1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng chính trị cơ bản của nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở việt nam hiện nay

103 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Chính Trị Cơ Bản Của Nho Giáo Và Ảnh Hưởng Của Nó Đối Với Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam Hiện Nay
Thể loại luận văn thạc sĩ
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 81,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hầu hết các công trình đềunghiên cứu Nho giáo dới góc độ triết học, lịch sử, hoặc các vấn đề riêng lẻ.Cha có một công trình nào đề cập một cách có hệ thống t tởng chính trị cơ

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nho giáo khởi nguồn từ Trung Quốc, đợc du nhập vào Việt Nam từthời Bắc thuộc, đợc "Việt Nam hóa" trong suốt một chặng đờng lịch sử, gópphần đáng kể vào việc tạo dựng nền văn hiến Việt Nam Bao đời từng là hệ

t tởng thống trị trong kiến trúc thợng tầng Việt Nam, Nho giáo đã ảnh hởngsâu sắc đến con ngời và xã hội, chính trị và văn hóa, cuộc sống và lẽ sống,

hệ t tởng và phong tục tập quán Việt Nam Nho giáo trở thành một bộ phậncủa truyền thống dân tộc Dù muốn hay không, Nho giáo vẫn đang chi phốixã hội Việt Nam ngày nay Con ngời Việt Nam dù tự giác hay không tựgiác, vẫn còn dấu ấn của Nho giáo Truyền thống văn hóa quá khứ của dântộc bao gồm sách vở, đền đài, miếu mạo, phong tục tập quán mang sắc tháiNho giáo vẫn còn đó Một Văn Miếu Quốc Tử Giám với

82 tấm bia tiến sĩ sừng sững uy nghiêm không chỉ đợc xem là một trongnhững biểu tợng của văn hóa Thăng Long - Hà Nội, mà còn đợc xem là kỷvật thiêng liêng, ngng tụ lại một nền văn hóa truyền thống đợc nhiều thế hệViệt Nam trân trọng tự hào Nhng truyền thống là do quá khứ để lại, cónhiều điều không phù hợp với xã hội hiện đại Mặc dù cơ sở kinh tế - xã hộicủa Nho giáo đã bị thủ tiêu, nhng những tàn d dai dẳng của nó đã và đangtrở thành lực cản của sự nghiệp đổi mới ở nớc ta

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo đã đạt nhiều thành tựu quan trọng Nền kinh tế thị trờng đã

đẩy nhanh sự tăng trởng về kinh tế, đem lại bộ mặt mới cho xã hội Tuynhiên, mặt trái của cơ chế thị trờng cũng đang tạo ra nhiều xáo trộn trongquan hệ xã hội, trong gia đình và phẩm chất cá nhân Trong cán bộ, nhândân đã có những biểu hiện tiêu cực, thể hiện ở trong cả nhận thức và hành

động: t tởng thực dụng, chạy theo đồng tiền làm cho một bộ phận xa rời lý

Trang 2

tởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức; nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàubất chính và các tệ nạn xã hội khác đang có chiều hớng gia tăng Nhữngchủ trơng biện pháp khắc phục tình trạng nói trên không thể không đụngchạm tới nhiều vấn đề liên quan đến Nho giáo, nhất là khi Nho giáo đã từngtồn tại hàng ngàn năm ở nớc ta, để lại những căn bệnh trầm trọng nh bệnhbảo thủ, quan liêu, giáo điều, chủ nghĩa bình quân Đến nay những cănbệnh đó vẫn còn tồn tại với nhiều biểu hiện khác nhau.

Đờng lối đổi mới ở Việt Nam và triển vọng lớn lao của nó khôngthể tách rời việc khắc phục những ảnh hởng tiêu cực của Nho giáo và sau đókhai thác những nhân tố tích cực để biến thành truyền thống Việt Nam trênnhiều lĩnh vực của đời sống Nho giáo là vấn đề quá khứ nhng cũng là vấn

đề hiện tại Nghiên cứu t tởng chính trị Nho giáo để nhìn nhận, đánh giá rõhơn những yếu tố không còn phù hợp, những phản giá trị cần gạt bỏ, đồngthời kế thừa những tinh hoa của nó trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Namhiện nay dới góc nhìn của chính trị học có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận

cũng nh thực tiễn Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài "T tởng chính trị cơ bản của Nho giáo và ảnh hởng của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Nho giáo là đề tài đợc nhiều nhà khoa học trong nớc và ngoài nớcnghiên cứu, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, đòi hỏi phải có sự đisâu tìm hiểu và khám phá

ở Việt Nam, trong mấy thập kỷ nay, không kể các bài in trên tạpchí, chỉ nói riêng các tác phẩm nghiên cứu về Nho giáo, thì đã có một số l-ợng đáng kể:

+ Tác phẩm "Nho giáo" (2 tập) của Trần Trọng Kim đợc xuất bản

trớc năm 1930 và từ đó đến nay đã đợc tái bản nhiều lần, gần đây nhất lànăm 1992 Đây là bộ sách lớn giới thiệu về lịch sử Nho giáo ở Trung Quốc

Trang 3

từ Khổng Tử cho đến đời Thanh, trong đó có một số trang phụ lục, tóm tắt

về sự du nhập và phát triển đạo Nho ở Việt Nam; là tác phẩm tiếng Việt đầutiên trình bày về sự phát triển của đạo Nho một cách có hệ thống

+ Tác phẩm "Khổng học đăng" của Phan Bội Châu, đợc soạn thảo

vào những năm đầu thập kỷ 30 của thế kỷ XX, xuất bản năm 1957 và đợctái bản năm 1998, bàn luận và diễn giải về một số tác phẩm tiêu biểu củanhà Nho cũng nh sự nghiệp của họ thuộc các thời ở Trung Quốc

+ "Nho giáo xa và nay" do giáo s Vũ Khiêu chủ biên, xuất bản năm

1990 gồm một số bài viết của một số tác giả đề cập tới nhiều vấn đề củaNho giáo từ phơng hớng, phơng pháp tiếp cận, đến quan hệ của Nho giáovới kinh tế, lịch sử, văn hóa

+ "Nho giáo xa và nay" của nhà nghiên cứu Quang Đạm, xuất bản

năm 1994, phân tích sâu sắc những nội dung cơ bản của Nho giáo và ảnh ởng của nó đối với Việt Nam

h-+ "Đến hiện đại từ truyền thống" của cố giáo s Trần Đình Hợu, xuất

bản năm 1994, gồm những bài viết về Tam giáo, đặc biệt là ảnh hởng củaNho giáo đến truyền thống văn hóa Việt Nam

+ "Nho học và Nho học ở Việt Nam - Một số vấn đề về lý luận và

thực tiễn" của PGS.TS Nguyễn Tài Th, xuất bản năm 1997, dới góc độ triết

học đã trình bày nội dung của Nho học và vai trò của nó trong lịch sử t tởngViệt Nam

+ "Nho giáo và phát triển ở Việt Nam" của giáo s Vũ Khiêu, xuất

bản năm 1997, đã nhìn nhận, đánh giá vai trò của Nho giáo trong lịch sửViệt Nam và một số vấn đề của Nho giáo trong sự nghiệp đổi mới ở ViệtNam hiện nay

ở nớc ngoài, trong tác phẩm "Nho gia với Trung Quốc ngày nay",

Vi Chính Thông đã vạch rõ những mặt tích cực và hạn chế của Nho giáotrong xã hội Trung Quốc hiện đại

Trang 4

Trên đây là một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về Nho giáo trêncác phơng diện: giới thiệu tác giả, tác phẩm; đánh giá vai trò của một sốnhà Nho tiêu biểu, phân tích những nguyên lý cơ bản của Nho giáo; ảnh h-ởng của Nho giáo đối với Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết các công trình đềunghiên cứu Nho giáo dới góc độ triết học, lịch sử, hoặc các vấn đề riêng lẻ.Cha có một công trình nào đề cập một cách có hệ thống t tởng chính trị cơbản của Nho giáo và ảnh hởng của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Namhiện nay.

- Kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt, dới góc độ của chínhtrị học, luận văn này đi sâu nghiên cứu t tởng chính trị cơ bản của Nho giáo,

đồng thời làm rõ ảnh hởng của Nho giáo đối với sự nghiệp đổi mới ở ViệtNam hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

Mục đích

Luận văn làm rõ t tởng chính trị cơ bản của Nho giáo và ảnh hởngcủa nó đối với sự nghiệp đổi mới ở nớc ta hiện nay, từ đó góp thêm tiếng nóivào việc tìm giải pháp khai thác những giá trị tinh hoa và loại bỏ những hạnchế của nó trong đời sống xã hội nớc ta hiện nay

Nhiệm vụ

- Làm rõ t tởng chính trị cơ bản của Nho giáo Chỉ rõ những giá trịtích cực của Nho giáo cần đợc kế thừa, phê phán những hạn chế, những tàn

d của Nho giáo còn rơi rớt lại trong đời sống xã hội Việt Nam

- Bớc đầu kiến nghị những giải pháp nhằm khai thác những giá trịtinh hoa trong t tởng chính trị của Nho giáo đồng thời loại bỏ những tàn dcủa nó trong đời sống xã hội Việt Nam

Trang 5

Phạm vi nghiên cứu

Luận văn không có tham vọng giải quyết tất cả các vấn đề của Nhogiáo mà chỉ tập trung làm rõ t tởng chính trị cơ bản của Nho giáo, những

ảnh hởng của nó trong sự nghiệp đổi mới ở nớc ta hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

- Luận văn đợc thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về phê phán và vận dụng những giá trị truyền thống của dân tộc vànhân loại

- Phơng pháp nghiên cứu chủ yếu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phơng pháp lôgíc vàlịch sử; phân tích và tổng hợp, phơng pháp quan sát xã hội, sử dụng kiếnthức liên ngành chính trị - văn hóa - lịch sử

5 Đóng góp mới về khoa học của đề tài

- Trình bày một cách có hệ thống t tởng chính trị cơ bản của Nhogiáo theo quan điểm lịch sử - cụ thể

- Làm rõ ảnh hởng của Nho giáo đối với đời sống xã hội Việt Namhiện nay trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu cho việc khai thác những giá trịtích cực và loại bỏ những ảnh hởng tiêu cực của t tởng chính trị Nho giáotrong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Góp phần giải đáp một số vấn đề về lý luận và thực tiễn đang đặt

ra hiện nay, đó là kế thừa và loại bỏ những gì trong t tởng chính trị củaNho giáo

Trang 6

- LuËn v¨n thµnh c«ng sÏ lµ tµi liÖu tham kh¶o cho viÖc nghiªn cøu

Trang 7

Chơng 1

T tởng chính trị cơ bản của Nho giáo

Từ thế kỷ XI đến thế kỷ VII Tr CN, các yếu tố đầu tiên của hệ t ởng Trung Quốc đã xuất hiện Một số yếu tố đó đợc đúc kết và nâng caothành đạo Nho, một số trở thành đạo của Mặc gia, Pháp gia Trong đó đạoNho xuất hiện sớm nhất (thế kỷ VI Tr CN) Khổng Tử (551 - 479 Tr CN)

t-là ngời đầu tiên sáng lập đạo này Những ngời kế tục nổi tiếng t-là Mạnh Tử(372 - 289 Tr CN) và Tuân Tử (298 - 238 Tr CN)

Hơn 2000 năm của chế độ phong kiến Trung Quốc, các triều đại kếtiếp nhau đều xem Nho giáo là cơ sở t tởng của đạo trị nớc Vì vậy, khi xãhội lâm vào khủng hoảng, ngời ta quy cho là tại triều đại không sáng suốt,không có vua hiền tớng giỏi, không thực hiện các nguyên lý của đạo Nho.Vấn đề đặt ra là thay đổi triều đại chứ không phải thay đổi học thuyết thốngtrị Điều đó làm cho Khổng Tử đợc xem là ông thầy của muôn đời (vạn thế

s biểu) và Nho giáo đợc xem là học thuyết thống trị không thể thay thế

Là học thuyết của xã hội phong kiến, do xã hội phong kiến sản sinh

ra, bản thân Nho giáo cũng nêu lên một số nguyên lý, nguyên tắc, đờng lối

và phơng pháp nhằm bảo đảm cho xã hội một sự ổn định để vận hành vàphát triển Mục đích lý tởng của Nho giáo là xây dựng một nhà nớc chuyênchế mạnh, duy trì kỷ cơng, tông pháp, đẳng cấp; quyền lực tuyệt đối thuộc

về vua Ngời cai trị dùng đạo đức, lễ tiết để làm gơng cho dân chúng, dùngpháp luật có mức độ, dân chúng thì tự giác làm tròn bổn phận của mình

Gạn lọc trong chiều sâu t tởng của Nho giáo, có thể thấy vấn đề vềnhà nớc, quyền lực nhà nớc và mối quan hệ giữa nhà nớc với dân đợc đềcập khá sâu sắc

Trang 8

1.1 T tởng về nhà nớc, quyền lực nhà nớc và mối quan

hệ giữa nhà nớc với dân

1.1.1 T tởng về nhà nớc và quyền lực nhà nớc

Thời Xuân thu - Chiến quốc là một giai đoạn đặc biệt trong lịch sửTrung Quốc (thế kỷ VII - thế kỷ III Tr.CN) Đó là thời đại quá độ từ chế độchiếm hữu nô lệ kiểu phơng Đông sang chế độ phong kiến Ăngghen đãkhẳng định: Các công xã cổ, ở nơi nào chúng vẫn tiếp tục tồn tại, thì từhàng nghìn năm nay đều cấu thành cái cơ sở của hình thức nhà nớc thô sơnhất, tức là chế độ chuyên chế phơng Đông Trong điều kiện phơng Đông cổ

Theo Nho giáo, con ngời sống không thể tách rời nhau mà có muônngàn quan hệ gắn bó với nhau trong phạm vi những cộng đồng nhất định.Các cộng đồng đó là nhà (gia), nớc (quốc) và thiên hạ Đơng nhiên ngoàiphạm vi nhà và từ nhà đến nớc còn có hơng, quận, châu Nho giáo cố ý

đồng nhất ba thực thể nhà, nớc, thiên hạ theo nguyên lý bao quát Thiên hạgốc ở nớc, nớc gốc ở nhà, nhà gốc ở thân mình Rõ ràng Nho giáo coi "nớc"chỉ là sự mở rộng của nhà Do nớc và nhà chung nhau một gốc, cho nênnhiều khi Nho giáo dùng phạm trù quốc và gia đồng nhất với nhau Nho

Trang 9

giáo coi mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau giữa nhà và nớc là thiêng liêng vàsáng tỏ muôn đời Nói lên mối quan hệ ấy, Khổng Tử đã nhấn mạnh: muốntrị quốc trớc hết phải tề gia Nớc thành ra là vật sở hữu của một số ngời có

đức sáng, đợc mệnh trời, giỏi tề gia Những hiền nhân quân tử đi từ tề gia

đến trị quốc có cơng vị đứng đầu cả nhà và nớc thì đợc Khổng Tử xác nhận

là kẻ có nớc, có nhà hoặc là những kẻ có quốc gia để cai trị Từ bậc thang

"tề gia" đi lên, thế lực mạnh nhất, có uy tín và quyền lực lớn nhất trong giaicấp chiếm hữu t liệu sản xuất dần dần trở thành kẻ trị quốc Con đờng đi từnhà đến nớc nh vậy đợc Nho giáo cho là đúng đắn, hợp với đạo trời đất, đạocủa ngời Nhà và nớc gắn với nhau, lồng vào nhau Nớc mà Nho giáo nói ở

đây không chỉ là đất nớc mà còn đợc hiểu là nhà nớc Nhà nớc thời đó - thời

có thiên tử và ch hầu còn có tên gọi tiêu biểu là triều đình và triều - thuộcquyền chuyên chế của cá nhân vua cùng với gia tộc và tông tộc nhà vua

Nho giáo quan niệm rằng đã là xã hội thì tất phải có quyền tối cao

để giữ kỷ cơng xã hội Quyền ấy gọi là quân quyền Ngời giữ quân quyềngọi là đế hay vơng (vua) Vua phải lo việc trị nớc, tức là lo sự sinh hoạt, dạy

dỗ và mở mang dân Là ngời chủ đất nớc, nhà vua Nho giáo thống trị vớimột quyền uy tối thợng Nhà vua điều hành mọi công việc của Nhà nớc, sửdụng và bãi chức đối với toàn thể giới quý tộc và quan lại Nho giáo nhắcnhở rằng: Dới gầm trời không chỗ nào chẳng phải đất của nhà vua, trên mặt

đất không ngời nào chẳng phải bề tôi của vua Với t cách là ngời chủ đất

đai, nhà vua chỉ đạo việc sử dụng đất đai, quyết định mức thuế và sự đónggóp của nhân dân Nắm kho tàng của Nhà nớc, quản lý toàn bộ ngân khố vàthóc, nhà vua là ngời ban ơn cho toàn thể nhân dân, đợc mọi ngời phục tùngmột cách tuyệt đối Nh vậy quyền uy của nhà vua là tuyệt đối Quyền uy ấythể hiện trên mọi lĩnh vực Nhà vua vừa là ngời trực tiếp quản lý kinh tế, tổchức hành chính, thực hiện pháp luật, chỉ huy quân sự, giáo dục đạo đức và

đứng đầu tôn giáo

Trang 10

Để quản lý lãnh thổ rộng lớn, nhà vua sắp xếp một bộ máy quanliêu từ Trung ơng đến địa phơng Lúc đầu bộ máy nhà nớc bao gồm nhữngquý tộc thuộc dòng họ vua Sau đó các quan chức triều đình đợc tuyển lựatrong hàng ngũ Nho sĩ đã qua các kỳ thi Dùng bộ máy quan liêu, lựa chọnkhoa cử và đội quân thờng trực, ông vua chuyên chế đã tìm ra phơng án tối

u để nắm giữ quyền lực Nho giáo từ trớc đến sau luôn luôn đề cao và bảo

vệ danh nghĩa, thế lực của ông vua chuyên chế đó Để cho "chính" các

"danh" của ngời nắm quân quyền, Nho giáo chủ trơng thuyết Thiên mệnh.Thuyết này coi trời là cha chung, ngôi vua đợc trời lựa chọn, giao cho caiquản đất nớc và thần dân Vua cũng là cha chung Do mệnh trời mà cómệnh vua Nhng Nho giáo cũng nhấn mạnh: mệnh trời không phải cho mãimột ngời, ai làm điều lành thì đợc điều ác thì mất "Duy mệnh bất vu thờng,

đạo thiện tắc đắc chi, bất thiện tắc thất chi hỹ" [4, tr 27] Vì vậy, ngời làm

đế vơng tuy quyền uy rất to, thế lực rất mạnh, nhng không đợc lạm dụngquyền ấy để làm điều tàn bạo

Thuyết "Thiên mệnh" với phơng châm an phận theo địa vị của mình,không mong gì ở bên ngoài đã đè nặng lên đời sống tinh thần, của dân tộcTrung Hoa và các dân tộc tôn sùng Nho giáo suốt nhiều thế kỷ Đây cũng làmột trong những nguyên nhân làm cho tôn ti, trật tự phong kiến duy trì quálâu, triệt bỏ sức vơn lên của con ngời

Tuy nhiên, có thể thấy t tởng tôn quân, thuyết Thiên mệnh đã đápứng đợc đòi hỏi bức thiết của lịch sử Trung Hoa thời bấy giờ, đó là thốngnhất dân tộc, xây dựng chính quyền Trung ơng tập quyền

1.1.2 T tởng về dân và mối quan hệ giữa dân với nhà nớc

T tởng về dân

T tởng về dân của Nho gia đợc hình thành rất sớm, trải qua quá trình

đấu tranh gay gắt với Mặc gia và Pháp gia, đợc ổn định và đợc chế độchuyên chế thừa nhận làm đạo lý, làm tinh thần lập pháp

Trang 11

Khái niệm "dân" theo Khổng Tử bao gồm: sĩ, nông, công, thơng Sựphân chia này không dựa trên tiêu chuẩn sở hữu mà theo ngành nghề Đâycũng là bậc thang giá trị xã hội Nó phản ánh một nền kinh tế tiểu nôngkhép kín, tự cấp tự túc, công thơng nghiệp cha phát triển.

Khái niệm "dân" của Mạnh Tử lại gồm: kẻ sĩ, ngời cày ruộng, ngờibuôn bán và ngời đi đờng Kẻ sĩ là trí thức, muốn theo đuổi địa vị để kiếmbổng lộc, ngời buôn bán và ngời đi đờng thì phần đông là thơng nhân kiêm

địa chủ Còn hạng mà Mạnh Tử gọi là "ngời cày ruộng" thực ra không còn lànhà nông mà chủ yếu là bọn địa chủ mới có nông sản đem bán Cho nênkhái niệm dân của ông chủ yếu là hạng trí thức, địa chủ và thơng nhân

Nh vậy theo quan niệm của Nho giáo, dân thông thờng là những

ng-ời không có địa vị gì, công vụ gì trong bộ máy thống trị, cũng có khi baogồm cả mọi ngời trong một nớc, trong thiên hạ nói chung Trong kinh điểnNho gia, ta còn gặp những danh từ nh: "Thứ dân", "lê dân", "thảo dân", "xíchtử", "thơng sinh" cũng là để chỉ đông đảo ngời dân lao động

Mối quan hệ giữa dân với nhà nớc

Trong mối quan hệ với nhà nớc, quyền lực nhà nớc mà ngời đứng

đầu là vua, dân có vai trò rất lớn Nho giáo đã sớm nhận thức đợc vai tròcủa dân tới sự tồn vong của triều đình Trong ba yếu tố để triều đình bềnvững thì dân là yếu tố quyết định Ba yếu tố đó là: đất đai, nhân dân vàchính sự Về chính sự, Nho giáo lại nhấn mạnh ba điểm: túc thực, túc binh,dân tín (nghĩa là lơng thực phải đủ để nuôi dân, binh lực phải mạnh để bảo

vệ dân, lòng tin của dân, trong đó lòng tin của dân là điều quyết định nhất)

Không phải ngẫu nhiên và tùy tiện mà Nho giáo đi tới chỗ coi dân

là trời: "Vua lấy dân làm trời" Lịch sử cho thấy mặc dù vua là "thiên tử", là

"đấng chí tôn" vâng mệnh trời để bình thiên hạ, là cha của muôn nhà, mẹcủa muôn dân, là kẻ chăn ngời (nhân mục), nhng vua cũng chỉ là một conngời Dân rất hiền lành, những thảo dân, lê dân, xích tử hiền nh nớc nhng

Trang 12

lại có sức mạnh to lớn Vua chúa muốn sống đợc phải nhờ đến dân Dân

"lao lực" làm ra lơng thực, vua chúa "lao tâm" để trị ngời thì phải ăn củangời, cụ thể là ăn ở dân, do dân nuôi Nếu áp bức dân tàn bạo để dân phảivùng lên thì vua - ngời nắm giữ trong tay quyền lực nhà nớc chỉ đi tới chỗdiệt vong

Mạnh Tử đã nêu lên một quan điểm nổi tiếng về mối quan hệ giữavua, xã tắc và dân: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" Đây là t t-ởng tiến bộ, đặc biệt là đối với một xã hội mấy ngàn năm sống dới sự ngựtrị của các triều vua Đem dân ra cân nhắc với vua, nêu rõ vai trò của dântrong thời loạn lạc, khẳng định dân là quý, Mạnh Tử đã thể hiện rõ t tởnglấy dân làm gốc của mình Mạnh Tử và các nhà Nho đều mong muốn cómột cuộc sống hữu đạo, một cảnh nớc thịnh trị và thiên hạ thái bình vớinhững quan hệ tốt đẹp giữa ngời và ngời Trong phạm vi cả nớc, cả thiên hạ,mối quan hệ đợc nêu lên trớc hết là mối quan hệ "quân thần" Quan hệ giữavua với dân là phần mở rộng của mối quan hệ ấy

Mạnh Tử cho rằng, quan trọng nhất là đợc dân hay mất dân, mà sở

dĩ đợc dân là vì đợc lòng dân và mất dân là vì mất lòng dân Ông so sánh vàgiải thích rằng: đợc lòng dân thì làm đến ngôi thiên tử; đợc lòng thiên tửchẳng qua làm đến ch hầu; đợc lòng với vua ch hầu chẳng qua làm đếnquan đại phu; vua Kiệt, vua Trụ mất thiên hạ vì mất dân, mất dân là vì mấtlòng dân Chính vì vậy, Mạnh Tử rất chú trọng đến dân Ông yêu cầu nhữngngời cầm quyền phải biết lo đến hạnh phúc của dân, cùng dân hởng phúquý, cùng dân chịu sự lo lắng, nh thế dân sẽ một lòng một dạ đi theo: "Ngờivui cái vui của dân, thì dân cũng vui cái vui của mình; ngời lo cái lo củadân thì dân cũng lo cái lo của mình Vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo,thế mà không làm vơng thì cha có vậy" [26, tr 248]

Ông coi trọng việc cải thiện đời sống của dân là "điều gốc", là tráchnhiệm của ngời cầm quyền: "Đáng minh quân chế định tài sản của dân, ắt

Trang 13

là khiến cho ngửng lên đủ thờ cha mẹ, cúi xuống đủ nuôi vợ con, năm đợcmùa thì no luôn, năm mất mùa không đến nỗi chết Đợc nh thế rồi mới bắtdân làm điều lành, thì dân làm điều lành dễ lắm" [26, tr 249]

Đề cập tới quan điểm này của Mạnh Tử, nhiều ngời cho rằng, Mạnh

Tử đã đi trớc các nhà t tởng của cách mạng dân chủ t sản Anh, Pháp gần

2000 năm

Không thể phủ nhận quan điểm về dân của Mạnh Tử có nhiều tiến

bộ, nhng nếu đứng trên lập trờng giai cấp mà xét thì ông không có t tởngdân chủ thực sự Mặc dù Mạnh Tử đã thực sự dũng cảm khi nói: "dân viquý", nhng không có nghĩa là ông có t tởng đấu tranh cho nhân dân làm chủ

đất nớc, làm chủ sơn hà xã tắc, làm chủ vận mệnh của mình Kể cả khi ôngchủ trơng một nền chính trị đợc lòng dân, quan tâm đến dân để làm cho

"dân có hằng sản", từ đó "có hằng tâm" thì cũng không ngoài mục đích điềuhòa mâu thuẫn giai cấp giữa giai cấp thống trị và nhân dân

Tuân Tử khi nói về sức mạnh của dân đối với nhà nớc đã chỉ rõ: vua

là thuyền, thứ dân là nớc Nớc chở thuyền, nớc có thể lật thuyền

Khổng Tử khi nói về dân và chính sách trị dân đã nhấn mạnh các

điều: dỡng dân, giáo dân và chính hình; trong đó dỡng dẫn là yếu tố quantrọng Bất kỳ chính thể nào, nhà cầm quyền nào cũng phải coi trọng việc d-ỡng dân Nếu khéo dỡng dân thì nớc trị, nhà cầm quyền đợc dân quý, ngợclại thì nớc loạn, dân sẽ bỏ đi nơi khác hoặc nổi loạn, chính quyền sớmmuộn cũng bị lật đổ Dỡng dân để làm cho dân no đủ, giàu có; đánh thuếnhẹ dân; khiến dân làm việc hợp thời; phân phối bình quân để dân không bịbóc lột mà đợc no đủ

Điều đó cho thấy Nho giáo đã sớm nhận thức đợc vai trò to lớn củadân đối với nhà nớc và quyền lực nhà nớc, song họ đã không vợt qua đợchạn chế về mặt giai cấp và thời đại, do đó đối với Nho giáo không có t tởng

Trang 14

dân chủ thực sự, tất cả đều nhằm nắm chặt lấy dân để dễ bề sai khiến, caitrị.

Mặc dù vậy, t tởng của Nho giáo về dân, về mối quan hệ giữa dânvới quyền lực nhà nớc vẫn hàm chứa nhiều giá trị mà ngời cầm quyền xa vànay không thể không chú ý Đó là:

- Phải biết tranh thủ dân và nắm lấy dân

Dân là quý, dân nh nớc, vừa chở thuyền vừa lật thuyền, cho nênmuốn làm vua chúa, muốn cầm quyền thì phải tranh thủ dân và nắm lấydân Tranh thủ đợc dân chúng thì làm thiên tử, đợc dân là đợc cả thiên hạ.Ngời làm vua phải theo lòng dân, phải thuận lòng dân, phải biết thích cáithích của dân, ghét cái ghét của dân Ngời cầm quyền theo lòng dân mà trịtất sẽ đợc dân yêu mến

- Giữ gìn sinh mệnh và dè xẻn tài sản của dân

Ngời cầm quyền phải biết sử dụng sức ngời, sức của cho phù hợptránh sự lạm dụng, phí phạm sức dân và tài sản của dân Có nh vậy lòng dânmới yên, xã tắc mới bền vững

T tởng của Nho giáo về vai trò của dân sau này đợc các nhà t tởngViệt Nam kế thừa, cải biến và sáng tạo phù hợp với dân tộc Trên thực tế,các khái niệm có hình thức Khổng giáo nhng nội dung bên trong lại chứa

đựng t tởng, tình cảm, tín ngỡng và tâm lý Việt Nam

Thời Lý - Trần, sự quan tâm đến đời sống và nguyện vọng của nhândân đợc xem là việc hàng đầu của đạo trị nớc, "ý dân", "lòng dân" đã trởthành căn cứ, mục đích cho những chủ trơng chính trị lớn

"Chiếu dời đô" nổi tiếng của Lý Công Uẩn đã khẳng định: Trênvâng mệnh trời, dới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi Cho nên vận n-

ớc lâu dài, phong tục phồn thịnh

Trang 15

Trần Quốc Tuấn với t tởng "khoan th sức dân để làm kế sâu bền gốcrễ", coi đó là "thợng sách để giữ nớc" đã nhìn rõ nhân dân là nơi chứa chấttiềm lực về kinh tế và quốc phòng, bảo đảm cho sự vững chắc của nền độclập và chủ quyền đất nớc.

Nguyễn Trãi xem dân là gốc của nớc, dân có quan hệ tới sự yênnguy của triều đại Dân là số đông, là cơ sở của xã hội, là lực lợng có vai tròquyết định đến sự ủng hộ hoặc phế truất nền thống trị của một triều đại,một ông vua Vì vậy, theo ông, "việc nhân nghĩa cốt ở yên dân"

Thấy đợc vai trò của dân không phải là ngẫu nhiên đối với các nhà

t tởng Việt Nam Mặc dù lập trờng phong kiến đã hạn chế nhãn quan của

họ, nhng là những nhà yêu nớc lớn, đứng ở đỉnh cao của phong trào yêu nớclúc bấy giờ, họ đã thấy đợc yêu cầu phải cố kết cộng đồng, phát huy sứcmạnh của dân tộc nên đã vợt qua đợc những hạn chế giai cấp vốn có củamình

Đến Hồ Chí Minh, quan niệm về dân đã phát triển đến một tầm caomới Dân là số đông, là làm cho số đông đó ai cũng có cơm ăn áo mặc, aicũng đợc học hành Lấy dân làm gốc ở Hồ Chí Minh không phải chỉ xemdân là lực lợng dời non lấp biển mà còn là mục đích, xem mọi hoạt độngchính trị đều vì dân, xây dựng nền chính trị của dân, do dân, vì dân Điềuquan trọng ở đây là Ngời đã đa truyền thống yêu nớc thơng dân và hệ thốnghoạt động của dân, do dân, vì dân thành một nội dung cơ bản để xây dựng

Đảng cộng sản và chế độ chính trị xã hội ở Việt Nam

1.2 Đờng lối trị nớc

Nho giáo vạch rõ thực chất của việc cai trị: Cai trị con ngời, xã hộikhông phải chủ yếu dựa vào vũ lực, thần quyền, của cải mà cai trị bằng giáodục, giáo dỡng, bằng thu phục nhân tâm Nho giáo vừa là một hệ t tởng, vừa

là các phép tắc có tính chất quy chế làm chuẩn mực để giải quyết mọi vấn

Trang 16

đề của cuộc sống Các khái niệm tởng chừng thuần túy đạo đức lại mangtính chính trị cao "Nhân", "Lễ", "Chính danh", không chỉ là khái niệm, lànguyên lý đạo đức cơ bản mà còn là hạt nhân trong học thuyết chính trị củaNho giáo, là đờng lối trị nớc của Nho giáo.

1.2.1 Nhân trị và Lễ trị

Nhân trị

Chữ nhân gồm chữ nhân và chữ nhị hợp lại Theo Trần Trọng Kim,nhân có nghĩa là mọi ngời với nhau nh một Theo Nguyễn Hiến Lê, nhân làtình ngời này đối với ngời khác

Chữ nhân trong học thuyết của Khổng Tử có ý nghĩa rất rộng, baohàm nhiều mặt trong đời sống con ngời, có lúc trừu tợng, có lúc cụ thể, tùytheo trình độ, hoàn cảnh mà ông diễn đạt nội dung của nó một cách khácnhau

Khổng Tử cho rằng do sự chi phối của "thiên lý", của "đạo", các sựvật hiện tợng trong vũ trụ luôn biến hóa không ngừng Sự sinh thành, biếnhóa của vạn vật bao giờ cũng nhờ sự "trung hòa" giữa âm dơng, trời đất.Con ngời là kết quả bẩm thụ tinh khí của âm dơng trời đất mà thành, tuântheo "thiên lý", hợp với đạo "trung hòa" Đạo sống của con ngời là phải

"trung dung", "trung thứ", nghĩa sống đúng với mình và đúng với ngời - đó

là nhân

Ông còn quan niệm: "Ngời nhân không xa rời nhân dù chỉ trớc saumột bữa ăn, vì nhân đâu phải xa, bởi bản tính con ngời là thiện, nhng vì conngời quen thói đời, mê vật dục nên thấy nhân xa mình đó thôi" [3, tr 115]

Khổng Tử nói nhiều về "nhân", nhng tóm lại, có thể thấy nhân làNgời, là lòng ngời, là thơng ngời Đạo nhân là cái trời phú cho con ngời, ởcái tâm của con ngời, đó là lòng thơng ngời Điều đó đợc thể hiện ra ở hai

điều cốt yếu: "Ngời nhân là mình muốn lập thân thì cũng mong muốn giúp

Trang 17

ngời lập thân, mình muốn thông đạt thì cũng muốn giúp ngời thông đạt" và

"điều gì mình không muốn thì chớ đem đối xử với ngời", "phải suy xétmình để suy xét ngời"

"Nhân" là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của con ngời nênnhân chính là đạo làm ngời Đức nhân bao gồm tinh túy của tất cả các đứckhác Trong bất kỳ mối quan hệ nào, nếu hỏng về đức riêng thuộc mối quan

hệ ấy thì đồng thời cũng là trái với đức nhân, chẳng hạn nh: không trungthực với ngời khác, không nghiêm khắc với kẻ sai trái lầm lỗi, không cungkính với bề trên đều trái với đức nhân

Ngời muốn đạt nhân, theo Khổng Tử phải là ngời có "trí", "dũng".Nhờ có lý trí, con ngời mới sáng suốt minh mẫn để hiểu đợc đạo lý, xét

đoán sự việc, phân biệt phải trái, thiện, ác để trau dồi đạo đức và hành độnghợp với "thiên lý" Nếu không còn trí sáng suốt nữa thì chẳng những khônggiúp đợc ngời mà còn hại đến thân mình Trí không phải ngẫu nhiên mà có,

nó chỉ có đợc trong quá trình ngời ta học tập tu dỡng Mục đích cao nhấtcủa việc học không chỉ để biết "đạo", "khắc kỷ phục lễ vi nhân" mà để ralàm quan, tham gia việc chính trị quốc gia

Muốn đạt "nhân", còn phải có "dũng" Ngời có "dũng" không phải

là kẻ ỷ vào sức mạnh, hành động bất chấp đạo lý mà là ngời quả cảm, xảthân vì nghĩa; khi thiếu thốn không nao núng làm mất nhân cách của mình;khi đầy đủ sung túc không ngả nghiêng xa rời đạo lý

Nhân còn bao hàm cả "nghĩa" Theo "nghĩa" là việc gì đáng làm thìlàm, không hề tính lợi cho mình

Một điều cần chú ý là Khổng Tử quan niệm: chỉ có ngời quân tửmới có "nhân" Trong kinh điển Nho giáo, những gì tốt đẹp, tiêu biểu củacon ngời đều quy vào ngời quân tử Còn đám đông tiểu nhân là những ngờikhông có trí tuệ, không có đạo đức, vất vả chân lấm tay bùn để cung đốncho ngời quân t thì không có "nhân"

Trang 18

Phải chăng đây là hai dạng tha hóa con ngời tồn tại lâu nhất tronglịch sử loài ngời từ những thời thịnh vợng của hình thái kinh tế - xã hộichiếm hữu nô lệ cho đến ngày suy tàn của hình thái kinh tế - xã hội phongkiến ở khu vực á Đông rộng lớn, dới sự thống trị tinh thần của Ngũ kinh,

Tứ th? Tất nhiên, các Nho gia đều không có ý niệm gì về những hiện tợngtha hóa, nhng nếu xét về nội dung, hình thức của phạm trù "quân tử" và

"tiểu nhân", ta có thể thấy rõ thực chất hai dạng tha hóa đó Chắc chắn rằngchỉ khi chủ nghĩa Mác ra đời, vấn đề con ngời mới đợc xem xét một cáchnhất quán, đầy đủ và sâu sắc Mác đã vợt qua quan niệm trừu tợng về conngời để nhận thức con ngời hiện thực Mác đã chỉ rõ nguyên nhân sâu xacủa tình trạng tha hóa bản chất con ngời, nhờ đó mà nhận thức đúng con đ-ờng giải phóng con ngời, giải phóng nhân loại

Trở lại đức Nhân mà Khổng Tử đề cập trong học thuyết chính trị của

ông, ta thấy rõ "nhân" hoàn toàn khác với thuyết "kiêm ái" của Mặc Tử, "đức"của Lão Tử, lại càng khác với "bác ái" của Ki tô và "từ bi" của Đạo phật

Nhân khác "kiêm ái" vì: Nhân phân biệt mình và ngời, lấy mình làmkhởi điểm rồi mới tới ngời; kiêm ái thì coi ai cũng nh mình, ngời thân củangời cũng nh ngời thân của mình Nhân còn phân biệt ngời tốt, kẻ xấu;kiêm ái không phân biệt nh vậy mà chủ trơng một tình yêu thơng rộngkhắp, chỉ lấy con ngời làm điều kiện; ngời nhân chú trọng đến sự xúc tiến

đạo đức của ngời khác, còn kiêm ái chú trọng đến sự cứu giúp vật chấtnhiều hơn Nhân khác với đức của Lão Tử và bác ái của Kitô vì không "dĩ

đức báo oán", không xem kẻ thù nh bạn

Nhân khác với từ bi của đạo Phật bởi Phật thơng ngời và thơng cảvạn vật, nhng lòng thơng của Phật có một nỗi buồn vô hạn, buồn cho sự mêmuội của sinh linh, tìm cách giải thoát cho mọi sinh linh ra khỏi vòng sinh,lão, bệnh, tử Nhân của Khổng Tử giúp con ngời ta sống tốt đẹp hơn, hoànthiện hơn ngay chính trên mảnh đất hiện thực của mình

Trang 19

Đề cập đến đạo Nhân với tính cách là trung tâm trong toàn bộ họcthuyết chính trị, đạo đức của mình, các nhà Nho nâng lên thành đờng lối trịnớc: Nhân trị - tức trị dân bằng đức nhân Đức nhân là một đòi hỏi bắt buộc,nghiêm khắc nhất đối với kẻ làm quan cai trị dân Những ngời làm quan,các bậc vua chúa đều phải có đức nhân - đó là yêu cầu tối thợng Nho giáochú trọng lấy đạo đức để thực hành chính trị Kẻ trị dân phải tu thân, sửamình, làm gơng cho dân, hớng theo điều thiện Nhờ đó cảm hóa đợc dânchúng, dân chúng phục mà nghe theo, chứ không dùng bạo lực thô bạo để

ép buộc Đức nhân không phải tự nhiên mà có Muốn có đợc nó phải tuthân Tu thân để làm cho cái đức của kẻ cai trị thêm sáng, để đủ điều kiệntrị nớc một cách tốt nhất Ngời cai trị phải sửa mình để trị ngời Tu đợc chữnhân là điều căn bản nhất của ngời làm quan cai trị bởi tinh thần của lễ,nhạc ở cả trong đức nhân Khổng Tử nói nhiều về đạo và đức của ngời làmquan cai trị nớc Cũng vì lẽ đó, ông rất chú trọng việc giáo dục con ngờitheo đạo và đức Mục tiêu của ông là đa xã hội trở về trạng thái "hữu đạo",nhờ đó thứ dân trở nên có tôn ti trật tự, dễ sai bảo dới trởng của nhà cầmquyền Chính vì vậy, kẻ trị dân phải nghiêm khắc với mình, rèn luyện tuthân để có đạo và đức, để củng cố ngôi trên, ru ngủ dân chúng Sách Đạihọc viết: "Đức là gốc, của là ngọn" chính cái gốc sinh ra cái ngọn Ngờicầm quyền phải trọng cái đức của mình

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tu dỡng đạo đức, Khổng Tử

đồng thời cũng đề cao yêu cầu về cái tài của kẻ trị dân Ông cho kẻ trị dânngoài đức ra phải có tài (trí) Cái tài đó nhằm giúp họ làm việc sáng suốt vàbiết tu dỡng đức nhân một cách tốt nhất Nếu kẻ cai trị chỉ có lòng thơngdân thuần túy thì không đủ Phải có tài (trí) thì mới có sự sáng suốt trongkhi làm việc, ít sai lầm trong việc trị nớc

Cũng nh Khổng Tử, Mạnh Tử khi bàn về tu đức cũng nhấn mạnh sự tudỡng bản thân Đó chính là "tận tâm", "dỡng tính", "dỡng khí hạo nhiên" Xuấtphát từ nhân tính trong thuyết tính thiện, ông cho rằng con ngời sinh ra vốn

Trang 20

có tính thiện, có lòng trắc ẩn, lòng hổ thẹn, lòng cung kính, lòng phân biệt thịphi Bốn tâm tính đó đợc coi là bốn mối của nhân, lễ, nghĩa, trí, đòi hỏi conngời phải nuôi dỡng nó, làm cho nó phát triển lớn mạnh Có nh vậy mới cóthể tu dỡng mình trở thành bậc quân tử nhân đức Ông viết:

Tấm lòng trắc ẩn, ai ai cũng có; tấm lòng hổ thẹn, chẳng có

ai không; nỗi lòng cung kính, mọi ngời đều sẵn; tấm lòng phânbiệt thị phi, không ngời nào thiếu Lòng trắc ẩn thuộc về nhân,lòng hổ thẹn thuộc về nghĩa, lòng cung kính thuộc về lễ, lòng phânbiệt thị phi thuộc về trí Nhân lễ nghĩa trí này chẳng phải ngờinào đem đến cho ta, mà là có sẵn ở nơi bản tính của mình vậy.Chẳng qua là ta không tởng nghĩ đến nó mà thôi [6, tr 153]

Ông còn chỉ rõ mục đích của việc tu dỡng đạo đức, tu dỡng khôngphải để mà tu dỡng mà là vì sự yên ấm, ổn định và phát triển của xã hội,làm cho thiên hạ thái bình: "Ngời quân tử cốt giữ tiết tháo, bắt đầu từ tu d-ỡng bản thân mình, sau đó gây ảnh hởng đến ngời khác, từ đó làm cho thiênhạ thái bình" [5, tr 275]

Tóm lại, từ nhân đến nhân trị đó chính là t tởng về đờng lối trị nớccủa Nho giáo Nét độc đáo và sâu sắc của t tởng này là ở chỗ: Nho giáo đã

đặt đạo đức với chính trị trong mối quan hệ hết sức chặt chẽ Đạo đức lànền tảng của chính trị Chính trị là sự tiếp tục của đạo đức, phải lấy đạo đứclàm gốc Đây cũng là điểm độc đáo của triết lý phơng Đông so với các họcthuyết phơng Tây

Do ảnh hởng của t tởng này mà thực tiễn chính trị phơng Đông đãhình thành nên mẫu ngời cai trị với phong cách đặc trng Đó là những conngời đức độ và tài năng

Tuy nhiên, điểm hạn chế ở đây là: xây ngôi nhà chính trị trên nền

đạo đức một cách thái quá, Nho giáo đã duy trì xã hội phơng Đông trongtrạng thái trì trệ, bảo thủ suốt mấy ngàn năm lịch sử

Trang 21

Lễ trị

Chữ Lễ trớc tiên dùng để chỉ việc thờ cúng, tế lễ, sau dùng rộng ra

nó bao gồm cả phong tục tập quán mà xã hội thừa nhận, sau cũng chữ Lễcòn có nghĩa rộng: nó là thể chế, là quyền uy Lễ là một công cụ chính trịmạnh mẽ và là vũ khí của một phơng pháp trị nớc đắc lực mà Nho giáo đãcống hiến cho nhiều triều đại đế vơng Phơng pháp ấy là phơng pháp lễ trị

Lễ là một phần rất quan trọng trong toàn bộ Khổng học Riêng về

lễ, có cả một kinh gọi là Lễ ký Trong suốt thời Tây Chu, từ Chu Công Đán

về sau, những quy định về lễ rất nhiều, rất tỉ mỉ và chặt chẽ Trong gia đình,làng mạc, đất nớc và thiên hạ, thậm chí trong trời đất, con ngời đã bị đặttrong bao nhiêu mối quan hệ thì cũng phải có bấy nhiêu "mạng lới" quy

định cụ thể Cái mạng lới mênh mông bao trùm lên toàn cõi gọi là lễ

Trớc bối cảnh "lễ h nhạc hỏng", Khổng Tử muốn dùng lễ để khôiphục lại trật tự phép tắc, luân lý xã hội, đa xã hội trở về với đạo

Lễ quy định một cách nghiêm ngặt các mối quan hệ giữa vua tôi,cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn (Ngũ luân) Trong năm mối quan hệ ấy,

có ba mối quan hệ cơ bản (Tam cơng): vua tôi, cha con, chồng vợ Trongcác mối quan hệ đó, mỗi ngời phải theo địa vị, danh phận của mình làmtheo lễ đó là "vua dùng tôi nên theo lễ, tôi thờ vua theo đạo trung", "cha

đối với con phải nhân từ, con thờ cha theo đạo hiếu", "anh em với nhau phảigiữ chữ đễ" tức là phải yêu thơng nhờng nhịn nhau, "vợ chồng đối với nhaucũng phải giữ lễ", "bạn bè phải giữ chữ tín"

Trong sách Luận ngữ, cái gọi là "lễ" của Khổng Tử còn có những

điều sau:

- "Nén hết thèm muốn riêng t cho lễ trở lại, đó là có đạo nhân Mộtkhi đã nén đợc thân mình cho lễ trở lại thì thiên hạ sẽ quay về với đạonhân" [3, tr 181]

Trang 22

- "Trái với lễ thì không nhìn, trái với lễ thì không nghe, trái với lẽkhông nói, trái với lễ không làm" [3, tr 181].

- "Ngời trên yêu chuộng lễ thì dân nào dám không tôn kính Ngờitrên yêu chuộng đạo nghĩa thì dân nào không dám không phục tùng" [3, tr 201]

Nh vậy, "lễ" mà Khổng Tử nói tới không những là một thứ nguyêntắc về chính trị, một văn bản nghi tiết mà còn là một thứ chế độ Trong cáctầng lớp do chế độ đẳng cấp tạo ra thì có một loại thớc đo để phân biệt họ,

do đó mà có danh để đặt ra đạo nghĩa, đạo nghĩa để đặt ra lễ Đó chính lànguồn gốc của cái gọi là "dùng lễ để cai trị"

Mạnh Tử, đối với đức lễ, cũng nh đối với các đức nhân, nghĩa, trí đãtìm ra đầu mối của nó trong tâm con ngời Đầu mối ấy là lòng từ nhợng Do

đầu mối ấy mà trên con đờng hành đạo, ngời ta có những "sở đắc" nh cungkính, khiêm tốn, nhờng nhịn gồm chung cả một đức lớn là lễ

Bàn về lễ, Tuân Tử còn đi xa hơn cả Khổng Tử và Mạnh Tử

Khi nói về khởi nguyên của Lễ, ông cho rằng:

Lễ có ba cái gốc: trời đất là cái gốc sự sinh, tiên tổ là cáigốc chủng loại, vua và thầy là cái gốc của sự trị Không có trời

đất thì ở đâu mà sinh, không tiên tổ thì ở đâu mà ra, không có vua

có thầy thì lấy đâu mà trị Ba điều ấy mà thiếu đi một là ngời takhông yên đợc Cho nên trên thờ trời, dới thờ đất, tôn tổ tiên,trọng vua và thầy, ấy là ba gốc của lễ vậy [26, tr 319]

Tuân Tử cho rằng, bản tính con ngời là ác, do vậy thánh nhân phảidùng Lễ để uốn nắn, cải hóa cái ác Ông giải thích nguồn gốc sinh ra lễ:

Ngời ta sinh ra là có lòng mong muốn, muốn mà không

đ-ợc thì không thể không tìm, tìm mà không có chừng mực, giớihạn thì không thể không tranh Tranh thì loạn, loạn thì khốncùng Tiên vơng ghét cái loạn cho nên chế lễ nghĩa để phân ra trật

Trang 23

tự, để nuôi cái muốn của con ngời, cấp cái tìm của con ngời [26, tr 318].

Theo ông, lễ là đối với kẻ quý thì kính, đối với kẻ già thì hiếu thảo,

đối với kẻ lớn thì thuận, đối với ngời trẻ thì từ thiện, đối với kẻ hèn thì có ânhuệ

Khi nói về vai trò của lễ đối với quốc gia, ông cho rằng: lễ đối vớiviệc quốc gia nh quả cân và cán cân đối với sự nặng nhẹ, nh dây và mực đốivới đờng thẳng đờng cong Cho nên ngời mà không có lễ thì không sinh,việc không có lễ thì không nên, quốc gia không có lễ thì không yên Là ng-

ời trọng lễ, Tuân Tử cho là bất kỳ việc gì hễ không có lễ là hỏng Đặc biệt

đối với ngời cai trị, thì:

Lễ là cái cùng cực của sự trị và sự biện biệt, cái gốc của

sự làm cho nớc mạnh, cái đạo của sự uy hành, cái cốt yếu củacông danh Bậc vơng công theo đó mà đợc thiên hạ, không theo

đó thì làm hỏng xã tắc Cho nên áo giáp bền, ngọn giáo nhọnkhông đủ để thắng trận, thành cao hào sâu không đủ lấy làm bềnvững, lệnh nghiêm hình nhiều không đủ lấy làm uy Dùng lễ thìviệc gì cũng thi hành đợc [26, tr 321]

Vì vậy phải học đến lễ mới thôi, không kể dân thờng hay ngời cai trị

Trong hệ thống lý luận của Tuân Tử, cái lễ còn mang nội dung củapháp luật Cho nên giải quyết hai việc: Cái lễ của nội bộ tầng lớp thống trị

và pháp luật để thống trị tiểu nhân - đó là cái mà Tuân Tử gọi là pháp độ.Trong chơng "khuyến học" ông nói: "Lễ tức là cái phận lớn của pháp luậtvậy" Lý luận ấy của Tuân Tử thực sự làm nhịp cầu cho sự quá độ từ chủnghĩa cai trị bằng lễ của Khổng Mạnh đến chủ nghĩa cai trị bằng pháp luậtcủa Hàn Phi, Lý T sau này

Trang 24

Có thể nói, lễ là một cái lới bủa ra rất rộng và xiết lại hết sức chặtchẽ Chỗ tinh vi của Nho giáo là đã đóng khung ý nghĩ và hành động củacon ngời vào phạm vi thực hiện những quy tắc nghiêm ngặt của cuộc sống.Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các xã hội theo Nho giáo đã giữ đợc sự ổn

định trong gia đình và trật tự ngoài xã hội Lễ trở thành điều kiện quantrọng bậc nhất trong việc trị quốc, tề gia Lễ trị của Nho giáo xiềng xíchcon ngời từ khi lọt lòng cho đến chết, từ trong chiếc nôi gia đình ra đến đấtnớc, thiên hạ Nếu Pháp trị của Thơng Ưởng, Hàn Phi táo bạo một cách lộliễu thì Lễ trị của Nho giáo lại xiềng xích con ngời trong cái vỏ êm dịu,khoan hòa, trang trọng Đó chính là điều mà các thế lực phong kiến thốngtrị sau Khổng Tử, từ nhà Tần đến nhà Thanh ở Trung Quốc, cũng nh đời Lý,Trần đến Lê, Nguyễn ở Việt Nam tìm thấy để gò chặt cả dân, cả nớc trongvòng tôn ti trật tự, kẻ cai trị cứ việc sai khiến, kẻ phụng sự cứ việc phụng sự.Hàm ý sâu xa của Lễ là ở đó Một khi các tầng lớp bên dới đều "chuộng lễ",không bao giờ làm mất tôn ti trật tự, đặc biệt là "dễ sai" thì bề trên càng dễ

bề cai trị Trong việc trị nớc trị dân, lễ hay hơn hình pháp ở chỗ lễ ngăn cấmviệc cha xảy ra, còn hình pháp cấm sau cái đã xảy ra; lễ giúp ngời ta xa

điều ác từ khi cha nảy mầm để ngày càng gần với điều thiện Tuy nhiên,cũng phải thấy Lễ trị của Nho giáo đã kìm hãm cuộc sống của con ngời mộtcách dai dẳng, đặc biệt là đối với phụ nữ và đông đảo nhân dân lao động dớithời phong kiến Đúng nh nhà nghiên cứu Quang Đạm đã nhận xét: "Mộtchữ lễ, bao nhiêu xiềng xích kìm hãm sức vơn lên của con ngời" [9, tr 153]

1.2.2 Chính danh

Cuối thời Xuân Thu - Chiến quốc, tình hình xã hội hết sức rối loạn.Trớc mắt các nhà Nho là những vấn đề:

- Sự hỗn loạn về quan niệm đẳng cấp và danh phận

- Các ch hầu xâm lấn và thôn tính lẫn nhau

Trang 25

- Sự phát triển của những mâu thuẫn giai cấp: giữa nông dân vớilãnh chúa phong kiến; địa vị của bọn chúa phong kiến bị lung lay.

- Quan hệ tông pháp rối loạn

Trớc tình hình đó, các nhà Nho chủ trơng lấy thuyết "chính danh"làm vũ khí để củng cố trật tự nội bộ phong kiến, ổn định xã hội

Theo Khổng Tử, sự hỗn loạn của quan niệm danh phận, đẳng cấp,

sự sa sút của thiên tử nhà Chu, sự suy yếu của các ch hầu địa phơng, sự

"tiếm ngôi việt vị" tất cả những tình trạng đó không chỉ phá hoại trật tự xãhội phong kiến mà còn là mối nguy cơ chính trị rất lớn thời bấy giờ Vì thếKhổng Tử cho rằng muốn cứu vãn nguy cơ chính trị thời đó, trớc hết phảikhôi phục uy quyền của lãnh chúa tối cao (tức là thiên tử), phải ngăn chặnnhững việc vợt quyền; mỗi ngời phải biết giữ danh phận của mình mới cóthể gây lại nền chính trị có đạo; phải "chính danh" để xác định lại danhphận, đẳng cấp Đó là vấn đề căn bản của chính trị thời bấy giờ

"Danh" là tên gọi, là danh vị, nghĩa là cơng vị, quyền hạn "Chínhdanh" là sự quy định rõ cơng vị và quyền hạn

Khi bàn về chính danh, Khổng Tử giải thích: Chính danh là làm chomọi việc ngay thẳng Chính danh thì ngời nào có địa vị, bổn phận của ngời

đó, trên dới vua tôi, cha con trật tự phân minh, vua lấy lễ mà khiến tôi, tôithờ vua theo đạo trung, vua ra vua, tôi ra tôi Đó chính là một nớc thịnh trị,

lễ nghĩa, nhân đức, danh phận vẹn toàn Thực ra quan niệm "trên ra trên,

d-ới ra dd-ới" đã có trong lịch sử Trung Hoa Các sử gia Trung Hoa từng ghi lạinhững hành vi tốt xấu của các vị vua quan một cách công tâm cũng hàm ẩncái ý chính danh Nhng lý luận, giảng giải, đặt nó thành một quy tắc và caohơn nữa là thuật trị nớc thì mãi tới thời Khổng Tử mới có

Theo Khổng Tử, danh và thực phải hợp với nhau, nếu không hợpnhau thì gọi tên ra ngời ta sẽ không hiểu, lý luận không xuôi, mọi việckhông thành, lễ nhạc, hình pháp không định đợc mà xã hội sẽ hỗn loạn

Trang 26

Vậy làm thế nào để thực hiện chính danh?

Trớc hết mọi ngời phải tự giác giữ lấy danh phận của mình, từ Thiên

tử, ch hầu, đại phu đến kẻ sĩ phải tu dỡng đạo nhân để có sự tự giác đó

- Đối với ngời cai trị, Khổng Tử quan niệm: ông vua là ngời đợc trờigiao phó cho nhiệm vụ lo cho dân đủ ăn, đủ mặc, làm gơng cho dân, dạy dỗdân để dân đợc sống yên ổn Làm tròn nhiệm vụ đó là danh xứng với thực

Đó cũng là biểu hiện tài đức của ông vua chính danh Muốn danh đợc chínhthì thân phải chính: "Thân mình mà chính thì không phải hạ lệnh, mọi việcvẫn tiến hành; thân mình mà không chính đợc thì dù hạ lệnh cũng chẳng aitheo" [3, tr 201] Ông còn nói "Nếu thân mình đã chính đợc rồi, thì đối vớiviệc chính sự còn có gì khó? Không thể chính đợc thân mình thì chính ngờikhác thế nào?" [3, tr 205]

Nh vậy, đối với ngời cai trị, bản thân phải ngay thẳng Có nh vậymới chỉ đạo, giúp đỡ và ảnh hởng một cách có hiệu quả đối với ngời khác.Bên cạnh đó, "ngôn" cũng phải chính: Lời nói với việc làm phải hợp nhau,không đợc nói nhiều làm ít, không đợc nói lời kính cẩn mà trong lòng thìrỗng không, lời nói phải thận trọng Làm đợc nh thế mới đúng cái danh làvua, nếu không, không đáng gọi là vua (mất danh và mất cả ngôi)

Nói về nguyên nhân hỗn loạn của thời Xuân Thu, Khổng Tử cho làtại thiên tử nhà Chu không làm tròn trách nhiệm, để quyền lọt vào tay chhầu; ch hầu cũng không làm tròn trách nhiệm để quyền lọt vào tay bồi thần,khắp thiên hạ đều vô đạo, muốn cho thiên hạ hữu đạo thì phải chính danh,

áp dụng đúng tiêu chuẩn của xã hội thời Văn Vơng, Chu Công Thiên hạ

mà loạn, lỗi trớc hết là ở vua chúa, bởi "vua không ra vua, bề tôi không ra

bề tôi"

Yêu cầu chính danh đối với ngời cai trị là hết sức tích cực, nhngtrong điều kiện chính trị xã hội thời đó, khó có thể thực hiện Do đó đối vớibọn vua chúa phong kiến thích vợt quyền, không chịu giữ danh phận của

Trang 27

mình, không tự giác, Khổng Tử chủ trơng đánh dẹp, do thiên tử chủ trì,thậm chí mọi ngời đều có thể đánh dẹp.

Nguyên tắc chính danh của Khổng Tử là: ai ở địa vị nào cũng phảilàm tròn trách nhiệm ở địa vị ấy, danh phận ấy, không đợc việt vị nghĩa làkhông đợc hởng quyền lợi cao hơn địa vị của mình; không đợc việt vị còn

có một nghĩa nữa là: "Không ở chức vị nào thì đừng mu tính việc của chức

vị đó" (Bất tại kỳ vị, bất mu kỳ chính) Đây là điều mà Khổng Tử chú trọng:

Ai giữ phận nấy, cứ theo đúng tổ chức xã hội có tôn ti, chặt chẽ của ChuCông thì nớc sẽ trị, thiên hạ sẽ có đạo ở đây còn thể hiện t tởng điều hòagiai cấp của Khổng Tử, cho nên ông chủ trơng "bất tại kỳ vị, bất mu kỳchính", mặt khác, buộc ngời cầm quyền phải có tài đức xứng đáng với danh

vị của họ

Chính danh là mối quan hệ hai chiều: Quân trung thì thần trung,phụ từ thì tử hiếu Để có đợc cái đạo đức xã hội ấy thì phải giáo dục Giáodục chính là cái gốc lâu bền tạo ra cái đức, để con ngời có đợc đức nhân,sống theo lễ và trở về với chính danh

Thuyết chính danh của Khổng Tử là ảo tởng vì đơng thời danh vàthực mâu thuẫn nhau sâu sắc Cái thực là đời sống xã hội, trật tự xã hội đã

có nhiều biến đổi làm cho cái danh phận cũ đợc quy định theo lễ chế nhàChu không còn phù hợp nữa, do đó mà không thể thực hiện đợc Tuy vậythuyết chính danh vẫn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc Đó là:

- Muốn cho xã hội ổn định, ngời cầm quyền phải có đức, có tài,xứng với cái danh vị đã có

- Mọi ngời trong xã hội phải tự giác giữ lấy danh phận của mìnhtheo tôn ti, trên ra trên, dới ra dới

Thuyết Chính danh đợc Mạnh Tử, Tuân Tử và sau này các nhà Nho

đời Hán, đời Tống tiếp tục bổ sung

Trang 28

Tuân Tử chính danh để phân biệt ngời sang với kẻ hèn, để phân biệtnhững vật giống nhau và khác nhau Thiên Chính danh trong bộ sách Tuân

Tử của ông đã lý giải vì sao lại có danh, từ đó theo ông Chính danh là phảidùng pháp lệnh bắt ngời ta phải theo những danh của xã hội đã thừa nhận

Ông nêu ra ba loại nhầm lẫn làm loạn danh và thực, bao gồm:

- Lầm về sự dùng danh mà làm loạn danh

- Lầm về sự dùng cái thực mà làm loạn danh

- Lầm về sự dùng danh mà làm loạn cái thực

Đối với ngời cai trị, cũng giống Khổng Tử, ông cho rằng ngời cai trịphải biết giữ danh phận, đồng thời cũng không dùng sự biện thuyết làmloạn danh Ông cho rằng, những "thuyết sai, ngôn luận lệch lạc" làm trởngại cho "chính danh", phá hoại "lễ nghĩa, pháp độ" Cho nên ông chủ trơngkhông tranh luận, bọn thống trị cứ dùng cái "thế" tức là quyền lực cỡng bức

mà định đoạt Ông không biết rằng những rối loạn của xã hội đơng thời, tức

là mâu thuẫn giai cấp là nguồn gốc sinh ra mâu thuẫn nội tại của bản thânxã hội, trái lại ông đã quy tội cho các học thuyết phụ theo

Đời Hán, Đổng Trọng Th triệt để hóa chính danh, tớc bỏ những yếu

tố tích cực, tiến bộ, làm thụt lùi nghiêm trọng thuyết chính danh của KhổngMạnh Chính danh của Đổng Trọng Th trở thành công cụ chính trị tinh thần

đắc lực của các nhà nớc Trung ơng tập quyền chuyên chế của các triều đạiphong kiến kế tiếp

Nhìn chung, Nhân, lễ, chính danh không chỉ là các chuẩn mực, cáckhái niệm đạo đức đơn thuần mà còn mang tính chính trị cao Nó trở thànhNhân trị, lễ trị - chính danh với tính cách là đờng lối trị nớc của Nho giáo.Nhân, lễ, chính danh quan hệ chặt chẽ với nhau Nhân là nội dung, lễ làhình thức biểu hiện của nhân; nhân là gốc, lễ là ngọn; nhân để khôi phục lễ,

để trở về với chính danh, xã hội trở về với đạo Đó cũng là hoài bão của cácNho gia về một chế độ phong kiến có kỷ cơng, thái bình, thịnh trị

Trang 29

Tóm lại, suốt hơn 2000 năm thống trị, t tởng của Nho giáo về nhà

n-ớc, quyền lực nhà nn-ớc, mối quan hệ giữa dân với nhà nớc; t tởng về đờng lốitrị nớc của Nho giáo đã góp phần quan trọng xây dựng nên nhà nớc Nhogiáo phát triển ở Trung Quốc và các nớc lân bang trong đó có Việt Nam.Nhờ đó các nhà nớc phong kiến Nho giáo thờng có trình độ trởng thành hơn

so với các nhà nớc phong kiến cùng thời ở các khu vực khác nhau trên thếgiới Đó thờng là các nhà nớc dân sự, có tổ chức thiết chế cao, quản lý xãhội một cách có hiệu quả Đó cũng là giá trị tích cực mà ngày nay nhiều n-

ớc chủ động khai thác Nho giáo có thể kế thừa

Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, t tởng ấy phản ánh nhậnthức của một thời đại, lập trờng của một giai cấp và cả tồn tại xã hội cũng

nh cái đời sống tinh thần của một giai đoạn lịch sử nhất định, cho nên trênthực tế nó có nhiều hạn chế cần phải khắc phục, lọc bỏ

Đơng nhiên việc khắc phục hay loại trừ những hạn chế của Nhogiáo cũng nh việc khai thác những giá trị tích cực của nó nh thế nào lại tùythuộc vào mức độ ảnh hởng của nó đối với đời sống xã hội

Trang 30

Chơng 2

ảnh hởng của t tởng chính trị Nho giáo

đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay

Nhận định về ảnh hởng của Nho giáo đối với đời sống xã hội ViệtNam hiện nay là điều không giản đơn, nhất là những năm gần đây, trong vàngoài nớc đã xuất hiện nhiều t tởng, quan điểm trái ngợc nhau

Dới đây là một số quan điểm:

Ông Mai Trung Hậu cho rằng: "Nho giáo về cơ bản mâu thuẫn vớivăn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam" [20, tr 42]

Ông Trần Khuê và bà Nguyễn Thị Thanh Xuân cho rằng: "Văn hóaKhổng giáo chỉ có sự kìm hãm chứ không có sự thúc đẩy sự phát triển xãhội" [25, tr 43]

Trái lại, nhà nghiên cứu Nho học Việt Nam Phan Ngọc lại đề caovai trò ổn định xã hội của Nho học đối với các nớc Trung Quốc, Việt Nam,Bắc Triều Tiên Ông nói: "Nhìn cho kỹ cái sự bảo đảm ổn định về chính trịcủa ba nớc này, mặc dầu những thua kém về kinh tế, là cái gì nếu khôngphải là tâm thức Khổng giáo?" [38, tr 83]

Nhà phơng Đông học ngời Pháp là Vandermersh thì cho rằng, sựphát triển kinh tế khó khăn của Việt Nam là do Việt Nam không có quan hệsâu sắc với Nho giáo bằng Nhật Bản hay Triều Tiên

Nh vậy có thể thấy, dới những góc độ khác nhau, các nhà nghiêncứu đã nhìn nhận sự ảnh hởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam mộtcách khác nhau

Quan điểm của chúng tôi là: Nho giáo đã từng giữ vị trí đặc biệt và

có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta qua các giai

Trang 31

đoạn lịch sử Nho giáo phát triển trong mối quan hệ với Phật giáo và Lãogiáo, tác động mạnh mẽ vào đời sống của nhân dân và ảnh hởng sâu sắc đếnmọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam Ngày nay mặc dù cơ sở kinh tế - xãhội của Nho giáo đã bị thủ tiêu, nhng những ảnh hởng của nó đối với đờisống xã hội Việt Nam cha phải đã hết ảnh hởng đó có phạm vi rộng khắptrên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

ơng đạo, chủ trơng dùng đức để trị dân, bảo vệ dân Đờng lối Vơng đạo đợc

đặt trên nền tảng lớn là: Thiên ý dân tâm (ý trời và lòng dân là một); Quândân tơng thân (chính trị phải hợp với lòng dân); Thứ, Phú, Giáo dân (làmdân có nhiều, dân giàu, dạy cho dân biết lễ nghĩa) và ái dân (yêu dân)

Có thể nói, Đức trị Nho giáo là một trong những học thuyết chính trị

-đạo đức đầu tiên đặt vấn đề lấy con ngời làm cơ sở xuất phát cho các chủ

tr-ơng chính trị Mặc dù t tởng "vì dân" của Đức trị không có khả năng hiệnthực hóa bởi nó không đợc xây dựng trên nền tảng chính quyền của dân, dodân, nhng ngày nay t tởng đó vẫn còn giá trị khi chúng ta khai thác, vậndụng vào việc xây dựng một nền chính trị vì dân

Xây dựng nền chính trị vì dân trở thành t tởng nhất quán, xuyên suốtquá trình lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh Ngờikhông chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền nhận thức mà còn đòi hỏi t tởng đóphải đợc thực hiện trên thực tế Trong khi cầm quyền, Ngời đã tuyên bố vàtừng bớc tổ chức hệ thống chính trị và bộ máy nhà nớc sao cho đó là công

cụ của dân và cán bộ Đảng, Nhà nớc là nô bộc của dân Dới sự lãnh đạo của

Trang 32

Ngời, những ngời cộng sản Việt Nam đã khơi dậy, kế thừa và làm phongphú truyền thống của dân tộc về văn hóa, đạo đức chính trị cũng nh kinhnghiệm quản lý đất nớc, tinh thần độc lập tự chủ, đấu tranh bất khuất chốngmọi nô dịch áp bức, tình thơng ngời, lòng nhân nghĩa của cha ông để xâydựng nền chính trị vì dân.

Ngay khi nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh đãcăn dặn các cán bộ: "Nớc ta là một nớc dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vìdân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân , chính quyền từ xã đến Trung ơng

đều do dân cử ra , quyền hành và lực lợng đều ở nơi dân" [33, tr 698]

Ngời còn chỉ rõ: "Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vàomục đích duy nhất là mu tự do, hạnh phúc cho mọi ngời Cho nên Chínhphủ bao giờ cũng phải đặt quyền lợi của nhân dân lên hết thảy" [32, tr 22]

Nội dung này đã hàm chứa t tởng: chế độ dân chủ thực chất là chế

độ ủy quyền của nhân dân vào nhà nớc - cơ quan quyền lực của dân Chế độ

ta là chế độ dân chủ, tức là một chế độ trong đó ngời dân làm chủ Nói tớixây dựng thể chế, trớc hết là xây dựng chính quyền nhà nớc Thể chế chínhtrị vững mạnh và có hiệu lực phải là thể chế có khả năng giải quyết, điềutiết đúng đắn, hợp lý các mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, lợi ích vàtrách nhiệm Nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nớc và nhà nớc là chủ thểthực hiện sự ủy quyền Nhân dân là chủ nên quyền hành và lực lợng đều ởnơi dân Nhà nớc phục vụ dân chúng và dân chúng phải có trách nhiệm xâydựng nhà nớc của mình

T tởng của Hồ Chí Minh về xây dựng một chính quyền mạnh mẽ,sáng suốt đã đợc thực hiện trên thực tế Thực tiễn sống động trong suốt 57năm qua của Nhà nớc ta cho thấy, Nhà nớc ta đã phát triển từ hình thức thấp

đến hình thức cao, từ Nhà nớc dân chủ nhân dân từng bớc tiến lên nhà nớckiểu mới - Nhà nớc XHCN - Nhà nớc của dân, do dân, vì dân Nhà nớc trởthành công cụ sắc bén trong công cuộc xây dựng và cải tạo XHCN ở nớc ta

Trang 33

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Nhà nớc ta đã có không ítnhững khuyết tật: quan liêu, xa dân, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân,không ít cán bộ nhân viên tham nhũng, thoái hóa, biến chất; hoạt động phântán, thiếu kỷ luật, kỷ cơng; cán bộ thiếu kiến thức khoa học trong tổ chức vàquản lý Những hiện tợng đó làm xói mòn bản chất dân chủ của Nhà nớckiểu mới, làm suy yếu hiệu lực quản lý của nó trên các lĩnh vực của đờisống xã hội.

Xây dựng nền chính trị vì dân trớc hết phải bắt đầu từ việc xây dựng

và hoàn thiện nhà nớc, khắc phục sửa chữa những khuyết tật, thiếu sót, làmcho bộ máy nhà nớc có hiệu lực và hiệu quả cao, xứng đáng với lòng tinyêu của nhân dân

Xây dựng nền chính trị vì dân, "lấy dân làm gốc" đã trở thành bàihọc lịch sử vô giá của cách mạng nớc ta Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI

đã khẳng định: "Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt ttởng lấy dân làm gốc", "mọi chủ trơng, chính sách của Đảng phải xuất phát

từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy

đợc sự đồng tình hởng ứng của quần chúng" [10, tr 29]

Công cuộc đổi mới đã đem lại những thành tựu to lớn, làm thay đổi

bộ mặt đất nớc, cải thiện một bớc rất căn bản trong đời sống của nhân dân.Nhiều chủ trơng lớn từ dân, do dân, vì dân đợc đề ra Chủ trơng xóa 50 vạn

hộ đói nghèo, tập trung vốn vay cho dân sản xuất, mở mang các khu kinh tế

- quốc phòng ở các vùng rừng núi heo hút, xây dựng quy chế dân chủ ở cơ

sở để cán bộ, đảng viên biết lắng nghe quần chúng đó là những quyếtsách lớn, đầy tính nhân bản, thể hiện rõ t tởng "lây dân làm gốc" của Đảng

Xây dựng mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nớc

Trang 34

Loại bỏ yếu tố duy tâm trong thuyết "chính danh" của Khổng tử, cóthể khai thác yếu tố tích cực của nó trong việc xác định chức năng, nhiệm

vụ và mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở nớc ta hiệnnay đặc biệt trong mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nớc Tất nhiên "chínhdanh" ở đây mang ý nghĩa: tổ chức nào có chức năng, nhiệm vụ của tổ chức

đó, không "lấn sân", bao biện, làm thay

Thực tiễn cho thấy:

Sự lẫn lộn chức năng giữa Đảng với Nhà nớc dẫn đến tìnhtrạng Đảng vừa bao biện làm thay, vừa buông trôi khoán trắngcho Nhà nớc, làm cho Nhà nớc khó phát huy vai trò chủ động,sáng tạo trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, vừathụ động ỷ lại vào sự lãnh đạo của cơ quan Đảng, vừa lúng túng,

do dự không dám chịu trách nhiệm về các quyết định của mình[35, tr 71]

Vì vậy, trong điều kiện Đảng cầm quyền, cần phải phân định rõchức năng để Đảng và Nhà nớc có cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động đúng

đắn nhằm tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nớc và xã hội, nângcao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nớc

Có thể khái quát sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nớc và xã hội

nh sau:

Trên cơ sở ý chí và nguyện vọng của nhân dân lao động, Đảng đề racơng lĩnh, chủ trơng, đờng lối, chính sách lớn định hớng cho sự phát triểncủa Nhà nớc và của toàn xã hội trong từng thời kỳ nhất định

Đảng lãnh đạo toàn diện, tức là lãnh đạo tất cả các cơ quan Nhà nớc(lập pháp, hành pháp, t pháp), các hoạt động của Nhà nớc ở tất cả các cấp

Đảng lãnh đạo cả việc xây dựng, hoàn thiện bộ máy tổ chức lẫn hoạt động

Trang 35

của Nhà nớc và đoàn thể Không có lĩnh vực hoạt động nào của Nhà nớcnằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng.

Đảng phát hiện, bồi dỡng, lựa chọn cán bộ bố trí vào bộ máy Đảng,

đồng thời giới thiệu vào các cơ quan nhà nớc những cán bộ có phẩm chất vànăng lực

Đảng kiểm tra mọi hoạt động của các cơ quan nhà nớc trong việcthực hiện chủ trơng, đờng lối của Đảng

Đảng giáo dục, tổ chức cho đảng viên nêu cao vai trò tiên phong,giáo dục các tầng lớp nhân dân thực hiện mọi chủ trơng, chính sách của

Đảng và pháp luật của Nhà nớc

Từ nội dung cơ bản trên cho thấy thực chất sự lãnh đạo của Đảng

đối với Nhà nớc là sự lãnh đạo chính trị, mang tính chất định hớng, tạo điềukiện để Nhà nớc có thể độc lập tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ, viên chức,hoạt động đúng chức năng, quản lý, điều hành bằng những công cụ, biệnpháp của Nhà nớc Đảng lãnh đạo nhà nớc nhằm bảo đảm cho Nhà nớc hoạt

động theo chức năng của nó để quản lý kinh tế - xã hội một cách hiệu quảnhất

Trong điều kiện đổi mới toàn diện hiện nay, chức năng quản lý củaNhà nớc có thể khái quát nh sau:

Nhà nớc thể chế hóa đờng lối, chủ trơng của Đảng thành pháp luật,chính sách cụ thể; xây dựng chiến lợc kinh tế - xã hội và cụ thể hóa chiến l-

ợc đó thành những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo, bồi dỡng

đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực quản lý nhà nớc, quản lý kinh tếxã hội, xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có chất lợng; xây dựng và phát huy dânchủ XHCN, bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân tham gia quản

lý công việc của Nhà nớc và xã hội; bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụcủa công dân theo luật định; nghiêm trị những hành vi tham nhũng vi phạmquyền làm chủ của công dân

Trang 36

Sự phân định chức năng của Đảng và Nhà nớc đòi hỏi phải xác định

đúng đắn mối quan hệ giữa các cơ quan đảng và nhà nớc Mối quan hệ đóphải đợc cụ thể hóa thành các quy định bảo đảm cho các cơ quan đảng vànhà nớc thực hiện đúng chức năng của mình Mối quan hệ đó phải đợc cụthể hóa thành các quy định bảo đảm cho cả cơ quan đảng và cơ quan nhà n-

ớc thực hiện đúng chức năng của mình Các cơ quan, tổ chức đảng và đảngviên phải tuân thủ pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và phápluật; phải tôn trọng quyền hạn của cơ quan nhà nớc

Từ ý nghĩa chính trị sâu sắc của thuyết "chính danh" Nho giáo, cóthể khai thác và vận dụng nó vào việc xác định chức năng, quyền hạn củacác tổ chức trong hệ thống chính trị ở nớc ta hiện nay, làm cho các tổ chức

đó tránh đợc tình trạng chồng chéo chức năng, hoạt động thiếu hiệu quả

Đặc biệt, trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nớc, việc xác định rõ chứcnăng sẽ góp phần đa Đảng ta vơn lên ngang tầm một Đảng lãnh đạo chínhquyền, có trọng trách lãnh đạo toàn dân xây dựng thành công CNXH, đồngthời Nhà nớc cũng đổi mới cơ bản tổ chức và hoạt động của mình bảo đảmnâng cao hiệu lực quản lý đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

2.1.2 ảnh hởng tiêu cực

Đối với quá trình xây dựng nhà nớc pháp quyền XHCN Việt Nam

Nhà nớc pháp quyền là thành tựu chung của nhân loại, là phơng tiện

để con ngời vơn tới những giá trị mới cao hơn, tốt đẹp hơn

Đối với nớc ta, xây dựng nhà nớc pháp quyền XHCN thực chất làhình thức hoàn thiện nhà nớc, là làm cho sự phát triển của đất nớc theo địnhhớng XHCN có cơ sở pháp lý của nó chứ không đơn giản chỉ là ớc mơ, là

đạo đức thuần túy với những khái niệm trừu tợng

Quan điểm đổi mới cơ bản nhà nớc ta theo hớng xây dựng nhà nớcpháp quyền XHCN đã đợc khẳng định tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa

Trang 37

nhiệm kỳ - khóa VII (1994) và Hội nghị lấn thứ 8 - khóa VII (1995) của Banchấp hành Trung ơng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, lần thứ IX cũng

đều khẳng định chủ trơng xây dựng nhà nớc pháp quyền Việt Nam Đây làmột chủ trơng đúng đắn và phù hợp với điều kiện nớc ta Thực tế cho thấy,nhiều vấn đề trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội sẽ bị rối loạn, không thểthực hiện đợc nếu không có một nhà nớc pháp quyền vững mạnh với hệthống pháp luật hoàn chỉnh, khả thi

ở nớc ta, Cách mạng tháng Tám đã xóa bỏ chính quyền phong kiến

và thực dân, đồng thời xóa bỏ những tàn d trong t tởng đức trị của Nho giáo,thay vào đó là đạo đức cách mạng và pháp luật của chế độ dân chủ nhândân Tuy nhiên, việc xây dựng cái mới không phải đơn giản Pháp luật và

đạo đức mới không phải dễ dàng đi vào mọi mặt của đời sống xã hội Vớihàng ngàn năm tồn tại, t tởng đức trị của Nho giáo đã ăn sâu vào tiềm thứccủa ngời dân Việt Nam Những tàn d của nó đang trở thành lực cản đối vớiquá trình xây dựng nhà nớc pháp quyền XHCN Việt Nam

Do ảnh hởng của t tởng đức trị, ở nhiều nơi, nhân dân vẫn chỉ quensống theo công thức đạo đức đã trở thành tập quán mà không sống theo quy

định của pháp luật

Phong tục, tập quán là những phạm trù lịch sử ở mỗi giai đoạn lịch

sử nhất định, theo yêu cầu của sự phát triển xã hội đều có những tập quántốt và ngợc lại có cả những phong tục tập quán xấu Khi phù hợp với yêucầu phát triển của xã hội, phong tục tập quán là một phơng thức phản ánhbản sắc văn hóa dân tộc, có tác dụng điều chỉnh hành vi của con ngời, giữvai trò to lớn trong việc điều tiết, ổn định xã hội Khi không phù hợp, phongtục, tập quán trở thành nhân tố cản trở sự phát triển xã hội "Phép vua thua

lệ làng" là một tập quán có ảnh hởng tiêu cực đến quá trình xây dựng nhà

n-ớc pháp quyền hiện nay

Trang 38

"Phép vua thua lệ làng" chỉ tình trạng nhân dân các làng xã trớc đây

đề cao các tập quán của mình, coi các tập quán đó nh quy tắc cơ bản của

đời sống Vì vậy, dù sống dới chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến nhngnếu phép vua đi ngợc với các tập quán làng xã thì nhân dân ở đó vẫn khôngtuân theo mà vẫn thực hiện theo tập quán của mình

Chúng ta không hề phủ nhận rằng trong lịch sử, "lệ làng" đã có tácdụng cố kết cộng đồng làng xã, chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, bảo

vệ bản sắc văn hóa dân tộc Ngày nay, nhiều "lệ làng" vẫn có ý nghĩa tíchcực Tuy vậy, một khía cạnh khác vẫn phải nhận thấy là nếu t tởng "phépvua thua lệ làng" chi phối suy nghĩ và hành động của cán bộ, nhân dân các

địa phơng, cơ sở sẽ dẫn đến tình trạng coi thờng kỷ cơng phép nớc, bất chấppháp luật, vô chính phủ, địa phơng chủ nghĩa Một khi ngời cán bộ lãnh

đạo, quản lý không chấp hành nghiêm túc đờng lối, chính sách của Đảng,Nhà nớc, tùy tiện đặt ra những quy định bất hợp pháp thì họ đã khởi đầucho tình trạng hoạt động không bình thờng của cả một địa phơng, có thểdẫn đến sai lầm nghiêm trọng, làm rối loạn nề nếp, kỷ cơng xã hội Đâycũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc hình thành các "điểmnóng" ở một số địa phơng nh: Thái Bình, Nam Định, Hải Dơng, Hà Tây,Bến Tre, Lâm Đồng trong thời gian vừa qua Chừng nào ở những nơi đó,những "lệ làng" lạc hậu cũng nh những "lệ" mới nảy sinh tùy tiện còn cha

đợc cải tạo, cha chấp hành pháp luật, chừng ấy còn tình trạng vô chính phủ,cục bộ địa phơng và những hoạt động tiêu cực trên phạm vi rộng lớn

Bên cạnh đó ở nớc ta, tổ chức pháp luật cha chặt chẽ, các bộ luật

ch-a hoàn chỉnh, sự thi hành pháp luật dựch-a theo những "lẽ phải", những đạo lýtrừu tợng dễ khiến nhân dân không thấy hết ý nghĩa của pháp luật Nhữngcuộc sinh hoạt trong nội bộ các cơ quan và đoàn thể, việc phê bình và tựphê bình, việc xử lý các vụ việc mang tính nội bộ cũng ảnh hởng không ít

đến việc thi hành pháp luật và tôn trọng pháp luật Những việc làm nói trênvốn là cần thiết, là sự bổ sung tốt đẹp cho pháp luật thì nhiều lúc nó đã tự

Trang 39

cho phép thay thế pháp luật Về khách quan, nó đã làm giảm vai trò củapháp luật trong ý thức của nhân dân Tình hình đó tất yếu dẫn tới sự thờ ơcủa nhân dân đối với pháp luật.

Nho giáo còn ảnh hởng tiêu cực đến quá trình đổi mới tổ chức vàhoạt động của bộ máy nhà nớc

Công cuộc đổi mới diễn ra sâu, rộng trên các lĩnh vực khác nhaucủa đời sống xã hội thì nhiệm vụ đặt ra ngày càng nhiều với không ít khókhăn, trở ngại Xã hội XHCN mà chúng ta đang xây dựng cũng chỉ mới tồntại đợc vài thập kỷ, trong khi đó bộ máy nhà nớc phong kiến thực dân tuy

đã bị đập tan, nhng vốn tồn tại hàng thế kỷ đã tạo nên những dấu ấn quákhứ khó phai mờ Ngay trong t duy của một bộ phận cán bộ công chức,trong thực tiễn tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nớc ta hiện nay khôngphải đã rũ bỏ hết những ảnh hởng tiêu cực của Nho giáo

Trớc hết, có thể thấy, bộ máy quản lý còn cồng kềnh, chồng chéo

với nhiều tầng nấc, hiệu lực, hiệu quả quản lý thấp

Bộ máy quản lý nhà nớc muốn thực hiện đợc đúng chức năng,nhiệm vụ là ngời tổ chức, quản lý xã hội bao giờ cũng đòi hỏi phải đợc tổchức thành một hệ thống hoàn chỉnh, thống nhất nhiều cấp độ, bao gồmnhiều bộ phận, cơ quan, đơn vị khác nhau với một đội ngũ cán bộ côngchức giỏi chuyên môn nghiệp vụ cùng những nguyên tắc, thủ tục hànhchính chặt chẽ trong bộ máy đó Những đơn vị trong bộ máy cùng các thủtục, nguyên tắc hành chính đợc tạo lập ra là khách quan nhằm hoàn thànhnhững mục tiêu xã hội đặt ra chứ không có mục đích tự thân Nhng trongquá trình vận hành, những nguyên tắc quản lý của nhà nớc đặt ra đã bị biếndạng, sai lệch Sự hoàn thiện bộ máy mà trớc hết là các thủ tục, nguyên tắchành chính xét cho tới cùng là phơng tiện nhằm đạt tới hiệu quả quản lý,chứ không phải mục đích của quản lý Song trong nhiều trờng hợp, việc tổ

Trang 40

chức hoạt động của bộ máy chỉ có mục đích tự thân: bộ máy và bộ máy chứkhông phải vì con ngời, vì nhân dân

Sau nhiều lần cải cách, bộ máy nhà nớc đã gọn nhẹ hơn, hiệu lựcquản lý cũng dần dần đợc nâng lên, tuy nhiên xét về tổng thể, bộ máy nhànớc vẫn còn cồng kềnh Tại các cơ quan nhà nớc ở mọi cấp từ Trung ơng

đến địa phơng, hiện tợng giấy tờ, hình thức còn rất nặng nề Bên cạnh đó,

đội ngũ cán bộ công chức cha ngang tầm nhiệm vụ, một bộ phận suy thoái,tham ô, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, xa rời thực tế Những hạn chế bấtcập này làm cho hoạt động của bộ máy nhà nớc vốn đã phức tạp lại càngphức tạp hơn

Bộ máy đợc tạo lập ra nếu chỉ nhằm tạo thuận lợi cho cán bộ, côngchức làm việc trong bộ máy đó thì cha đủ, cha hẳn đã thuận lợi đối với ngờidân Trong điều kiện nh vậy, việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớckhông chỉ xa rời cuộc sống, thiếu công khai cho dân biết để dân bàn, dânkiểm tra mà còn gây nhiều phiền nhiễu cho dân Việc hội họp, giấy tờ, hìnhthức còn khá phổ biến trong bộ máy nhà nớc

Việc quản lý theo kế hoạch, tập trung cao độ của bộ máy nhà nớcbằng việc bắt buộc mọi thành viên của xã hội tuân thủ những nguyên tắc,những quy định cỡng ép, gò bó, không những không đạt hiệu quả mà cònloại trừ sự năng động sáng tạo của quần chúng Lối quản lý tập trung nàycho phép cấp trên can thiệp sâu, trực tiếp vào những công việc cụ thể củacấp dới và buộc cấp dới phải có nghĩa vụ "phục tùng" Trong quá trình sảnxuất, kinh doanh, sự tự chủ của các đơn vị, cơ sở là điều kiện đảm bảo pháthuy sự năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, nhng việc nhà nớc can thiệpquá mức vào hoạt động của các doanh nghiệp không những không cần thiết

mà còn bó tay họ Trong khi đó có nhiều công việc nhà nớc cần nắm giữ thìkhông nắm Chẳng hạn việc xây dựng hệ thống pháp luật là nhiệm vụ củaNhà nớc cha đầy đủ, kịp thời và còn không ít những sơ hở Hoặc sự tùy tiện

Ngày đăng: 09/08/2023, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Bội Châu (1998), Khổng học đăng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng học đăng
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1998
2. Ngô Vinh Chính (chủ biên) (1988), Đại cơng lịch sử văn hóa Trung Quốc, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử văn hóa TrungQuốc
Tác giả: Ngô Vinh Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1988
3. Đoàn Trung Còn (Dịch giả) (1996), Luận Ngữ, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận Ngữ
Tác giả: Đoàn Trung Còn (Dịch giả)
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1996
4. Đoàn Trung Còn (Dịch giả) (1996), Đại học Trung dung, Nxb Thuận Hãa, HuÕ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học Trung dung
Tác giả: Đoàn Trung Còn (Dịch giả)
Nhà XB: Nxb ThuậnHãa
Năm: 1996
5. Đoàn Trung Còn (Dịch giả) (1996), Mạnh Tử, Tập Hạ, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạnh Tử
Tác giả: Đoàn Trung Còn (Dịch giả)
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1996
6. Đoàn Trung Còn (Dịch giả) (1996), Mạnh Tử, Tập Thợng, Nxb Thuận Hãa, HuÕ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạnh Tử
Tác giả: Đoàn Trung Còn (Dịch giả)
Nhà XB: Nxb ThuậnHãa
Năm: 1996
7. Phan Đại Doãn (chủ biên) (1994), Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
8. Nguyễn Đăng Duy (1997), Nho giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 1997
9. Quang Đạm (1994), Nho giáo xa và nay, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xa và nay
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1994
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội
Năm: 1991
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ơng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Banchấp hành Trung ơng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ơng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Banchấp hành Trung ơng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
16. Thế Gia (1999), "Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án EPCO - Minh Phụng", Báo Nhân dân, ngày 15/5, tr. 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án EPCO - MinhPhụng
Tác giả: Thế Gia
Năm: 1999
17. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc ViệtNam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1980
18. Giắccơ Đêriđa (1994), Những bóng ma của chủ nghĩa Mác, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bóng ma của chủ nghĩa Mác
Tác giả: Giắccơ Đêriđa
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1994
19. Lý Trờng Hải (2002), Khổng Tử, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng Tử
Tác giả: Lý Trờng Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
20. Mai Trung Hậu (1995), "Chữ Hán và Nho giáo đâu phải là truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam", Thông tin lý luận, (2), tr. 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Hán và Nho giáo đâu phải là truyền thốngvăn hóa của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Mai Trung Hậu
Năm: 1995

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w