Lĩnh vực hoạt động: Sacombank hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng, được thực hiện tất cả các nghiệp vụ ngân hàng theo quy định của NHNN, bao gồm: - Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH
Đề tài: Phân tích tình hình tài chính và sự biến độn gíá cổ phiếu ngân hàng Sài Gòn – Thương Tín.
Giáo viên hướng dẫn: Bùi Thị Xuân Lớp: NHC-K7
Lê Thị Hồng Hạnh
Nguyễn Thị Thu Hà Ngô Phương Thảo Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trang 2I/G IỚI THIỆU CHUNG
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Thương Tín (Sacombank) được thành lập theo quyết định số 05/GP- UB ngày 03/01/1992 của Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh
và hoạt động theo Quyết định số 0006/NH-GP ngày 05/12/1991 của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam Sacombank chính thức đi vào hoạt động từ ngày 21/12/1991, trên
cơ sở chuyển thể Ngân hàng Phát triển kinh tế Gò Vấp và sáp nhập 03 Hợp tác xã tín dụng Tân Bình – Thành Công – Lữ Gia Trụ Sở chính của ngân hàng đặt tại 278 Nam Kỳ Khởi Ngiã, Quận 3, TP.HCM
Qua 15 năm hoạt động, Sacombank trở thành ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam Sacombank chính thức niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TPHCM ngày 12/07/2006 với số vốn vào khoảng 1.899 tỷ VND và đến ngày 31/12/2006 là 2.089 tỷ VND Giá trị vốn hóa thị trường của doanh nghiệp tính đến nay là 27.542,36 tỷ, đứng thứ 3 trên thị trường chí sau FPT và VNM với số lượng cổ phiếu đang lưu hành là :189,947,299
1 Thành phần sở hữu:
CĐ trong công ty 47,68%
CĐ ngoài công ty 52,31%
2 Lĩnh vực hoạt động:
Sacombank hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng, được thực hiện tất cả các nghiệp vụ ngân hàng theo quy định của NHNN, bao gồm:
- Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi;
- Tiệp nhận vốn đầu tư và phát triển của các tổ chức trong và ngoài nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác;
- Cho vay ngắn, trung và dài hạn;
- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá;
- Hùn vốn và liên doanh theo pháp luật;
- Làm dịch vụ thanh toán giữ các khách hàng;
- Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thanh toán quốc tế;
- Huy động vốn từ nước ngoài và các dịch vụ khác
3 Mạng lưới hoạt động:
Tại ngày 31/12/2006, Ngân hàng có 1 hội sở, 2 sở giao dịch, 47 chi nhánh và 99 phòng giao dịch trên toàn quốc Sacombank là ngân hàng cổ phần có mạng lưới chi nhánh rộng nhất hiện nay, có mặt ở 47/64 tỉnh thành phố, số lượng nhân viên lên đến 3806 người, có khoảng 8900 đại lý tại 222 ngân hàng của 88 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Trang 3Ngân hàng có 4 công ty con và 1 công ty liên doanh như sau :
S
T
T
Tên công ty Giấy phép hoạt
động
Lĩnh vực kinh doanh
Tỷ lệ sở hữu
1 Công ty TNHH Quản lý và khai
thác tài sản Sacombank
4104000053 Quản lý tài sản 100%
2 Công ty TNHH 1 thành viên
Cho thuê tài chính Ngân hàng
Sài Gòn Thương Tín
04/GP-NHNN Cho thuê tài
chính
100%
3 Công ty chứng khoán Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Thương Tín
4104000197 Chứng khoán 100%
4 Công ty kiều hối Sài Gòn
Thương Tín
90/QĐ-NHNN Chuyển tiền
kiều hối
100%
5 Công ty Quản lý quỹ đầu tư
chứng khoán Việt Nam
58/QĐ-UBCK Quản lý quỹ
đầu tư và tư vấn tài chính
51%
4 Sản phẩm dịch vụ:
Sacombank đã xây dựng được cho mình một danh mục sản phẩm khá đa dạng, tập trung chủ yếu vào các sảm phẩm phục vụ cho các cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngoài các dịch vụ truyền thống, Sacombank còn cung cấp các sảm phẩm và dịch vụ hiện đại như phone-banking, có sự liên kết sâu rộng với nhiều NH lớn khác tạo thành một liên minh thanh toán thẻ Đặc biệt, Sacombank có chi nhánh 8-3 dành riêng cho phái nữ với các loại tài khoản tiết kiệm như Âu Cơ, hay các khoản vay như “vay góp chợ” dành cho các tiểu thương, vay đi làm và học tập nước ngoài nước ngoài, …
II/ ph©n tÝch ngµnh
1 Phân tích vĩ mô ngành:
Kinh tế:
- Tỷ lệ tăng trưởng GDP của nước ta luôn ổn định, ở mức cao, trong năm 2006
là 8,2% Tỷ lệ lạm phát được giữ ở mức 6,5%, giá trị tiền tệ được giữ vững
- NHNN đã thể hiện vai trò của mình trong việc ổn định giá trị tiền tệ Chính sách tiền tệ đã có xu hướng thắt chặt với việc 3 lần thay đổi lãi suất cơ bản và cặp lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu cũng tăng lên tương ứng Điều này có thể làm tăng chi phí của các Ngân hàng và tiềm ẩn rủi ro lãi suất
Thị trường chứng khoán Việt Nam:
Lãi suất cơ bản
8.25
%
7.80
%
7.60
%
7.20
% 7.44
%
7.60
%
6.40%
6.80%
7.20%
7.60%
8.00%
8.40%
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Trang 4Toàn thị trường Cổ phiếu Chứng chỉ Trái phiếu Khác Giá trị niêm yết hiện tại
( triệu đồng) 73.406.818,12 17.139.131,12 1.000.000,00 400,00 0
Số chứng khoán niêm
yết hiện tại(ngàn CK)) 2.369.559,98 1.713.913,11 100.000,00 555.646,87 0 Niêm yết mới trong 1
năm qua 1.408.450,83 1.258.218,32 50.000,00 100.232,51 0
Niêm yết bổ sung trong
Nguồn www.vse.org.vn
- Thị trường tài chính ngày càng hoàn thiện với sự tăng trưởng đáng kinh
ngạc của thị trường chứng khoán tạo động lực cho sự phát triển của ngành Ngân hàng Sự phát triển của thị trường chứng khoán trong thời gian qua được WB đánh
giá là một trong 2 sự kiện nối bất nhất của Việt Nam Tổng mức vốn huy động qua cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, đấu giá cổ phần hoá trên 2 TTGDCK là khoảng 27,9 nghìn tỷ đồng năm 2006 tăng 3,93 lần so với năm 2005 TTCK có tổ chức phát triển nhanh về qui mô; tổng mức vốn hoá đến nay đã đạt mức 38% GDP, khoảng 22 tỷ USD so với 13,8 tỷ đô la (22,7% GDP) vào tháng 12-2006, nếu kể cả trái phiếu đạt mức 46% GDP; doanh nghiệp và Chính phủ đã sử dụng TTCK như một kênh huy động vốn đầu tư dài hạn cho nền kinh tế Bảng dưới đây thể hiện sự phát triển của thị trường trong 1 năm qua Số lượng cổ phiếu mới phát hành chiếm đến hơn 50%, trong
đó số lượng cổ phiếu mới chiếm đến 75%
Sự tăng trưởng này tạo ra một kênh huy động vốn rất lớn cho các ngân hàng Thực tế là trong thời gian qua, rất nhiều ngân hàng đã huy động được lượng vốn khổng lồ qua kênh này Các công ty chứng khoán cũng đem lại cho các ngân hàng một khoản lợi rất lớn
Hơn thế nữa, thị trường chứng khoán tạo ra cơ chế thanh lọc những công ty làm ăn không hiệu quả, giúp giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng Đây cũng là kênh huy động vốn trung và dài hạn , giảm bớt gánh nặng tín dụng cho các ngân hàng, và làm cho các ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn
Chính trị và pháp luật:
Nhằm đáp ứng đòi hỏi về quản lý đối với các hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng và có tính nghiệp vụ cao của một thị trường tài chính – tiền tệ trong tiến trình hội nhập, nhiều văn bản pháp lý đã được sửa đổi hoặc ban hành, điển hình là:
- Pháp lệnh Ngoại hối;
- Luật Công cụ chuyển nhượng;
- Nghị định 22/2006/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện TCTD;
- Nghị định 141/2006/NĐ-CP về mức vốn pháp định của các TCTD (thay thế Nghị định 82/1998/NĐ-CP)
Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của các TCTD phi ngân hàng cũng dần được hoàn thiện, nhiều qui định cụ thể được ban hành liên quan đến việc đổi mới cơ chế quản lý, hoạt động và nghiệp vụ của các NHTM NHNN đã xây dựng và ban hành các
Trang 5qui định pháp lý phù hợp với thông lệ quốc tế để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tài chính nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Trong thời gian tới, NHNN tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của các TCTD, như: nghị định mới về tổ chức và hoạt động của NHTM, nghị định về hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, nghị định về thanh toán tiền mặt Tiến tới xây dựng 4 luật về ngân hàng, bao gồm: Luật NHNN, Luật các TCTD, Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Giám sát an toàn hoạt động ngân hàng Trước hết, tập trung sửa đổi, xây dựng mới Luật NHNN và Luật các TCTD để có thể trình Quốc hội thông qua vào năm 2008
Một môi trường pháp lý ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế, mang tính đồng bộ cao sẽ giúp cho các ngân hàng hoạt động trong đó được thuận lợi hơn
Khoa học công nghệ:
Tiếp nối làn sóng đầu tư công nghệ diễn ra mạnh mẽ trong năm 2005, năm
2006, các ngân hàng bắt đầu bước vào hoàn thiện cơ bản và đưa ra các dịch vụ ứng dụng
Công nghệ thẻ ngày càng hiện đại và tiện ích Các dịch vụ Internet Banking, Home Banking, Mobile Banking đã trở nên phổ biến và khá thông dụng Ngay trong tháng đầu tiên của năm, “cơn sốt” công nghệ phần mềm T24 của Temenos có khả năng thực hiện tới 1.000 giao dịch/giây, cùng lúc cho phép tới 110.000 người truy cập và quản trị tới 50 triệu tài khoản đã được nhiều ngân hàng tiếp cận Lượng tiền các ngân hàng đổ vào cho hệ thống công nghệ cũng tập trung mạnh trong năm 2006 Sacombank đầu tư khoảng 4 triệu USD cho việc ứng dụng hệ thống Core Banking; VIB Bank cũng mất hàng triệu USD để hoàn thành dự án hệ thống ngân hàng đa năng SYMBOL do hãng System Access (Singapore) cung cấp;
MB cũng mạnh tay cho dự án ứng dụng công nghệ T24 và đưa Internet vào ứng dụng quản lý hệ thống; EAB không tiếc tiền đề đầu tư nghiên cứu những chiếc máy ATM thông minh…Các ngân hàng buộc phải lên đời công nghệ vì yêu cầu hội nhập, đặc biệt là cho thời “hậu WTO” Đó là một yêu cầu, nhưng gần nhất và vì mục đích xa hơn, các ngân hàng buộc phải đầu tư công nghệ, tăng cường dịch vụ để tăng thêm nguồn thu khi mà lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đang bị chia sẻ, bị hạn chế vì lãi suất cao khiến chi phí tăng nên giảm khả năng cạnh tranh của các NH… Cũng như trên thế giới, lợi nhuận từ phí dịch vụ cũng được các ngân hàng đặc biệt coi trọng không kém với lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính Công nghệ thẻ, thanh toán và gần đây là công nghệ quản lý tài chính doanh nghiệp, tài chính cá nhân đang và sẽ mang lại những nguồn thu lớn cho ngân hàng Đây được đánh giá
là những nguồn thu bền vững và sẽ mở rộng nhanh chóng trong tương lai
Văn hóa- xã hội:
Việt nam đang chuyển dần từ một nền kinh tế tiền mặt sang một nền kinh tế phi tiền mặt, số lượng điểm chấp nhận giao dịch bằng thẻ ngày càng nhiều, người dân cũng quen với việc sử dụng thẻ dù việc này thường chỉ dừng ở mức rút tiền, chuyển tiền.Điều nay tạo ra một cơ hội cho các ngân hàng phát triển các sản phẩm dịch vụ hiện đại
Bên cạnh đó, do mức thu nhập tăng lên, người dân có nhiều nhu cầu mua sắm,
du lịch và học tập ở nước ngoài…tạo điều kiện cho các ngân hàng phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế, các sảm phẩm cho vay tiêu dùng…
2 Phân tích vi mô ngành:
Trang 6 Sự cạnh tranh của các ngân hàng hiện hữu:
Hệ thống TCTD Việt nam hiện nay có 4 NHTM NN, 1 NHPT NN, 1 NHCS,
31 NHTMCP đồ thị, 4 NHTMCP nông thôn, 37 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 6
NH liên doanh, 44 VP đại diện, và hơn 900 quỹ TDND Như vậy, thị trường tài chính Việt nam khá là đông đúc và sự cạnh tranh diễn ra cũng khá khốc liệt Trên thị trường hiện nay, các NHTM NN chiếm ưu thế độc quyền trên thị trường, chiếm khoảng 73-75% thị phần huy động và cho vay, các NHTMCP chỉ chiếm 12-14% thị phần
Sự độc quyền còn thể hiện ở số lượng chi nhánh rất lớn với mạng lưới rộng NHNN&PT Nông Thôn số lượng chi nhánh cũng lên đến hơn 2000 chi nhánh và xây dựng đến chi nhánh cấp 4 ở các xã; Ngân hàng Ngoại Thương đã có hơn 27 chi nhánh cấp I, 45 chi nhánh cấp II và hơn 50 phòng giao dịch… trong khi đó Sacombank là NHTMCP lớn nhất cũng chỉ có160 điểm giao dịch
Thời gian qua, các NH cạnh tranh với nhau rất mạnh mẽ, chúng ta đã chứng những đợt quảng cáo rầm rộ, những phần thưởng tiết kiệm dự thưởng, mở tài khoản miễn phí…, đặc biệt là cuộc chạy đua lãi suất khốc liệt, làm cho mặt bằng lãi suất trên thị trường huy động cả nội tệ và ngoại tệ Tiền gửi VND đều tăng từ 0.12% đến 0.36%/năm và Trong năm qua, các ngân hàng vẫn tiếp tục cuộc chạy đua lãi suất, khiến cho mặt bằng lãi suất trên thị trường huy động cả nội tệ và ngoại tệ Tiền gửi VND đều tăng từ 0.12% đến 0.36%/năm, lãi suất USD và EUR cũng tăng 0.1%/ năm, như lãi suất huy động của Vietcombank:
Tiền Thời gian 3 Tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng
Các ngân hàng cũng đua nhau tăng vốn, sự tăng vốn nhanh nhất ở các NHTMCP: trong 1 năm vừa qua, tổng số vốn đã tăng khoảng 2,27 lần Cá biệt có những ngân hàng tăng vốn gấp đến 15 lần như ngân hàng Rạch Kiên Khi xét về lượng tăng vốn tuyệt đối thì phải kể đến An Bình (996 tỷ), Kỹ thương (882.34), Phương Nam (709.58 tỷ)… Không chịu thua kém, các NHTM NN cũng có những chiến lược để tăng vốn VCB đã cổ phần hóa, phát hành cố phiếu để tăng vốn BIDV cũng có cùng kế hoạch như vậy Agribank cũng đã phát hành trái phiếu dài hạn 10 và 15 năm để tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng
Trong cuộc chạy đua này, nếu NH nào không đủ mạnh sẽ bị thôn tính, phải sát nhập, tạo ra sự thanh lọc thị trường
Sự cạnh tranh từ bên ngoài:
Ở đây chúng ta thấy, các NH hiện nay có nguy cơ bị cạnh tranh bởi các chủ thể đang kinh doanh trên lĩnh vực khác muốn gia nhập thị trường này Theo quan điểm của NHNN và chính phủ hiện nay thì việc ra nhập này không được khuyến khích, điều này được thể hiện rất rõ ở bản dự thảo mà NHNN đưa ra Trong đó, các NHCP muốn được thành lập phải có trên 100 cổ đông, và ít nhất 3 cổ đông sáng lập, tổng quy mô tài sản từ 2.000 tỷ và vốn điều lệ là 500 tỷ đồng trở lên Để đảm bảo tính đại chúng của ngân hàng, mỗi cổ đông pháp nhân (tổ chức) và người có liên quan chỉ được phép sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ Nếu là cổ đông cá nhân, tỷ lệ sở hữu của cá nhân đó và những người có liên quan không quá 10% vốn điều lệ của ngân hàng Riêng trường hợp cổ đông là tập đoàn tài chính, được phép sở hữu với tỷ lệ tối đa
Trang 740% Trong trường hợp sở hữu vượt tỷ lệ cho phép, phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trên cơ sở lợi ích quốc gia
Đối với các NH muốn thành lập NH con thì số tài sản phải không dưới 20000 tỷ
và có tỷ lệ nợ xấu không quá 2%
Các tổ chức nước ngoài muốn thành lập NH 100% vốn nước ngoài phải số vốn tối
thiểu là 300 triệu USD, có thời gian hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng.
Tuy vậy chúng ta cũng thấy sự khó khăn về điều kiện ra nhập không làm giảm
số lượng các tổ chức muốn thành lập mới Hiện có đến chục bộ hồ sơ muốn được NHNN phê duyện của cả nhưng tổ chức lớn trong nền kinh tế như VNPT, Bưu điện, cũng như là các tổ chức quốc tế Đặc biệt, ngày 1/4/2007 vừa qua các ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập, điều này là một thách thức rất lớn cho các ngân hàng trong nước
Sự cạnh tranh còn ở các tổ chức tài chính phi NH như Bảo hiểm, các quỹ tiết kiệm bưu điện, quỹ hưu trí…Ở đây ta xem xét thị trường Bảo hiểm là chủ yếu vì trong thời gian qua ngành này đã đạt được kết quả rất đáng kể: Theo số liệu của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, hiện thị trường bảo hiểm Việt Nam có 18 doanh nghiệp cổ phần và 19 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Nếu chia theo lĩnh vực kinh doanh thì có 20 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ; 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm; 8 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và 8 doanh nghiệp môi gới bảo hiểm Hiện có 150.000 đại lý bảo hiểm với trên 100 sản phẩm nhân thọ và hơn 500 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ đã được các công ty bảo hiểm đưa ra thị trường Bảo hiểm cũng đã đóng góp 2% vào GDP của Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng bình quân 29%/năm Từ năm 2001 đến nay, số người tham gia bảo hiểm đã tăng từ 1% dân số lên đến hơn 10%
Ta phải thừa nhận rằng, các công ty bảo hiểm có khả năng cung cấp các dịch vụ tốt, đồng bộ; tạo ra được chiến lược marketing hiệu quả Những điều này hiện đang là điển yếu của các NH Ngoài ra, do thu nhập và nhận thức có nhiều thay đổi, người dân cũng quan tâm nhiều hơn đến các sản phẩm bảo hiểm
Triển vọng phát triển của ngành:
Từ những điểm trên ta thấy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng không phải là nhỏ và điều kiện gia nhập thị trường này cũng là tương đối khó, vây mà vẫn có rất nhiều tổ chức muốn tham gia thị trường này Điều này là do lợi nhuận cao của các ngân hàng trong thời gian qua Đặc biệt là các NHTMCP đã công bố lại suất trong quý I Lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Á Châu là 413 tỉ đồng (bằng 3,75 lần cùng
kỳ năm trước), Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín là 302 tỉ đồng (bằng 188% cùng kỳ năm trước), Ngân hàng Xuất nhập khẩu VN là 177 tỉ đồng (gấp 2,6 lần cùng kỳ năm trước)…
Xu hướng này còn được tiếp tục duy trì trong thời gian tới Thực tế là hiện nay
có rất nhiều nhà đầu tư tin tưởng, yêu thích cổ phiếu của các NH, và giá của các NH luôn ở mức cao:
Đơn vị: 1000VND
GIÁ CỔ PHIẾU NGÀY 12/04/2007
Trang 8STT Tờn cụng ty Mó chứng khoỏn Giỏ thực hiện gần nhất
(nguồn: www.vietstock.com.vn )
Iii/ Phân tích tình hình hoạt động của
sacombank
1 Cỏc chỉ số về tỡnh hỡnh hoạt động:
1.1.Cỏc chỉ tiờu về an toàn hoạt động :
Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn/
Tỷ lệ gúp vốn, mua cổ phần /
Tỷ lệ khả năng chi trả cho 1
Tỷ lệ khả năng chi trả cho 1
Ta thấy Sacombank đảm bảo rất tốt cỏc quy định về an toàn hoạt động của ngõn hàng Cỏc chỉ số này cũn xa rất nhiều so với quy định, điều này đó cho phộp Sacombank cú thể tăng cường hoạt động vào đầu tư cỏc khoản cú rủi ro cao hơn để tăng hơn nữa khả năng sinh lời
1.2.Chỉ tiờu về tăng trưởng
Trang 9Tổng tài sản 7304.4 10395 14457 24855.44 40000 160000
Dư nợ tín
dụng 4728.869 5986.481 8425.54 14539.1 23340 85000
Tỷ lệ tăng 43.28% 26.59% 40.74% 72.56% 60.53% 264.18% Huy động
vốn 6434.446 9200.615 12281.22 17658.06 33309 140000
Tỷ lệ tăng 66.86% 42.99% 33.48% 43.78% 88.63% 320.31%
Tỷ lệ tăng 85.87% 46.53% 68.92% 67.15% 112.96% 169.69%
Số điểm giao
320 trong nước và VPĐD tại Lào, Campuchia , Trung Quốc
Qua bảng trên ta thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ của NH trong thời gian qua Tổng tài sản của ngân hàng trong năm 2006 đã tăng hơn 70% Lượng vốn điều lệ cũng tăng lên tương ứng so với tổng tài sản Tỷ lệ tăng trưởng cho vay cũng tăng lên với tỷ lệ tương tự
Sự tăng trưởng còn được thể hiện ở số lượng điểm giao dịch được tăng lên nhanh chóng Đặc biệt, Sacombank còn có kế hoach mở rộng thị phần sang thị trường nước ngoài là Lào, Campuchia, Trung Quốc
Trên thực tế, do xuất phát thấp, bản thân Sacombank cũng chưa thực sự vững mạnh (như nhận xét của HĐQT Sacombank) trong bối cảnh hội nhập Quy mô vốn sau năm 2007 nếu hoàn thành, cũng chỉ bằng phân nửa so mức trung bình của các ngân hàng trong khu vực Công ty chứng khoán SBS được xem là kênh quan trọng trong hệ thống Sacombank thời gian tới Hiện do không được phép vay vốn của ngân hàng mẹ nên không đủ vốn để tự doanh, và Sacombank đang phải tìm cách nhanh chóng khắc phục Mạng lưới chi nhánh dự kiến đến cuối 2007 cũng chỉ mới có mặt tại 43/64 tỉnh thành Việc xúc tiến mở chi nhánh ở Cam–pu–chia, Lào, Trung Quốc lệ thuộc chính sách của nước sở tại
1.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động:
Trang 101 Thu nhập từ lãi / Tổng thu
2 Thu nhập từ dịch vụ/
3 Thu nhập từ đầu tư/ Tổng
4 Thu nhập từ lãi/ Doanh
5 Thu nhập từ Dịch vụ/
6 Tổng thu nhập kinh
doanh/ Tổng chi phí kinh
Từ các chỉ số trên ta thấy, trong tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh, tỷ trọng thu nhập từ hoạt động kinh doanh đã tăng mạnh từ năm 2003 đến 2005, nhưng trong năm 2006 tỷ trọng này đã giảm xuống,nhưng vẫn chiếm một tỷ lệ cao, trên thay vào
đó là tỷ lệ về đầu tư tăng lên.Điều nay có thể lý giải vì trong trong thời gian qua việc đầu tư chứng khoán mang lại khoản lợi nhuận rất cao Như vậy, ta thấy ngân hàng Sacombank vẫn tập trung vào hoạt động tín dụng
Hơn thế nữa, tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng (30%-40%) khá thấp so với tỷ
lệ tỷ lệ lợi nhuận từ dịch vụ (đến gần 80% năm 2006) Bên cạnh đó, rủi ro trong hoạt động tín dụng là khá cao so với hoạt động kinh doanh dịch vụ
Tuy vậy, ta cũng thấy Sacombank quản trị khoản nợ khá tốt, tỷ lệ nợ xấu luôn ở mức thấp Ngay trong kế hoạch những năm tới, Sacombank cũng hướng tỷ lệ này chỉ
ở mức dưới 2%
Ta cũng thấy là Sacombank đang tích cực chuyển hướng hoạt động sang kinh doanh dịch vụ Trong năm 2007 Sacombank sẽ thành lập Cty liên doanh thẻ với ngân hàng ANZ, xây dựng trung tâm dữ liệu lớn nhất Việt Nam, xâm nhập vào các lĩnh vực khác qua việc nghiên cứu thành lập Cty đầu tư tài chính - bảo hiểm, vàng bạc đá quý; liên kết thành lập Trường Đại học Sacombank
2 Các chỉ số về khả năng sinh lời: