1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần loài và đề xuất phương án quản lý sâu hại keo tai tượng tại xã xuân chinh, huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa

61 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thành phần loài và đề xuất phương án quản lý sâu hại keo tai tượng tại xã Xuân Chinh, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Lê Tuấn Dũng
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Bảo Thanh
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý rừng và bảo tồn thiên nhiên
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 851,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Sau một thời gian nghiên cứu cùng với sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, cho đến nay đề tài khóa luận:“Nghiên cứu thành phần loài và đề xuất ph

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Sau một thời gian nghiên cứu cùng với sự nỗ lực của bản thân, sự giúp

đỡ tận tình của các thầy cô giáo, cho đến nay đề tài khóa luận:“Nghiên cứu thành phần loài và đề xuất phương án quản lý sâu hại keo tai tượng tại xã Xuân Chinh, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” đã hoàn thành Tôi xin

bày tỏ long biến ơn chân thành nhất tới PGS.TS Lê Bảo Thanh – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Ngoài ra, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú cán bộ xã Xuân Chinh, các bác chủ rừng trên địa bàn xã đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do điều kiện nghiên cứu có hạn và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng như còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên bài khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa đạt được Kính mong nhận được các ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn bè

Xin chân thành cảm ơn!

Thường Xuân, ngày 08 tháng 05 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Lê Tuấn Dũng

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU i

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu về côn trùng trên thế giới và Việt Nam 3

1.2 Tổng quan về sâu hại Keo tai tượng ở Việt Nam 7

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 11

2.1 Điều kiện tự nhiên 11

2.1.1 Vị trí địa lý 11

2.1.2 Khí hậu thủy văn 11

2.1.3 Địa chất thổ nhưỡng 12

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 12

2.2.1 Tình hình dân sinh 12

2.2.2 Tình hình kinh tế 13

2.2.3 Văn hóa, giáo dục, y tế 15

2.3 Hiện trạng sử dụng đất và hiện trạng rừng 15

CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 16

3.1.1 Mục tiêu chung 16

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 16

3.2 Nội dung nghiên cứu 16

3.3 Phương pháp nghiên cứu 16

3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 16

3.3.2 Phương pháp điều tra thực địa 17

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 23

3.3.4 Phương pháp xác định loài sâu hại chính 24

Trang 3

3.3.5 Phương pháp xác định đặc điểm sinh học, sinh thái loài của loài sâu hại

chính 24

3.3.6 Phương pháp đề xuất các biện pháp phòng trừ 24

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

4.1 Thành phần các loài côn trùng tại khu vực nghiên cứu 26

4.2 Xác định loài sâu hại keo tai tượng chủ yếu 29

4.3 Đặc tính sinh vật học của các loài sâu hại chủ yếu 32

4.3.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của các loài sâu hại chủ yếu 32

4.3.2 Biến động mật độ của các loài sâu hại chính 37

4.4 Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp quản lý loài sâu hại chính 40

4.4.1 Kết quả thí nghiệm biện pháp vật lý cơ giới 40

4.4.2 Kết quả thử nghiệm biện pháp kỹ thuật lâm sinh 41

4.5 Đề xuất biện pháp quản lý sâu hại chính 42

4.5.1 Biện pháp vật lý cơ giới 44

4.5.2 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh 45

4.5.3 Biện pháp sinh học 46

4.5.4 Biện pháp kiểm dịch và chọn giống kháng sâu hại 47

4.5.5 Biện pháp hóa học 48

1 Kết luận 49

2 Tồn tại 49

3 Kiến nghị 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.01: Đặc điểm của các OTC 19

Bảng 4.01: Danh lục các loài sâu hại Keo tai tượng tại xã Xuân Chinh 26

Bảng 4.02: Thống kê số họ và số loài sâu theo các bộ côn trùng 27

Hình 4.02: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ phần trăm số loài của các bộ côn trùng 28

Bảng 4.03: Sự biến động về mật độ của các loài sâu hại Keo tai tượng 30

Bảng 4.04 Biến động mật độ của các loài sâu hại chính theo lâm phần 37

Bảng 4.05: Mật độ của các loài sâu hại chủ yếu ở các độ cao khác nhau 39

Bảng 4.06: Mật độ các loài sâu hại chủ yếu ở các hướng phơi khác nhau 40

Bảng 4.07: Kết quả thử nghiệm biện pháp vật lý cơ giới 41

Bảng 4.08: Kết quả thử nghiệm biện pháp kỹ thuật lâm sinh 42

Bảng 4.09: Kế hoạch điều tra và giám sát đối tượng sâu hại chính 43

Bảng 4.10: Các biện pháp phòng trừ cho từng loài sâu hại chính 44

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.01: Hình ảnh các ô tiêu chuẩn 20

Hình 4.01: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ phần trăm số họ của các bộ côn trùng 28

Hình 4.03: Sâu non của Sâu nâu 33

Hình 4.05: Tổ mối trên gốc cây Keo tai tượng 37

Hình 4.06: Biến động mật độ các loài sâu hại chính theo lâm phần 38

Hình 4.07: Ảnh hưởng của độ cao tới mật độ sâu hại chính 39

Hình 4.08: Ảnh hưởng của hướng phơi tới mật độ sâu hại chính 40

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

1 Tên khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu thành phần loài và đề xuất phương

án quản lý sâu hại keo tai tượng tại xã Xuân Chinh, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa”

2 Sinh viên thực hiện: LÊ TUẤN DŨNG

3 Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Lê Bảo Thanh

4 Nội dung khóa luận:

4.1 Xác định thành phần loài sâu hại, xác định loài sâu hại chính trong khu vực nghiên cứu

4.2 Xác định một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại chính

4.3 Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp quản lý loài sâu hại chính 4.4 Đề xuất biện pháp quản lý sâu hại chính

5 Kết quả nghiên cứu

Qua đợt điều tra trên các lâm phần Keo tai tượng tại xã Xuân Chinh – huyện Thường Xuân – tỉnh Thanh Hóa, từ ngày 01/04/2019 – 30/04/2019 đã thu thập được 5 loài sâu hại thuộc 4 họ, 2 bộ Trong 5 loài thu được có 4 loài hại lá, 1 loài hại thân và rễ Keo Các loài sâu hại thuộc bộ Cánh vẩy chiếm tỷ

lệ cao nhất với 80% số loài và 75% số họ Còn bộ Cánh bằng chỉ chiếm 20%

số loài và 25% số họ

Tại địa bàn xã Xuân Chinh có 3 loài sâu hại chính đó là: Mối

(Macrotermes annaandalei Silvestri), Sâu kèn nhỏ (Acanthopsyche sp) và Sâu nâu (Anomis fulvida Guenée) Với mật độ lần lượt là 1,55 con/m2, 1,90 con/cây và 0,90 con/cây Cả 3 loài sâu hại này đều xuất hiện trong cả 2 lâm phần, có xu hướng là giảm mật độ do thời tiết và tình hình sinh trưởng của cây

Lựa chọn biện pháp phòng trừ phù hợp đối với loài sâu hại chính ở địa phương là:

Trang 8

- Biện pháp vật lý cơ giới: Cụ thể như trước khi ADBP thì tỷ lệ cây có sâu ở ô thí nghiệm là 73% và ở ô đối chứng là 70% Sau khi ADBP thì tỷ lệ cây có sâu giảm đi đáng kẻ ở ô thí nghiệm ( Sau 14 ngày giảm từ 73% xuống còn 33%) Còn ở ô đối chứng thì tỷ lệ cây có sâu tăng lên ( Từ 70% lên 80%, sau đó giảm xuống 73%)

- Biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Cụ thể như trước khi ADBP thì tỷ lệ cây

có sâu ở ô thí nghiệm là 77% và ở ô đối chứng là 70% Sau khi ADBP kỹ thuật lâm sinh thì tỷ lệ cây có sâu giảm đi đáng kể ở ô thí nghiệm ( Sau 14 ngày giảm từ 77% xuống còn 30%) Còn ở ô đối chứng thì tỷ lệ cây có sâu tăng lên khá nhiểu ( Từ 70% tăng lên 87%)

- Biện pháp sinh học: 3 loài thiên địch chính là nấm bạch cương, kiến đen và ong kén cánh tím

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, đóng một vai trò rất quan trọng đối với đời sống của con người Và ngành Lâm nghiệp hiện nay đang chiếm một tỉ trọng rất lớn trong phát triển nền kinh tế của đất nước Trên khắp các vùng nông trong cả nước diện tích rừng trồng ngày càng tăng nhanh

và đa dạng về các loài kinh tế Với sự thay đổi về loài cây trồng, sự mở rộng diện tích đã xuất hiện những loài sâu, bệnh hại mới Đặc biệt nước ta nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, chịu tác động rất lớn của sâu bệnh Sâu bệnh đã gây ra rất nhiều những tác hại to lớn, làm giảm diện tích rừng, giảm chất lượng cây trồng Trong những năm qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đẩy nhanh tiến hành phủ xanh đất trống đồi trọc bằng những dự

án lớn Cho nên nhiều loại cây đã được gây trồng như: Keo, bạch đàn, mỡ,… trên khắp cả nước Trong đó Keo có lẽ là loài cây lâm nghiệp phổ biến nhất Cây keo là cây đa tác dụng, gỗ keo được dùng nhiều trong công nghiệp giấy, làm ván, làm đồ gia dụng và chúng cung cấp một lượng chất đốt lớn cho người dân Bên cạnh đó cây keo có bộ rễ rất phát triển, có nấm cộng sinh nên chúng sinh trưởng và phát triển tốt trên nhiều loại đất, kể cả đất nghèo, xấu Trồng keo nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi trọc, chống xói mòn, điều tiết nguồn nước và bảo vệ môi trường sinh thái, dưới tán rừng keo ta có thể trồng cây bản địa để phục hồi rừng hỗn giao Để trồng rừng có thể phát triển bền vững, dần tiến tới ổn định gần như rừng tự nhiên thi công tác chăm sóc, bảo

vệ sau khi trồng là hết sức quan trọng Do yêu cầu của xã hội nên hiện tại và trong tương lai chúng ta sẽ có những diện tích rừng keo thuần loài khá lớn Cùng với sự hình thành những rừng keo thuần loài là sự thay đổi rất cơ bản của môi trường sinh thái Trong khi các nhân tố sinh thái phi sinh vật như khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, gió, ) được cả thiện cùng với sự phát triển của rừng keo thì các nhân tố thuộc nhóm sinh vật một mặt được cải thiện và mặt khác lại tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định Có thể thấy rõ điều này thông qua

sự thay đổi của yếu tố thức ăn trong rừng keo thuần loài Khi rừng keo thuần

Trang 10

loài được hình thành một khối lượng thức ăn là lá keo, cành keo rất lớn đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho những côn trùng đơn thực và hẹp thực sinh sôi phát triển Mặc dù trong rừng Keo tai tượng có thể có tới 30 loài sâu ăn lá khác nhau nhưng do nguồn thức ăn quá phong phú nên tác dụng của quan hệ cạnh tranh không được thể hiện và do đó một số loài đã có thể phát triển thành

dịch, ví dụ: Sâu nâu (Anomis fulvida Guenée), Sâu nâu vạch xám (Speiredonia retorta Linnaeus), Sâu túi nhỏ (Acanthopsyche sp)

Nằm trong khu vực huyện Thường Xuân - tỉnh Thanh Hóa, xã Xuân Chinh có diện tích rừng trồng keo tai tượng tương đối lớn, đã và đang là đối tượng phá hoại của nhiều loài sâu hại Ngoài những thông tin về sự có mặt của các loài sâu hại thì đến nay tại đây chưa có nghiên cứu cơ bản nào nên vấn để quản lý còn gặp rất nhiều khó khăn Để góp phần nhỏ bé của mình vào công tác quản lý bảo vệ rừng của địa phương, tôi quyết định thực hiện đề tài

“Nghiên cứu thành phần loài và đề xuất phương án quản lý sâu hại keo tai tượng tại xã Xuân Chinh, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa”

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu về côn trùng trên thế giới và Việt Nam

*Trên thế giới

Trong kinh doanh nông lâm nghiệp côn trùng là một nhóm động vật được con người quan tâm, bởi chúng có ảnh hưởng lớn tới các hoạt động của con người Do đó, con người phải bắt tay vào tìm hiểu cà nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái, hình thái học của tất cả các loài côn trùng

Những tài liệu nghiên cứu về côn trùng rất nhiều và phong phú Trong một cuốn sách cổ của Syrie viết vào năm 3000 TCN đã nói đến những cuộc

bay khổng lồ và sự phá hoại khủng khiếp của châu chấu sa mạc (Schistocera gregaria)

Aristoteles (384 – 322 TCN), một nhà khoa học vĩ đại của Hy Lạp đã quan tâm đến hệ thống hóa và sự phát triển của động vật Và trong các tác phẩm nghiên cứu của ông đã hệ thống hóa tới hơn 60 loài côn trùng và ông đã gọi chúng là loài động vật chân có đốt

Nhà tự nhiên học vĩ đại người Thụy Điển Carl von Linne được coi là người đầu tiên đưa ra đơn vị phân loại và đã tập hợp xây dựng được một bảng phân loại về động vật và thực vật trong đó có côn trùng một cách hiện đại Lần xuất bản thứ 10 của sách, ông đã đưa vào cách gọi tên khoa học các loài sinh vật Liên tiếp các thế kỉ sau đó như: Thế kỉ XIX có Lamarck, thế kỉ XX

có Handlirich, Krepton 1904, Ma-tư-nốp 1928, Weber 1938 tiếp tục cho ra bảng phân loại riêng của họ

Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới được thành lập ở nước Anh năm 1745 Hội côn trùng ở Nga được thành lập năm 1859

Những cuộc du hành của các nhà nghiên cứu côn trùng Nga như: Potarin (1976 – 1899), Kozlov (1883 – 1921) đã xuất bản những tài liệu về côn trùng ở trung tâm châu Á, Mông Cổ và miền Tây Trung Quốc Đến thế kỉ

Trang 12

XIX đã xuất bản nhiều tài liệu về côn trùng ở Châu Âu, Châu Mỹ (gồm 40 tập) ở Madagatsca (gồm 6 tập), quần đảo Ấn Độ và nhiều nước khác trên thế giới

Trong các tài liệu nói trên đều đề cập đến các loài côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng như: Mọt, xén tóc và các loài côn trùng cánh cứng ăn hại lá khác

Vào năm 1793 Spregel (1750 – 1816) Xuất bản tác phẩm nổi tiếng mô

tả mối quan hệ giữa cấu tạo của loài hoa và quá trình thụ phấn nhờ côn trùng Trong cuốn sách này, lần đầu tiên vai trò của côn trùng trong việc thụ phấn được đề cập đến và giải thích

Về phân loại năm 1910 – 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng (Cleoptera) gồm 240.000 loài in trong

31 tập Trong đó đã đề cập đến hàng nghìn loài cánh cứng thuộc bọ lá Chrysomelidae

Năm 1948 A.I Ilinski đã xuất bản cuốn “Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng”

Năm 1950, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đã xuất bản tập “Phân loại côn trùng ở các dải rừng phòng hộ” của tác giả L.v.Ap-non-di và G.A Bay-bienco

Năm 1959, Trương Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng học” Sau đó liên tiếp từ năm 1965 giáo trình “Sâm lâm côn trùng học” được viết lại nhiều lần Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loài bọ phá hoại các loài cây rừng

Năm 1964 Xegolop viết cuốn “Côn trùng học” có giới thiệu loài Sâu cánh cứng khoai tây Letinotarsa decemlinetea Say là loài hại nguy hiểm đối vơi cây khoai tây và một số loài cây nông nghiệp khác

Năm 1965 Viện Hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn trùng phần thuộc châu Âu, trong đó có tập thứ 5 chuyên về phân loại Bộ Cánh cúng (Cleoptera) trong tập này đã xây dựng bảng tra 1350 giống thuộc

Họ Bọ lá Chrysomelidae

Trang 13

Năm 1965 và năm 1975 N.N Padi, A.N Boronxop đã viết giáo trình

“Côn trùng rừng” trong các tác phẩm này đã đề cập đến nhiều loài côn trùng

Bộ Cánh Cứng hại rừng như: Mọt, xén tóc, sâu đinh và bọ lá…

Năm 1966 Bey – Bienko đã phát hiện và mô tả được 300.000 loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng

Ở Trung Quốc môn côn trùng lâm nghiệp đã được chính thức giảng dạy trong các trường Đại học Lâm nghiệp từ năm 1952, từ đó việc nghiên cứu về côn trùng lâm nghiệp được đẩy mạnh

Rumani năm 1962 M.A Ionescu đã xuất bản cuốn “Côn trùng học” trong đó có đề cập đến phân loại Họ Bọ lá Chrysomelidae Tác giả cho biết trên thế giới đã phát hiện được 24.000 loài bọ lá và tác giả đã mô tả cụ thể được 14 loài

Tại Mỹ theo tài liệu sách hướng dẫn về lính vực côn trùng ở Bắc châu

Mỹ thuộc Mexico của Donald J Borror và Richard E White (1970 – 1978) đã

đề cập đến đặc điểm phân loại của 9 họ phụ thuộc Họ Bọ lá Chrysomelidae

Đó là điểm qua về một số cột mốc lịch sử nổi bật sự phát triển nghiên cứu về côn trùng của thế giới Vì côn trùng là một lớp phong phú nhất trong giới động vật nên các tài liệu nghiên cứu về côn trùng cũng vô cùng phong phú

Trang 14

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây Cao Thị Kim Thu (2002), đã xây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam Công trình là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự, khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở VQG Tam Đảo đã tiến hành định loại các loài thuộc bộ Cánh úp Kết quả cho thấy số loài Cánh úp ở VQG Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ

Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) và Bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản mạn Các nghiên cứu thường không tập trung vào một

bộ cụ thể mà thường đi cùng với các công trình nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyễn Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở VQG Tam Đảo; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008) nghiên cứu ở VQG Bạch Mã; Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam; Trần Anh Đức (2008), mô tả đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài của các loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về

bộ Cánh nửa ở nước ta

Năm 2001, các tác giả Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão đã xuất bản cuốn sách “Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong Lâm nghiệp” Cuốn sách này đã đưa ra các phương pháp về điều tra đánh giá và dự tính dự báo khả năng phát dịch của sâu, bệnh hại rừng vào đặc điểm sinh học của mỗi loài

Ngoài ra, các đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biến động mật độ của một số loài sâu hại Keo tai tượng cũng được một số sinh viên trường Đại học Lâm nghiệp chọn làm đề tài như: Nguyễn Thế Anh (2000), Cao Anh Tuấn (2001), Trương Việt Cường (2012)…

Đối với công tác bảo vệ thực vật, thì phòng trừ sâu hại là một vấn đề rất quan trọng Vì nó giúp ngăn chặn thiệt hại do sâu gây ra, nâng cao năng suất

Trang 15

cây trồng, cân bằng hệ sinh thái… Ngoài ý nghĩa về lợi ích kinh tế trực tiếp cho con người thì côn trùng sâu hại còn ảnh hưởng rất lớn tới môi trường

Để phòng trừ sâu hại có rất nhiều phương pháp, cụ thể như: Phương pháp kiểm dịch thực vật, phương pháp canh tác, phương pháp cơ giới vật lý, phương pháp sinh học, phương pháp hóa học và phương pháp phòng trừ tổng hợp IPM

Sự ra đời của các công tác nghiên cứu về côn trùng, chủ yếu để phục vụ tốt cho ngành lâm nghiệp; nâng cao lợi ích của côn trùng có ích cũng như diệt trừ các loài côn trùng có hại Đối tượng mà côn trùng hướng tới chủ yếu là các loại cây lâm nghiệp như: Cây ăn quả, cây rừng tự nhiên, cây công nghiệp,… những loại cây này có đặc điểm chung là có kích thước và chiều cao phát triển, diện tích cần tác động lớn, địa hình đa dạng phức tạp, chu kì kinh doanh sản xuất dài Dẫn tới thảm thực bì phát triển, có nhiều tàn dư thực vật tạo điều kiện thuận lời cho các loài sâu hại ẩn náu và sinh sống Bên cạnh

đó chu kì canh tác dài khiến, cùng với cơ sở vật chất ở nhiều nơi còn hạn chế, gây khó khăn cho công tác điều tra, nghiên cứu và phòng trừ sâu hại

Vậy nên, đối với ngành lâm nghiệp phát triển như hiện nay, thì việc nghiên cứu để có những dự tính, dự báo sớm về loài sâu hại Keo tai tượng nói riêng và các loài sâu hại cây lâm nghiệp nói chung cần được chú trọng hơn nữa

1.2 Tổng quan về sâu hại Keo tai tượng ở Việt Nam

Trong các năm từ 1992 đến 2012, Viện Điều tra Quy hoạch rừng có các báo cáo tổng kết về kết quả điều tra thành phần loài sâu hại rừng tại các khu vực khác nhau trong cả nước, như Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung

Bộ và Tây Nguyên Báo cáo kết quả điều tra sâu bệnh hại rừng gai đoạn 3 của Viện Điều tra Quy hoạch cho thấy: Các loài Keo lá tràm, keo tai tượng có thể

bị 42 loài sâu hại tấn công, 3 loại bệnh trong đó bệnh thối cổ rễ, phấn trắng là hai loại bệnh chính trên cây keo Đặc điểm cơ bản các loài sâu hại chính:

 Nhóm sâu hại họ Ngài đêm (Noctuidae):

Trang 16

Kết quả điều tra cho thấy có 4 loài gây hại lá keo thuộc họ (Noctuidae),

bộ cánh vẩy (Lepidoptera), bao gồm: Sâu nâu (Anomis fulvida Guenee); Sâu 4 vết đen (Hypocala sp); Sâu đen khoang (Hylodes caranea Cramer); Sâu vạch xám (Speiredonia retoria Linnaeus)

Sâu kèn nhỏ (Acanthopsyche sp)

Dế mèn nâu lớn (Brachytrupes portentosus Lichtensein)

Cầu cấu màu nâu (Myllocerus sp)

Nguyễn Thế Nhã, 2001 đã xác định sâu hại Keo tai tượng và Keo lá tràm gồm 40 loài thuộc 19 họ, 6 bộ, trong đó có 30 loài sâu ăn lá, 8 loài hại rễ,

5 loài hại chồi ngọn Các loài sâu hại chính bao gồm: Sâu nâu, sâu nâu vạch xám, sâu kèn nhỏ Đối với Sâu nâu ăn lá keo tai tượng đã có quy trình phòng trừ, trong đó các biện pháp phòng trừ được phối hợp với nhau theo nguyên tắc của IPM

Phạm Quang Thu (2010) xác định sâu hại Keo tai tượng bao gồm: Sâu

vạch xám (Speiredonia retorta), Sâu nâu (Anomis fulvida Guenee), cầu cấu xanh (Hypomeces squamosus Fabricius)… Kết quả điều tra đã ghi nhận 110

loài sâu hại trên Keo tai tượng Các loài sâu gây hại chính: Mọt nuôi nấm

forni (E fornicatus), Mối lớn rồng đất (Macrotermes annandalei), Mối nhỏ hai dạng lính (Microtermes pakistanicus), Sâu đo (Buzura suppressaria), Bọ xít muỗi đầu đỏ (Helopeltis theivora), Sâu nâu vạch xám (Speiredonia retorta), Sâu ăn lá (Ericeia sp.), Sâu 9 chấm (P grotei), Xén tóc mép cánh xanh (Xystrocera festiva)

Diện tích rừng trồng các loài keo ở Việt Nam đã đạt khoảng 1,3 triệu ha

và mang lại giá trị lớn trong phát triển kinh tế Những năm gần đây các rừng trồng keo bị ảnh hưởng lớn do sâu, bệnh và có nhiều trận dịch về sâu, bệnh đã xuất hiện trên diện rộng Năm 2012, lần đầu tiên ghi nhận bệnh chết héo do

nấm Ceratocystis sp gây hại các loài keo ở Việt Nam (Phạm Quang Thu et

al., 2012) nhưng trong hai năm Từ năm 2014 - 2015, rừng trồng Keo tai tượng, Keo lai và Keo lá tràm đang có xu hướng bị bệnh chết héo và đã được

Trang 17

xác định do nấm Ceratocystis manginecans gây hại với chiều hướng tăng

nhanh và lan rộng trên khắp cả nước, nguyên nhân do mọt nuôi nấm forni (E fornicatus) mang vec tơ truyền bệnh cho cây Bản thân loài này cũng đang

gây hại trên diện rộng, tuy không trực tiếp làm chết cây nhưng nó lại là véc tơ truyền bệnh cho cây, đồng thời các đường hào do mọt đục đã làm giảm đáng

kể chất lượng gỗ của các loài keo, làm mất thẩm mỹ khi chế biến đồ mộc Do

đó cũng rất cần tiến hành các nghiên cứu phòng trừ Mọt nuôi nấm forni (E fornicatus) gây hại các loài keo tại Việt Nam

Ở Việt Nam, từ những năm 1963 đến nay, Sâu đo (Biston suppressaria)

thuộc họ Sâu đo (Geometridae), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) đã gây ra nhiều

trận dịch hại rừng Lim xanh (Erythrophleum forrdii) tại Lâm trường Như

Xuân, Thanh Hóa (1963), Lâm trường Tam Đảo, Vĩnh Phúc (1964 - 1965), Lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn (1968), Lâm trường Thống Nhất, Quảng Ninh (1977, 1978, 1980, 1981) Trong những năm gần đây, do diện tích rừng trồng Keo tai tượng tập trung với quy mô lớn trên phạm vi cả nước, đạt khoảng 1,3 triệu ha (Phạm Quang Thu, 2016), trong đó hơn 50% (khoảng 700.000ha) là rừng trồng Keo tai tượng Sâu đo có xu hướng chọn lá Keo tai tượng làm thức ăn Năm 2014, lần đầu tiên ghi nhận Sâu đo xuất hiện với mật

độ lớn trên các rừng trồng Keo tai tượng ở nhiều địa phương của tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt là 2 huyện Tiên Yên và Ba Chẽ Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh (2014), trên địa bàn huyện Tiên Yên và Ba Chẽ, Sâu đo ăn lá đã làm thiệt hại hơn 1.600ha rừng Keo tai tượng, tập trung nhiều tại các xã Yên Than, Điền Xá, Hải Lạng và diện tích rừng Keo tai tượng của công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Tiên Yên Năm 2015, loài sâu này tiếp tục gây hại rừng trồng Keo tai tượng tại Quảng Ninh với tỉ lệ bị hại được ghi nhận cao nhất vào tháng 6, đạt 53,8% (Lê Văn Bình và Phạm Quang Thu, 2016)

Theo báo cáo của Chi Cục Kiểm lâm – Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị tại công văn số: 48/BC-KL, ngày 30 tháng 09 năm

Trang 18

2008, tình hình sâu ăn lá đã xẩy ra dịch gây hại nghiêm trọng cho Keo lá tràm, Keo tai tượng và keo lai tại tiểu khu 543 thuộc địa bàn thôn Chấp Đông

và tiểu khu 545 thuộc địa bàn thôn Bắc Phú xã Vĩnh Chấp, tiểu khu 541, 553T, 542 và NTK xã Vĩnh Tú và một số xã tại huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị, diện tích bị sâu gây hại lên đến 145 ha Kết quả phân loại bước đầu của Cục Bảo vệ thực vật – Bộ NN&PTNT cho thấy đây là loài sâu hại mới có tên khoa học là Phalera sp thuộc họ Notodontidae, bộ cánh vẩy Lepidoptera và một số loài sâu ăn lá khác nữa Những loài này khác với loài sâu gây hại Keo tai tượng trước đây đã gây ra dịch tại Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái và Hà Tây (cũ) Loài sâu này có sức phá hại rất lớn, chúng ăn trụi lá và chết cây; mật độ nhộng trung bình 200 nhộng/cây Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học và các biện pháp phòng trừ loài sâu này

Trang 19

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Thường Xuân là một huyện miền núi, nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa Cách Thành phố Thanh Hóa khoảng 60 km Phía Bắc giáp huyện Lang Chánh, Ngọc Lặc Phía Tây giáp huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào Phía Đông giáp huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn Phía Nam giáp huyện Như Xuân và Như Thanh

Toàn huyện thấp dần từ Tây Bắc và Tây xuống khu vực phía Đông và Nam Có nhiều dãy núi như Chòm Vịn xã Bát Mọt cao 1.442m so với mặt nước biển Địa hình bị chia cắt bởi các sông: Sông Khao, sông Chu, sông Đặt, sông Đằn Có nhiều đồi bát úp, đất nông nghiệp nhỏ lẻ Các xã vùng cao chủ yếu là ruộng bậc thang không chủ động tưới tiêu, bị rửa trôi mạnh Có thể chia địa hình làm 3 vùng như sau:

+ Vùng cao gồm 4 xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Chinh, Xuân Lẹ, có

độ cao trung bình từ 500-700m

+ Vùng giữa gồm 9 xã: Lương Sơn, Tân Thành, Xuân Thắng, Xuân Lộc, Vạn Xuân, Luận Khê, Xuân Cẩm, Luận Thành, Xuân Cao, có độ cao trung bình từ 150-200m

+ Vùng thấp gồm 3 xã và 1 thị trấn: Ngọc Phụng, Thọ Thanh, Xuân Dương và Thị trấn Thường Xuân, có độ cao trung bình từ 50-150m

Xã Xuân Chinh có diện tích 73,14 km², lớn thứ 2 toàn huyện; nằm về phía Tây Nam của huyện, giáp các xã lân cận: Xuân Lộc, Xuân Lẹ, Xuân Thắng và giáp với tỉnh Nghệ An

2.1.2 Khí hậu thủy văn

Khí hậu mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao, mùa đông khô hanh, mùa hè nóng, mưa nhiều Thường Xuân nằm trong vùng ảnh hưởng của gió Tây Nam khô và nóng, hàng năm có từ 20 đến 25 ngày gió Tây

Trang 20

Nam, hay xảy ra những đợt rét đậm kéo dài Tổng nhiệt độ năm 8.000 - 8.6000C, nhiệt độ không khí trung bình 22 - 250C, tối cao nhiệt độ 37 - 400

C, tối thấp nhiệt độ 3 - 50C; lượng mưa trung bình năm 1600-2000 mm, phân bố không đều, tập trung 60-80% vào mùa mưa; số ngày mưa trong năm 150-160 ngày; độ ẩm không khí tương đối, trung bình năm 85-86%

Sông Đặt, Sông Đằn có tổng chiều dài gần 100km; có diện tích lưu vực khoảng 55 nghìn ha; tổng lượng dòng chảy lớn khoảng 1.276.488x106m3

Thuỷ văn phân bố không đều, tập trung vào mùa mưa nên thường gây ra lũ quét, sạt lở, xói mòn nghiêm trọng nếu không có độ che phủ

2.1.3 Địa chất thổ nhưỡng

Toàn huyện có 3 nhóm đá mẹ chính với 9 loại đá mẹ khác nhau: Nhóm

đá Mắc ma a-xít và trung tính (đá Gnanit, foophiarit, Riolit, phân bố ở Bát Mọt, Xuân Lẹ, Xuân Chinh, Yên Nhân, Xuân Thắng, Tân Thành, Xuân Cao, Thọ Thanh); Nhóm đá biến chất (đá mẹ Gnai ở xã Xuân Lẹ, Xuân Chinh); Nhóm đá trầm tích (đá vôi, sa thạch, phiến thạch sét, sa phiến thạch, đá cát, phân bố ở các xã Luận Khê, Luận Thành, Tân Thành, Vạn Xuân, Xuân Cẩm, Xuân Cao, Xuân Chinh, Xuân Lộc, Xuân Thắng, Xuân Lẹ, Yên Nhân, Bát Mọt, Lương Sơn, Thọ Thanh)

Đất gồm các loại nhóm chính sau:

- Đất Feralit màu vàng, nâu vàng phát triển trên đá Mắcma axít

- Đất Feralit màu vàng phát triển trên đá trầm tích, biến chất

- Đất Feralit màu vàng phát triển trên đá vôi

- Đất Feralit mùn phát triển trên núi cao

- Đất Feralit phát triển do trồng lúa

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Trang 21

người, chiếm 53%; Dân tộc Kinh 37.192 người, chiếm 43,3%; Dân tộc Mường 3.178 người chiếm 3,7% (Số liệu dân số có đến 31/12/2011) Dân cư phân bố không đều, tập trung phần lớn ở vùng thấp, càng lên cao sự phân bố càng thưa thớt; mật độ dân số bình quân là 76 người/km2, trong đó mật độ cao nhất là ở Thị trấn Thường Xuân 1750 người/km2, mật độ dân số trung bình ở các xã vùng cao là 55 người/km2

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,97%/năm

Dân số của xã tính đến năm 1999 là 2557 người, mật độ dân số đạt 35 người/km², bao gồm 7 thôn hành chính là: Thôn Chinh, thôn Cụt Ật, thôn Giang, thôn Hành, thôn Thông, thôn Tú Tạo và thôn Xeo

2.2.2 Tình hình kinh tế

Là huyện miền núi đặc biệt khó khăn, nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất lâm - nông nghiệp Cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch theo hướng phù hợp với định hướng cơ cấu kinh tế chung của tỉnh và cả nước song vẫn ở mức thấp so với mức tăng trưởng của tỉnh và khu vực Cơ cấu kinh tế đang từng bước chuyển dịch theo hướng giảm Nông, lâm nghiệp, tăng Công nghiệp, xây dựng - Dịch vụ, thương mại Năm 2011 kinh tế có mức tăng trưởng khá đạt 15,3%, cơ cấu các ngành kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tích cực, cụ thể là: Nông Lâm nghiệp 46,6%; CN-TTCN-XD 13,7%, Thương mại và Dịch vụ 39,7% Thu ngân sách trên địa bàn đạt 14,4 tỷ đồng Tổng giá trị sản xuất đạt hơn 1257 tỷ đồng (chưa tính giá trị sản xuất điện Cửa Đặt); Thu nhập bình quân đầu người đạt 6,8 triệu đồng/người/năm An sinh xã hội được bảo đảm, đời sống của đại bộ phận nhân dân cơ bản ổn định, tiếp tục được cải thiện

Xuân Chinh là xã vùng cao của huyện Thường Xuân, có diện tích rộng vào loại nhất nhì của huyện, trong đó rừng chiếm phần lớn, còn lại hơn 200 ha gieo trồng lúa màu Trước năm 2010, cuộc sống của đồng bào ở đây gặp nhiều khó khăn, ngân sách chủ yếu do Nhà nước cấp; hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao Quyết vượt khỏi đói nghèo, Đảng bộ và chính quyền xã Xuân Chinh đã

Trang 22

quyết tâm phấn đấu vươn lên, phát huy nội lực để tạo nên sức mạnh mới nhằm phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội

Nhiều năm qua, biết bám dân, gần dân, biết lắng nghe ý kiến từ cán bộ, đảng viên và quần chúng, Đảng bộ Xuân Chinh đã đề ra chủ trương sát đúng, phù hợp Từ Nghị quyết của Đảng, chính quyền xã đã từng bước triển khai thực hiện chủ trương đề ra và chỉ đạo các tổ chức quần chúng tham gia, vào cuộc hào hứng sôi nổi Nổi bật về phát triển kinh tế, xã tập trung quản lý đẩy mạnh trồng rừng, mở rộng kế hoạch chăn nuôi gia súc gia cầm, tăng diện tích trồng hoa màu…

Hàng năm bà con các thôn, bản vay vốn trên dưới 10 tỷ đồng đầu tư sản xuất, chăn nuôi, năm cao nhất đã trồng rừng tập trung lên tới 200 ha, trồng cây phân tán 40 – 50 ngàn cây Tỷ lệ rừng che phủ hiện nay đạt 83,3%, 100% rừng nên được quản lý chặt chẽ, không có khai thác lậu, không chặt cây bừa bãi, nhiều năm nay tệ nạn khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép đã được chặn đứng Cùng với phát triển lâm nghiệp, sản lượng lương thực đạt gần 1.500 tấn, các loại hoa màu như ngô, sắn, rau, đậu… năm sau đều cao hơn năm trước cả diện tích và sản lượng Lương thực rau màu dồi dào do đó bà con đã đầu tư chăn nuôi với quy mô ngày càng lớn, nhiều hộ đã lập trang trại, liên doanh sản xuất, chế biến theo hướng công nghiệp hiện đại.Đến nay toàn

xã có tổng đàn trâu bò gần 1.400 con, đàn lợn 620 con và đàn gia cầm 1.200 con Về sản xuất TTCN và dịch vụ thương mại, có 27 cơ sở sản xuất công nghiệp, 4 đơn vị vận tải và 43 đầu mối dịch vụ thương mại, thu hút khá đông con em trong xã có công ăn việc làm, ổn định cuộc sống; hàng chục gia đình

có thu nhập từ 50 – 150 triệu đồng/năm Kinh tế phát triển đã làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi trông thấy, hộ nghèo giảm nhiều so với trước đây Hiện nay, Xuân Chinh có 80% gia đình xây dựng nhà kiên cố, đầy đủ công trình phụ, nội thất khang trang Bà con đã đóng góp nhiều công sức, tiền của mở rộng đường giao thông và bê tông hóa nhiều con đường Việc giao thông đi lại trong thôn xóm dễ dàng và thuận lợi cho mọi người, mọi nhà

Trang 23

2.2.3 Văn hóa, giáo dục, y tế

Về văn hóa – xã hội, tập trung đi vào xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, đầu tư xây dựng trường học, trạm y tế, nâng cấp đường giao thông nông thôn, phấn đấu thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới

Những năm gần đây do kinh tế phát triển, nguồn thu ngân sách của xã ngày một tăng, xã đã tập trung đầu tư xây dựng nhiều công trình văn hóa – xã hội, thiết thực phục vụ đời sống nhân dân Năm 2017 đưa vào sử dụng khu bán trú cho học sinh phổ thông dân tộc, trung học cơ sở, trường mầm non, đường bê tông thôn Xeo, thôn Tú Tạo, thôn Chinh đi thôn Giang Đặc biệt đã hoàn thành xây dựng trụ sở xã với nguồn vốn và sự đóng góp công sức của toàn dân trị giá hơn 5 tỷ đồng Hiện nay đang tiếp tục thi công xây dựng nhà văn hóa xã với nhiều tính năng hoạt động, 7 thôn đều có quỹ khuyến học, hỗ trợ những học sinh nghèo vượt khó vươn lên trong học tập

Năm 2017 cũng từ nguồn ngân sách có được, Xuân Chinh tặng quà tết cho các đối tượng chính sách trị giá 50 triệu đồng; hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo 170.000đ; hỗ trợ tiền ăn, lương thực cho mỗi học sinh bán trú 25.000đ

Là xã bước vào xây dựng nông thôn mới gần như từ “2 bàn tay trắng”, nhưng mấy năm gần đây Đảng bộ và toàn dân đã vào cuộc, đầu tư mọi công sức, tiền của cho mục tiêu này Mới 3 năm, toàn xã đã nỗ lực phấn đấu từ 3 tiêu chí vượt lên 13 tiêu chí, trong đó 4 thôn 6, 7, 8, 9 đạt 14 tiêu chí

2.3 Hiện trạng sử dụng đất và hiện trạng rừng

Tổng diện tích tự nhiên của xã là: 7314,80(ha), trong đó:

+ Diện tích đất nông nghiệp: 3399,54 (ha);

+ Diện tích đất lâm nghiệp: 515,72 (ha);

+ Diện tích đất sinh hoạt: 2266,36 (ha)

+ Diện tích đất chưa sử dụng: 1133,18 (ha)

Người dân xã Xuân Chinh chủ yếu sử dụng đất để sinh sống, trồng hoa màu và trồng cây rừng như Keo, Quế, Luồng,… Tính đến nay đã có hơn 200ha rừng trồng được phủ xanh ở xã Hàng năm ngoài số ha cây rừng bà con

tự trồng thì huyện cũng khoán cho xã đạt chỉ tiêu 50ha rừng trồng keo với giống được cung cấp

Trang 24

CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề xuất được biện pháp quản lý loài sâu hại chính

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Xác định thành phần loài sâu hại Keo tai tượng và loài sâu hại chính trong khu vực nghiên cứu

- Xác định một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại chính

- Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp quản lý loài sâu hại chính

- Đề xuất biện pháp quản lý loài sâu hại chính

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của khu vực

nghiên cứu của Ủy ban nhân dân xã Xuân Chinh

- Các tài liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài sâu hại Các cuốn sách:

+ “Bảo vệ thực vật” của Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2004)

+ “Côn trùng rừng” Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã (1997)

+ “Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại Keo” Nguyễn Thế Nhã, Lê Thị Diên, Trần Minh Đức, Nguyễn Thị Thương, Huỳnh Thị Ngọc Diệp (2009)

Trang 25

- Tài liệu về giám định các loài sâu hại So sánh và kế thừa các bộ mẫu chuẩn bộ môn bảo vệ thực vật Dựa vào giáo trình: “Bảo vệ thực vật”, “Côn trùng rừng”, “Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại Keo”

3.3.2 Phương pháp điều tra thực địa

3.3.2.1 Công tác chuẩn bị

Sơ thám, chọn địa điểm để nghiên cứu để nắm được một cách khái quát

về tình hình sâu bệnh của khu vực điều tra và làm cơ sở cho điều tra tỉ mỉ

Chuẩn bị các loại dụng cụ cần thiết, vật liệu nghiên cứu như: Bản đồ, vợt bắt mẫu, cuốc, thước dây, thước kẹp kính, thước bắn chiều cao Ban-me

3.3.2.2 Điều tra ô tiêu chuẩn

Mục đích của điều tra ô tiêu chuẩn là xác định chính xác mật độ của sâu hại (con/cây hoặc con/m2 đất), mức độ gây hại của sâu và ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái như: thực bì, đất đai, địa hình, thiên địch, tổ thành rừng, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, mưa… đến tình hình phát sinh, phát triển của sâu bệnh

Để tiến hành điều tra tỉ mỉ cần tiến hành lựa chọn điểm điều tra mang tính đại diện cho khu vực nghiên cứu Tùy theo điều kiện nghiên cứu mà điểm điều tra có thể là các ô tiêu chuẩn (OTC) hay tuyến điển hình

Về nguyên tắc chung, nếu rừng trồng tương đối đồng đều về địa hình, tuổi cây, thảm thực bì tầng dưới thì số lượng ô ít Còn nếu địa hinh phức tạp, tuổi cây khác nhau, thực bì không đồng nhất thì cần nhiều ô hơn Số lượng cây tiêu chuẩn cần bố trí phụ thuộc vào diện tích của lâm phần và độ chính xác yêu cầu Nhìn chung bình quân từ 10 – 15ha cần điều tra thì đặt một OTC Diện tích OTC nằm trong khoảng 500 - 2500m2 tùy theo mật độ cây trồng, số cây trong ô phải ≥100 cây Cụ thể đối với loài cây Keo tai tượng có mật độ trồng từ 1650 – 2500 cây/ha, cho nên đã tiến hành lập 6 OTC với diện tích là 1000m2

Trang 26

Hình dạng OTC tùy theo địa hình mà có thể là hình vuông, hình tròn hay hình chữ nhật Do độ dốc ở khu vực tương đối lớn nên tiến hành lập OTC hình chữ nhật có kích thước 40m x 25m

Vị trí OTC phải đảm bảo tính đại diền cho khu vực nghiên cứu Do đó, khi bố trí phải chú ý các đặc điểm về địa hình như: Độ cao, hướng phơi; Các đặc điểm về lâm phần như: loài cây, tuổi cây, mật độ trồng, độ tàn che, thực

bì tầng dưới, tình hình đất đai Trong khu vực nghiên cứu ở 2 lâm phần khác nhau Trên mỗi lâm phần đặt OTC ở 3 vị trí đó là: Chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi Dụng cụ để lập OTC gồm: Thước dây, cột mốc, phấn đánh dấu Để xác định OTC ta lấy 1 cây làm mốc (Cây làm mốc được đánh dấu phần), từ cây làm mốc xác định góc vuông bằng việc áp dụng định lý Pitago trong tam giác vuông có cạnh là 3cm, 4cm và 5 cm Sau khi xác định được góc vuông ta căng dây đo 1 cạnh chiều dài là 40m, chiều rộng là 25m, tại các góc đều phải xác định các góc vuông như trên OTC được xác định khi khép góc mà sai số cho phép nhỏ hơn 1/200

Để xác định các đặc điểm trong OTC phải kết hợp giữa điều tra thực địa, phỏng vấn chủ rừng và kế thừa tài liệu của UBND xã Xuân Chinh

Để có Hvn và D1.3 bình quân, trên mỗi OTC tiến hành đo đại diện 30 cây, chọn cây theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Dụng cụ đo chiều cao cây là súng bắn chiều cao; Dụng cụ đo đường kính D1.3 là đo bằng thước kẹp kính Hướng phơi và độ dốc dùng địa bàn để xác định Các đặc điểm như: Tuổi cây, mật độ trồng, độ cao, đất đai kế thừa số liệu từ hồ sơ trồng rừng của chủ rừng

Các thông tin thu thập được tổng hợp vào bảng 3.01 như sau:

Trang 27

Bảng 3.01: Đặc điểm của các OTC

Địa điểm: xã Xuân Chinh, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa

Ngày điều tra: 01/04/2019

4 Chân/Sườn/Đỉnh? Chân Sườn Đỉnh Chân Sườn Đỉnh

7 Nguồn giống Trồng, mọc tái sinh Trồng

8 Số cây trong OTC 107 110 105 109 106 111

Độ che phủ khoảng 68%

Chủ yếu là: Dương xỉ,

ba soi, guột,…

Độ che phủ khoảng 48%

Trang 29

trung bình Tình hình sinh trưởng của Keo ở tuổi 5 cụ thể như: Hvn= 10,33m;

D1.3= 9cm và ở rừng keo 4 tuổi: Hvn= 7,63m; D1.3= 6,47cm Sự phát triển chậm của keo do nguyên nhân đất cằn cỗi, kỹ thuật chăm sóc còn hạn chế

(không tỉa thưa, mật độ cây quá dày…)

Keo tai tượng tại đây được trồng thuần loài với diện tích lớn, mật độ cây dày, với điều kiện cây phát triển ở mức trung bình, thảm mục che phủ mặt đất dày…đã tạo điều kiện thuận lời cho các loài sâu hại sinh trưởng và phát triển

3.3.2.3 Chọn cây tiêu chuẩn và cành điều tra

Để đảm bảo mỗi lần điều tra 10% tổng số cây trong OTC, tiến hành đánh số thứ tự các cây trong ô từ 1 đến n cây Tiến hành chọn cây tiêu chuẩn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống: Cứ cách 1 hàng điều tra 1 hàng, cách

5 cây điều tra 1 cây, với định kỳ 7 ngày điều tra 1 lần

Cây keo tai tượng là loài cây lá rộng nên 1 cây tiêu chuẩn điều tra 5 cành theo các vị trí sau:

- Hai cành gốc theo hướng Đông – Tây

- Hai cành giữa theo hướng Nam - Bắc

- Một cành ở giữa

3.3.2.4 Xác định các chỉ tiêu trên cây tiêu chuẩn

a Điều tra côn trùng sống trên cây

Khi điều tra trên cây tiêu chuẩn cần chú ý tới các đặc điểm tán cây, chiều cao cây, đặc điểm sinh học của sâu để chọn mẫu cho thích hợp:

Chọn 5-6 mẫu cành phân bố đều trong tán rồi cắt bằng kéo/dao hay dùng câu liêm sắc để lấy mẫu điều tra Ước lượng tổng số mẫu cành của mỗi cây tiêu chuẩn bằng cách đếm số mẫu cành của một cành cấp 1 (mọc ra từ thân chính) rồi nhân với tổng số cành cấp 1

Trên các cành đã chọn của cây tiêu chuẩn, tiến hành quan sát, đếm số lượng cá thể của từng loài sâu hại của mỗi cành theo giai đoạn phát triển của chúng

Trang 30

Riêng đối với nhóm sâu Họ Ngài đêm như: Sâu nâu, sâu nâu vạch xám điều tra xung quanh gốc cây khoảng từ mặt đất đến chiều cao cây 1.5m; và ở lớp thảm mục lá khô trên mặt đất

Trên mỗi cành điều tra của cây tiêu chuẩn, tiến hành điều tra 5 lá theo các vị trí sau: 2 lá ở gốc cành, 2 lá ở giữa cành và 1 lá ở đầu cành

- Cách phân cấp mức độ bị hại theo tiêu chuẩn sau:

+ Cấp 0: Lá không bị hại

+ Cấp I: Phiến lá bị hại <25% tổng diện tích lá

+ Cấp II: Phiến lá bị hại từ 26 – 50% tổng diện tích lá

+ Cấp III: Phiến lá bị hại từ 51 – 75% tổng diện tích lá

+ Cấp IV: Phiến lá bị hại >75% tổng diện tích lá

Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu như sau:

Mẫu biểu 01: Phiếu điều tra sâu hại rừng trồng

b Điều tra côn trùng sống trong đất

Phương pháp xác định ô dạng bản: Trong một OTC, điều tra 5 ô dạng bản: 4 ô ở góc và một ô ở trung tâm của OTC Ô dạng bản phải bố trí nằm ở gốc của cây tiêu chuẩn với diện tích là 1m2 (1m x 1m) Mỗi ô đào từng 10 cm, mỗi lớp đất để riêng, đào đến khi nào không thấy sâu nhộng thì lấp lại, lớp nào đào sau cùng thì lấp trước

Dùng thước để đo xác định ô dạng bản Sau đó dùng tay lật lớp thảm mục trên mặt đất để tìm kiếm các loài sâu hại Tiếp theo dùng cuốc, cuốc từng lớp đất, mỗi lớp sâu 10cm, đất ở mỗi lớp đưa về một phía khác nhau để tránh nhầm lẫn Mỗi lớp đất cần xới tơi, bóp nhỏ hoặc dùng rây đất để tìm kiếm sâu

Ngày đăng: 09/08/2023, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Văn Vịnh (2004): “Dẫn liệu về Phù du (Ephemeroptera: Insecta) ở suối Thác Bác, VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc”, Tạp chí Khoa học, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 71 – 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu về Phù du (Ephemeroptera: Insecta) ở suối Thác Bác, VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc
Tác giả: Nguyễn Văn Vịnh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
1. Phạm Ngọc Anh (1976): Côn trùng Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
2. Đặng Vũ Cẩn (1973): Sâu hại rừng và cách phòng trừ, NXB Nông nghiệp Khác
3. Trương Việt Cường (2012): Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý tổng hợp sâu hại Keo tai tượng tại Mộc Châu – Sơn La. Khóa luận Trường Đại học Lâm nghiệp Khác
4. Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Giao (1997): Điều tra rừng, NXB Nông nghiệp Khác
5. Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã (1997): Côn trùng rừng, NXB Nông nghiệp Khác
6. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão (2001): Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp Khác
7. Nguyễn Thế Nhã (2001): Sâu ăn lá Keo tai tượng và phương pháp phòng trừ. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 10 Khác
8. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh (2002): Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích, NXB Nông nghiệp Khác
9. Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2004): Bảo vệ thực vật, NXB Nông nghiệp Khác
10. Cao Thị Kim Thu (2002): Nghiên cứu đa dạng về côn trùng Thủy sinh ở VQG Kon Ka Kinh tỉnh Gia Lai Khác
11. Phạm Quang Thu (2010): Field guide to pest and diseases Acacia Eucalyptus Pinus Khác
12. Viện Điều tra Quy hoạch, 2005. Kết quả điều tra côn trùng rừng tự nhiên và sâu bệnh hại rừng trồng toàn quốc. Báo cáo chuyên đề Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm