1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở việt nam giai đoạn 2009 2015

86 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở Việt Nam giai đoạn 2009-2015
Tác giả Nguyễn Thị Kim Liên
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Huy Đức
Trường học Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự
Chuyên ngành Quản lý đấu thầu và nguồn nhân lực
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 579,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Đấu thầu và các hình thức đấu thầu (2)
    • 1. Khái niệm chung về đấu thầu (2)
      • 1.1 Theo từ điển tiếng việt( Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 1998) (2)
      • 1.2 Theo luật đấu thầu Việt Nam (2)
      • 1.3 Phân biệt khái niệm ‘ đấu thầu” và “ đấu giá” (3)
    • 2. Đặc điểm, mục tiêu của công tác đấu thầu (3)
      • 2.1 Đặc điểm của công tác đấu thầu (3)
        • 2.1.1 Mua sắm từ nguồn vốn tư nhân( không phải vốn nhà nuớc) (3)
        • 2.1.2 Mua sắm sử dụng nguồn vốn của nhà nước (4)
      • 2.2. Mục tiêu của công tác đấu thầu (5)
        • 2.2.1 Mục tiêu chung (5)
        • 2.2.2 Các mục tiêu hệ thống pháp luật của Việt Nam (6)
    • 3. Vai trò, tầm quan trọng của đấu thầu (8)
      • 3.1 Vai trò của đấu thầu (9)
      • 3.2 Tầm quan trọng của đấu thầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (9)
  • II. Nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu (10)
    • 1. Tổng quan chung về nguồn nhân lực trong đấu thầu (11)
      • 1.1 Các đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động đấu thầu (11)
        • 1.1.1 Bên mua (11)
        • 1.1.2 Bên bán (11)
      • 1.2 Các đối tượng tham gia gián tiếp vào hoạt động đấu thầu (11)
    • 2. Nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu (12)
      • 2.1. Cấp quản lý nhà nước về đấu thầu (12)
        • 2.1.1 Chính phủ và thủ tướng chính phủ (12)
        • 2.1.2 Bộ kế hoạch và đầu tư (12)
      • 2.2 Cấp quản lý hoạt động đấu thầu( Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp) (13)
    • 3. Sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu (13)
      • 3.1 Thế nào là phát triển nguồn nhân lực trong đấu thầu (13)
      • 3.2 Tại sao phải phát triển nguồn nhân lực trong đấu thầu (14)
        • 3.2.1 Do yêu cầu nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế nói chung (14)
        • 3.2.2 Công tác đấu thầu còn mới mẻ (15)
        • 3.2.3 Do yêu cầu hợp tác quốc tế (16)
        • 3.2.4 Đảm bảo mục tiêu của công tác đấu thầu (16)
    • 4. Kinh nghiệm của các nước trong việc phát triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu (17)
      • 4.1 Quy định về quản lý đấu thầu của Ba Lan (17)
        • 4.1.1 Ba Lan áp dụng một hình thức quản lý công tác đấu thầu khá chuẩn mực. 17 (17)
        • 4.1.2 Đào tạo cán bộ làm công tác đấu thầu (18)
      • 4.2. Quy định về phân cấp quản lý đấu thầu của Trung Quốc (19)
      • 4.3 Quy định về đội ngũ cán bộ đấu thầu của Hàn quốc (20)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC LÀM CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2003-2007 (2)
    • I. Thực trạng công tác đấu thầu từ năm 2003- 2007 (20)
      • 1. Tình hình thực hiện công tác đấu thầu (20)
        • 1.1 Kết quả của việc thực hiện đấu thầu theo đánh giá chung (21)
        • 1.2 Kết quả của việc thực hiện đấu thầu theo các gói thầu (22)
          • 1.2.1. Các gói thầu sử dụng vốn Nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển (22)
          • 1.2.2. Các gói thầu sử dụng vốn liên doanh, cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh ( vốn nhà nước từ 30% trở lên) (25)
          • 1.2.3. Các gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm (26)
      • 2. Kết quả đánh giá BLI 2006-2008 về hệ thống đấu thầu quốc gia (27)
        • 2.1 Đánh giá chung về hệ thống đầu thầu Việt Nam (29)
          • 2.1.1 Đánh giá theo Chỉ số 2b “Chất lượng và hiệu quả của hệ thống đấu thầu quốc gia” của Tuyên bố Pa-ri (29)
          • 2.1.2 Phân loại đánh giá theo từng lĩnh vực đấu thầu (31)
        • 2.2 Ý kiến đánh giá của các chuyên gia (33)
          • 2.2.1 Trụ cột I – Khung pháp lý (33)
          • 2.2.2 Trụ cột II – Khuôn khổ thể chế và năng lực quản lý (35)
          • 2.2.3 Trụ cột III – Hoạt động đấu thầu và thông lệ thị trường (38)
          • 2.2.4 Trụ cột IV – Tính trung thực và minh bạch của hệ thống đấu thầu (41)
        • 1.3. Về công tác đánh giá và thẩm định kết quả đấu thầu (44)
      • 3. Đánh giá thực trạng công tác đấu thầu từ 2006-2008 (47)
        • 3.1 Một số thành quả (47)
          • 3.1.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu cơ bản được hoàn thiện và thống nhất (47)
          • 3.1.2 Tiết kiệm cho nguồn vốn của Nhà nước tăng đáng kể (47)
          • 3.1.3. Việc hướng dẫn thực hiện Quy chế Đấu thầu, Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu được triển khai rộng rãi (48)
          • 3.1.4. Công khai hóa các thông tin đấu thầu được tăng cường (50)
          • 3.1.6. Quyền của nhà thầu ngày càng được đảm bảo (53)
        • 3.2 Một số tồn tại và nguyên nhân (53)
          • 3.2.1 Cơ chế chính sách liên quan đến đấu thầu chưa được ban hành kịp thời 54 (53)
          • 3.2.2 Tính chuyên môn, chuyên nghiệp về đấu thầu chưa đồng đều và còn hạn chế ở một số địa phương (54)
          • 3.2.3 Chất lượng của một số công việc chuẩn bị cho đấu thầu vẫn còn bất cập. 56 (55)
          • 3.2.4 Xu hướng đề nghị được áp dụng hình thức chỉ định thầu tràn lan (55)
          • 3.2.5 Vấn đề quản lý sau đấu thầu còn chưa được thực hiện thường xuyên 56 3.2.6. Hoạt động kiểm tra đấu thầu chưa đảm bảo (55)
    • II. Thực trạng nguồn nhân lực làm công tác đấu thầu từ năm 2006-2008 (56)
      • 1. Cơ câú tổ chức bộ máy làm công tác quản lý đấu thầu từ 1999-2009 (56)
      • 2. Số lượng đội ngũ nhân sự làm công tác quản lý đấu thầu (57)
        • 2.1 Số lượng đội ngũ nhân sự làm công tác quản lý nhà nước về đấu thầu (58)
        • 2.2 Số lượng đội ngũ nhân sự làm công tác quản lý hoạt động đấu thầu (60)
      • 3. Chất lượng đội ngũ nhân sự làm công tác quản lý đấu thầu (60)
        • 3.1. Kinh nghiệm làm việc của đội ngũ nhân sự làm công tác quản lý đấu thầu 61 (60)
        • 3.2 Năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao (61)
        • 3.3 Đạo đức nghề nghiệp đội ngũ nhân lực quản lý đấu thầu (62)
        • 3.4 Hoạt động đào tạo và cấp chứng chỉ nghiệp vụ đấu thầu (62)
          • 3.3.1 Những đối tượng mở lớp đào tạo (63)
          • 3.3.2 Giảng viên giảng dạy (64)
          • 3.3.3 Chương trình giảng dạy (65)
          • 3.3.4 Chất lượng giảng dạy (65)
  • CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU 2009-2015 (20)
    • I. Phương hướng phát triển đấu thầu và nhu cầu nguồn nhân lực làm công tác quản lý đấu thầu giai đoạn 2009-2015 (67)
      • 1. Phương hướng phát triển đấu thầu giai đoạn 2009-2015 (67)
        • 1.1 Yêu cầu của công tác đấu thầu trong thời gian tới (67)
          • 1.1.1 Tăng cường công khai hóa các thông tin đấu thầu (67)
          • 1.1.2 Áp dụng Đấu thầu điện tử (68)
          • 1.2.3 Xu thế vươn ra quốc tế trong đấu thầu (69)
          • 1.2.4 Xây dựng và phát triển trung tâm đấu thầu quốc gia (70)
        • 1.2 Phương hướng phát triển đấu thầu giai đoạn 2009-2015 (70)
          • 1.2.1. Xây dựng chính sách đấu thầu (70)
          • 1.2.2 Đào tạo và phát triển đôi ngũ nhân lực đấu thầu (71)
          • 1.2.3 Triển khai thực hiện Dự án ứng dụng TMĐT (71)
          • 1.2.4 Tăng cường hợp tác quốc tế và hôi nhập sâu trong lĩnh vực đấu thầu 73 2. Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực làm công tác quản lý đấu thầu giai đoạn 2009- 2015 (72)
        • 2.1 Dự báo số lượng nguồn nhân lực đấu thầu đến năm 2015 (72)
        • 2.2 Yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực quản lý đấu thầu đến năm 2015 (74)
    • II. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực làm công tác quản lý đấu thầu giai đoạn 2009-2015 (74)
      • 1. Hoàn thiện khung khổ pháp lý về đấu thầu (74)
      • 2. Cải thiện chính sách cũng như chế độ cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý đấu thầu (75)
      • 3. Đào tạo nguồn nhân lực quản lý đấu thầu (76)
        • 3.1. Phát triển trung tâm đấu thầu quốc gia (76)
        • 3.2. Đặt ra các nhóm mục tiêu trong đào tạo( hình thức đào tạo) (77)
        • 3.3. Tiêu chuẩn hóa các cấp đào tạo( đào tạo ai) (78)
        • 3.4 Thúc đẩy sự tham gia của khối tư nhân( trong chuyển giao đào tạo) (78)
        • 3.5. Quản lý cơ sở dữ liệu của người giảng dạy và nhân viên (78)
        • 3.6. Hợp tác đào tạo quốc tế (78)
  • KẾT LUẬN (80)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (81)

Nội dung

Đấu thầu và các hình thức đấu thầu

Khái niệm chung về đấu thầu

1.1 Theo từ điển tiếng việt( Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 1998) Đấu thầu được giải thích là việc “ đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng( một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)”.

Bản chất của việc đấu thầu được xã hội công nhận như là một hình thức cạnh tranh để thực hiện các công việc hoặc yêu cầu nhất định Dù dưới dạng quy chế hoặc luật đấu thầu, thuật ngữ “Procurement” (mua sắm) xuất phát từ tiếng Anh vẫn được sử dụng để thể hiện bản chất của quá trình này Vì vậy, dù gọi là Quy chế đấu thầu hoặc Luật đấu thầu, thực chất chúng đều là quy chế mua sắm (Procurement Regulation) hoặc luật mua sắm (Law on Procurement).

1.2 Theo luật đấu thầu Việt Nam

Kể từ khi đất nước tiến hành đổi mới và mở cửa nền kinh tế, khái niệm "đấu thầu" bắt đầu xuất hiện phổ biến Theo Luật Đấu thầu của Việt Nam, "đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu sử dụng vốn nhà nước", đảm bảo minh bạch và cạnh tranh trong các dự án công.

Kết quả của quá trình đấu thầu là việc ký kết hợp đồng với các điều khoản rõ ràng, quy định trách nhiệm của cả nhà thầu và chủ đầu tư Nhà thầu có nhiệm vụ thực hiện các công việc theo yêu cầu trong Hồ sơ mời thầu (HSMT), bao gồm dịch vụ tư vấn, cung cấp hàng hóa hoặc xây lắp công trình, trong khi chủ đầu tư có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu và thanh toán Quá trình đấu thầu tại Việt Nam đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước chủ yếu là hoạt động mua sắm, chi tiêu và quản lý vốn nhà nước một cách minh bạch và có trách nhiệm.

1.3 Phân biệt khái niệm ‘ đấu thầu” và “ đấu giá” Đấu thầu và đấu giá có những nét tương đồng nhau, nhưng có nhiều lúc bị hiểu lẫn lộn như một khái niệm “ đấu thầu” Sau đây là một số điểm lưu ý giúp chúng ta phân biệt đấu thầu và đấu giá.

Đặc điểm, mục tiêu của công tác đấu thầu

2.1 Đặc điểm của công tác đấu thầu

Hoạt động đấu thầu là quá trình bỏ tiền để đạt được mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian xác định Khi hoạt động đấu thầu do nhà nước thực hiện, nó được gọi là “mua sắm công” hoặc “mua sắm chính phủ” Các quy định về đấu thầu được điều chỉnh bởi nguồn vốn sử dụng cho quá trình mua sắm, trong đó, việc sử dụng vốn của Nhà nước tạo ra những đặc điểm riêng biệt khác với các nguồn vốn không phải của nhà nước.

2.1.1 Mua sắm từ nguồn vốn tư nhân( không phải vốn nhà nuớc) Đấu thầu

Đấu thầu là hoạt động mua sắm quan trọng do bên chủ động tổ chức nhằm tìm kiếm các hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao nhất với mức giá cạnh tranh thấp nhất Quá trình đấu thầu giúp đảm bảo sự minh bạch, công bằng và tối ưu hóa chi phí cho tổ chức Việc thực hiện đấu thầu đúng quy trình là cách hiệu quả để lựa chọn nhà cung cấp uy tín, nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm thiểu rủi ro về tài chính.

Đối tượng chào bán của nhà thầu được xác định rõ ràng chỉ dựa trên hồ sơ dự thầu, trong khi BMT chỉ có thể nắm bắt được sản phẩm dự kiến mua sau khi nhà thầu hoàn tất hợp đồng đã ký kết.

- Đấu thầu cần thiết phải có sự khống chế về giá( trừ trường hợp đặc biệt) được gọi là giá gói thầu hay dự toán.

Nhà thầu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của bên mời thầu và có giá bán càng thấp (tính trên một mặt bằng chi phí) sẽ có nhiều cơ hội chiến thắng trong cuộc đấu thầu Đảm bảo cạnh tranh về giá là yếu tố quan trọng giúp nhà thầu nâng cao khả năng trúng thầu Việc tối ưu hóa chi phí và đáp ứng đúng tiêu chuẩn yêu cầu giúp tăng khả năng giành được hợp đồng dự án.

Nhà thầu phải đặt cọc một mức giá nhất định gọi là bảo đảm dự thầu để đảm bảo các đề xuất kỹ thuật và tài chính của họ có hiệu lực trong thời gian quy định Bảo đảm dự thầu này giúp đảm bảo rằng đề xuất của nhà thầu là nghiêm túc và hợp lệ theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Khi bảo đảm dự thầu còn hiệu lực, hồ sơ dự thầu của nhà thầu mới có giá trị để Ban mời thầu xem xét và tiến hành đấu giá Điều này nhằm đảm bảo tính cạnh tranh, minh bạch và đúng quy trình trong công tác tổ chức đấu thầu.

Đấu giá là hoạt động bán hàng do bên chủ động tổ chức nhằm tối đa hóa doanh thu, giúp bán được hàng hóa và dịch vụ với mức giá cao nhất có thể Hoạt động này thu hút nhiều khách hàng tham gia, tạo cơ hội để người bán đạt được lợi ích tài chính tối ưu Đấu giá không chỉ giúp xác định giá trị thực của hàng hóa mà còn tăng tính cạnh tranh trên thị trường, nâng cao hiệu quả bán hàng.

- Đối tượng bán là rõ ràng, người mua có thể kiểm tra, đánh giá trước khi đưa ra giá mua.

Trong quá trình đấu giá, việc thiết lập mức giá thấp nhất hay còn gọi là giá sàn là rất cần thiết để đảm bảo sự công bằng và cạnh tranh hợp lý giữa các bên tham gia Người đặt giá cao hơn mức giá sàn sẽ trở thành người chiến thắng trong phiên đấu giá, thể hiện sự phù hợp của mức giá đó với giá trị thực của sản phẩm hoặc dịch vụ Việc kiểm soát giá sàn giúp đảm bảo rằng giá trị hàng hóa không bị thấp hơn mức tối thiểu quy định và thúc đẩy các bên tham gia đưa ra mức giá hợp lý, cạnh tranh trên thị trường.

- Trong đấu giá, người mua phải đặt cọc thì mới được tham gia và đảm bảo cho giá cả của họ đưa ra là có tính khả thi.

Việc mua sắm hàng ngày, như đi chợ, mua sắm đồ dùng, trang thiết bị hoặc xây dựng nhà cửa cho nhu cầu cá nhân và gia đình, là hoạt động tiêu chuẩn phổ biến Hoạt động này không bị quy định bắt buộc, mà dựa vào khả năng tài chính và sở thích của từng cá nhân, miễn là tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Mua sắm theo kiểu “mặc cả hay thương thảo” là phương pháp mua bán trực tiếp, trong đó bên bán đưa ra mức giá gợi ý để thương lượng với người mua Quá trình này thường diễn ra qua các cuộc trao đổi, nâng lên hoặc hạ xuống giá cho phù hợp hai bên Khi đã đạt được sự đồng thuận về mức giá, quá trình mua bán được hoàn tất thành công.

Trong hình thức mua sắm này, các nội dung điều chỉnh phụ thuộc vào sự thống nhất giữa hai phía Nguồn vốn thường là tiền sở hữu của người mua, do đó quá trình quyết định mua sắm thường diễn ra nhanh chóng và dựa trên quyết định chủ quan của người mua Nếu người mua có đủ thông tin, kinh nghiệm và kỹ năng thương thảo, họ sẽ dễ dàng thành công trong việc mua bán Ngược lại, thiếu những yếu tố này sẽ gây khó khăn trong quá trình mua sắm.

2.1.2 Mua sắm sử dụng nguồn vốn của nhà nước

Mua sắm sử dụng nguồn vốn của nhà nước, còn gọi là mua sắm công, nhằm sử dụng nguồn vốn thuộc sở hữu toàn dân để phục vụ lợi ích cộng đồng Nguồn vốn của Nhà nước được hiểu là nguồn vốn có nguồn gốc từ sở hữu toàn dân hoặc thuộc sở hữu của toàn dân, do đó, việc chi tiêu và sử dụng nguồn vốn này phải được quản lý chặt chẽ theo pháp luật để đảm bảo hiệu quả Chính đặc điểm này hình thành các quy định đấu thầu mua sắm của Nhà nước, đảm bảo việc sử dụng ngân sách công tránh thất thoát và lãng phí Các đối tượng mua sắm nhằm đáp ứng các yêu cầu trực tiếp hoặc gián tiếp của Chính phủ cũng như của nhân dân thường được gọi là các nhu cầu chung của cộng đồng.

Với việc sử dụng tiền của nhà nước để tiến hành mua sắm nên hoạt động này có những đặc điểm:

2.1.2.1 Mục tiêu, nội dung mua sắm rõ ràng

Hoạt động đấu thầu mua sắm nhằm thực hiện các nội dung công việc của các dự án đã được duyệt, góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, nâng cao cơ sở hạ tầng xã hội và cải thiện đời sống người dân theo kế hoạch và quy hoạch phát triển kinh tế dài hạn Đối với từng gói thầu cụ thể, mục tiêu tập trung vào việc lựa chọn nhà thầu có năng lực, kinh nghiệm và đề xuất giải pháp khả thi để cung cấp hàng hóa, dịch vụ (bao gồm dịch vụ tư vấn), xây dựng công trình, đào tạo và chuyển giao công nghệ Việc mua sắm hàng hóa, xây dựng công trình đảm bảo tính năng, công năng và hiệu năng sử dụng sẽ được thể hiện rõ trong quyết định đầu tư và kế hoạch ngân sách của dự án.

2.1.2.2 Có nhiều chủ thể tham gia vào đấu thầu mua sắm

Hoạt động đấu thầu sử dụng tiền của nhà nước thường do các cơ quan của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoặc các đơn vị sử dụng nguồn ngân sách nhà nước thực hiện Nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu nhằm đảm bảo mục tiêu cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế Điều này giúp thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo nguồn vốn công được sử dụng một cách tối ưu nhất.

Các đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động đấu thầu gồm bên mua chính là Nhà nước và các cơ quan của Nhà nước theo lĩnh vực, ngành kinh tế, trong đó bao gồm người có thẩm quyền, chủ đầu tư, bên mời thầu, và tổ chuyên gia đấu thầu Bên bán là các nhà thầu, bao gồm nhà cung cấp, nhà xây dựng và nhà tư vấn, tham gia các gói thầu phù hợp với năng lực và kinh nghiệm của mình nhằm cạnh tranh để trúng thầu hoặc lựa chọn theo các hình thức quy định khác.

Các đối tượng tham gia gián tiếp vào hoạt động đấu thầu gồm có cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong quá trình lựa chọn nhà thầu Tổ chức công ty kiểm toán độc lập đảm nhận vai trò xác minh, kiểm tra tính hợp pháp và chính xác của các hồ sơ dự thầu Công luận và các cơ quan báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh, truyền tải thông tin, nâng cao nhận thức cộng đồng về quá trình đấu thầu Sự tham gia của cộng đồng với vai trò giám sát góp phần thúc đẩy tính minh bạch, trách nhiệm và phòng chống tham nhũng trong hoạt động đấu thầu công.

2.2 Mục tiêu của công tác đấu thầu

Vai trò, tầm quan trọng của đấu thầu

Đấu thầu là hoạt động của nền kinh tế thị trường tuân theo các quy luật khách quan của thị trường, giúp người mua (BMT) lựa chọn các nhà bán hàng phù hợp để đạt hiệu quả cao nhất, xứng đáng với số tiền đã bỏ ra Thông qua hoạt động đấu thầu, các nhà bán hàng (NT) có nhiều cơ hội cạnh tranh nhằm giành các hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc kiến thức chuyên môn, từ đó tối đa hóa lợi nhuận Quá trình đấu thầu góp phần thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia nâng cao hiệu quả kinh tế.

3.1 Vai trò của đấu thầu

Công tác đấu thầu góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, thể hiện vai trò nổi bật trong các hoạt động của nền kinh tế thị trường Hoạt động đấu thầu đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo hiệu quả, minh bạch và cạnh tranh lành mạnh trong quá trình lựa chọn nhà thầu Nhờ vào đấu thầu, các dự án được thực hiện một cách công bằng, giảm thiểu thất thoát, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Điều này giúp thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế và góp phần nâng cao chất lượng các công trình, dịch vụ.

- Là một công cụ quan trọng của kinh tế thị trường, giúp người mua( BMT) và người bán( Nhà thầu gặp nhau thông qua cạnh tranh.

- Phát triển các nghành theo hướng chuyên môn hóa sâu và hợp tác rộng đồng thời phát triển thị trường đấu thầu.

Quản lý ngân sách nhà nước là một công cụ then chốt giúp chính phủ kiểm soát chi tiêu, đảm bảo sử dụng nguồn vốn công một cách hiệu quả và minh bạch Việc này góp phần chống thất thoát, lãng phí ngân sách, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước Thông qua quản lý chi tiêu chặt chẽ, chính phủ có thể đảm bảo nguồn lực được phân bổ hợp lý, thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định xã hội.

Pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí cùng với pháp luật phòng chống tham nhũng là các công cụ quan trọng để ngăn chặn các hành vi gian lận, tham nhũng và lãng phí trong việc chi tiêu nguồn vốn của Nhà nước Những quy định này góp phần làm lành mạnh hóa các mối quan hệ xã hội thông qua việc thực hiện các hoạt động mua sắm công đúng pháp luật, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.

Thúc đẩy chuyển giao công nghệ và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa các tổ chức, quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực sáng tạo và phát triển bền vững Việc hợp tác này giúp các quốc gia đang phát triển tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy phát triển kinh tế Chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm còn góp phần xây dựng mối quan hệ hợp tác lâu dài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và cải thiện toàn diện các lĩnh vực hạ tầng, giáo dục và y tế.

- Tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế cạnh tranh.

- Thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế, khắc phục những nhược điểm của những thủ tục hành chính nặng nề cản trở sự năng động,sáng tạo.

3.2 Tầm quan trọng của đấu thầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Hiện nay, Việt Nam đang tích cực hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, điều này làm nổi bật vai trò và tầm quan trọng của hoạt động đấu thầu theo quy định pháp luật Trước đây, hệ thống chính sách đấu thầu tại Việt Nam mới chỉ tập trung vào lĩnh vực xây lắp và mua sắm hàng hóa, hạn chế về phạm vi và nội dung, chưa có một hệ thống hoàn chỉnh Tuy nhiên, đến nay, chúng ta đã xây dựng và ban hành Luật đấu thầu tổng quát, điều chỉnh cả ba lĩnh vực gồm dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hóa và xây lắp, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và điều kiện phát triển của đất nước Các quy định này dựa trên căn cứ kiến thức và kinh nghiệm từ các tổ chức kinh tế quốc tế và các quốc gia, nhằm đảm bảo luật đấu thầu của Việt Nam phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội trong nước Trong quá trình phát triển, các quy định này sẽ tiếp tục được điều chỉnh để phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, đồng thời thích nghi với điều kiện trong nước, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đấu thầu trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Việt Nam là thành viên của Diễn đàn Hợp tác kinh tế khu vực châu Á Thái Bình Dương (APEC) và đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Việc này dẫn đến sự ra đời của Luật Đấu Thầu mới, thay thế quy chế đấu thầu cũ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đấu thầu quốc tế tại Việt Nam Nhờ đó, các nhà thầu trong nước tiết kiệm thời gian và công sức khi tham gia các gói thầu quốc tế do các tổ chức trong APEC và WTO tổ chức hợp tác kinh tế Đồng thời, các nhà thầu quốc tế là thành viên của các tổ chức này cũng dễ dàng tham gia các gói thầu do Việt Nam mời thầu, thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc tế hiệu quả hơn.

Việc Việt Nam thông qua Luật Đấu thầu đã giúp đảm bảo quy trình mua sắm công phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế của các tổ chức lớn như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), và Ngân hàng Hợp tác Kinh tế Quốc tế Nhật Bản (JBIC) Quá trình đấu thầu minh bạch, công bằng và hiệu quả không chỉ nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế mà còn tạo niềm tin cho các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước khi hợp tác phát triển Sự cải thiện này giúp thu hút nhiều nguồn vốn ưu đãi và tài trợ không hoàn lại, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội đất nước.

Nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu

Tổng quan chung về nguồn nhân lực trong đấu thầu

Hoạt động đấu thầu sử dụng ngân sách nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoặc các đơn vị sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế trong quá trình lựa chọn nhà thầu Các chủ thể tham gia vào hoạt động đấu thầu có thể bao gồm các đối tượng trực tiếp tham gia vào hoạt động đấu thầu và các đối tượng tham gia gián tiếp, góp phần vào việc đảm bảo mục tiêu của quá trình đấu thầu Việc đa dạng các chủ thể tham gia giúp thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh, tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động đấu thầu công.

1.1 Các đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động đấu thầu

Bên mua chính là Nhà nước mà đại diện là các cơ quan của Nhà nước theo từng lĩnh vực, từng nghành kinh tế, bao gồm:

Thứ nhất là Người có thẩm quyền quyết định việc đấu thầu mua sắm( Người phê duyệt quyết định đầu tư).

Chủ đầu tư (CĐT) đóng vai trò là cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ hoặc sử dụng vốn nhà nước để thực hiện các hoạt động đầu tư và đấu thầu CĐT bao gồm các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tổ chức vay vốn của Nhà nước hoặc các tổ chức được Nhà nước bảo lãnh cho khoản vay, nhằm đảm bảo việc quản lý và sử dụng nguồn vốn công hiệu quả.

Thứ ba là BMT : Đó là tổ chức được CĐT giao nhiệm vụ( trường hợp thuộc chủ đầu tư) hoặc thuê( thông qua hợp đồng) tổ chức đấu thầu.

Thứ tư là Tổ chuyên gia đấu thầu, gồm các cá nhân do chủ đầu tư tham gia quyết định thành lập để thực hiện nhiệm vụ đánh giá HSDT và lựa chọn nhà thầu phù hợp Tổ chuyên gia đấu thầu dựa trên căn cứ HSMT và TCDG nhằm đảm bảo quá trình chọn nhà thầu diễn ra công khai, minh bạch và đúng quy định Vai trò của tổ chuyên gia đấu thầu rất quan trọng trong việc đảm bảo sự chính xác, khách quan và hiệu quả trong quá trình lựa chọn nhà thầu phù hợp với yêu cầu của dự án.

Nhà bán chính là nhà thầu gồm nhà cung cấp, nhà xây dựng và nhà tư vấn, tham gia đấu thầu các gói thầu phù hợp với điều kiện và năng lực kinh nghiệm của mình Quá trình này nhằm mục đích đạt được các hợp đồng dựa trên cơ chế cạnh tranh hoặc thông qua các hình thức lựa chọn khác theo quy định của pháp luật.

1.2 Các đối tượng tham gia gián tiếp vào hoạt động đấu thầu

Trong hoạt động đấu thầu, ngoài bên mua và bên bán là các đối tượng tham gia trực tiếp, còn có một bộ phận thứ ba gián tiếp tham gia, đóng vai trò quan trọng trong quá trình này Các đối tượng này góp phần đảm bảo tính minh bạch, cạnh tranh công bằng và hiệu quả của hoạt động đấu thầu Việc hiểu rõ vai trò của bộ phận thứ ba giúp tăng cường hiệu quả quản lý và tuân thủ các quy định pháp luật trong đấu thầu.

- Cơ quan thanh tra, kiểm tra giám sát

- Tổ chức, công ty kiểm toán độc lập

- Công luận, các cơ quan báo chí

- Sự tham gia của cộng đồng với vai trò giám sát…

Nguồn nhân lực trong đấu thầu gồm tất cả các cá nhân tham gia trực tiếp và gián tiếp vào hoạt động đấu thầu, đặc biệt là đội ngũ nhân sự trong các bộ máy nhà nước liên quan đến quản lý và thực hiện quy trình đấu thầu một cách chuyên nghiệp và hiệu quả.

Nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu

Nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu bao gồm hai bộ phận chính: bộ phận quản lý nhà nước về đấu thầu, chịu trách nhiệm thiết lập chính sách, quy định và giám sát hoạt động đấu thầu; cùng bộ phận quản lý hoạt động đấu thầu, thực hiện các công việc tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra quá trình đấu thầu nhằm đảm bảo minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quá trình lựa chọn nhà thầu.

2.1 Cấp quản lý nhà nước về đấu thầu

2.1.1 Chính phủ và thủ tướng chính phủ

Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đấu thầu trên toàn quốc, trong đó Thủ tướng thực hiện các nhiệm vụ chính như chỉ đạo công tác thanh tra, giải quyết các kiến nghị liên quan đến đấu thầu theo quy định của pháp luật Thủ tướng cũng quy định các cơ quan giúp thẩm định nhằm hỗ trợ người quyết định đầu tư trong quá trình xem xét, phê duyệt các nội dung về đấu thầu Ngoài ra, Thủ tướng quyết định các nội dung về đấu thầu đối với các dự án đặc thù, ví dụ như dự án thủy điện Sơn La, theo quy định của Luật đấu thầu và Nghị quyết của Quốc hội Thủ tướng còn thực hiện các trách nhiệm và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về đấu thầu và các luật liên quan.

2.1.2 Bộ kế hoạch và đầu tư

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu, bao gồm thẩm định kế hoạch và kết quả lựa chọn nhà thầu các gói thầu thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ Bộ còn xây dựng và quản lý các tờ báo, trang thông tin điện tử về đấu thầu cũng như hệ thống mạng đấu thầu quốc gia để đảm bảo thông tin minh bạch và hiệu quả Ngoài ra, Bộ là đầu mối hợp tác quốc tế về đấu thầu, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và công chức làm công tác đấu thầu Các hoạt động này đều được tổng kết, đánh giá và báo cáo định kỳ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu thầu, đồng thời giải quyết các kiến nghị phù hợp theo thẩm quyền nhằm thúc đẩy thực hiện chính sách đấu thầu công khai, minh bạch và hiệu quả.

Sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu

i Thực hiện các nhiệm vụ khác về đấu thầu được chính phủ giao.

2.2 Cấp quản lý hoạt động đấu thầu( Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp)

Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý công tác đầu thầu bằng cách thực hiện các hoạt động quản lý, tổ chức đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác đấu thầu; báo cáo hoạt động đấu thầu theo quy định của chính phủ; tổng kết và đánh giá tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu; giải quyết các kiến nghị trong đấu thầu theo thẩm quyền; tiến hành kiểm tra, thanh tra về đấu thầu; xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động đấu thầu của các tổ chức, cá nhân; đồng thời, trong trường hợp thủ trưởng, bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp là người quyết định đầu tư, còn phải thực hiện trách nhiệm theo quy định về trách nhiệm của chủ đầu tư, nhằm đảm bảo công tác đấu thầu được thực hiện minh bạch, hiệu quả.

3 Sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực trong quản lý đấu thầu

3.1 Thế nào là phát triển nguồn nhân lực trong đấu thầu

Phát triển nguồn nhân lực thực chất là nâng cao hiệu quả trong việc giải phóng tiềm năng con người Điều này đòi hỏi phải tập trung nguồn lực và trí tuệ vào xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời duy trì và đổi mới môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường tự nhiên của quốc gia.

Phát triển nguồn nhân lực trong đấu thầu là hoạt động nhằm nâng cao cả về số lượng và chất lượng đội ngũ nhân sự, đảm bảo hiệu quả trong công tác đấu thầu và bảo vệ nguồn vốn đầu tư của nhà nước Việc này giúp tăng cường năng lực cạnh tranh của các tổ chức tham gia và đảm bảo các dự án được thực hiện một cách minh bạch, hiệu quả Đồng thời, phát triển nguồn nhân lực còn góp phần nâng cao kiến thức và kỹ năng cho nhân viên, thúc đẩy sự chuyên nghiệp trong quá trình đấu thầu.

Về số lượng: Tăng cường thêm số lượng đội ngũ nhân sự làm công tác đấu thầu.

Về chất lượng: Nâng cấp tính chuyên môn, hiểu biết, kỹ năng nghiệp vụ đội ngũ nhân sự trong công tác đấu thầu.

3.2 Tại sao phải phát triển nguồn nhân lực trong đấu thầu

3.2.1 Do yêu cầu nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế nói chung

Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định hàng đầu cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trình độ nghề nghiệp của người lao động cao giúp tối ưu hóa sử dụng tài nguyên, vốn và công nghệ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế Đào tạo nghề nghiệp cho người lao động không chỉ là đầu tư phát triển bền vững, mà còn đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lâu dài.

Sau 30 năm công nghiệp hóa, nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp, chiếm khoảng 70% lao động toàn quốc Trong khi đó, tỷ lệ học sinh, trường học các loại, đại học, tốt nghiệp đại học và tiến sĩ trên một triệu dân đều cao hơn các nước có mức thu nhập bình quân tương đương như Thái Lan, nhưng chất lượng nguồn nhân lực đang gặp nhiều vấn đề Theo điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2006, có tới 63% sinh viên ra trường không có việc làm, phần lớn trong số còn lại phải đào tạo lại và không làm đúng nghề đã học Nhiều doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp FDI và các dự án kinh tế quan trọng, thiếu hụt nguồn lực chuyên nghiệp Khoảng 2/3 tiến sĩ trong nước không làm khoa học mà chủ yếu vào công tác quản lý, và số bài báo khoa học hàng năm của Việt Nam chỉ bằng một phần nhỏ so với Thái Lan, mặc dù số tiến sĩ trong nước nhận bằng hàng năm nhiều hơn Thái Lan, thậm chí có năm gần gấp đôi.

Nguồn nhân lực của Việt Nam tuy trẻ trung với tuổi đời trung bình cao, là một lợi thế lớn nhưng đang có xu hướng bị già hóa Dân số đông đứng thứ 13 thế giới, song tỷ lệ người có nghề và trình độ chuyên môn trên triệu dân rất thấp so với các nước ASEAN 6 và Trung Quốc Số cán bộ có trình độ quản lý cao còn rất hạn chế cả về số lượng và quy mô nền kinh tế Theo khảo sát của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2005, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam xếp hạng thứ 53/59 quốc gia và mất cân đối nghiêm trọng: cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1,16 cán bộ trung cấp và 0,92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này của thế giới lần lượt là 4 và 10 Việt Nam cũng có chỉ số sinh viên đại học thấp, chỉ 181 trên 10.000 dân, so với trung bình thế giới 100 và Trung Quốc là 140, mặc dù thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc gấp đôi Việt Nam.

Kết luận chính là, nhìn nhận từ góc độ đánh giá nguồn nhân lực, chất lượng con người Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước ASEAN6 và Trung Quốc do nhiều ưu thế chưa được khai thác và phát triển đúng hướng Điều này cho thấy nguồn nhân lực của Việt Nam, bao gồm cả nhân lực làm công tác đấu thầu, chưa đáp ứng đủ yêu cầu công việc và cần được cải thiện để nâng cao năng lực cạnh tranh.

3.2.2 Công tác đấu thầu còn mới mẻ Đấu thầu là phạm trù kinh tế chỉ tồn tại trong nền kinh tế thị trường Việt Nam đang trong quá trình tìm kiếm và hoàn thiện dần thể chế kinh tế thị trường, do vậy, lý thyết về kinh tế thị trường đối với đa số cán bộ công chức còn khá mới mẻ đặc biệt là khái niệm đấu thầu Công tác đấu thầu mới được áp dụng ở nước ta trong khoảng thời gian 15 năm trở lại đây Lần đầu tiên QCĐT ra đời năm 1996, lần 2 ra đời năm 1999 được bổ sung thêm vào năm 2003 đến ngày 01/4/2006 sau mười năm sau khi có các nghị định của Chính phủ về đấu thầu thì Luật đấu thầu mới có hiệu lực thi hành

Cục Quản lý Đấu thầu, đơn vị trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, là cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu mới được thành lập Trước đó, ngày 01/10/1994, Ủy Ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã thành lập Văn phòng xét thầu Quốc gia (nay là Vụ Quản lý Đấu thầu) để giúp chủ nhiệm ủy ban và hội đồng xét thầu quốc gia thực hiện chức năng theo dõi và quản lý nhà nước về đấu thầu Vào ngày 14/11/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong đó Vụ Quản lý Đấu thầu chuyển thành Cục Quản lý Đấu thầu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu.

Vì là một công việc mới nên việc phát triển đội ngũ nhân lưc làm công tác đấu thầu là không thể không làm.

3.2.3 Do yêu cầu hợp tác quốc tế

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, điều này làm nổi bật vai trò và tầm quan trọng của hoạt động đấu thầu, đặc biệt là đấu thầu quốc tế Nhận thức được kinh nghiệm từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia, Việt Nam đã điều chỉnh các quy định và luật pháp phù hợp với hoàn cảnh phát triển kinh tế - xã hội đất nước Trong quá trình này, các quy định về đấu thầu ngày càng được điều chỉnh để phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng vẫn bảo đảm phù hợp với điều kiện trong nước Hoạt động đấu thầu ngày càng trở nên thiết yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa, đòi hỏi đội ngũ nhân sự không chỉ hiểu rõ nghiệp vụ đấu thầu mà còn cần thành thạo ngoại ngữ và nắm bắt các thông lệ quốc tế để đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

3.2.4 Đảm bảo mục tiêu của công tác đấu thầu

Trong nền kinh tế hiện đại, các hệ thống đấu thầu mua sắm công đều hướng đến mục tiêu công khai, minh bạch, công bằng, hiệu quả kinh tế và phòng chống tham nhũng Đặc biệt, phòng chống tham nhũng trong đấu thầu là nhiệm vụ vừa lâu dài, vừa cấp bách, do Việt Nam đã ký kết các công ước quốc tế về chống tham nhũng Tham nhũng là một trong những vấn đề dễ nảy sinh trong quá trình mua sắm công, đặc biệt trong lĩnh vực xây lắp, giao thông, nơi có lượng vốn đầu tư lớn và tài sản của nhà nước Các hình thức tham nhũng phổ biến gồm lợi dụng quyền hạn, chức vụ để trục lợi, nhũng nhiễu gây lợi ích cá nhân, hoặc rút ruột công trình, sử dụng vật tư không đúng quy định làm giảm chất lượng công trình Để đạt được mục tiêu của công tác đấu thầu, yếu tố con người, đặc biệt là đội ngũ nhân lực có đạo đức nghề nghiệp cao, đóng vai trò cực kỳ quan trọng bên cạnh nghiệp vụ chuyên môn.

THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC LÀM CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2003-2007

Thực trạng công tác đấu thầu từ năm 2003- 2007

1 Tình hình thực hiện công tác đấu thầu

1.1 Kết quả của việc thực hiện đấu thầu theo đánh giá chung Đấu thầu là công việc mới được thực hiện trong lĩnh vực mua sắm công ở Việt Nam khoảng từ năm 1994 đến nay Nhìn chung, việc áp dụng các quy định về đấu thầu để lựa chọn nhà thầu có xu hướng ban đầu tăng về số lượng sau đó có xu hướng ngày càng giảm dần Chứng tỏ mức độ xã hội hoá của công tác đấu thầu ngày càng cao và ý thức chấp hành chính sách của Nhà nước đối với mọi tầng lớp nhân dân là tương đối nghiêm chỉnh nhưng do sự biến động mạnh của giá cả và công tác dự toán ngày một tốt hơn Theo con số báo cáo của cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu ở các cấp, năm 2003 mới có 2.466 gói thầu được áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo quy định của Quy chế Đấu thầu, thì năm 2004 con số đó tăng lên là 47.672 gói và năm 2007 giảm xuống còn là 33.891 gói Dưới đây là một số thông tin tình hình đấu thầu diễn biến theo thời gian trong những năm qua:

Bảng 1: Kết quả đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&ĐT) Đơn vị tính: Triệu USD

Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007

Tổng số gói thầu 2.466 45.672 40.721 38.876 33.891 Tổng giá gói thầu 1.589 282.146,55 382.156,54 113.964,8 186.871,53

Việc áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo Quy chế Đấu thầu giúp nhà nước tiết kiệm từ 2 đến 9% tổng vốn đầu tư hàng năm, thể hiện rõ qua chênh lệch giữa giá trúng thầu và giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu đã duyệt Tuy nhiên, theo số liệu thống kê, tỷ lệ tiết kiệm qua đấu thầu đang giảm dần theo thời gian và gặp nhiều biến động không ổn định, ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác quản lý dự án đầu tư công.

Năm 2007 ghi nhận tình hình đấu thầu toàn quốc chịu ảnh hưởng lớn do biến động giá nguyên vật liệu, dẫn đến tỷ lệ tiết kiệm giảm nhưng vẫn đạt mức 7.404,81 tỷ đồng (khoảng 462,8 triệu USD), trung bình khoảng 3,96% Các địa phương tuân thủ quy định đấu thầu tốt hơn sẽ thu được kết quả tiết kiệm cao hơn; ví dụ, tỉnh Cà Mau thực hiện 55 gói thầu với tổng giá trị 73,81 tỷ đồng, trúng thầu đạt 51,31 tỷ đồng, giúp tiết kiệm 22,5 tỷ đồng (tỷ lệ tiết kiệm 30,48%), là đơn vị có tỷ lệ tiết kiệm cao nhất Ngoài ra, còn nhiều địa phương khác cũng đạt tỷ lệ tiết kiệm đáng kể trong hoạt động đấu thầu năm 2007.

Bảng 2: Mức tiết kiệm trong đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&ĐT) Đơn vị tính: Tỷ đồng

1.2 Kết quả của việc thực hiện đấu thầu theo các gói thầu

1.2.1 Các gói thầu sử dụng vốn Nhà nước cho mục tiêu đầu tư phát triển

Trong năm 2007, đã có hơn 30.554 gói thầu được thực hiện với tổng giá trúng thầu là 165.283,24 tỷ đồng Tỷ lệ tiết kiệm từ các gói thầu này đạt 3,65%, tương đương khoảng 6.030,23 tỷ đồng, cho thấy hiệu quả trong công tác đấu thầu và quản lý ngân sách nhà nước.

- Theo nhóm (quan trọng quốc gia, nhóm A, B, C)

Bảng 3 cho thấy tỷ lệ tiết kiệm trong các dự án đã giảm so với năm 2006, khi tỷ lệ tiết kiệm đạt 5,24% Tuy nhiên, đối với các dự án quan trọng quốc gia, tỷ lệ tiết kiệm năm 2006 chỉ đạt 0,22%, nhưng đã tăng lên 2,75% vào năm 2007 Nguyên nhân chính khiến tỷ lệ tiết kiệm năm 2007 thấp hơn so với năm 2006 bao gồm công tác dự toán được thực hiện tốt hơn và sự biến động mạnh của giá nguyên, nhiên, vật liệu, cùng với giá trị trúng thầu đối với các gói thầu mua sắm hàng hóa và xây lắp thường sát với giá gói thầu.

DA quan trọng quốc gia 75 3.230,66 3.141,64 89,02 2,75%

- Theo lĩnh vực đấu thầu

(tỷ đồng) Chênh lệchTỷ lệ

Theo Bảng 4, mức tiết kiệm trong đấu thầu tập trung chủ yếu ghi nhận trong lĩnh vực tư vấn, đạt 5,89% tương đương 208,78 tỷ đồng Mặc dù các gói thầu tư vấn chiếm 28% về số lượng, nhưng chỉ chiếm 2,1% về tổng giá trúng thầu, phản ánh mức cạnh tranh cao hơn trong lĩnh vực này Trong khi đó, các gói thầu xây lắp chiếm 57,48% về số lượng và 46,56% về giá trúng thầu, nhưng mức tiết kiệm trong lĩnh vực này chỉ đạt 3.379,62 tỷ đồng, tương đương 4,36%, do biến động tăng giá và việc áp dụng hình thức chỉ định thầu, tự thực hiện tăng đã làm giảm tỷ lệ tiết kiệm.

- Theo hình thức lựa chọn nhà thầu

Tỷ lệ (%) Đấu thầu rộng rãi 9.473 62.056,24 58.279,63 3.776,61 6,09%

Quốc tế 153 3.468,37 3.077,48 390,89 11,27 Đấu thầu hạn chế 1.274 13.193,04 12.821,52 371,52 % 2,82%

Trong các năm qua, hình thức chỉ định thầu và tự thực hiện có tỷ lệ tiết kiệm thấp nhất, đạt trung bình 8.012 tỷ đồng (khoảng 1,05%), thấp hơn so với mức 1,2% của năm 2006 Dù vậy, các hình thức này chiếm tới 56,84% số lượng gói thầu, tăng 10% so với năm trước, và chiếm 42,18% tổng giá trúng thầu, chủ yếu tập trung ở các dự án nhóm C với giá trị gói thầu nhỏ (14.765 trong tổng số 17.369 gói) Trong khi đó, các hình thức đấu thầu rộng rãi và chào hàng cạnh tranh đạt tỷ lệ tiết kiệm cao hơn, lần lượt là 6,09% và 5,31%, thể hiện hiệu quả hơn trong công tác tiết kiệm ngân sách nhà nước.

Số gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu hạn chế đã giảm đáng kể, chỉ chiếm 4,16% tổng số gói thầu, so với 8,6% năm 2006 và 13% năm 2005, thể hiện xu hướng giảm sử dụng hình thức này Trong khi đó, số gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi đã tăng và chiếm tới 31% tổng số gói thầu, mang lại tỷ lệ tiết kiệm cao nhất đạt 6,09% Tuy nhiên, tỷ lệ tiết kiệm so với tổng mức tiết kiệm đã giảm so với năm 2006, khi mức tiết kiệm đạt 3.776,61 tỷ đồng, chiếm 62,63% tổng mức tiết kiệm, thấp hơn so với mức 4.187,6 tỷ đồng (72,6%) của năm 2006.

Trong năm 2007, số lượng gói thầu đấu thầu quốc tế giảm còn 335 so với 621 gói vào năm 2006, phản ánh sự giảm hoạt động trong lĩnh vực này Tổng giá trị các gói thầu đạt 71.759,54 tỷ đồng, trong đó giá trúng thầu là 70.573,94 tỷ đồng, mang lại mức tiết kiệm khoảng 1.185,6 tỷ đồng (tương đương 1,65%), thấp hơn nhiều so với mức tiết kiệm 6,96% của năm 2006 Điều này cho thấy xu hướng giảm về số lượng và mức tiết kiệm trong các dự án đấu thầu quốc tế trong năm 2007.

1.2.2 Các gói thầu sử dụng vốn liên doanh, cổ phần, hợp đồng hợp tác kinh doanh ( vốn nhà nước từ 30% trở lên)

Trong năm 2007, có 1.857 gói thầu sử dụng nguồn vốn liên doanh, cổ phần và hợp đồng hợp tác kinh doanh, với tổng giá gói thầu là 19.167,10 tỷ đồng Tổng giá trúng thầu đạt 18.005,05 tỷ đồng, mang lại mức tiết kiệm 1.162,05 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ tiết kiệm khoảng 6,06%.

- Lĩnh vực đấu thầu mua sắm hàng hóa chiếm đa số, chiếm 64% tổng số gói thầu, chiếm 76,4% tổng giá trúng thầu và tỷ lệ tiết kiệm đạt 6,28%

Các gói thầu áp dụng hình thức chỉ định thầu và tự thực hiện vẫn chiếm tỷ lệ cao về số lượng, đạt 33,9% tổng số gói thầu, nhưng chủ yếu là các gói thầu có giá trị nhỏ, dẫn đến tỷ lệ trúng thầu bằng giá gói thầu và không tạo ra tiết kiệm Mặc dù vậy, các hình thức này mang lại mức tiết kiệm cao, trung bình đạt 9,97%, chủ yếu tập trung ở các dự án liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh trong nước Trong khi đó, các gói thầu thuộc dự án liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh quốc tế áp dụng hình thức chỉ định thầu và tự thực hiện đều có giá trúng thầu bằng giá gói thầu, tức là không có tiết kiệm.

Tổng số gói thầu (gói thầu)

Tỷ lệ tiết kiệm (%) = (Giá gói thầu – Giá trúng thầu)/Giá gói thầu Đấu thầu rộng rãi 319 0,92 Đấu thầu hạn chế 529 4,19

Chỉ định thầu và tự thực hiện

1.2.3 Các gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước

Các gói thầu thuộc Dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân được thực hiện theo quy định của Thông tư số 63/2007 ngày 13/6/2007 và Thông tư số 131/2007 ngày 5/11/2007 của Bộ Tài chính Bộ KH&ĐT chịu trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện các gói thầu thuộc Dự án này như phần trình bày phía dưới.

- Theo lĩnh vực đấu thầu

(tỷ đồng) Chênh lệchTỷ lệ (%)

Năm 2007, đã có 1.480 gói thầu được triển khai, chủ yếu thuộc lĩnh vực mua sắm hàng hóa, chiếm 93,4% tổng số gói thầu Trong đó, lĩnh vực mua sắm hàng hóa chiếm đến 99,1% về giá trúng thầu, mang lại mức tiết kiệm đạt 209,81 tỷ đồng, tương đương 8,75% Các gói thầu tư vấn có tỷ trọng nhỏ nhưng đạt mức tiết kiệm cao, khoảng 12,04%, thể hiện hiệu quả trong công tác quản lý và tiết kiệm ngân sách nhà nước.

- Theo hình thức lựa chọn nhà thầu

Tổng số gói thầu (gói thầu)

Tỷ lệ (%) Đấu thầu rộng rãi 277 1.410,47 1.275,83 134,63 9,54%

Quốc tế 1 61,97 61,74 0,23 0,37% Đấu thầu hạn chế 18 80,22 73,42 6,8 8,47%

Chỉ định thầu và tự thực hiện

Theo thống kê, các gói thầu đấu thầu rộng rãi chiếm 18,7% về số lượng nhưng đóng góp đến 63,3% trên tổng giá trúng thầu, đồng thời mang lại tỷ lệ tiết kiệm cao (9,54%) Trong khi đó, các gói thầu áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh lớn chiếm 55,7% về số lượng, nhưng chỉ chiếm 15,46% trên tổng giá trúng thầu, với tỷ lệ tiết kiệm đạt mức cao (13,11%), cho thấy hiệu quả tiết kiệm đáng kể từ hình thức này.

2 Kết quả đánh giá BLI 2006-2008 về hệ thống đấu thầu quốc gia

Dưới sáng kiến của Hội nghị bàn tròn về Đấu thầu của Ngân hàng Thế giới và Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC) thuộc OECD, các nước đang phát triển cùng các nhà tài trợ đã xây dựng hệ thống chỉ số nhằm cải thiện hệ thống đấu thầu và kết quả đạt được Tuyên bố Johannesburg (12/2004) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng hệ thống đấu thầu quốc gia, đồng thời, Tuyên bố Pa-ri về Hiệu quả viện trợ (2005) đã cam kết nâng cao hiệu quả viện trợ thông qua 12 chỉ số, trong đó có các chỉ số liên quan đến đấu thầu như Chỉ số 5b và 2b Nhóm Chuyên đề về đấu thầu (JV) đã phát triển phương pháp đánh giá hệ thống đấu thầu quốc gia để giúp các nước đánh giá chất lượng và hiệu quả của các hệ thống này Ngày 17/7/2006, OECD/DAC đã ban hành Hướng dẫn sử dụng (Phiên bản 4.0) nhằm thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các chỉ số này, trong đó tập trung vào hai loại chỉ số chính để nâng cao hiệu quả hệ thống đấu thầu quốc gia.

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU 2009-2015

Ngày đăng: 09/08/2023, 15:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết quả đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&ĐT) - Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở việt nam giai đoạn 2009 2015
Bảng 1 Kết quả đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&ĐT) (Trang 21)
Bảng 2: Mức tiết kiệm trong đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&ĐT) - Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở việt nam giai đoạn 2009 2015
Bảng 2 Mức tiết kiệm trong đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&ĐT) (Trang 22)
Hình 1. Chất lượng và hiệu quả hệ thống đấu thầu Việt Nam theo kết quả đánh - Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở việt nam giai đoạn 2009 2015
Hình 1. Chất lượng và hiệu quả hệ thống đấu thầu Việt Nam theo kết quả đánh (Trang 30)
Hình 2  So sánh sự tiến bộ theo 12 chỉ số của hệ thống đấu thầu Việt - Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở việt nam giai đoạn 2009 2015
Hình 2 So sánh sự tiến bộ theo 12 chỉ số của hệ thống đấu thầu Việt (Trang 32)
Bảng 9: Những tồn tại và khuyến nghị cho Trụ cột I - Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở việt nam giai đoạn 2009 2015
Bảng 9 Những tồn tại và khuyến nghị cho Trụ cột I (Trang 34)
Bảng 12 Những tồn tại và khuyến nghị cho Trụ cột IV - Giải pháp pháp triển nguồn nhân lực quản lý đấu thầu ở việt nam giai đoạn 2009 2015
Bảng 12 Những tồn tại và khuyến nghị cho Trụ cột IV (Trang 43)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w