TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm họ Đơn nem
Họ Đơn nem dễ nhận biết ngoài tự nhiên do mọc phổ biến dưới tán rừng, ven đường đi, trên đồi núi, sa mạc hoặc đầm lầy ven biển (Aegiceras) Các cây gỗ nhỏ hoặc bụi phân nhánh, thường cao 1-2m, có thể đạt 6-12m hoặc tạo thành bụi không phân nhánh, đặc biệt chi Chua ngút (Embelia) dạng bụi leo Lá đơn, mọc cách, mép nguyên hoặc khía răng, không có lá kèm, giúp phân biệt các chi từ đặc điểm về hình thái lá Hoa tập trung ở đầu cành hoặc cở nách lá, tạo thành chùm, tán hoặc ngù, là đặc điểm quan trọng để phân biệt các taxonomy của họ Đơn nem Các bộ phận của cây đều có tuyến hoặc tuyến dưới dạng đường gân rõ nét, như lá chi Đơn nem (Maesa) hoặc quả chi Trọng đữa (Ardisia) Hoa phần lớn có mẫu 4-5, ít khi 6, bầu thượng hoặc trung trong chi Đơn nem Quả hạch hình cầu, chứa 1 hoặc nhiều hạt, có cạnh (Maesa) Dù dễ nhận biết các chi, nhưng phân biệt thành phần loài trong chi Trọng đũa (khoảng 101 loài tại Việt Nam) rất khó vì các loài giống nhau mắt thường Các đặc điểm như điểm tuyến, hình dạng, vị trí của cụm hoa và cách sắp xếp lá đài là yếu tố quan trọng để phân biệt các loài trong chi Trọng đũa.
Rễ của họ đơn nem bắt đầu từ mầm đâm thẳng xuống đất để hình thành rễ chính, bên cạnh đó còn có nhiều rễ phụ hoặc rễ bên mọc ngang mặt đất nhằm tăng diện tích hút của cây hoặc phát triển thành thân rễ phình to, như một số loài thuộc chi Trọng đũa.
- THÂN: Trong tất cả các loài của họ Đơn nem trừ Ardisia primulaefolia
Gardn và Champ không có thân và lá mọc kiểu hoa thị, trong khi các loài khác đều có thân tròn, phân nhánh hoặc không phân nhánh, thường gặp ở nhóm Sect Bladhia của chi Trọng đũa Điều này giúp phân biệt các loài trong chi Trọng đũa dựa trên đặc điểm sinh học và hình thái học, hỗ trợ công tác nhận dạng thực vật chính xác hơn.
Trong chi Xay (Myrsine), thân, cành thường chứa nhiều bì khổng giúp bảo vệ và duy trì độ ẩm cho cây Cành non đôi khi có cạnh và lông, sau đó phát triển thành dạng tròn và nhẵn Trên thân và cành của cây thường xuất hiện các vết sẹo là dấu vết của lá đã rụng, cùng với các u nhỏ là di tích của cụm hoa, thể hiện đặc điểm sinh trưởng của cây.
Lá thường tập trung ở đầu cành, đôi khi mọc đối hoặc gần mọc vòng do sự rút ngắn của đốt thân, tạo thành các lá kề nhau dạng vòng hoặc đối xứng Chúng có hình dạng giống như lá kép lông chim, mang đặc điểm nổi bật giúp nhận biết cây dễ dàng Việc phân bố lá tại vị trí đầu cành góp phần tối ưu hóa quá trình quang hợp và phát triển của cây Tóm lại, đặc điểm của lá giúp xác định chính xác loài cây và hiểu rõ hơn về cấu trúc sinh thái của chúng.
Emelia henryi E Walker, Embelia polypodyoides Hemsl et Mez và Embelia parviflora Wall có mép lá nguyên gợn sóng hoặc khía răng đa dạng Răng cưa nhỏ đều, nhọn đặc trưng cho chi Trọng đũa thuộc sect Bladhia Phiến lá thường chứa điểm tuyến màu đen hoặc đỏ nâu, có thể trong suốt hoặc tuyến dưới dạng đường gân giống như gân cấp III của lá (Maesa) Hệ gân lá của họ Đơn nem theo kiểu lông chim, nổi rõ ở mặt dưới, với các gân bên thường phân nhánh ở mép lá, đặc trưng thường gặp ở các chi Đơn nem.
Hoa họ Đơn nem thường có kích thước nhỏ, chủ yếu tập trung ở đầu cành, nách lá hoặc ngoài nách lá, tạo thành các dạng chùm, chùy, tán, ngù hoặc xim Hoa thường mọc thành cụm rất ngắn, không quá 1cm, ở nách lá đã rụng, với gốc cụm hoa có nhiều lá bắc xếp lợp, thấy rõ ở các chi như Myrsine và một số loài thuộc chi Embelia.
Hoa đều, lưỡng tính hoặc ít khi đơn tính hoặc tạp tính như một số loài của chi Maesa, Embelia Hoa thường có cuống, gốc mỗi cuống hoa đều có một lá bắc, riêng các loài của chi Maesa còn có hai lá bắc nhỏ, có thể tồn tại hoặc sớm rụng Hoa mẫu 4-5, hiếm khi mẫu 6, màu trắng, hồng hoặc ít khi mùa đỏ Lá đài hợp ngắn hoặc rời, xếp lợp hoặc vặn, có điểm tuyến hoặc gân tuyến, mép ít khi nhẵn hoặc có lông, đầu nhọn, tù hoặc tròn, đài thường dính liền với bầu gặp ở chi Đơn nem và tồn tại, thường bền theo quả Cánh hoa hợp ngắn hoặc dính thành ống, gặp ở một số loài của chi Maesa hoặc cánh rời hoàn toàn của chi Embelia; cánh hoa xếp vặn như chi Trong đũa, Sú (Aegiceras) hoặc xếp lợp, van ở các chi còn lại Cánh hoa thường có điểm tuyến hoặc gân tuyến, mặt trong có nhú, góp phần vào đặc điểm nhận dạng của các loài trong nhóm.
Lồi (Papillose) gặp phổ biến ở các chi như Myrsine và Embelia Bộ nhị, bộ phận sinh sản đực của hoa, có số lượng bằng với số cánh hoa và thường đính ở gốc ống tràng hoặc họng tràng, đối diện cánh hoa, với chỉ nhị thường ngắn hoặc không có như ở chi Myrsine Phấn hoa gồm 2 ô nội hướng, các ô có thể có vách ngăn ngang như ở chi Aegiceras; bao phấn mở dọc và rất hiếm khi mở lỗ, đầu nhọn hoặc tù, chỉ nhị dính lưng, trung tuyến có điểm tuyến hoặc không Bộ nhụy gồm bầu, vòi và núm nhụy, bầu hình cầu hoặc bầu dục, một ô, không dính với lá đài hoặc lá đài dính vào bầu tạo thành bầu trung chỉ, đặc trưng ở chi Maesa, còn các chi khác thường có bầu thượng; noãn ít hoặc nhiều, xếp thành vòng dính trên giá noãn trung tâm, đảo hoặc hơi cong, thường có một noãn phát dục, ít khi nhiều Vòi nhụy có thể dày hoặc hình chỉ, dài đến ngắn hoặc không có, núm nhụy dạng chấm hoặc hình lưỡi, xẻ sợi như ở một số chi.
Myrsine (hoặc xẻ 3-5 thùy) thuộc chi Maesa, có quả hạch hình cầu hoặc quả mọng với đài và gốc còn lại trên quả, vỏ quả khi chín màu đỏ hoặc tím thường có điểm tuyến hoặc gân tuyến, ít khi hình quả nang cong Hạt của Myrsine có hình cầu, màu nâu hoặc đen, vỏ mỏng và lõm rộng ở gốc, trong khi chi Đơn nem có nhiều hạt nhỏ, cánh và nội nhũ bóng hoặc gậm Phôi của các loài trong chi này có hình trụ hoặc hơi cong, phù hợp với đặc điểm sinh học của chúng.
Tình hình nghiên cứu về họ Đơn nem (Myrsinaceae) trên Thế giới
Trên thế giới, họ Đơn nem (Myrsinaceae) gồm khoảng 38 chi và hơn 1.000 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của hai bán cầu Các quốc gia có đa dạng loài Đơn nem điển hình bao gồm Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Philippines, New Zealand, Australia, Nam Phi và các quốc gia Nam Mỹ.
Họ Đơn nem (Myrsinaceae) cùng với họ Theophrastaceae và Primulaceae được xếp và bộ Primulales (Takhtajan, 1991) Đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về họ Đơn nem:
Linné (1753) phát hiện ra 1 chi và 1 loài mới (Myrsine africana L.); Loureiro
(1790) tìm ra chi Pyrgus Lour., nay được công nhận là Sect Pyrsrgus (Lour.) Mez của chi Trọng đũa (Ardisia)
According to Alphonse de Candolle (1884), the Myrsinaceae family includes species such as Sapotis afines Juss and the tribe Ophiospermeae He separated the genus Aegiceras from Myrsinaceae to establish a distinct family called Aegiceraceae De Candolle further divided Myrsinaceae into two suborders ("Subordo"), providing a systematic classification within the family.
Phân họ 1: (không có tên): 1 tông (Tribus): Maesaeae A DC và 1 chi Maesa Forsk Phân họ 2: Eumyrsinaceae – Ardisieae A DC.:
- Ardisieae A DC.: gồm 17 chi, trong đó có 2 chi ở Việt Nam: Myrsine và
Ardisia được chia làm 7 sect., nhưng không được công nhận một section nào
Hệ thống phân loại của Alphonse de Candolle tuy còn nhiều thiếu sót nhưng đã phát hiện ra một số Tribus, Genus và Section mới
Ngược lại Bentham & Hooker (1873) và C B Clarker (1882) lại đưa chi
Aegiceras và Theophrasta vào họ Myrsinaceae Các nhà nghiên cứu này chia
- Eumyrsineae: 18 chi, trong đó Việt Nam có 4 chi: Ardisia, Embelia, Maesa và Aegiceras
- TheoPhrasteae : 4 chi: Reptonia, Theophrasta, Clavija, Jacquinia
Cũng như các tác giả trên, nhưng Pax (1889) chia Myrsinaceae ra làm thành 4 phân họ:
- Myrsinoideae: 4 tông, 13 chi, trong đó chi Ardisia chia làm 5 phân chi
Baillon (1892) không những chỉ sáp nhập Theophrastaceae mà còn sáp nhập cả
Primulaceae và chi Coris L Của họ Coridaceae vào họ Myrsinaceae Ông chia họ này thành 9 series (thực chất là tông):
Hệ thống phân loại của Mez (1902) là đáng chú ý khi ông loại trừ các họ mà Baillon đã đưa vào Myrsinaceae, gồm Theophrastaceae, Primulaceae và chi Coris.
L Mez thừa nhận 1 số chi của Alphonse de Candolle và giữ lại 2 phân họ của Pax đã chia: Maesoideae, Myrsinoideae và mô tả bổ sung thêm nhiều chi và phậ chi mới
Mez đã chia Mysinaceae thành 2 phân họ:
+ Maesoideae: 1 tông: Maesaeae: 1 chi và 2 phân chi: Maesa: Monotaxis và Eumae- seae
+ Myrsinoideae (bao gồm các phân họ và tông Aegiceratoideae, Embelieae, Ardi- sieae, Eumyrsineae): 2 tông:
- Ardisieae A DC.: 5 chi: Aegiceras, Ardisia,Hymenandra, Canadrium và Heber- denia
Chi Ardisia chia làm 14 phân chi: Walleniopsis, Synardisia, Graphardisia, Picke- ringia, Icacoea, Pimelandra, Akosmos, Stylardisia, Acradisia, Tinopsis, Tinus, Pygus, Crispardisia, Bladhia
- Myrsineae : 23 chi: Monoporus, Tapeinosperma, Labisia, Parathesis, Tetarardisia, Oncostemon, Amblianthus, Amplianthopsis, Discocalyx, Cybianthus, Gammadenia, Geisanthus, Wellenia, Conomorpha, Stylogyne, Badula, Weigeltia, Grenacheria, Suttonia, Pleiomeris, Myrsine, Rapanea, Embelia
Chi Embelia chia làm 8 phân chi: Porembelia, Euembelia, Embeliopsis, Hete- rembelia, Pattara, Micrembelia, Choripetalum, Halembelia
Hệ thống phân loại của Mez là hệ thống hoàn chỉnh và dễ tra cứu nhất, vì nó dựa hoàn toàn vào đặc điểm hình thái của các cơ quan dinh dưỡng như thân, cành, lá, cùng với các cơ quan sinh sản như hoa, quả và hạt.
Pitard (1930) chia Myrsinaceae ở Đông Dương trực tiếp ra làm 6 chi: Maesa
(17 loài), Rapanea (2 loài), Embelia (11 loài), Labisia (1 loài), Ardisia (77 loài),
Aegiceras (1 loài) Dựa vào hệ thống của Mez, chi Ardisia cũng chia thành 7 section: Pimelandra (2 loài), Akosmos (21 loài), Stylardisia (3 loài), Acrardisia (4 loài),
Pyrgus (5 loài), Tinus (17 loài), Crispardisia (25 loài)
Pitard không thành lập sect Bladhia, mà chủ yếu phân loại các loài dựa trên đặc điểm hình thái của lá, như cây không phân nhánh và mép lá khía răng cưa nhỏ đều, sắc nét Ông xếp loài Ardisia silvestris Pitard (Lá khôi) vào sect Akosmos; trong khi A primulaefolia L và A chinensis Benth lại vào sect Crispardisia, đặc điểm của các loài này là mép lá khía răng cưa tròn và có tuyến mép, điều này không phù hợp với các đặc điểm hình thái của các section đã đề cập.
Trong những năm 1940, E Walker là nhà nghiên cứu hàng đầu về họ Myrsinaceae, có nhiều công trình nghiên cứu phong phú tại Vân Nam (Trung Quốc), Đài Loan, Đông Á, Thái Lan, Nhật Bản và Iceland Công trình của ông đặc biệt tập trung vào nghiên cứu các loài và đặc điểm của họ này ở khu vực Đông Á, góp phần quan trọng vào hiểu biết về hệ sinh thái và bảo tồn thực vật trong khu vực.
(1940) E Walker thống nhất với quan điể của Mez chia Myrsianceae ra làm 2 phân họ và các tông giống như của Mez
Còn Nakai (1941) lại tách những phân họ mà Mez đã sáp nhập và chia ra thành
Ngược lại với các tác giả trên, Hutchinchon (1959) đã tách 2 chi Aegiceras và
Theophrasta để thành 2 họ riêng biệt và cùng với họ Myrsinaceae xếp vào bộ
Ngoài ra còn một số tác giả như H Melchior (1954), C Chen (1979), Takhtajan (1981) đều chia Myrsinaceae thành 3 phân họ:
Ngoài các tác giả đã nêu, nhiều nhà nghiên cứu khác như Bentham (1861), Kurz (1877), Barker (1965), Chun (1974), C Y Wu, C Chen (1979) đã đóng góp vào lĩnh vực này, dựa trên nền tảng hệ thống của Mez Các công trình của họ mở rộng và phát triển các lý luận ban đầu, góp phần nâng cao hiểu biết về vấn đề nghiên cứu Những nghiên cứu này nổi bật trong phạm vi đã đề cập, đặc biệt là trong việc phân tích hệ thống và ứng dụng thực tiễn của các lý thuyết liên quan.
Các nhà nghiên cứu hệ thống phân loại họ Myrsinaceae có thể chia thành hai nhóm chính Nhóm thứ nhất phân loại dựa trên các phân họ để xác định cấu trúc của họ này Trong khi đó, nhóm thứ hai trực tiếp phân chia thành các tông hoặc các chi, giúp làm rõ hơn các mức phân loại chi tiết của họ Myrsinaceae.
Tình hình nghiên cứu về họ Đơn nem (Myrsinaceae) tại Việt Nam
Họ Đơn nem tại Việt Nam gồm có 5 chi và khoảng 144 loài, chủ yếu là thành phần phổ biến trong tầng cây bụi dưới tán rừng, theo tài liệu Thực vật chí Việt Nam tập 4 Hệ thống phân loại các taxon thuộc họ Myrsinaceae đã được thống kê rõ ràng trong bảng 1.1.
Bảng 1.1 Hệ thống phân loại họ Myrsinaceae ở Việt Nam
Pimelandra Pyrgus Tinus Stylardisia Acrardisia Akosmos Bladhia
Heterembelia Pattara Micrembelia Choribetalum Myrsine (bao gồm cả chi Rapanea)
Tình hình nghiên cứu về Hệ thực vật tại VQG Xuân Sơn
Nghiên cứu hệ thực vật ở Phú Thọ ngày càng được chú trọng nhằm bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương Trung tâm Phát triển công nghệ cao đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu tiềm năng và triển vọng của một số nhóm tài nguyên thực vật ở tỉnh Phú Thọ," nhằm xác định các nhóm cây chủ yếu như cây gỗ với 204 loài thuộc 136 chi, 57 họ; cây thuốc với 684 loài trong 136 họ, 457 chi; cây cho tinh dầu với 48 loài thuộc 18 họ; và cây cho dầu nhựa với 163 loài thuộc 121 chi Các kết quả nghiên cứu góp phần đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của các nhóm thực vật này một cách bền vững.
84 họ; nhóm cây nhuộm màu: có 40 loài; nhóm cây ăn được: có 225 loài thuộc 157 chi, 77 họ, 3 ngành
Nghiên cứu của Trường Đại học Thái Nguyên về đa dạng thực vật trong các hệ sinh thái rừng tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ, là cơ sở quan trọng cho công tác quy hoạch và bảo tồn sinh thái Kết quả nghiên cứu đã xác định rõ đặc điểm đa dạng sinh học, phát hiện các loài thực vật quý hiếm, đồng thời phân loại, mô tả cấu trúc và phân tích sự biến đổi của các kiểu thảm thực vật theo các đai độ cao (dưới 700m và trên 700m), địa hình và tác động của con người Ngoài ra, nghiên cứu đã bổ sung thêm 2 họ, 5 chi và 16 loài thực vật mới vào hệ thực vật của Vườn quốc gia Xuân Sơn Luận án còn cung cấp nhiều dữ liệu quan trọng về đa dạng các taxon thực vật cùng sự biến đổi của thảm thực vật trong khu vực, góp phần nâng cao hiểu biết và hướng dẫn công tác bảo tồn hiệu quả hơn.
11 vật của Vườn Đã xác định được công dụng của 948 loài cây có ích và 47 loài thực vật quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng ở VQG
Nghiên cứu về đa dạng yếu tố địa lý của hệ thực vật huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ cho thấy có tổng cộng 764 loài thực vật được ghi nhận Trong quá trình phân tích, chúng tôi xác định 19 yếu tố địa lý ảnh hưởng đến phân bố của hệ thực vật Hệ thực vật huyện Phù Ninh có tỷ lệ các loài đặc hữu khá cao, với 75 loài, chiếm 9,82% tổng số loài Riêng yếu tố đặc hữu Bắc Bộ đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học của khu vực này.
Nghiên cứu đã ghi nhận 37 loài thực vật đặc hữu, chiếm 4,84% tổng số loài và thuộc 35 chi, đại diện cho 6,86% tổng số chi đặc hữu, cùng 31 họ chiếm 20,13% tổng số họ đặc hữu Các yếu tố địa lý như Đông Dương, châu Á nhiệt đới và Ấn Độ đóng vai trò quan trọng trong sự đa dạng loài, phản ánh hệ sinh thái phong phú của Việt Nam Yếu tố di cư, nhập nội và cây trồng mới góp thêm 58 loài, chiếm 7,59% tổng số loài, thể hiện tính đa dạng và giá trị khoa học của hệ thực vật huyện Phù Ninh Công tác điều tra còn tập trung vào các loài cây có giá trị kinh tế và các loài nguy cơ bị tuyệt chủng, qua đó làm cơ sở tuyên truyền, giáo dục bảo tồn tài nguyên thiên nhiên tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn Kết quả nghiên cứu đã xác định gần 400 loài thuộc 102 họ, trong đó có 63 loài nguy cấp được ghi nhận trong sách đỏ Việt Nam và thế giới, mô tả đặc điểm hình thái, phân bố sinh thái học và giá trị kinh tế của từng loài Các dữ liệu này được biên soạn thành cuốn sách "Át-lát 300 loài thực vật tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn" nhằm hỗ trợ công tác quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên thực vật trong khu vực Đề tài còn đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển các loài thực vật, đặc biệt là 63 loài cây gỗ quý hiếm, đồng thời tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ rừng, góp phần duy trì đa dạng sinh học bền vững.
Hiện tại, các nghiên cứu về thực vật tại Vườn quốc gia Xuân Sơn chủ yếu tập trung vào các đặc điểm của thực vật mà chưa có công trình nào khảo sát về đa dạng loài hay taxon của hệ thực vật trong khu vực Ngoài ra, chưa có nghiên cứu nào đánh giá phổ dạng sống của các loài thực vật theo từng vùng trong Vườn quốc gia, điều này làm hạn chế khả năng hiểu rõ về cấu trúc và phân bố của hệ sinh thái thực vật nơi đây.
Sự đa dạng sinh vật tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn đã được nghiên cứu sơ bộ qua nhiều cuộc điều tra khảo sát của các cơ quan khác nhau Năm 1990, Chi cục Kiểm lâm Vĩnh Phúc phối hợp với Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Tây Bắc thực hiện điều tra khả thi thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn Năm 1998, điều tra sơ bộ tài nguyên động vật và thực vật tại khu vực do Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ phối hợp với các tổ chức nghiên cứu như Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Tây Bắc, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, cùng Khoa sinh của Đại học Sư phạm Hà Nội thực hiện Đặc biệt, trong giai đoạn 2000-2001, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tiến hành điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên sinh vật của khu bảo tồn, cho thấy hệ thực vật hạt trần tại Xuân Sơn gồm 5 họ với 6 loài được ghi nhận, phản ánh sự đa dạng sinh học phong phú của khu vực.
Three rare species listed in the 1996 Vietnam Red Book include the Tuế núi đá (Cycas balansae Warb.), the narrow white-tipped Dẻ tùng dọc (Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg.), and Kim giao (Nageia fleuryi (Hick.) De Laub.) Additionally, important timber species within the Magnoliophyta (angiosperms) group have been initially cataloged, revealing 130 species, such as the valuable hardwoods Táu mật (Vatica tonkinensis A Chev.), Trai (Garcinia fagraeoides A Chev.), Lát hoa (Chukrasia tabularis A Juss), Nghiến (Excentrodendron tonkinense (Gagnep Chang)), Sến mật (Madhuca pasquieri H Lee.), Sâng (Pometia pinnata Wang-Hsi), Chò nâu (Dipterocarpus retusus Bl.), Chò chỉ (Parashorea chinensis), Chò vẩy (Dysoxylum hainanense Merr.), and Trầm hương (Aquilaria crassna Pierre ex Lecome).
Tháng 10 năm 2002, Trung tâm Tài nguyên môi trường thuộc Viện Điều tra Quy hoạch rừng phối hợp với ban quản lý VQG Xuân Sơn và Chi cục kiểm lâm Phú Thọ tiếp tục tổ chức một đợt khảo sát Đa dạng sinh vật ở khu vực này và đã thu được kết quả: Về thực vật, đã thống kê được 726 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 475 chi và 134 họ Như vậy số lượng loài thực vật tăng gấp đôi so với trước Trong ngành thực vật đã ghi nhận được thì ngành Ngọc lan - Magnoliophyta chiếm đa số (672 loài,
Các ngành thực vật được liệt kê bao gồm ngành Dương xỉ - Polyodiophyta với 42 loài, 21 chi, 15 họ; ngành Thông đất - Lycopodiophyta có 5 loài, 3 chi, 2 họ; ngành Thông - Pinophyta gồm 5 loài, 5 chi, 4 họ; và hai ngành ít loài nhất là Quyết lá thông - Psilotophyta và Cỏ tháp bút - Equisetophyta, mỗi ngành chỉ có 1 loài, 1 chi, 1 họ.
Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trong các hệ sinh thái rừng tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đóng vai trò quan trọng trong công tác quy hoạch và bảo tồn tài nguyên rừng Theo Nguyễn Thị Yến, Lê Ngọc Công và Đỗ Hữu Thư (2008), kết quả điều tra tài nguyên thực vật ở xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cung cấp những dữ liệu giá trị để phát triển các hoạt động bảo vệ sinh thái và duy trì đa dạng sinh học khu vực Các nghiên cứu này giúp xây dựng cơ sở khoa học vững chắc cho việc quản lý bền vững hệ sinh thái rừng và bảo tồn các loài thực vật quý hiếm ở vùng núi phía Bắc Việt Nam.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến, Lê Ngọc Công và Đỗ Hữu Thư (2008) tập trung khảo sát hiện trạng thảm thực vật tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ Bài viết cung cấp cái nhìn toàn diện về đa dạng hệ sinh thái và cấu trúc thực vật trong khu vực Kết quả nghiên cứu giúp nhận diện các loài thực vật chủ yếu và đánh giá tình trạng bảo tồn của hệ sinh thái trong vườn quốc gia này Nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức về giá trị sinh thái của Thảm thực vật Xuân Sơn và đề xuất các biện pháp bảo vệ hiệu quả Đây là nguồn tài liệu quan trọng cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên tại khu vực phía Bắc Việt Nam.
Nguyễn Thị Yến, Lê Ngọc Công, Đỗ Hữu Thư (2010) đã tiến hành khảo sát đa dạng thành phần loài thực vật tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, nhằm cung cấp dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực Nghiên cứu này đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng các phương án bảo vệ đa dạng sinh học, giúp duy trì hệ sinh thái bền vững Kết quả khảo sát cho thấy sự phong phú đa dạng loài thực vật, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn Đây là cơ sở khoa học quan trọng để phát triển các chính sách bảo tồn phù hợp, đảm bảo sự phát triển bền vững của khu vực.
Nguyễn Thị Yến, Lê Ngọc Công và Đỗ Hữu Thư đã thực hiện nghiên cứu về kết quả điều tra tài nguyên cây có ích tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Bài viết đăng trên Tạp chí Khoa học Công nghệ của Đại học Tự nhiên năm 2010, số 11, cung cấp thông tin chính xác về đa dạng và phân bố các loại cây có ích trong khu vực Nghiên cứu này góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và khai thác bền vững nguồn tài nguyên thực vật địa phương.
Tình hình nghiên cứu về họ Đơn nem tại VQG Xuân Sơn
Dựa trên nghiên cứu của Trần Minh Hợi và Trần Xuân Đặng (2008) trong tài liệu “Đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ”, đã ghi nhận tổng cộng 24 loài thuộc 4 chi của họ Đơn nem tại Vườn quốc gia Xuân Sơn Các loài này được liệt kê chi tiết trong bảng 1.2 của tài liệu, góp phần làm rõ đa dạng sinh học tại khu vực này.
Bảng 1.2 Danh lục các loài họ Đơn nem tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
STT Tên loài khoa học Tên loài phổ thông Công dụng
1 Ardisia callophyloides Pitard Cơm nguội còng
2 A crispa (Thunb.) A DC Trọng đũa T
5 A mamillata Hance Lưỡi cọp đỏ T
7 A quinquegona Blume Cơm nguội năm cạnh T
8 A replicata E Walker Cơm nguội xếp
19 A tsangii E Walker Cơm nguội tsang
11 A velutina Pitard Cơm nguội lông
12 A virens Kurz Cơm nguội độc T
13 A villosa Roxb Cơm nguội lông T
14 Embelia laeta (L.) Mez Chua ngút hoa trắng T
16 E undulata (Wall.) Mez Rè dai T
17 Maesa acuminatissima Merr Đơn nem lá nhọn
18 M balansae Mez Đơn nem trâu T, R
Chen) Pipoly & C Chen Đơn nem lá nhỏ hoa ngắn
20 M indica (Roxb.) A DC Đơn nem ấn độ T, A
23 Myrsine affinis A DC Xây gần
24 M linearis (Lour.) S Moore Xây hẹp
Hiện tại, tại Vườn quốc gia Xuân Sơn chưa có công trình hoặc đề tài nghiên cứu chuyên sâu về họ Đơn nem (Myrsinaceae), đặc biệt là về thành phần loài, phân bố và danh lục hoàn chỉnh Danh sách các loài và mẫu vật minh chứng chỉ mang tính minh họa, chưa xác định rõ tên loài Xuất phát từ thực trạng này, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thành phần loài họ Đơn nem (Myrsinaceae) tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” nhằm thống kê chính xác các loài trong họ Đơn nem tại VQG Xuân Sơn Kết quả nghiên cứu sẽ giúp đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững thực vật họ Đơn nem tại khu bảo tồn này.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng cơ sở khoa học nhằm đề xuất biện pháp quản lý và bảo tồn các loài thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae) tại VQG Xuân Sơn
- Xác định được thành phần các loài họ Đơn nem tại khu vực nghiên cứu
- Xác định được đặc điểm lâm học các loài thuộc họ Đơn nem tại VQG Xuân Sơn
- Xác định được hiện trạng quản lý, bảo tồn các loài họ Đơn nem tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn các loài họ Đơn nem tại khu vực nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thành phần loài trong họ Đơn nem tại khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm lâm học của các loài thuộc họ Đơn nem tại khu vực nghiên cứu
- Hiện trạng quản lý, bảo tồn các loài họ Đơn nem tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn các loài họ Đơn nem tại khu vực nghiên cứu
2.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài trong họ Đơn nem (Myrsinaceae)
- Phạm vi nghiên cứu: Tại xã Xuân Sơn, VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hình 2.1 Bản đồ vị trí địa lý Vườn quốc gia Xuân Sơn 2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp xác định thành phần loài và phân bố của họ Đơn nem
Phương pháp kế thừa tài liệu và phỏng vấn
Kế thừa các tài liệu liên quan đến họ Đơn nem, bao gồm sách, giáo trình và bài báo khoa học, nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và mở rộng kiến thức về chủ đề này.
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn và ghi chép ý kiến của các nhà khoa học, cán bộ vườn và người dân địa phương nhằm nắm bắt rõ đặc điểm các loài thuộc họ Đơn nem trong khu vực nghiên cứu Dựa trên đó, chúng tôi lựa chọn các hướng và phương pháp điều tra tối ưu để đạt hiệu quả cao trong nghiên cứu sinh học và bảo tồn các loài này.
Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
- Chuẩn bị: Máy định vị GPS, máy ảnh, bút chì, giấy ghi chép
Để đảm bảo công tác điều tra ngoại nghiệp đạt hiệu quả cao, cần phải tìm hiểu kỹ đối tượng nghiên cứu trước khi tiến hành điều tra thực địa Việc này giúp xác định chính xác các đặc điểm, đặc trưng của đối tượng, từ đó tiết kiệm thời gian, chi phí và nguồn lực trong quá trình điều tra Nắm vững thông tin cơ bản về đối tượng nghiên cứu là yếu tố quyết định thành công của toàn bộ quá trình điều tra ngoại nghiệp.
- Phương pháp điều tra theo tuyến:
Trong quá trình điều tra, tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình hoặc bản đồ hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng của khu vực nghiên cứu cần được lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn để thuận tiện cho việc tiếp cận thực địa Các tuyến điều tra có chiều dài khác nhau được xác định nhằm đảm bảo khảo sát toàn diện tất cả các trạng thái rừng trong khu vực Tuyến này được đánh dấu rõ ràng trên bản đồ và trên mặt đất bằng sơn hoặc dây nilon có màu dễ nhận biết để dễ dàng xác định và di chuyển Trong quá trình điều tra, cần xác định các tuyến chính nhằm khảo sát đầy đủ các loài cây thuộc họ Đơn nem theo các nội dung đề ra, đảm bảo dữ liệu chính xác và toàn diện cho nghiên cứu.
+ Số lượng tuyến điều tra:
Tuyến từ Bản Dù xã Xuân Sơn – Xóm Lạng
Tuyến từ Bản Dù – Núi Đất
Tuyến từ Bản Dù – Núi Ten
Tuyến từ Bản Dù – Xóm Lấp
Sử dụng bản đồ của khu bảo tồn kết hợp với máy GPS để điều tra từng tuyến, nhằm xác định vị trí phân bố của các loài trong họ Đơn nem Phương pháp này giúp xây dựng bản đồ chính xác về các khu vực phân bổ của loài, hỗ trợ công tác nghiên cứu và bảo tồn hiệu quả hơn Quá trình thu thập dữ liệu địa lý bằng công nghệ GPS đảm bảo độ chính xác cao, tạo tiền đề cho các chiến lược bảo vệ và quản lý sinh thái phù hợp.
+ Kết quả điều tra thành phần loài họ Đơn nem được ghi chép theo mẫu biểu
Mẫu biểu 01 BIỂU ĐIỀU TRA TUYẾN
Số hiệu Tuyến Tờ số: Kiểu rừng: Đá mẹ, đất: Địa hình: Độ rộng tuyến:
GPS Điểm đầu: Độ cao:
GPS Điểm kết thúc: Độ cao: Địa điểm:
Sinh cảnh GPS Ghi chú
Trong quá trình điều tra, dữ liệu được ghi chép lại vào bảng 2.1, bao gồm tọa độ tuyến, tọa độ các loài thuộc họ Đơn nem gặp trên tuyến, số lượng, hiện trạng sinh trưởng, vật hậu, đặc trưng của quần thể và quần xã nơi các loài này phân bố Sau đó, phần mềm Mapinfo được sử dụng để đánh dấu các tọa độ tuyến, vùng khảo sát và các kết quả điều tra lên bản đồ hiện trạng của khu vực nghiên cứu.
Bảng 2.1 Biểu tổng hợp tuyến điều tra thực vật thuộc họ Đơn nem tại VQG
Ngày điều tra Địa điểm Người điều tra
Dài tuyến Độ cao đầu
Hình 2.1 Sơ đồ tuyến điều tra thực vật thuộc họ Đơn nem tại VQG Xuân Sơn
- Tổng hợp kết quả từ biểu điều tra tuyến (mẫu biểu 01) lập danh lục thực vật thuộc họ Đơn nem phân bố tại khu vực nghiên cứu
- Qua đó ước lượng số lượng quần thể các loài quý, hiếm, loài có giá trị bảo tồn cao
Xây dựng bản đồ phân bố thực vật thuộc họ Đơn nem
Sử dụng phần mềm Mapinfo kết hợp với nền bản đồ của Vườn Quốc gia Xuân Sơn để xây dựng các bản đồ phân bố của các loài thuộc họ Đơn nem, giúp hiển thị rõ ràng vị trí địa lý và mức độ phân bố của từng loài Đồng thời, các bản đồ tuyến điều tra cũng được thiết lập nhằm hỗ trợ việc theo dõi, nghiên cứu và bảo tồn các loài này một cách hiệu quả Các bước ứng dụng công nghệ GIS này góp phần nâng cao khả năng nghiên cứu và quản lý các loài thực vật trong khu vực, thúc đẩy các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học.
Dùng phần mềm Mapsouer để chuyển dữ liệu GPS sang Mapinfo
Dưới đây là các câu chính chứa ý nghĩa rõ ràng và phù hợp cho nội dung của đoạn văn:1 "Kết quả ghi nhận tọa độ của các loài thuộc họ Đơn nem trên tuyến điều tra được ghi lại trong mẫu biểu 01 trong biểu điều tra tuyến."2 "Trên tuyến điều tra, các thông tin về tọa độ tuyến, tọa độ các loài thuộc họ Đơn nem, số lượng, hiện trạng sinh trưởng, tái sinh, vật hậu, đặc trưng của quần thể và quần xã đều được thống kê đầy đủ."3 "Sau khi thu thập dữ liệu, phần mềm Mapinfo được sử dụng để đánh dấu các tọa độ tuyến, vùng phân bố và kết quả điều tra lên bản đồ hiện trạng."4 "Các kết quả điều tra thể hiện rõ vị trí phân bố của các loài thuộc họ Đơn nem tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn, góp phần nâng cao hiểu biết về phân bố và sinh thái của chúng."
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm lâm học của các loài họ Đơn nem
- Kế thừa các nguồn tài liệu, các kết quả nghiên cứu có liên quan đến các loài thuộc họ Đơn nem về đặc điểm phân bố
Trong bài viết, chúng tôi đã phỏng vấn cán bộ Vườn và người dân địa phương để nắm bắt đặc điểm phân bố của các thực vật thuộc họ Đơn nem tại khu bảo tồn Các hình ảnh về các loài thuộc họ Đơn nem đã minh họa rõ nét sự đa dạng và vị trí phân bố của chúng trong khu vực Những thông tin này giúp hiểu rõ hơn về vai trò của họ Đơn nem trong hệ sinh thái và tầm quan trọng của việc bảo tồn chúng.
Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
Tại các khu vực có sự hiện diện của các loài thuộc họ Đơn nem, tiến hành lập ô tiêu chuẩn (OTC) để xác định tên loài và đánh giá tình hình sinh trưởng của chúng Mỗi vị trí có độ cao khác nhau đều được bố trí một ô tiêu chuẩn với diện tích 500m² (20m x 25m) Trong phạm vi OTC, các nhà nghiên cứu thực hiện điều tra về tầng cây cao, cây bụi và thảm thực vật tươi để thu thập dữ liệu chính xác về sự phát triển của các loài Đơn nem.
Trong quá trình điều tra tầng cây cao, tiến hành khảo sát trong ô tiêu chuẩn, ghi chép toàn bộ các cây gỗ có đường kính từ 6cm trở lên Các thông số quan trọng như loài, chiều cao, đường kính ngang ngực và tán cây đều được ghi nhận chính xác Để đo đường kính, sử dụng thước đo vanh hoặc thước dây nhằm xác định đường kính D 1.3 (cm), đồng thời đo đường kính tán của tầng cây để có dữ liệu đầy đủ cho công tác nghiên cứu và quản lý rừng hiệu quả.
Dt(m), thước bán cao đo chiều cao vút ngọn Hvn (m) và chiều cao dưới càn Hdc (m) Kết quả ghi theo mẫu biểu 02
Mẫu biểu 02 BIỂU ĐIỀU TRA TẦNG CÂY CAO
Tờ số: Kiểuthảm: Đá mẹ, đất: Địa hình: Độ che phủ: Độ dốc: Hướng dốc: Độ cao:
GPS: Ngày ĐT: Địa điểm: Người ĐT:
Sinh trưởng của cây bụi thảm tươi được ghi chú thông qua điều tra thành phần loài, đo chiều cao trung bình (Htb) theo đơn vị mét, xác định tỷ lệ che phủ (Tỷ lệ %CP) và phân bố của các loài trong khu vực nghiên cứu Các số liệu thu thập được sẽ được ghi vào mẫu biểu 03 để phù hợp với chuẩn thống kê và phân tích.
Mẫu biểu 03 BIỂU ĐIỀU TRA CÂY BỤI THẢM TƯƠI, TV NGOẠI TẦNG
Số hiệu ÔTC: Tờ số: Ngày ĐT: Địa điểm:
Diện tích ÔDB= 8m² (2m x 4m); Số lƣợng ÔDB = 5 ÔDB/Ô tiêu chuẩn
Phương pháp xác định tiểu khí hậu, địa hình, độ dốc, độc cao, thổ nhưỡng
Khí hậu thủy văn của vùng có các loài thực vật thuộc họ Đơn nem phân bố, phản ánh rõ nét đặc điểm khí hậu địa phương Việc sử dụng các tài liệu kế thừa về khí hậu của khu vực giúp nâng cao hiểu biết về mối liên hệ giữa khí hậu và sự phân bố của các loài thực vật này, từ đó hỗ trợ các nghiên cứu về sinh thái và phát triển bền vững khu vực.
- Địa hình: Tiến hành điều tra theo tuyến quan sát, kết hợp với kế thừa tài liệu về điều kkiện tự nhiên của địa phương
Để đo độ dốc chính xác, sử dụng thiết bị đo địa bàn cầm tay tại các vị trí khác nhau trên khu vực có loài thuộc họ Đơn nem phân bố Nên thực hiện đo ở ít nhất 3 điểm khác nhau và tính trung bình giá trị để đảm bảo độ chính xác của kết quả đo độ dốc.
Trong quá trình điều tra, việc xác định độ cao của các điểm khảo sát là rất quan trọng để hiểu rõ phân bố của họ Đơn nem Chúng tôi sử dụng GPS để đo chính xác độ cao tại mỗi vị trí có loài thuộc họ Đơn nem phân bố Thông tin về độ cao giúp cung cấp dữ liệu chính xác cho các phân tích sinh thái và định vị vị trí lưu vực hành chính phù hợp Độ cao thu thập được sẽ được ghi nhận vào ÔDB số để dễ dàng quản lý và phân tích sau này.
TT Tên cây Số bụi
- Đặc điểm thổ nhưỡng: Để nghiên cứu về đặc điểm đất đai ta sử dụng phương pháp kế thừa tài liệu về thổ nhưỡng ở địa phương
Phương pháp điều tra nội nghiệp
- Dựa vào kết quả điều tra ngoài thực địa tiến hành tổng hợp đánh giá
- Xác định tổ thành: để xác định công thức tổ thành (CTTT) trước tiên phải xác định được thành phần loài tham gia vào CTTT
Các loài chính là loài có số cây Ni ≥ Ntb sẽ được viết CTTT
Trong đó: Ni là số cây của loài i
Ntb là số cây trung bình của mỗi loài Ntb được tính bằng:
(N: tổng số cây các loài, m: tổng số loài)
Khi đó CTTT được xác định bằng công thức: ∑ Trong đó: Ki: là hệ số tổ thành loài i: Ki =
N i : Số lượng cá thể loài i; N: Tổng số cá thể điều tra
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp xác định thành phần loài và phân bố của họ Đơn nem
Phương pháp kế thừa tài liệu và phỏng vấn
Kế thừa các tài liệu liên quan đến họ Đơn nem là một bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu, bao gồm sách, giáo trình và bài báo khoa học để đảm bảo độ chính xác và đầy đủ của dữ liệu Những tài liệu này giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về đặc điểm, phân bố và vai trò của họ Đơn nem trong hệ sinh thái Việc tổng hợp các nguồn thông tin này còn hỗ trợ xây dựng nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu tiếp theo, nâng cao kiến thức chuyên môn và thúc đẩy phát triển các công trình khoa học liên quan.
Trong quá trình phỏng vấn và ghi chép ý kiến của các nhà khoa học, cán bộ vườn và người dân địa phương, chúng tôi nắm bắt rõ hơn đặc điểm các loài thuộc họ Đơn nem của khu vực nghiên cứu Thông qua đó, chúng tôi có cơ sở lựa chọn các hướng và phương pháp điều tra tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học của loài.
Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
- Chuẩn bị: Máy định vị GPS, máy ảnh, bút chì, giấy ghi chép
Để đảm bảo công tác điều tra ngoại nghiệp đạt hiệu quả cao nhất, cần phải tìm hiểu kỹ đối tượng nghiên cứu trước khi tiến hành điều tra thực địa Việc này giúp xác định chính xác các đặc điểm, hành vi và nhu cầu của đối tượng, từ đó tiết kiệm thời gian, chi phí và công sức cho quá trình thu thập dữ liệu Nắm vững thông tin về đối tượng nghiên cứu sẽ nâng cao độ chính xác và chất lượng của kết quả điều tra, góp phần thúc đẩy thành công của dự án.
- Phương pháp điều tra theo tuyến:
Trong quá trình điều tra, các tuyến khảo sát được xác định trên bản đồ địa hình hoặc bản đồ hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng của khu vực nghiên cứu, dựa vào các đường mòn có sẵn để thuận tiện tiếp cận Các tuyến này có chiều dài khác nhau nhưng đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng của khu vực Tuyến điều tra được đánh dấu rõ ràng trên bản đồ và thực địa bằng sơn hoặc dây nilon màu nổi bật để dễ nhận biết Việc xác định các tuyến chính giúp đảm bảo toàn diện trong quá trình khảo sát các loài cây họ Đơn nem theo các nội dung đề ra.
+ Số lượng tuyến điều tra:
Tuyến từ Bản Dù xã Xuân Sơn – Xóm Lạng
Tuyến từ Bản Dù – Núi Đất
Tuyến từ Bản Dù – Núi Ten
Tuyến từ Bản Dù – Xóm Lấp
Chúng tôi sử dụng bản đồ khu bảo tồn kết hợp với máy GPS để điều tra từng tuyến, nhằm xác định vị trí phân bố của các loài trong họ Đơn nem Phương pháp này giúp xây dựng bản đồ chính xác về khu vực phân bố của các loài, hỗ trợ công tác nghiên cứu và bảo tồn hiệu quả Việc tích hợp dữ liệu địa lý của bản đồ khu bảo tồn với công nghệ GPS là bước quan trọng để xác định rõ phạm vi sinh sống của các loài trong họ Đơn nem, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ đa dạng sinh học trong khu vực.
+ Kết quả điều tra thành phần loài họ Đơn nem được ghi chép theo mẫu biểu
Mẫu biểu 01 BIỂU ĐIỀU TRA TUYẾN
Số hiệu Tuyến Tờ số: Kiểu rừng: Đá mẹ, đất: Địa hình: Độ rộng tuyến:
GPS Điểm đầu: Độ cao:
GPS Điểm kết thúc: Độ cao: Địa điểm:
Sinh cảnh GPS Ghi chú
Trong quá trình điều tra, chúng tôi ghi chép lại các thông tin vào bảng 2.1, bao gồm toạ độ tuyến, toạ độ các loài thuộc họ Đơn nem xuất hiện trên tuyến, số lượng, hiện trạng sinh trưởng, giới hậu, đặc trưng của quần thể và quần xã nơi phân bố các loài này Sau đó, chúng tôi sử dụng phần mềm Mapinfo để đánh dấu các toạ độ tuyến, vùng khảo sát và kết quả điều tra lên bản đồ hiện trạng của khu vực nghiên cứu, giúp trực quan hoá phân bố và tình hình sinh thái của họ Đơn nem.
Bảng 2.1 Biểu tổng hợp tuyến điều tra thực vật thuộc họ Đơn nem tại VQG
Ngày điều tra Địa điểm Người điều tra
Dài tuyến Độ cao đầu
Hình 2.1 Sơ đồ tuyến điều tra thực vật thuộc họ Đơn nem tại VQG Xuân Sơn
- Tổng hợp kết quả từ biểu điều tra tuyến (mẫu biểu 01) lập danh lục thực vật thuộc họ Đơn nem phân bố tại khu vực nghiên cứu
- Qua đó ước lượng số lượng quần thể các loài quý, hiếm, loài có giá trị bảo tồn cao
Xây dựng bản đồ phân bố thực vật thuộc họ Đơn nem
Sử dụng phần mềm Mapinfo cùng nền bản đồ của Vườn Quốc gia Xuân Sơn để xây dựng các bản đồ phân bố của các loài thuộc họ Đơn nem nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và bảo tồn Các bản đồ này giúp hiển thị rõ ràng vị trí và phạm vi phân bố của các loài trong khu vực, đồng thời xây dựng các tuyến điều tra dựa trên dữ liệu khảo sát thực địa Việc ứng dụng công nghệ GIS với Mapinfo và nền bản đồ Xuân Sơn góp phần nâng cao hiệu quả trong việc nghiên cứu, quản lý và bảo vệ đa dạng sinh học tại khu vực.
Dùng phần mềm Mapsouer để chuyển dữ liệu GPS sang Mapinfo
Dựa trên kết quả ghi nhận tọa độ của các loài thuộc họ Đơn nem trong mẫu biểu điều tra tuyến (mẫu biểu 01), chúng tôi đã thống kê các thông tin quan trọng như tọa độ tuyến, tọa độ các loài Đơn nem gặp trên tuyến, số lượng, tình trạng sinh trưởng và tái sinh, vật hậu, đặc trưng của quần thể và quần xã nơi chúng phân bố Sau đó, bằng phần mềm Mapinfo, chúng tôi đã đánh dấu các tọa độ tuyến, vùng phân bố và kết quả điều tra lên bản đồ hiện trạng, thể hiện rõ vị trí phân bố của các loài họ Đơn nem tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, góp phần nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học của khu vực.
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm lâm học của các loài họ Đơn nem
- Kế thừa các nguồn tài liệu, các kết quả nghiên cứu có liên quan đến các loài thuộc họ Đơn nem về đặc điểm phân bố
Trong bài viết, chúng tôi đã thực hiện cuộc phỏng vấn cán bộ Vườn và người dân địa phương để khám phá đặc điểm phân bố của các loài thuộc họ Đơn nem tại khu bảo tồn Các hình ảnh minh họa về các loài Đơn nem đã giúp làm rõ sự đa dạng và vị trí địa lý của chúng trong khu vực Những ý kiến từ cán bộ Vườn và cộng đồng địa phương cung cấp cái nhìn toàn diện về vai trò của họ Đơn nem trong hệ sinh thái, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức về bảo tồn loài Thông qua việc phân tích hình ảnh và thông tin thực địa, bài viết mang đến cái nhìn chân thực về sự phân bố và đặc điểm của các loài họ Đơn nem, giúp khách hàng và người đọc hiểu rõ hơn về giá trị sinh thái của khu bảo tồn.
Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
Tại các khu vực có loài thuộc họ Đơn nem sinh sống, tiến hành lập ô tiêu chuẩn (OTC) để xác định tên các loài và theo dõi tình hình sinh trưởng của chúng Mỗi vị trí có độ cao khác nhau, xây dựng các ô OTC có diện tích 500m² (20m×25m) để đảm bảo quá trình nghiên cứu chính xác Trong ô OTC, tiến hành điều tra tầng cây cao, cây bụi và thảm thực vật tươi, giúp đánh giá đầy đủ khả năng sinh trưởng và phát triển của các loài trong điều kiện tự nhiên.
Trong quá trình điều tra trong ô tiêu chuẩn của tầng cây cao, cần tiến hành khảo sát toàn diện các cây gỗ có đường kính ngang ngực từ 6cm trở lên, ghi lại đầy đủ các thông số như loài, chiều cao, đường kính ngang ngực và đường kính tán của từng cây Để đo đạc chính xác, sử dụng thước đo vạch hoặc thước dây để xác định đường kính D 1.3 (cm) và đường kính tán của tầng cây gỗ, đảm bảo độ chính xác trong dữ liệu thu thập.
Dt(m), thước bán cao đo chiều cao vút ngọn Hvn (m) và chiều cao dưới càn Hdc (m) Kết quả ghi theo mẫu biểu 02
Mẫu biểu 02 BIỂU ĐIỀU TRA TẦNG CÂY CAO
Tờ số: Kiểuthảm: Đá mẹ, đất: Địa hình: Độ che phủ: Độ dốc: Hướng dốc: Độ cao:
GPS: Ngày ĐT: Địa điểm: Người ĐT:
Sinh trưởng của cây bụi thảm tươi được ghi nhận qua việc điều tra thành phần loài, đo chiều cao trung bình (Htb) tính bằng mét, xác định tỷ lệ che phủ (%)CP và khảo sát phân bố Các kết quả thu thập được sẽ được ghi vào mẫu biểu 03, giúp đánh giá chính xác đặc điểm sinh trưởng và phân bố của các loài trong khu vực nghiên cứu.
Mẫu biểu 03 BIỂU ĐIỀU TRA CÂY BỤI THẢM TƯƠI, TV NGOẠI TẦNG
Số hiệu ÔTC: Tờ số: Ngày ĐT: Địa điểm:
Diện tích ÔDB= 8m² (2m x 4m); Số lƣợng ÔDB = 5 ÔDB/Ô tiêu chuẩn
Phương pháp xác định tiểu khí hậu, địa hình, độ dốc, độc cao, thổ nhưỡng
Khí hậu thủy văn của vùng có sự phân bố đặc trưng phù hợp với các loài thực vật thuộc họ Đơn nem Việc nghiên cứu khí hậu thủy văn dựa trên các tài liệu có sẵn về điều kiện khí hậu của địa phương giúp xác định chính xác môi trường sinh trưởng của các loài thực vật này Khí hậu địa phương ảnh hưởng lớn đến đặc điểm phát triển của cây Đơn nem, từ đó hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thực vật này.
- Địa hình: Tiến hành điều tra theo tuyến quan sát, kết hợp với kế thừa tài liệu về điều kkiện tự nhiên của địa phương
Để đo độ dốc của khu vực có loài thuộc họ Đơn nem phân bố, sử dụng thiết bị đo độ dốc cầm tay để đảm bảo độ chính xác Nên thực hiện đo tại ít nhất 3 vị trí khác nhau trên địa bàn và lấy giá trị trung bình để có kết quả phản ánh chính xác nhất về độ dốc của khu vực đó.
Trong quá trình điều tra, chúng tôi sử dụng GPS để xác định chính xác độ cao tại mỗi điểm có loài thuộc họ Đơn nem phân bố Việc xác định độ cao là bước quan trọng để thu thập dữ liệu chính xác về vị trí địa lý của các loài này, góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu và bảo tồn loài Mỗi điểm đo được ghi nhận trong ÔDB số để dễ dàng quản lý và phân tích dữ liệu sau này.
TT Tên cây Số bụi
- Đặc điểm thổ nhưỡng: Để nghiên cứu về đặc điểm đất đai ta sử dụng phương pháp kế thừa tài liệu về thổ nhưỡng ở địa phương
Phương pháp điều tra nội nghiệp
- Dựa vào kết quả điều tra ngoài thực địa tiến hành tổng hợp đánh giá
- Xác định tổ thành: để xác định công thức tổ thành (CTTT) trước tiên phải xác định được thành phần loài tham gia vào CTTT
Các loài chính là loài có số cây Ni ≥ Ntb sẽ được viết CTTT
Trong đó: Ni là số cây của loài i
Ntb là số cây trung bình của mỗi loài Ntb được tính bằng:
(N: tổng số cây các loài, m: tổng số loài)
Khi đó CTTT được xác định bằng công thức: ∑ Trong đó: Ki: là hệ số tổ thành loài i: Ki =
N i : Số lượng cá thể loài i; N: Tổng số cá thể điều tra
Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm về phía Tây của huyện Tân Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hòa Bình, Sơn La
* Ranh giới Vườn quốc gia:
- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình;
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;
- Phía Đông giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Địa hình VQG Xuân Sơn có độ dốc lớn với nhiều chỗ dốc, núi đất xen núi đá vôi, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc
- Kiểu địa hình núi trung bình, độ cao ≥ 700m, chiếm khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, cao nhất là đỉnh Voi 1.386m, núi Ten 1.244m, núi Cẩn 1.144m;
Vườn bao gồm chủ yếu các kiểu địa hình núi thấp và đồi, với độ cao dưới 700m, chiếm khoảng 65% diện tích tự nhiên Phần lớn diện tích này là các dãy núi đất xen lẫn địa hình caster, phân bố chủ yếu phía Đồn và Đông Nam Vườn Địa hình có độ dốc trung bình từ 25-30 độ, với độ cao trung bình khoảng 400m, tạo nên cảnh quan đa dạng và đặc trưng của khu vực.
Địa hình thung lũng, lòng chảo và dốc tụ chiếm khoảng 5% tổng diện tích tự nhiên của Vườn và nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình Phần lớn diện tích này đang được sử dụng cho hoạt động canh tác nông nghiệp, góp phần vào phát triển kinh tế địa phương.
Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH) phân bố chủ yếu ở độ cao từ 700-1386m, tập trung tại phía Tây của Vườn, giáp ranh với huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình) và huyện Phú Yên (tỉnh Sơn La).
Đất feralit đỏ vàng phát triển chủ yếu ở các đồi núi thấp, phân bổ ở vùng có độ cao dưới 700m Loại đất này có thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày và ít đá lẫn, mang lại đặc điểm đất khá màu mỡ Nhờ đặc tính này, đất feralit đỏ vàng thích hợp cho phát triển các loài cây lâm nghiệp, góp phần thúc đẩy nông nghiệp và trồng rừng hiệu quả.
Đất Rangin, hay còn gọi là đất hình thành trong núi đá vôi, thường xuất hiện ở các khu vực đá vôi cứng, khó bị phong hóa Do đặc điểm địa hình dốc đứng, quá trình phong hóa diễn ra rất chậm, và phần đất hình thành chỉ xuất hiện trong các hang hốc hoặc chân núi đá vôi Các đặc điểm này khiến đất Rangin có đặc tính đặc trưng phù hợp với các loại cây trồng chịu hạn và thích nghi với điều kiện khô cằn.
Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng (DL) là loại đất phì nhiêu, có tầng đất dày và màu nâu, với thành phần cơ giới chủ yếu là đất Limon (L) Những vùng đất này hàng năm thường được bồi thêm một lớp phù sa mới khá màu mỡ, giúp duy trì độ màu mỡ tự nhiên và phù hợp cho hoạt động nông nghiệp.
Theo tài liệu khí tượng thủy văn của trạm khí tượng Minh Đài và Thanh Sơn, khí hậu Vườn Quốc Gia Xuân Sơn thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm nổi bật là hai mùa rõ rệt trong năm gồm mùa mưa và mùa khô, mang lại sự phong phú và đa dạng cho hệ sinh thái nơi đây.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa hàng năm, trong đó tháng 8 và tháng 9 thường có lượng mưa cao nhất hàng năm Lượng mưa trung bình hàng năm đạt khoảng 1.826mm, với mức cực đoan có thể lên tới 2.453mm (đạt được vào năm 1971).
Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, brings lower temperatures, reduced rainfall, and frequent fog.
Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 22,5°C, mang lại khí hậu ôn hòa phù hợp với nhiều hoạt động Các tháng 6 và 7 thường có nhiệt độ không khí cao nhất, có khi lên tới 40,7°C, gây nóng bức và khô hạn trong mùa hè Ngược lại, từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống còn 0,5°C, phản ánh đặc điểm khí hậu có sự chênh lệch rõ rệt giữa các mùa trong năm.
28 Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng
7, 8 (trên 87%), thấp nhất vào tháng 12 (65%)
VQG Xuân Sơn có hệ thống suối phong phú gồm Suối Thân, Suối Thang và Suối Chiềng, tất cả đều đổ về hệ thống sông Vèo và sông Dày Hai con sông này hợp lưu tại Minh Đài trước khi chảy vào sông Hồng tại Phong Vực, tạo thành dòng chảy dài khoảng 120km, chiều rộng trung bình 150m Hệ thống sông này thuận lợi cho việc vận chuyển thủy lợi từ thượng nguồn về sông Hồng, góp phần phát triển giao thông và kinh tế khu vực.
Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phân bố thành các mảng lớn ở độ cao dưới 700m tại khu vực phía Nam của Vườn Thực vật trong rừng khá phong phú, chủ yếu gồm các loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Vang (Caesalpiniaceae), góp phần tạo nên hệ sinh thái đa dạng và đặc trưng của khu vực.
Rừng kín thường xanh mưa ẩm ôn đới núi trung bình phân bố chủ yếu tại khu vực núi Ten, núi Voi và phía Tây của Vườn Quốc gia, từ độ cao 700m trở lên Thực vật chủ yếu trong rừng là các loài cây lá rộng thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), Hộ Re (Lauraceae), Ngọc Lan (Magnoliaceae), Thích (Aceraceae), Chè (Theaceae), và Chò chỉ (Sapotaceae), góp phần tạo nên hệ sinh thái đa dạng và phong phú của khu vực.
Rừng kín thường xanh nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu chủ yếu phân bố tập trung ở hai đầu dãy núi Cẩn, với các loài chính như Nghiến (Excentrodendron tonkinensis), Trai (Garcinia fagraeoides), Mậy tèo, Ô rô, Teo nông (Streblus spp.), Lát hoa (Chukrasia tabularis) và Sâng (Pometia pinnata) Những khu rừng này đặc trưng bởi hệ sinh thái đa dạng, thích nghi với đất đá vôi khắc nghiệt, góp phần bảo tồn nguồn sinh thái phong phú của khu vực.
Rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu phân bố thành những mảng rộng lớn tại khu vực núi Cẩn, từ độ cao trên 700m trở lên Các loài trong họ Dầu dần biến mất, nhường chỗ cho sự xuất hiện của một số loài lá kim đặc trưng của hệ sinh thái này.
Sam bông (Amentotaxus argotaenia), Thông tre (Podocarpus neriifolius) và sự gia tăng của các loài thực vật á nhiệt đới như Re, Dẻ, Chè
Điều kiện kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số, lao động và dân tộc
Vườn quốc gia Xuân Sơn cùng khu vực vùng đệm bao gồm 29 thôn thuộc các xã Xuân Sơn, Tân Sơn, Lai Đồng, Đồng Sơn, Kim Thượng và Xuân Đài, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Các thôn này chủ yếu phân bố dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất, ở độ cao từ 200 đến 400 mét so với mực nước biển Khu vực tập trung hauptsächlich ở phía Đông và phần phía Bắc, Nam của Vườn quốc gia, góp phần phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học đặc trưng của khu vực.
Dân số tại Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm (29 thôn/xóm) năm 2012 là 12.559 người, chia thành 2.908 hộ, trong đó vùng lõi của Vườn quốc gia có 2.984 người với 794 hộ.
Trong Vườn quốc gia và khu vực vùng đệm có tổng cộng 7.391 lao động, chiếm 58,8% tổng dân số của khu vực Trong đó, số lao động trong vùng lõi là 1.647 người, chiếm 22,3% tổng số lao động, còn lao động tại vùng đệm khoảng 5.744 người, chiếm tỷ lệ 77,7%.
Vườn quốc gia Xuân Sơn và khu vực vùng đệm là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số đa dạng, trong đó dân tộc Mường chiếm đa số với 2.324 hộ, tỷ lệ 79,9% Dân tộc Dao có 546 hộ, chiếm 18,7%, còn dân tộc Kinh cư trú với 38 hộ, chiếm 1,4%.
Người Mường sống thành từng xóm riêng biệt, như tại các xóm Lấp, Lạng, Nước Thang và một số ít ở xóm Dù Trong sản xuất, họ giữ vững tính cộng đồng, thường hỗ trợ nhau trong các công việc như làm ruộng, nương rẫy và hái lượm Với truyền thống làm ruộng nước lâu đời, người Mường duy trì được các cánh đồng ước thủy ổn định và bền vững, góp phần bảo tồn nền nông nghiệp truyền thống của họ.
Người Dao phân bố chủ yếu tại các xóm Dù, Cỏi, Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng và xóm Thân, giữ gìn nhiều phong tục tập quán và truyền thống đặc trưng của cộng đồng người Dao Việt Nam Những nét văn hóa độc đáo này không chỉ phản ánh bản sắc dân tộc mà còn là nguồn tài nguyên nhân văn quý giá, góp phần duy trì và quảng bá nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Dao tại địa phương.
3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu gồm lúa nước, khoai, sắn và các cây trồng phục vụ chăn nuôi Do thời gian chiếu sáng ngắn trong ngày, quá trình sinh trưởng của cây trồng kéo dài hơn bình thường Ngoài ra, nguồn nước tưới phụ chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên, dẫn đến tình trạng thiếu nước trầm trọng trong các tháng mùa khô Chính vì vậy, diện tích trồng lúa nước thường hạn chế và chủ yếu tập trung vào mô hình canh tác 1 vụ để phù hợp với điều kiện khí hậu và nguồn nước.
Diện tích trồng khoai, sắn chủ yếu tập trung ở các sườn đồi có đất ít dốc, phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên Do điều kiện tự nhiên hạn chế, năng suất và sản lượng của các loại cây này còn thấp Việc lựa chọn địa điểm phù hợp và cải thiện phương pháp canh tác sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất trong tương lai.
- Các loại cây trồng khác: ngô, đậu, lạc được trồng ở những khu đất cao, bằng phẳng không đủ điều kiện để làm ruộng nước
Chăn nuôi luôn được chú trọng trong mỗi gia đình cùng với trồng trọt Hiện tại, hình thức chăn nuôi chủ yếu vẫn là nhỏ lẻ theo hộ gia đình nhằm phục vụ nhu cầu tại chỗ, chưa hướng tới sản xuất hàng hoá tập trung Một số hộ gia đình đã áp dụng mô hình gia trại, trang trại nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả chăn nuôi Tuy nhiên, ở một số nơi, người dân vẫn duy trì phong tục chăn thả tự do vào rừng, gây ảnh hưởng lớn đến công tác chăm sóc và bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng non mới trồng.
*Các hoạt động dịch vụ thương mại
Du lịch sinh thái là thế mạnh nổi bật của Vườn quốc gia Xuân Sơn, góp phần mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng địa phương Các hình thức du lịch chính tại đây bao gồm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa và du lịch nghỉ dưỡng, tạo ra đa dạng trải nghiệm cho khách tham quan.
Các hoạt động du lịch không chỉ mang lại thu nhập cho người dân địa phương mà còn nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, sinh thái và cảnh quan Tuy nhiên, hoạt động dịch vụ du lịch chủ yếu tập trung ở trung tâm xã Xuân Sơn, chủ yếu là bán lẻ hàng hóa tiêu dùng và nhà nghỉ tạm thời cho khách tham quan, khiến số lượng khách đến thăm Vườn còn hạn chế Số lượng khách du lịch chưa tương xứng với tiềm năng do một số nguyên nhân như chưa vận động được cộng đồng tham gia tích cực và ít quảng bá hình ảnh điểm đến.
+ Chưa có hệ thống tổ chức quản lý, hướng dẫn và dịch vụ phù trợ như: Nhà hàng, nhà nghỉ, khu vui chơi giải trí
+ Các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu vực còn nhỏ lẻ, tự phát và chưa phát triển
+ Sản phẩm du lịch chưa đa dạng, lực lượng tham gia làm dịch vụ du lịch còn mỏng, chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có
*Đời sống và thu nhập của người dân
Thu nhập bình quân đầu người tại khu vực vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia đạt khoảng 7,9 triệu đồng mỗi người mỗi năm, thể hiện mức sống khá ổn định trong khu vực Nguồn thu nhập chủ yếu của người dân đến từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế địa phương Các hoạt động này góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững và nâng cao đời sống cộng đồng trong vùng.
Tỷ lệ hộ nghèo của 6 xã thuộc Vườn quốc gia Xuân Sơn chiếm 35,9%, thấp hơn mức trung bình của huyện Tân Sơn, nhưng tỷ lệ nghèo ở vùng lõi cao hơn vùng đệm, đặt ra thách thức lớn cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững của Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2013-2020.
Hệ thống đường giao thông vào vùng lõi và vùng đệm Vườn quốc gia được quan tâm đầu tư phát triển, nhằm tăng cường kết nối và thuận tiện trong quá trình tham quan và bảo vệ khu vực Tính đến năm 2012, đã có 94 km đường nhựa và đường bê tông dẫn đến trung tâm các xã, giúp nâng cao khả năng tiếp cận của cộng đồng địa phương Ngoài ra, 67,7 km đường bê tông đã được trải đến các thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt và phát triển kinh tế của người dân trong vùng.
Khu vực Vườn quốc gia có trạm y tế kiên cố tại trung tâm xã Xuân Sơn (xóm Dù), với 10 giường bệnh và đội ngũ gồm 1 bác sĩ, 2 điều dưỡng, 1 y sĩ, 2 y tá, cùng một y tá xóm ở mỗi thôn Dụng cụ khám chữa bệnh tại trạm chủ yếu phục vụ các bệnh thông thường Dù trang thiết bị đơn giản, công tác y tế đã nỗ lực trong việc phát thuốc sốt rét, sốt xuất huyết, tiêm phòng dịch và tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, góp phần nâng cao chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong khu vực.