinh tế của thành phố cũng như mục tiêu thu NSNN của Chi cục Thuế.Xuất phát từ thực tế nêu trên, công tác chống thất thu thuế thuế đặc biệt là thuếGTGT và TNDN đối với các thành phần kinh tế dân doanh trên địa bàn thành phố là vôcùng cần thiết
2.3.2 Kết quả công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các thành phần kinh tế dân doanh tại Chi cục Thuế thành phố Sa Đéc:
Trong những năm qua cùng với sự hoàn thiện trong hai sắc thuế GTGT và TNDNcông tác quản lý thu thuế GTGT và TNDN đối với các thành phần kinh tế dân doanh tạiChi cục Thuế thành phố Sa Đéc ngày càng được thay đổi theo hướng tích cực Chi cụcThuế đã có nhiều biện pháp để quản lý, đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ đối
Trang 35với nhà nước, nhờ vậy các khoản thu thuế nói chung và các khoản thu từ thuế GTGT vàTNDN nói riêng của các thành phần kinh tế dân doanh đều tăng lên rõ rệt, cụ thể:
Trang 36Bảng 2.4: Kết quả thu thuế GTGT và TNDN của các thành phần kinh tế dân doanh
Đơn vị tính: triệu đồng
Loại
hình
Số tiền trọngTỷ
%
(+/-)
% so2011
Số tiền trọngTỷ
%
(+/-)
% so2012
Số tiền trọngTỷ
%
(+/-)
% so2012DNTN 5.380,3 39,5 3.330,8 33,1 6.619,4 32,2 23 4.463,4 36,8 34 7.928,5 27,4 19,8 5.757,2 39,6 28,9Cty
TNHH 6.841,2 50,2 5.931,0 58,9 11.927,7 58 74,4 6.462,8 53,3 8,9 18.054,2 62,3 51,4 7.121,8 48,9 10,2Chi