MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam ( tháng 12 năm 1986 ) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đã quyết định chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập chung ( nền kinh tế đã kìm hãm sự phát triển của xã hội trong một thời gian khá dài ) sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát mà nước ta đã lựa chọn trong thời kì đổi mới. Đây là sự vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm trong nước và thế giới về phát triển kinh tế thị trường, là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng trong quá trình lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước. Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến. Sau 18 năm đổi mới chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu, nền kinh tế nước ta thoát khỏi tình trạng trì trệ, luôn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức cao. Ngμy nay víi xu híng toμn cÇu hãa, kinh tÕ thÞ trêng ®· ph¸t triÓn phæ biÕn trªn ph¹m vi toμn thÕ giíi. Cã thÓ nãi r»ng bÊt cø mét quèc gia nμo khi ®øng tríc vßng xo¸y kinh tÕ còng lùa chän cho m×nh mét m« h×nh ph¸t triÓn kinh tÕ thÞ trêng ngang tÇm víi c¸c níc trong khu vùc vμ thÕ giíi. Cïng víi xu híng héi nhËp quèc tÕ, ViÖt Nam còng kh«ng n»m ngoμi xu thÕ ®ã. §Æc biÖt t¹i Đ¹i héi ®¹i biÓu toμn quèc lÇn thø IX cña §¶ng ®· x¸c ®Þnh m« h×nh kinh tÕ tæng qu¸t ë níc ta lμ: Kinh tÕ thÞ trêng ®Þnh híng x· héi chñ nghÜa. Kinh tÕ thÞ trêng ®Þnh híng x· héi chñ nghÜa thùc chÊt lμ sự phát triển nÒn kinh tÕ hμng hãa nhiÒu thμnh phÇn vËn ®éng theo c¬ chÕ thÞ trêng cã sù qu¶n lÝ cña nhμ níc theo ®Þnh híng x· héi chñ nghÜa. Kinh tÕ thÞ trêng ®· t¸c ®éng ®Õn tÊt c¶ c¸c vïng miÒn cña ®Êt níc tõ ®ång b»ng ®Õn miÒn nói, tõ thμnh thÞ tíi n«ng th«n, trong ®ã cã tỉnh Sơn La nói chung và thành phố Sơn La nói riêng. Thùc tiÔn nh÷ng n¨m ®æi míi níc ta ®· chøng minh r»ng viÖc chuyÓn sang kinh tÕ thÞ trêng lμ hoμn toμn ®óng ®¾n. Nh÷ng thμnh tùu mμ chóng ta ®· ®¹t ®îc vÒ kinh tÕ kh«ng thÓ kh«ng nãi ®Õn vai trß cña kinh tÕ thÞ trêng. Sù tån t¹i 2 kinh tÕ thÞ trêng kh«ng nh÷ng lμ yÕu tè kh¸ch quan mμ cßn lμ ®éng lùc thóc ®Èy sù ph¸t triÓn s¶n xuÊt, gãp phÇn quyÕt ®Þnh ®¶m b¶o t¨ng trëng kinh tÕ. §¹i héi IX cña §¶ng x¸c ®Þnh nh÷ng néi dung lín trong viÖc x©y dùng nÒn kinh tÕ thÞ trêng ®Þnh híng x· héi chñ nghÜa ë níc ta trong nh÷ng n¨m tíi lμ: TiÕp tôc t¹o lËp ®ång bé c¸c yÕu tè thÞ trêng, ®æi míi vμ n©ng cao hiÖu qu¶ qu¶n lý kinh tÕ cña Nhμ níc. Thóc ®Èy sù h×nh thμnh, ph¸t triÓn vμ tõng bíc hoμn thiÖn c¸c lo¹i thÞ trêng theo ®Þnh híng x· héi chñ nghÜa. Cïng víi sù ph¸t triÓn s¶n xuÊt hμng hãa thÞ trêng ngμy cμng ®a d¹ng, ngμy nay víi sù tiÕn bé cña c«ng nghÖ th«ng tin vμ th ¬ng m¹i ®iÖn tö, kh«ng gian thÞ trêng lμ v« tËn. Do vËy tån t¹i nhiÒu lo¹i thÞ trêng trong thêi k× qu¸ ®é lªn chñ nghÜa x· héi ë việt nam lμ mét yÕu tè kh¸ch quan cã ý nghÜa chiÕn lîc l©u dμi vμ to lín vÒ nhiÒu mÆt. KÕ thõa tduy cña ®¹i héi IX, §¹i héi ®¹i biÓu toμn quèc lÇn thø X ®· kh¼ng ®Þnh: TiÕp tôc hoμn thiÖn thÓ chÕ kinh tÕ thÞ trêng ®Þnh híng x· héi chñ nghÜa [6,77]. Thùc hiÖn chñ tr ¬ng ®êng lèi cña §¶ng, thành phố Sơn La là thành phố trực thuộc tỉnh cßn gÆp rÊt nhiÒu khã kh¨n, nhng trong nh÷ng n¨m gÇn ®©y cïng víi xu thÕ ph¸t triÓn cña ®Êt níc ta, thành phố ®· cã nhiÒu bíc tiÕn ®¸ng kÓ vÒ mäi mÆt, ®Æc biÖt lμ sù chuyÓn biÕn râ rÖt vÒ kinh tÕ – văn hóa, x· héi, ®a tỉnh Sơn La nói chung và thành phố Sơn La nói riêng ph¸t triÓn hßa nhËp víi c¸c tØnh trong vμ ngoμi khu vùc, ®¸p øng ®îc nhu cÇu c«ng nghiệp hãa, hiÖn ®¹i hãa ®Êt níc. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó, kinh tế thị trường còn để lại những tác động tiêu cực, có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Sơn La như: sự phân hóa giàu ngèo, tác động đến lối sống, văn hóa đạo đức….Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Tác động của kinh tế thị trường đến sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Sơn La” nhằm vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn của thành phố Sơn La. Từ đó đề xuất những giải pháp để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Sơn La hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Kinh tÕ thÞ trêng cã t¸c ®éng m¹nh mÏ ®Õn cuéc sèng con ngêi vμ tình h×nh ph¸t triÓn kinh tÕ cña ®Êt níc. Kinh tÕ thÞ trêng còng lμm c¬ së t¹o ra mèi quan hÖ cña nhiÒu níc trªn thÕ giíi vμ lμm cho con ngêi trë nªn n¨ng ®éng h¬n, nã g¾n kÕt ®îc nhiÒu lo¹i thÞ trêng víi nhau. Nã t¸c ®éng ®Õn mäi mÆt 3 cña ®êi sèng x· héi trong ®ã cã t¸c ®éng ®Õn viÖc x©y dùng vμ ph¸t triÓn kinh tÕ. Kinh tÕ thÞ trêng cã vai trß rÊt to lín ®èi víi sù ph¸t triÓn kinh tÕ ë Việt Nam, ®Æc biÖt trong thêi k× qu¸ ®é lªn x©y dùng chñ nghÜa x· héi. Nã lμm tiÒn ®Ò ®em ®Õn sù thμnh c«ng nÕu biÕt ch¨m lo x©y dùng nguồn lùc ®ñ kh¶ n¨ng ®Ó ®iÒu hμnh, nã sÏ trë thμnh mét ®éng lùc quan träng ®Ó ph¸t triÓn kinh tÕ ®Êt níc. V× vËy cã nhiÒu t¸c gi¶, t¸c phÈm nghiªn cøu vÒ kinh tÕ thÞ trêng nh: “ Qu¸ tr×nh chuyÓn ®æi sang kinh tÕ thÞ trêng cña c¸c níc ®ang ph¸t triÓn ’’ cña t¸c gi¶ Hoa H÷u L©n. “Mét sè vÊn ®Ò kinh tÕ x· héi trong thêi k× qu¸ ®é lªn chñ nghÜa x· héi ë ViÖt Nam ’’ cña t¸c gi¶ Vò Hång TiÕn. “Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ’’của tác giả Mai Hữu Thực. “Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ’’của Giáo Sư - Tiến Sĩ Chu Văn Cấp. “Xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ’’ của tác giả Nguyễn Nhâm. Thạc Sĩ Nguyễn Tấn Hùng: “ Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mâu thuẫn và phương hướng giải quyết ’’ Hay: “ Trong c¬ chÕ qu¶n lý nÒn kinh tÕ thÞ trêng ®Þnh híng x· héi chñ nghÜa ’’ ... “ Tác động của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đối với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa’’. Tuy nhiªn vÉn cha cã nghiªn cøu nμo ®Ò cËp ®Õn mét c¸ch cô thÓ vÒ vÊn ®Ò tác động của kinh tế thị trường đến sự phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội ở thành phố Sơn La. V× thÕ t¸c gi¶ mong ®îc đóng gãp mét phÇn nhá bÐ trong viÖc luËn gi¶i vÊn ®Ò trªn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Môc đích nghiªn cøu Lμm s¸ng tá vÊn ®Ò lÝ luËn c¬ b¶n vÒ kinh tÕ thÞ trêng, tõ ®ã tiÕp cËn m« h×nh kinh tÕ thÞ trêng ®Þnh híng x· héi chñ nghÜa ë ViÖt Nam. §ång thêi làm rõ những tác động của kinh tế thị trường đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Sơn La trong những năm gần đây và đưa ra phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố hiện nay. 4 NhiÖm vô nghiªn cøu - Thu thËp tμi liÖu cã liªn quan ®Õn ®Ò tμi nghiªn cøu. - Nghiªn cøu lÝ thuyÕt cña kinh tÕ thÞ trêng ®Þnh híng x· héi chñ nghÜa ë ViÖt Nam. - Làm rõ tác động của kinh tế thị trường đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Sơn La trong những năm gần đây. - KÕt luËn vμ ®a ra đề xuÊt cô thÓ. 4. §èi tîng và phạm vi nghiªn cøu của đề tài Đối tượng nghiên cứu của đề tài Tác động của kinh tế thị trường đến sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Sơn La hiện nay. Ph¹m vi nghiªn cøu của đề tài Khảo sát thực tế tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Sơn La trong thời gian từ Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Sơn La lần thứ XVII đến nay. 5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài - Ph ¬ng ph¸p nghiªn cøu tài liệu + Cô thÓ lμ nghiªn cøu lý thuyÕt vÒ kinh tÕ thÞ trêng theo ®Þnh híng x· héi chñ nghÜa. + Sau khi ®· thu thËp ®îc tμi liÖu tham kh¶o tiÕn hμnh ®äc vμ ph©n tÝch c¸c néi dung cã liªn quan ®Õn ®Ò tμi vμ tæng hîp néi dung cô thÓ. - Ph ¬ng ph¸p phân tích tổng hợp + S¾p xÕp néi dung vμ tæng hîp. + Ph©n tÝch c¸c néi dung ®· s¾p xÕp, chØnh söa vμ ®a vμo hÖ thèng cÊu tróc ®Ò tμi. - Ph ¬ng ph¸p thống kê Điều tra thực tế tác động của kinh tế thị trường đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Sơn La trong những năm gần đây. Thông qua việc thu thập những số liệu có liên quan. 6. §ãng gãp cña ®Ò tμi Đề tài là tài liệu tham khảo cho sinh viên nghành kinh tế muốn nghiên cứu sâu hơn về kinh tế thị trường và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Sơn La.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trờn cơ sở nhận thức đỳng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xó hội và con đường đi lờn chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam ( thỏng 12 năm 1986 ) đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện cú hiệu quả hơn cụng cuộc xõy dựng chủ nghĩa xó hội Đại hội
đó quyết định chuyển từ nền kinh tế kế hoạch húa tập chung ( nền kinh tế đó kỡm hóm sự phỏt triển của xó hội trong một thời gian khỏ dài ) sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa là
mụ hỡnh kinh tế tổng quỏt mà nước ta đó lựa chọn trong thời kỡ đổi mới Đõy là
sự vận dụng sỏng tạo những kinh nghiệm trong nước và thế giới về phỏt triển kinh tế thị trường, là sự kết tinh trớ tuệ của toàn Đảng trong quỏ trỡnh lónh đạo nhõn dõn xõy dựng đất nước Mục đớch của kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa là phỏt triển lực lượng sản xuất, phỏt triển kinh tế, xõy dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xó hội, nõng cao đời sống của nhõn dõn Phỏt triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xõy dựng quan hệ sản xuất mới, tiờn tiến
Sau 18 năm đổi mới chỳng ta đó đạt được rất nhiều thành tựu, nền kinh tế nước ta thoỏt khỏi tỡnh trạng trỡ trệ, luụn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức cao
Ngày nay với xu h-ớng toàn cầu hóa, kinh tế thị tr-ờng đã phát triển phổ biến trên phạm vi toàn thế giới Có thể nói rằng bất cứ một quốc gia nào khi
đứng tr-ớc vòng xoáy kinh tế cũng lựa chọn cho mình một mô hình phát triển kinh tế thị tr-ờng ngang tầm với các n-ớc trong khu vực và thế giới Cùng với xu h-ớng hội nhập quốc tế, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Đặc biệt tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định mô hình kinh tế tổng quát ở n-ớc ta là: Kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa thực chất là sự phỏt triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị tr-ờng có sự quản lí của nhà n-ớc theo định h-ớng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị tr-ờng đã tác
động đến tất cả các vùng miền của đất n-ớc từ đồng bằng đến miền núi, từ thành thị tới nông thôn, trong đó có tỉnh Sơn La núi chung và thành phố Sơn La núi riờng
Thực tiễn những năm đổi mới n-ớc ta đã chứng minh rằng việc chuyển sang kinh tế thị tr-ờng là hoàn toàn đúng đắn Những thành tựu mà chúng ta đã đạt
đ-ợc về kinh tế không thể không nói đến vai trò của kinh tế thị tr-ờng Sự tồn tại
Trang 2kinh tế thị tr-ờng không những là yếu tố khách quan mà còn là động lực thúc
đẩy sự phát triển sản xuất, góp phần quyết định đảm bảo tăng tr-ởng kinh tế
Đại hội IX của Đảng xác định những nội dung lớn trong việc xây dựng nền kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa ở n-ớc ta trong những năm tới là: Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị tr-ờng, đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà n-ớc Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng b-ớc hoàn thiện các loại thị tr-ờng theo định h-ớng xã hội chủ nghĩa Cùng với sự phát triển sản xuất hàng hóa thị tr-ờng ngày càng đa dạng, ngày nay với sự tiến
bộ của công nghệ thông tin và th-ơng mại điện tử, không gian thị tr-ờng là vô tận Do vậy tồn tại nhiều loại thị tr-ờng trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở việt nam là một yếu tố khách quan có ý nghĩa chiến l-ợc lâu dài và to lớn về nhiều mặt
Kế thừa t- duy của đại hội IX, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa [6,77]
Thực hiện chủ tr-ơng đ-ờng lối của Đảng, thành phố Sơn La là thành phố trực thuộc tỉnh còn gặp rất nhiều khó khăn, nh-ng trong những năm gần đây cùng với xu thế phát triển của đất n-ớc ta, thành phố đã có nhiều b-ớc tiến đáng
kể về mọi mặt, đặc biệt là sự chuyển biến rõ rệt về kinh tế – văn húa, xã hội, đ-a tỉnh Sơn La núi chung và thành phố Sơn La núi riờng phát triển hòa nhập với các tỉnh trong và ngoài khu vực, đáp ứng đ-ợc nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-ớc
Tuy nhiờn bờn cạnh những mặt tớch cực đú, kinh tế thị trường cũn để lại những tỏc động tiờu cực, cú ảnh hưởng đến sự phỏt triển kinh tế - xó hội của thành phố Sơn La như: sự phõn húa giàu ngốo, tỏc động đến lối sống, văn húa
đạo đức….Chớnh vỡ vậy tỏc giả lựa chọn đề tài “Tỏc động của kinh tế thị trường đến sự phỏt triển kinh tế - xó hội của thành phố Sơn La” nhằm vận
dụng kiến thức đó học vào thực tiễn của thành phố Sơn La Từ đú đề xuất những giải phỏp để phỏt huy những mặt tớch cực và hạn chế những mặt tiờu cực của kinh tế thị trường đối với sự phỏt triển kinh tế - xó hội ở thành phố Sơn La hiện nay
2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu của đề tài
Kinh tế thị tr-ờng có tác động mạnh mẽ đến cuộc sống con ng-ời và tỡnh hình phát triển kinh tế của đất n-ớc Kinh tế thị tr-ờng cũng làm cơ sở tạo ra mối quan hệ của nhiều n-ớc trên thế giới và làm cho con ng-ời trở nên năng động hơn, nó gắn kết đ-ợc nhiều loại thị tr-ờng với nhau Nó tác động đến mọi mặt
Trang 3của đời sống xã hội trong đó có tác động đến việc xây dựng và phát triển kinh tế Kinh tế thị tr-ờng có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam,
đặc biệt trong thời kì quá độ lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Nó làm tiền đề đem
đến sự thành công nếu biết chăm lo xây dựng nguồn lực đủ khả năng để điều hành, nó sẽ trở thành một động lực quan trọng để phát triển kinh tế đất n-ớc Vì vậy có nhiều tác giả, tác phẩm nghiên cứu về kinh tế thị trường như: “ Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường của các nước đang phát triển ’’ của tác giả Hoa Hữu Lân
“Một số vấn đề kinh tế xã hội trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ’’ của tác giả Vũ Hồng Tiến
“Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa ở Việt Nam ’’của tỏc giả Mai Hữu Thực
“Vai trũ của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa ’’của Giỏo Sư - Tiến Sĩ Chu Văn Cấp
“Xõy dựng kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa ở Việt Nam ’’ của tỏc giả Nguyễn Nhõm
Thạc Sĩ Nguyễn Tấn Hựng: “ Kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa mõu thuẫn và phương hướng giải quyết ’’
Hay: “ Trong cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ’’
“ Tỏc động của điều kiện khỏch quan và nhõn tố chủ quan đối với quỏ trỡnh xõy dựng nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa’’
Tuy nhiên vẫn ch-a có nghiên cứu nào đề cập đến một cách cụ thể về vấn
đề tỏc động của kinh tế thị trường đến sự phỏt triển kinh tế - văn húa, xó hội ở thành phố Sơn La Vì thế tác giả mong đ-ợc đúng góp một phần nhỏ bé trong việc luận giải vấn đề trên
3 Mục đớch và nhiệm vụ nghiờn cứu của đề tài
Mục đớch nghiên cứu
Làm sáng tỏ vấn đề lí luận cơ bản về kinh tế thị tr-ờng, từ đó tiếp cận mô hình kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Đồng thời làm rừ những tỏc động của kinh tế thị trường đến sự phỏt triển kinh tế - xó hội ở thành phố Sơn La trong những năm gần đõy và đưa ra phương hướng, nhiệm vụ và giải phỏp đối với sự phỏt triển kinh tế - xó hội của thành phố hiện nay
Trang 4Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết của kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam
- Làm rừ tỏc động của kinh tế thị trường đến sự phỏt triển kinh tế - xó hội ở
thành phố Sơn La trong những năm gần đõy
- Kết luận và đ-a ra đề xuất cụ thể
4 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiờn cứu của đề tài
Tỏc động của kinh tế thị trường đến sự phỏt triển kinh tế - xó hội của thành
phố Sơn La hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khảo sỏt thực tế tỡnh hỡnh kinh tế - xó hội của thành phố Sơn La trong thời
gian từ Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Sơn La lần thứ XVII đến nay
5 Phương phỏp nghiờn cứu của đề tài
- Ph-ơng pháp nghiên cứu tài liệu
+ Cụ thể là nghiên cứu lý thuyết về kinh tế thị tr-ờng theo định h-ớng xã
hội chủ nghĩa
+ Sau khi đã thu thập đ-ợc tài liệu tham khảo tiến hành đọc và phân tích
các nội dung có liên quan đến đề tài và tổng hợp nội dung cụ thể
Điều tra thực tế tỏc động của kinh tế thị trường đến tỡnh hỡnh phỏt triển
kinh tế - xó hội của thành phố Sơn La trong những năm gần đõy Thụng qua việc
thu thập những số liệu cú liờn quan
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài là tài liệu tham khảo cho sinh viờn nghành kinh tế muốn nghiờn cứu
sõu hơn về kinh tế thị trường và tỏc động của nú đối với sự phỏt triển kinh tế - xó
hội ở thành phố Sơn La
Trang 57 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1 : Lý luận chung về kinh tế thị tr-ờng và mô hình kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Ch-ơng 2 : Tỏc động của kinh tế thị trường đến sự phỏt triển kinh tế - xó hội của thành phố Sơn La hiện nay
Ch-ơng 3 : Định hướng và giải phỏp phỏt triển kinh tế - xó hội của thành phố Sơn La dưới tỏc động của kinh tế thị trường
Trang 6CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ MÔ HÌNH KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
1.1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.1.1 Định nghĩa về kinh tế thị trường
Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời đó là quá trình thay thế nhau của các phương thức sản xuất xã hội Nhưng trong xã hội từ khi sản xuất hàng hoá ra đời, hay trong bất kỳ một xã hội nào cũng đều phải giải quyết ba vấn đề cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Giải quyết vấn đề này có hai kiểu tổ chức kinh tế xã hội đó là kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá ( giai đoạn cao của nó là kinh tế thị trường)
Kiểu tổ chức kinh tế tự nhiên là hình thức kinh tế đầu tiên trong xã hội loài người, đó là trong quá trình sản xuất ra sản phẩm không phải để bán, trao đổi,
mà sản xuất ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của cá nhân người sản xuất trong nội bộ đơn vị kinh tế nhất định Người sản xuất quyết định sản xuất ra bao nhiêu theo chính yêu cầu của mình, gắn với điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán cổ truyền, mang tính chất tự cấp, tự túc, trình độ phân công lao động xã hội còn thấp kém và giản đơn, sản xuất có tính khép kín theo từng vùng, địa phương
và theo lãnh thổ Nền kinh tế tự nhiên được duy trì và phát triển phổ biến trong
xã hội công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến
Kinh tế hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế cao hơn được ra đời từ kinh tế tự nhiên trên cơ sở của hai điều kiện: Sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau Phân công lao động xã hội đó là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, là sự chuyên môn hoá sản xuất, tức là mỗi người chỉ sản xuất ra loại sản phẩm tạo ra cơ sở trao đổi hàng hoá, làm cho người sản xuất hàng hoá phụ thuộc nhau Sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất là sự tách biệt về sở hữu
Quyền sở hữu hay tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất là sự tách rời giữa quyền sử dụng sản phẩm Đó chính là hình thức kinh tế trong đó người sản xuất không phải là do nhu cầu trực tiếp của mình mà nhằm để trao đổi, để bán trên thị trường Vì vậy số lượng và sự đa dạng của sản phẩm được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi, mua bán trên thị trường Kinh tế hàng hoá
Trang 7ra đời từ rất sớm và đã từng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Hình thức đầu tiên của nó là kinh tế hàng hoá giản đơn Đó là kiểu sản xuất do những người nông dân, thợ thủ công tiến hành dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và lực lượng lao động của chính bản thân người sản xuất, họ trực tiếp trao đổi sản phẩm với nhau trên thị trường
Quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển mạnh trong thời kỳ tan rã của phương thức sản xuất phong kiến quá độ sang chủ nghĩa tư bản Đồng thời đó cũng chính
là điểm xuất phát của quá trình chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn lên kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa Kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa là hình thức sản xuất hàng hoá cao nhất, phổ biến nhất trong lịch sử, dựa trên sự tách rời tư liệu sản xuất với sức lao động Hay nói cách khác, đặc điểm của nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa là dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê Kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa đã trải qua giai đoạn: kinh tế thị trường tự do (cổ điển) và kinh tế thị trường hiện đại Giai đoạn kinh tế thị trường tự do (cổ điển) là dựa trên cơ sở kỹ thuật cơ điện gắn liền với nền văn minh công nghiệp; tồn tại hình thức tư hữu nhỏ và tư hữu lớn về tư liệu sản xuất Cơ cấu kinh tế nông - công - thương nghiệp tiến tới công - nông nghiệp và dịch vụ; vận động theo cơ chế thị trường tự điều chỉnh Giai đoạn kinh tế thị trường hỗn hợp (hiện đại) dựa trên kỹ thuật điện tử tin học gắn liền với văn minh hậu công nghiệp hay văn minh trí tuệ; tồn tại các hình thức sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp, dựa trên
cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ và nông nghiệp; vận động theo cơ chế kinh
tế hỗn hợp, cơ chế thị trường (bàn tay vô hình) và sự quản lí vĩ mô của nhà nước (bàn tay hữu hình)
Như vậy với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, kinh tế giản đơn phát triển thành kinh tế hàng hoá phát triển hay kinh tế thị trường
Nói như trên không có nghĩa là đồng nhất kinh tế thị trường với sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa Khi nói sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa là muốn nhấn mạnh mặt xã hội của sản xuất, tính chất của nền sản xuất, còn nói đến kinh
tế thị trường là muốn nhấn mạnh mặt tự nhiên của sản xuất dựa trên trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Ngày nay dưới sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, kinh tế hàng hoá phát triển phổ biến trên phạm vi toàn thế giới, sản xuất hàng hoá tiếp tục tồn tại phát triển dưới chủ nghĩa xã hội (CNXH) Đặc điểm của nền sản xuất hàng hoá phát triển cao (hay kinh tế thị trường) xã hội chủ nghĩa là dựa trên cơ sở người lao động làm chủ xã hội về tư liệu sản xuất; thực hiện tổ chức và quản lí
Trang 8sản xuất thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước dân chủ của dân, do dân, vì dân, nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Đó là nền kinh tế thị trường không dựa trên cơ sở chế độ người bóc lột người vì mục tiêu sản xuất kinh doanh, nhằm thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội và văn minh Như vậy sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, tồn tại khách quan; cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng [3,97]
Tóm lại: Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá
nó có sự khác biệt với kinh tế tự nhiên ở trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất, trình độ phân công lao động xã hội và cách tổ chức kinh tế xã hội Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, trong đó sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất gắn chặt với thị trường Quan hệ kinh tế giữa người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm biểu hiện qua thị trường, qua việc mua bán sản phẩm lao động của nhau Việc sản xuất ra những hàng hoá gì, cần có những dịch vụ nào đều xuất phát từ nhu cầu của thị trường Mọi sản phẩm đi vào sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng đều thông qua thị trường Quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển, mở rộng và phổ biến trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh Lực lượng sản xuất xã hội ngày càng phát triển, trình độ phân công lao động xã hội ngày càng cao thì thị trường ngày càng mở rộng, Hệ thống thị trường quốc gia trở nên thống nhất
1.1.2 Điều kiện hình thành kinh tế thị trường
Để hình thành kinh tế thị trường cần phải có những điều kiện sau:
Thứ nhất: Phải tồn tại kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là giai đoạn phát
triển cao của kinh tế hàng hoá, nên những điều kiện để phát triển kinh tế hàng hoá chính là điều kiện để phát triển kinh tế thị trường Vì vậy đẩy mạnh quá trình phân công lao động xã hội tức đưa người lao động vào từng ngành nghề cụ thể và có sự tách biệt giữa những người lao động với nhau, làm cho người lao động phụ thuộc nhau, đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá các loại hình sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm được coi là điều kiện để phát triển kinh tế thị trường
Thứ hai: Phải dựa trên cơ sở tự do kinh tế, tự do sản xuất kinh doanh Tức
là trong nền kinh tế có nhiều người sản xuất một loại sản phẩm và ngược lại mỗi đơn vị sản xuất tiêu dùng cũng cần nhiều loại sản phẩm hàng hoá khác nhau Nên các chủ thể kinh tế được tự do lựa chọn cho mối quan hệ hàng hoá giữa các
Trang 9cho quá trình giải phóng sức sản xuất và điều hoà lợi ích giữa người mua và người bán Sự tự do kinh tế còn được thể hiện tập trung qua giá cả hình thành trên thị trường tuân theo sự chi phối của các quy luật kinh tế của sản xuất và lưu thông hàng hoá, như quy luật cung - cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường việc trao đổi hàng hoá theo giá cả thị trường giữa người mua và người bán là sự gặp gỡ của cung và cầu, là biểu hiện tác động của quy luật giá trị Nói đến thị trường là phải nói đến tự do cạnh tranh, hay nói đúng hơn cạnh tranh là môi trường của kinh tế thị trường Cạnh tranh đòi hỏi người sản xuất phải năng động, tích cực, nhạy bén, phải thường xuyên đổi mới
kỹ thuật công nghệ và phương pháp tổ chức sản xuất để đạt được hiệu quả cao nhất
Thứ ba: Nền kinh tế phải đạt đến một trình độ nhất định, được thể hiện ở sự
phát triển các ngành kinh tế thuộc hệ thống cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, cùng với hệ thống tiền tệ, phương tiện để lưu thông hàng hoá Sự tăng cường sức mạnh của các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp, cùng các ngành sản xuất vật chất khác khẳng định sự chiến thắng của kinh tế thị trường đối với sản xuất nhỏ Dựa trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, quá trình tích tụ và tập trung sản xuất diễn ra nhanh chóng, cơ cấu kinh tế có sự biến đổi to lớn, sự phát triển của thị trường được mở rộng, lĩnh vực trao đổi không còn ở mức hạn hẹp trong từng vùng mà hình thành thị trường thống nhất trong phạm vi cả nước Hệ thống các thị trường sản phẩm, tư liệu sản xuất, sức lao động, tiền tệ… được xác lập và hoạt động đồng bộ Giá trị của đồng tiền ổn định, khối lượng tiền tệ đủ nhu cầu cần thiết cho việc lưu thông hàng hoá, có hệ thống dịch vụ tiền tệ ( ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng, thị trường ngoại tệ, thị trường chứng khoán…) là vô cùng cần thiết để nền kinh tế vận động trôi chảy Đồng thời hệ thống lưu thông hàng hoá, phương tiện chuyên chở, kho tàng, dịch vụ, tư vấn bán hàng, quảng cáo, đại lí, kiểm tra chất lượng…là không thể thiếu được
Tóm lại: Kinh tế thị trường chỉ có thể được xác lập và phát triển trên cơ sở
mở rộng và làm sâu sắc không ngừng những điều kiện đó
1.1.3 Một số mô hình phát triển kinh tế thị trường ( KTTT)
Trong lịch sử hình thành và phát triển của KTTT có rất nhiều mô hình phát triển KTTT khác nhau, từ những mô hình phát triển tuân theo quy luật, cho đến những mô hình không tuân theo quy luật, hay sự tự do điều tiết của KTTT Ngày nay KTTT đang phát triển mạnh mẽ và tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới Để điều tiết nền kinh tế tránh khỏi sự khủng hoảng buộc phải có sự quản lí
Trang 10của Nhà nước bằng chính sách kinh tế vĩ mô, vì lẽ đó KTTT có sự quản lí của Nhà nước ra đời Do vậy có các mô hình sau:
Các mô hình phát triển KTTT trong lịch sử
Lịch sử hình thành và phát triển KTTT có thể khái quát thành hai kiểu mô hình phát triển: phát triển "tuần tự" và phát triển " rút ngắn"
Mô hình KTTT phát triển tuần tự:
Mô hình KTTT phát triển tuần tự là mô hình được thực hiện ở các nước phát triển sớm ở phương Tây, điển hình như ở Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Mĩ…Mô hình này phát triển qua hai bước, gắn với hai giai đoạn cơ bản: KTTT
tự do và KTTT hiện đại
Trong giai đoạn phát triển KTTT tự do: nền kinh tế thị trường dân tộc được hình thành, diễn ra theo tinh thần tự do, tức là giai đoạn này Nhà nước không can thiệp vào KTTT, yếu tố quyết định việc chuyển kinh tế hàng hoá giản đơn lên KTTT tự do là phát triển công nghiệp Đặc biệt giai đoạn này KTTT tự do kéo dài ở các nước phương Tây từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX
Trong giai đoạn phát triển KTTT hiện đại diễn ra từ những năm 50 của thế
kỉ XX đến nay, nó ra đời gắn với sự điều tiết kinh tế của Nhà nước vào KTTT, thị trường thế giới đã hình thành, nền KTTT của mỗi nước đã trở thành một bộ phận gắn bó hữu cơ với nền KTTT thế giới Kinh tế dịch vụ phát triển mạnh có
xu hướng độc lập tương đối và ngày càng chiếm ưu thế so với ngành, nền kinh
tế sản xuất vật chất; xã hội hậu công nghiệp gắn với nền văn minh trí tuệ ( hay văn minh tin học đang phát triển mạnh)
Để thực hiện mô hình kinh tế thị trường rút ngắn những nước này do đã biết vận dụng mọi : " lợi thế" và " cơ chế" của mình là những nước đi sau trong bối cảnh của thời đại để tiến nhanh, rút ngắn quá trình phát triển, đuổi kịp và vượt các nước phát triển đi trước Sở dĩ họ có thể làm như vậy là do họ biết kế thừa thành tựu của nhân loại vận dụng vào tình hình của đất nước Những nước thực hiện thành công mô hình KTTT rút ngắn có đủ khả năng " nội sinh hoá các yếu tố ngoại sinh" và biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Trang 11Căn cứ vào quá trình phát triển trong mô hình KTTT phát triển rút ngắn người ta còn chia cụ thể hơn thành công mô hình KTTT phát triển rút ngắn cổ điển và mô hình KTTT phát triển rút ngắn hiện đại Sự phân chia này gắn liền với điều kiện lịch sử cụ thể Nhật Bản thuộc dạng mô hình KTTT rút ngắn cổ điển, còn các nước công nghiệp mới ( NIC) ở Châu Á: Đài Loan, Hồng Kông, Singapo, Hàn Quốc…thuộc dạng mô hình KTTT phát triển rút ngắn hiện đại Hai mô hình này có những điều kiện khác biệt căn bản ở chỗ: Nhật Bản lấy sản xuất ở trong nước sau đó tiêu thụ ở nước ngoài làm nội dung chủ yếu; dựa vào nguồn vốn trong nước và trên cơ sở của nông nghiệp để công nghiệp hoá…Trái lại các nước công nghiệp mới ở Châu Á biết lợi dụng nguồn lực bên ngoài, tức
là sức mạnh của thế giới thông qua hoạt động của công ty xuyên quốc gia tiến hành mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tập trung hướng về xuất khẩu hàng hoá nên rút ngắn được thời gian so với Nhật Bản
Một số mô hình KTTT có sự quản lí của Nhà nước
Trên cơ sở của tiến trình phát triển các mô hình KTTT đã diễn ra trong lịch
sử, mỗi nước có một thế mạnh cụ thể từng thời đại, đặc điểm kinh tế - xã hội truyền thống của dân tộc…để xây dựng những mô hình kinh tế phù hợp Chẳng hạn mô hình KTTT tự do hỗn hợp của Mỹ và nước Bắc Mỹ; mô hình KTTT ở các nước Bắc Âu mà điển hình là Thụy Điển; mô hình KTTT xã hội của cộng hoà liên bang Đức; mô hình KTTT cộng đồng nhiều tầng của Nhật; mô hình KTTT xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc…
Các mô hình KTTT nói trên của các nước đã thành công nhất định trong việc tổ chức nền KTTT có sự quản lí của Nhà nước Điều đó chứng tỏ: Về nguyên tắc Nhà nước có thể can thiệp vào thị trường nhưng không có mô hình KTTT nào chung có thể áp dụng cho tất cả các quốc gia trên toàn thế giới Căn
cứ vào điều kiện tình hình cụ thể, các nước khác nhau tìm ra cách tiếp cận với nền KTTT riêng để can thiệp vào thị trường một cách có hiệu quả, định hướng nền kinh tế đến mục tiêu mong muốn trên cơ sở tôn trọng các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường
1.2 Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.2.1 Cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 12Do vậy cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam được thể hiện như sau:
Phân công lao động xã hội với tính chất là cơ sở chung của sản xuất hàng hoá chẳng những không mất đi, mà trái lại còn được phát triển cả về chiều rộng
và chiều sâu Phân công lao động trong từng khu vực, từng địa phương cũng càng ngày càng phát triển
Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở tính phong phú, đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường Trong nền kinh tế nước ta, tồn tại nhiều hình thức sở hữu đó là sở hữu toàn dân,
sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân ( gồm sở hữu cá thể, tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân),
sở hữu hỗn hợp Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập, có lợi ích riêng, quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hoá - tiền tệ
Thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể tuy cùng dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định, có quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh, lợi ích riêng Mặt khác các đơn vị kinh tế còn có sự khác nhau về trình độ kỹ thuật công nghệ, về trình độ tổ chức quản lí nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau
Quan hệ hàng hoá tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế đang phát triển ngày càng sâu sắc, vì mỗi nước là một quốc gia riêng biệt, là người làm chủ đối với hàng hoá đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới, sự trao đổi ở đây phải theo nguyên tắc ngang giá
Như vậy, phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là một tồn tại tất yếu khách quan không thể lấy yếu tố chủ quan mà xoá bỏ được nó
1.2.2 Tác dụng to lớn của sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam
Nền kinh tế nước ta bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, vì vậy sản xuất hàng hóa phát triển sẽ phá vỡ dần kinh
tế tự nhiên và chuyển thành nền kinh tế hàng hóa, thúc đẩy sự xã hội hóa sản xuất
Vì vậy việc phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam có những tác dụng to lớn như sau:
Kinh tế hàng hoá tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Do cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá, buộc mỗi chủ thể sản xuất phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất làm cho năng xuất lao
Trang 13động tăng, làm giảm chi phí sản xuất đến mức thấp nhất, nhờ đó có thể cạnh tranh được về giá cả, đứng vững trong cạnh tranh Quá trình đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng xuất lao động xã hội
Kích thích tính năng động, sáng tạo của các chủ thể kinh tế, kích thích việc nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tăng khối lượng hàng hoá và dịch vụ, làm cho sản xuất gắn với tiêu dùng Kinh tế thị trường chịu sự chi phối của quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu, buộc mỗi người sản xuất tự chịu trách nhiệm về hàng hoá mình làm ra Mỗi người sản xuất đều chịu sức ép buộc phải quan tâm tới sự tiêu thụ trên thị trường, sao cho sản phẩm của mình được xã hội thừa nhận
và cũng từ đó họ mới có thu nhập
Thúc đẩy phân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất vì thế mà phát huy được tiềm năng, lợi thế của từng vùng, của đất nước để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, tạo điều kiện ra đời nền sản xuất lớn xã hội hóa cao; đồng thời chọn lọc những nhà sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ, đội ngũ lao động lành nghề đáp ứng nhu cầu của đất nước
Phát triển kinh tế thị trường làm cho lực lượng sản xuất phát triển, sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người Như vậy, phát triển kinh tế thị trường đối với nước ta là một tất yếu kinh tế, một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế Đó là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng, việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế thị trường của Đảng là hoàn toàn đúng đắn
Nước ta đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế hàng hoá Mô hình kinh tế của Việt Nam được xác định là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Hiện nay nền kinh tế thị trường của nước ta còn ở trình độ kém phát triển bởi lẽ cơ sở vật chất kĩ thuật còn lạc hậu, thấp kém, nền kinh tế ít nhiều còn mang tính tự cấp, tự túc Tuy nhiên nước ta không lặp lại nguyên vẹn tiến trình kinh tế thị trường tự do, rồi kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển lên kinh tế thị trường tự do, rồi chuyển lên thị trường hiện đại mà cần phải và có thể xây dựng
Trang 14nền kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa theo kiểu rút ngắn Điều này có nghĩa là phải đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất, trong một thời gian tương đối ngắn xây dựng được cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại nền kinh tế nước ta bắt kịp với trình độ phát triển chung của thế giới, đồng thời phải hình thành đồng bộ cơ chế thị trường có
sự quản lí của Nhà nước Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản lí vĩ mô và định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.3 Đặc trưng bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Những đặc trưng bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và IX, X, XI Nói đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là nền kinh tế của chúng ta không phải là nền kinh tế bao cấp, quản lí theo kiểu tập trung quan liêu nhưng
đó cũng không phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Bởi vì hiện nay trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nước ta còn có sự đan xen, đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có lại vừa chưa có đầy đủ các yếu tố của chủ nghĩa
xã hội Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam làm một kiểu
tổ chức kinh tế vừa dựa trên nguyên tắc, quy luật của kinh tế thị trường đó là
Một là: Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản xuất
kinh doanh
Hai là: Giá cả do thị trường quyết định, hệ thống thị trường được phát triển
đầy đủ và nó có tác dụng làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế
Ba là: Nền kinh tế vận động theo những quy luật vốn có của kinh tế thị
trường, sự tác động của các quy luật đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế
Bốn là: Nền kinh tế thị trường hiện đại thì còn có sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nước thông qua pháp luật kinh tế, kế hoạch, các chính sách kinh tế…
Mặt khác nền kinh tế thị trường ở Việt Nam dựa trên cơ sở và được dẫn dắt chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội Do đó kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có đặc trưng cơ bản sau:
Về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 15Trong nhiều đặc tính có thể dùng làm tiêu chí để phân biệt nền kinh tế thị trường của nước ta so với nền kinh tế thị trường khác phải nó đến mục đích chính trị, mục tiêu kinh tế - xã hội mà Nhà nước và nhân dân ta lựa chọn làm
định hướng chi phối sự phát triển kinh tế đó là: " Độc lập dân tộc phải gắn liền
với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh"
(Theo Đại hội XI)
Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là giải phóng lực lượng sản xuất, động viên nguồn lực trong và ngoài nước để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân để đi lên chủ nghĩa xã hội, không để cho nền kinh tế thị trường phát triển tự phát theo con đường tư bản chủ nghĩa, vì mục đích của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
là phục vụ cho lợi ích các nhà tư bản Ở nước ta thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng, lấy tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến
bộ và công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp gắn liền với xóa đói giảm ngèo
Trong nền kinh tế thị trường nước ta tồn tại ba loại hình sở hữu đó là: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Từ đó đã hình thành nhiều thành phần kinh tế, nhiều tổ chức sản xuất kinh doanh với các thành phần kinh tế là: Kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Các thành phần kinh tế nói trên tồn tại một cách khách quan và là những bộ phận cần thiết của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần là một tất yếu khách quan đối với nước ta Chỉ có như vậy chúng ta mới khai thác được mọi nguồn lực kinh tế vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của nhân dân
Do đó không chỉ củng cố và phát triển các thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu là thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể, mà còn phải khuyến khích các thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu phát triển, để hình thành nền kinh tế thị trường rộng lớn bao gồm các đơn vị kinh tế thuộc chế độ tư hữu, các đơn
vị kinh tế thuộc chế độ công hữu, các hình thức hợp tác liên doanh trong nước và nước ngoài…, các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau trước pháp luật, vừa hợp tác vừa cạnh tranh để phát triển
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, kinh tế Nhà nước giữa vai trò chủ đạo, việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vấn đề có tính nguyên
Trang 16tắc và là sự khác biệt có tính chất bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng tư bản chủ nghĩa Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nước ta quyết định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Bởi lẽ một chế độ xã hội đều có cơ sở tương ứng với nó, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới - xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập trong đó phân phối theo lao động là chủ yếu
Mỗi chế độ xã hội có chế độ phân phối tương ứng với nó Chế độ phân phối
do quan hệ sản xuất thống trị, trước hết là do quan hệ sở hữu quyết định Nhưng quan hệ phân phối, các hình thức thu nhập là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
Cả hai nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều có nhiều hình thức phân phối nhưng khác nhau ở chỗ kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa phân phối chủ yếu theo tư bản, phục vụ lợi ích tối đa của các nhà tư bản Tiền lương của công nhân dưới chủ nghĩa tư bản là giá cả sức lao động, người lao động làm thuê bị bóc lột Còn ở nước ta phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiều chế độ sở hữu cùng tồn tại: sở hữu toàn tập thể, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu do kết quả của sự xâm nhập giữa chúng Mỗi chế độ sở hữu có nguyên tắc phân phối tương ứng với nó vì thế trong thời kì quá độ tồn tại cơ cấu
đa dạng về hình thức phân phối thu nhập Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta tồn tại các hình thức phân phối thu nhập sau: phân phối theo lao động, phân phối theo tài sản đóng góp, phân phối theo giá trị sức lao động phân phối thông qua các quỹ phúc lợi tập thể và xã hội
Nước ta xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chứ không phải là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Chúng ta lấy phát triển kinh tế là phương tiện để đạt được mục tiêu cơ bản xây dựng xã hội chủ nghĩa thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh, con người được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột, có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện Vì vậy mỗi bước tăng trưởng kinh tế ở nước ta phải gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng
xã hội Việc phân phối thông qua các quỹ phúc lợi và tập thể có ý nghĩa quan trọng để thực hiện mục tiêu đó Nhưng trong điều kiện hiện nay muốn phát triển kinh tế phải huy động được vốn, phát huy được mọi tiềm năng của tầng lớp dân
cư Vì vậy thực hiện phân phối theo vốn, theo tài sản là nhằm thu hút mọi nguồn
Trang 17lực của xã hội vào phục vụ sản xuất, kinh doanh, khuyến khích làm giàu chính đáng Bên cạnh đó, Nhà nước cần quan tâm giúp đỡ một bộ phận dân cư còn nghèo, các gia đình thuộc diện chính sách, neo đơn…bằng các chính sách điều tiết thu nhập qua chế độ bảo hiểm, trợ cấp xã hội
Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng vận động theo yêu cầu của những quy luật vốn có của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh… giá cả do thị trường quyết định Thị trường có vai trò quyết định đối với việc phân phối các nguồn lực kinh
tế vào các ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Đồng thời phát huy vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để góp phần bảo đảm công bằng xã hội, vì sự phát triển dân chủ, văn minh
Trong điều kiện hiện nay hầu như tất cả các nền kinh tế của các nước trên thế giới đều có sự quản lí Nhà nước để sửa chữa một mức độ nào đó, những thất bại của thị trường Tức là cơ chế vận hành nền kinh tế của tất cả các nước đều là
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Nhưng điều khác biệt trong cơ chế vận hành của nước ta ở chỗ Nhà nước quản lí nền kinh tế không phải là nhà nước tư sản mà là Nhà nước xã hội chủ nghĩa - Nhà nước của dân, do dân, vì dân, đặt dưới sự lạnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Sự quản lí của Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm sửa chữa những thất bại của thị trường, thực hiện các mục tiêu xã hội nhân đạo mà bản thân cơ chế thị trường không thể làm được, đảm bảo kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vai trò quản lí của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là hết sức quan trọng, nó đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu quả cao, đặc biệt là bảo đảm công bằng
xã hội Không ai ngoài Nhà nước có thể giảm bớt sự chênh lệch giàu - nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường Một trong những biện pháp mà Nhà nước thực hiện đó là chính sách
xã hội Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển kinh tế xuất phát từ xã hội, nhằm đạt được mục tiêu xã hội, không chỉ giải phóng con người
về mặt kinh tế mà còn giải phóng con người về mặt xã hội, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển Đảng ta xác định tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội được thể hiện cả ở khâu phân phối hợp lí
tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và phát huy tốt năng lực của mình, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo Các vấn đề
Trang 18chính sách xã hội đều được giải quyết theo tinh thần xã hội hoá, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Nhà nước quản lí nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc kết hợp kế hoạch với thị trường Thị trường là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, nó tồn tại khách quan, tự vận động theo những quy luật vốn có của nó Còn kế hoạch hoá là hình thức thực hiện của tính kế hoạch, nó là sản phẩm chủ quan của chủ thể quản lí Kế hoạch và cơ chế thị trường là hai phương tiện khác nhau để phát triển điều tiết nền kinh tế Kế hoạch là sự điều chỉnh có ý thức của chủ thể quản lí đối với nền kinh tế, còn cơ chế thị trường là sự tự điều tiết của bản thân nền kinh tế
Sự kết hợp kế hoạch với thị trường được thực hiện ở cả tầm vi mô lẫn vĩ
mô Ở tầm vi mô, thị trường là căn cứ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh Thông qua sự biến động của quan hệ cung - cầu và giá cả thị trường các doanh nghiệp lựa chọn phương án sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai Cũng nhờ đó
mà các doanh nghiệp lựa chọn được cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư cho mình Thoát li yêu cầu của thị trường, các mục tiêu của kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không thực hiện được Ở tầm vĩ mô, mặc dù thị trường không phải là căn cứ duy nhất có tính quyết định, song kế hoạch Nhà nước cũng không thể thoát li khỏi tình trạng biến động của thị trường Thoát li thị trường,
kế hoạch hoá vĩ mô trở thành duy ý chí Kế hoạch hoá vĩ mô nhằm đảm bảo cân đối lớn, tổng thể của nền kinh tế như tổng cung, tổng cầu, sản xuất - tiêu dùng, hàng hoá - tiền tệ Kế hoạch hoá vĩ mô có thể tác động đến cung, cầu, giá cả để uốn nắn những lệch lạc của sự phát triển do sự tác động tự phát của thị trường gây ra thông qua đó mà hướng hoạt động của thị trường theo hướng của kế hoạch Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là nền kinh tế mở hội nhập
Đặc điểm này phản ánh sự khác biệt giữa nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng với nền kinh tế đóng, khép kín trước đổi mới, đồng thời phản ánh xu hướng hội nhập của nền kinh tế nước ta trong điều kiện toàn cầu hóa nền kinh tế
Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự phát triển của mỗi quốc gia trong sự phụ thuộc lẫn nhau Vì vậy, mở cửa nền kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới là tất yếu đối với nước ta Chỉ có như vậy mới thu hút được vốn, kĩ thuật công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí tiên tiến của các nước để khai thác tiềm
Trang 19năng thế mạnh của nước ta, thực hiện phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để xây dựng và phát triển kinh tế thị trường hiện đại theo kiểu rút ngắn
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc
tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển [4,199]
Như vậy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được xây dựng trên cơ sở cơ cấu kinh tế mở, thực hiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa dạng hoá và đa phương hoá các hình thức đối ngoại, gắn thị trường trong nước và thị trường khu vực vào thị trường thế giới, thực hiện những thông lệ trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhưng vẫn giữ vững được độc lập chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan hệ kinh tế đối ngoại Trong thời gian tới cần tiếp tục mở rộng đa dạng hoá, đa phương hoá quan
hệ kinh tế đối ngoại: có bước đi thích hợp hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới Phải đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại, chủ động và tích cực thâm nhập thị trường thế giới, mở rộng thị phần trên các thị trường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội để mở thị trường mới, cải thiện môi trường đầu tư và bằng nhiều hình thức thu hút vốn đầu
tư nước ngoài
Trang 20
CHƯƠNG 2 TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ SƠN LA HIỆN NAY
2.1 Đặc điểm chung về sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Sơn
La hiện nay
2.1.1 Thuận lợi
Thành phố Sơn La nằm ở tọa độ 21°15’ – 21°31’ Bắc và 103°45’ – 104°00’ Đông, cách Hà Nội khoảng 302km về phía Tây Bắc Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía nam giáp huyện Mai Sơn Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố với thành phố Điện Biên Phủ và thành phố Hòa Bình
Thành phố Sơn La rộng 324,93 km vuông Dân số là 107.282 người ( năm
2008 ) Thành phố có 7 phường là Quyết Tâm, Quyết Thắng, Tô Hiệu, Chiềng
Lề, Chiềng Sinh, Chiềng An, Chiềng Cơi và 5 xã gồm Chiềng Cọ, Chiềng Đen, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La
Thành phố Sơn La có một di tích lịch sử đáng chú ý, đó là bia văn của hoàng đế Lê Thái Tông tại cửa Động La Tháng 5 năm 1440, trên đường trở về sau khi dẫn quân chinh phạt vùng Tây Bắc thắng lợi, Lê Thái Tông đã nghỉ tại Động La và sáng tác bài thơ “ Quế Lâm Ngự Chế ’’ gồm 140 chữ Hán Di tích này được phát hiện vào năm 1965; năm 1992 được công nhận là di tích văn hóa lịch sử quốc gia Cách hang khoảng 200 mét là đền Quế Lâm tự thờ vua Lê Thái Tông mới được xây dựng vào năm 2001 Ngoài ra cũng phải kể đến di tích lịch
sử cách mạng nhà ngục Sơn La
Thành phố Sơn La là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa,giáo dục, y tế của cả tỉnh, có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi tạo điều kiện cho thành phố trong việc giao lưu thông thương hàng hóa, trao đổi thông tin kỹ thuật, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh Tại thành phố Sơn La
có trường Đại Học Tây Bắc, bệnh viện đa khoa khu vực 500 giường
Thành phố Sơn La có địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc dưới 250m chiếm tỷ lệ thấp Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh Độ cao bình quân từ 700 – 800 m so với mực nước biển
Trang 21Thành phố Sơn La gồm 12 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó đông nhất là dân tộc Thái và dân tộc Kinh, các dân tộc còn lại chiếm tỷ lệ thấp Mỗi dân tộc vẫn giữ nét đặc trưng riêng trong đời sống văn hóa truyền thống, hòa nhập làm phong phú, đa dạng bản sắc dân tộc, bao gồm văn học nghệ thuật, lịch
sử, tín ngưỡng
Bên cạnh những đặc điểm thuận lợi về vị trí địa lý, dâm số và tài nguyên của thành phố, thì không thể không nhắc đến những đặc điểm thuận lợi rất quan trọng khác, đó là: Nền kinh tế sản xuất hàng hóa phát triển mạnh mẽ thúc đẩy sự phân công lao động xã hội, đó là sự thể hiện của quá trình phát triển không ngừng và phổ biến của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Nền kinh tế thị trường trong những năm qua đã trở thành phổ biến và phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trên tất cả các vùng miền tổ quốc, từ đồng bằng đến miền núi, từ thành thị đến nông thôn đã trở thành điều kiện để giao lưu, hội nhập giữa các vùng trong cả nước
Hiện nay kinh tế thị trường đã tác dộng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội của tất cả các tỉnh thành trong cả nước, tỉnh Sơn La nói chung và thành phố Sơn La nói riêng cũng không nằm ngoài vòng tác động ấy Đó là sự phát triển phù hợp với quy luật kinh tế khách quan của đất nước trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội
Kết quả sự đổi mới trong những năm qua đã tạo được tiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội; cơ sở vật chất kĩ thuật được nâng lên rõ rệt; cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch đáng kể
Chính phủ sẽ tiếp tục có các cơ chế, chính sách ưu tiên cho việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng nông nghiệp, nông thôn; hỗ trợ các hộ ngèo, bản nghèo, xã nghèo… tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân
Việt Nam gia nhập WTO đã tạo ra nhiều cơ hội cho nền kinh tế nói chung
và cho thành phố Sơn La nói riêng: mở rộng thị trường, tăng cường thu hút đầu
tư, tiếp cận thông tin, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào rẻ hơn và mức độ cạnh tranh cao hơn, giao lưu mở rộng ra các thị trường trong nước để tiêu thụ hàng hóa Trong những năm gần đây hệ thống pháp luật, thể chế kinh tế thị trường ngày càng được hoàn thiện Nguồn đầu tư từ các nước vào Việt Nam rất lớn, kết hợp với việc chủ động đổi mới, cải cách thủ tục hành chính, tập trung đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp,
Trang 22điện, nước, phát triển nguồn nhân lực…, sẽ gia tăng nguồn thu mạnh mẽ đầu tư của thành phố trong thời gian tới
Hạ tầng trong và ngoài các khu dân cư và đô thị đã và đang được tập trung đầu tư, tạo điều kiện thu hút trực tiếp các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu
tư vào phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Sơn La
Một số mô hình chuyển đổi cơ cấu kinh tế năng động, hiệu quả được nhân rộng sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nhiều cơ chế chính sách mới được ban hành và đang đi vào cuộc sống, tạo môi trường và động lực phát triển cho các thành phần kinh tế, có chính sách ưu tiên mở rộng thị trường, mở rộng khu vực sản xuất hàng hóa Đặc biệt là triển khai các luật quan trọng như: luật đầu tư, luật doanh nghiệp…và các chính sách đặc thù của Trung ương đối với các tỉnh đặc biệt khó khăn đó là: ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật và mở rộng thị trường sản xuất Kinh doanh phù hợp với điều kiện của từng vùng Tạo môi trường năng động cho cơ chế thị trường phát triển và hoạt động có hiệu quả trong thời gian tới
Phát huy truyền thống đoàn kết, tự lực tự cường của Đảng bộ nhân dân các dân tộc thành phố đã nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn, khai thác tiềm năng, lợi thế, phát huy nội lực, huy động các nguồn lực để phát triển kinh tế - văn hóa,
xã hội; kinh tế duy trì phát triển toàn diện với tốc độ tăng trưởng khá, ổn định, cao hơn mức bình quân chung toàn tỉnh; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; chất lượng hiệu quả các nghành kinh tế được nâng lên; kinh tế đô thị và
đô thị phát triển khá mạnh, kết cấu hạ tầng kinh tế - văn hóa, xã hội được đầu tư,
mở rộng, thị xã Sơn La được Chính Phủ ban hành Nghị định số 98 công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh năm 2008 Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt và vượt kế hoạch; hoàn thành nhiệm vụ đón dân tái định cư thủy điện Sơn La Văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao; đã thực hiện tốt chủ trương gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, chú trọng quan tâm, chăm lo phát triển giáo dục – đào tạo Công tác đây dựng Đảng, hệ thống chính trị tiếp tục được lãnh đạo, chỉ đạo sát sao quyết liệt góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
2.1.2 Khó khăn
Tình hình biến động khó lường của kinh tế - chính trị các nước trên
thế giới và trong khu vực sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của Vệt Nam Cạnh tranh, nguy cơ mất thị trường, mặt trái của cơ chế thị trường xâm nhập từ các nước tư bản… sẽ là những nguy cơ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của
Trang 23Đối với thành phố Sơn La thì những khó khăn và thách thức đó là:
Nền kinh tế quy mô nhỏ, sản xuất còn lạc hậu, năng suất chất lượng chưa cao, khả năng cạnh tranh sản phẩm còn thấp kém ngay cả trên thị trường nội địa, chưa kể đến việc xuất khẩu sang thị trường bên ngoài Các nguồn lực tăng trưởng kinh tế còn hạn chế và chưa được khai thác có hiệu quả, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp
Khí hậu thành phố chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa
hè nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông khô lạnh, ít mưa Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 7,8,9 Do địa hình nghiêng dốc, nên vào các tháng này thường có lũ lụt, đất bị rửa trôi mạnh, bạc màu nhanh Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cộng với gió Tây khô nóng gây thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế đặc biệt sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp gặp rất nhiều khó khăn
Một số lĩnh vực văn hóa, xã hội chưa bắt nhịp phát triển theo xu thế chung của nền kinh tế nên còn nhiều yếu kém, đời sống vật chất của một bộ phận dân cư còn gặp nhiều khó khăn, nhiều nét văn hóa mới được tiếp thu chưa đúng mức làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội phức tạp, suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ và nhân dân trong thành phố, đặc biệt
là giới trẻ
Tình hình tiêu thụ nông sản hàng hóa vẫn còn khó khăn, giá cả không ổn định nên hạn chế khả năng đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo qui hoạch định hướng chung của nhà nước Chi phí sản xuất nông nghiệp còn cao, dẫn đến hiệu quả sản xuất cũng như thu nhập của nông dân đạt thấp
Các doanh nghiệp của thành phố nhìn chung chưa có chiến lược phát triển bền vững Thiết bị công nghệ của doanh nghiệp ngành công nghiệp quá lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu tiến trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, cũng như yêu cầu đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn thấp; số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển rất nhanh, nhưng thiếu quy hoạch định hướng về ngành nghề, quy mô vốn, lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh còn hạn chế
Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch và quản lý xây dựng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; đặc biệt là quản lý quy hoạch đô thị thực hiện chưa tốt, đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng thực hiện thiếu đồng bộ và còn bất cập Công tác quản