1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)

26 972 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIỚI THIỆU Cháy Lá Nam Mỹ SALB là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất đối với cây cao su do tác hại nặng nề mà nó gây ra.. Những hoạt động này thực sự đem lại hiệu quả trong việc ng

Trang 1

1

BỆNH CHÁY LÁ NAM MỸ GÂY HẠI TRÊN CÂY CAO SU

(DO NẤM MICROCYCLUS ULEI GÂY RA)

Ismail Hashim, chuyên gia SALB của FAO

1 GIỚI THIỆU

Cháy Lá Nam Mỹ (SALB) là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất đối với cây cao su do tác hại nặng nề mà nó gây ra Trong quá khứ, SALB đã tàn phá hoàn toàn những đồn điền thành lập vào thập niên 30 của thế kỷ trước tại Trung và Nam

Mỹ Cho đến ngày hôm nay, nó vẫn là yếu tố chính hạn chế sự phát triển của canh tác cao su tại Trung và Nam Mỹ, nơi SALB đang hoành hành (Lieberei, 2007; Sambugaro, 2003) Các nước trồng cao su ở châu Á, nơi cung cấp hơn 90% tổng sản lượng cao su thiên nhiên của toàn thế giới lo ngại về mối đe dọa của SALB (Rao, 1973a; Edathil, 1986; Jayasinghe, 1992; Soepadmo, 1975), vì điều kiện khí hậu ở các nước này thuận lợi cho SALB lây nhiễm và gây hại (Chee, 1980b; Rao, 1973b; Silva, 2007) Các nước này thực hiện một chế độ kiểm dịch chặt chẽ nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của bệnh vào trong vùng (Aziz, 1976; Chee, 1985; Rao, 1973a) Uỷ ban Bảo vệ Thực vật Khu vực châu Á - Thái Bình Dương (Asia Pacific Plant Protection Commission - APPPC) được thành lập vào năm 1956, đề ra những biện pháp cần thiết

để ngăn chặn sự lan truyền của SALB vào khu vực Những hoạt động này thực sự đem lại hiệu quả trong việc ngăn chặn sự xâm nhập của SALB vào các nước trồng cao su tại châu Á (Thurston, 1973) Ngoài ra, cũng nâng cao kiến thức cho các nhà bệnh cây

và kiểm dịch có liên quan

Tài liệu này trình bày ngắn gọn thông tin về sinh học của SALB và tác nhân gây

bệnh, nấm M ulei (P Henn.) v Arx Nó sẽ hữu ích đối những nhà bệnh cây và kiểm

dịch thực vật, những người phải trực tiếp đối phó với SALB

2 PHÂN BỐ CỦA SALB

SALB được phát hiện lần đầu vào đầu thế kỷ XIX trên cây cao su hoang dại trong vùng Amazon và nhanh chóng lây nhiễm sang những đồn điền cao su của Mỹ trồng, do độc canh cây cao su trên diện tích lớn Sau đó, bệnh được phát hiện ở Guyana vào năm 1910, Trinidad (1916), Venezuela (1944), Costa Rica (1935) và Mexico (1946) Vào năm 1955, Hilton viết một báo cáo chi tiết về những ngày đầu trồng cây cao su tại Trung và Nam Mỹ sự tàn phá của SALB tại các nước này

SALB hiện giới hạn tại vùng đất nhiệt đới châu Mỹ, phía bắc từ Mexico và trải dài đến tới Brazil ở phía nam Hiện nay, bệnh này đang hiện diện tại Mexico, Guatemala, Panama, Honduras, Belize, Costa Rica, Nicaragua, Trinidad và Tobago, Haiti, Dominican Republic, Guyana, Guiana thuộc Pháp, Surinam, Venezuela, Colombia, Peru, St Lucia, Ecuador, Bolivia, El Salvador, Paraguay và Brazil (CMI, 1975; Compagnon, 1976; Hilton, 1955; Holliday, 1970b) Tại Mexico, SALB xuất hiện tại những vùng như Vera Cruz, Oaxaca và Chiappas, cách thành phố Mexico khoảng 400 km (Rivano, 2004) Tại Brazil, SALB đặc biệt nghiêm trọng ở vùng rừng nóng ẩm Amazon, hai bang Bahia và Espirito Santo (Bergamin Filho, 1984) SALB ít nghiêm trọng hơn ở bang Sao Paulo và Mato Grosso nơi điều kiện khí hậu tại đây không thuận lợi cho SALB, do mùa khô kéo dài và lượng mưa thấp hơn (Campanharo

et al., 2011, Holliday, 1970b) SALB chỉ phù hợp với vùng có lượng mưa nhiều

Trang 2

(khoảng 2.500 mm/năm) với độ ẩm cao (hơn 80% R.H.) kéo dài mà không có mùa khô

rõ rệt trong vài tháng (Holliday, 1970b)

Bản đồ phân bố của SALB

3 TRIỆU CHỨNG CỦA SALB

3.1 Trên lá non

Ngay sau khi bị nhiễm bệnh, triệu chứng đầu tiên xuất hiện là sự biến dạng của phiến lá (Hình 1) Lá từ 2 - 12 ngày tuổi xuất hiện triệu chứng của SALB sau 2 - 3 ngày lây nhiễm bệnh (Blazquez và Owen, 1957) Lá mẫn cảm nhiễm bệnh nặng sẽ teo lại, chuyển sang màu đen và rụng (Hình 1b) Cuống lá vẫn còn dính lại trên cây một vài ngày rồi cũng rụng (Hình 2) Vài ngày sau, những vết bệnh với hình dạng bất thường xuất hiện ở mặt dưới của chiếc lá non ở giai đoạn màu nâu nhạt Sau đó, vết bệnh này lại sản sinh ra vô số conidia và chuyển sang màu xanh olive đậm (Hình 2) Kích thước của vết bệnh và số lượng conidia sinh ra tùy thuộc vào tuổi của lá, tính mẫn cảm của dòng vô tính và điều kiện thời tiết ở thời điểm đó

Hình 1: Triệu chứng trên lá non

Không Hevea, không SALB

SALB ở những vùng đất thấp SALB xảy ra

nghiêm trọng

Không SALB

SALB xảy ra

nghiêm trọng

SALB ở những vùng đất thấp

Không Hevea Không SALB

Trang 3

3

(a) Lá non biến dạng

(b) Lá bị nhiễm bệnh nặng bị biến dạng, chuyển sang màu đen và rụng

ra bào tử dạng pycnospore

Hình 4: Pycnidia ở hai mặt lá cao su

Trang 4

3.3 Lá trưởng thành

Vài tuần sau, những vòng tròn đó lớn dần và tạo thành những đốm sẫm màu, được gọi là perithecia, nhất là vùng xung quanh theo rìa vết bệnh (Hình 5) Perithecia tạo thành ra mô nang (ascus) có chứa ascospore Số lượng perithecia thay đổi tùy theo mức độ nhiễm bệnh và tính mẫn cảm của lá Trong vài trường hợp, toàn bộ mặt trên của phiến lá bị bao phủ bởi một lượng dày đặc perithecia (Hình 5b) Khi lá đã già, mô

lá ở khu vực trung tâm của phần bị bệnh sẽ chết, chuyển sang trắng mỏng như giấy và

bị rách tạo thành những lỗ thủng trên lá (Hình 6)

Hình 5: Perithecia ở hai mặt của lá cao su trưởng thành

Hình 6: Triệu chứng xuất hiện trên lá trưởng thành: lỗ thủng hình thành sau khi

các mô ở trung tâm của perithecia bị hoại tử 3.4 Các bộ phận khác của cây

Nấm M ulei cũng gây bệnh trên phát hoa, cuống lá, chồi và trái với triệu chứng

nhìn thấy tại Hình 7, chồi bị nhiễm bệnh nặng sẽ bị chết (Hình 7b)

(a) Phiến lá và gân lá bị nhiễm bệnh (b) Chồi non bị bệnh sẽ rụng lá và dần

Trang 5

5

chết khô

(e) Trái còn xanh bị nhiễm bệnh

Hình 7 Các bộ phận khác của cây cao su bị nhiễm bệnh

Cây bị bệnh nặng, làm tán lá sẽ thưa thớt và cành bị chết khô (Hình 8) Nếu nhiễm bệnh trong một thời gian có thể gây chết cả cây

Trang 6

Hình 8 Cây bị nhiễm bệnh nặng

(a) Tán lá thưa thớt (b) Cây chết

4 TÁC NHÂN GÂY BỆNH (Microcyclus ulei)

Bệnh cháy lá nam Mỹ (SALB) gây ra bởi nấm Microcyclus ulei (P Henn.) v Arx Trước đây, nấm còn được biết dưới nhiều tên khác như: Dothidella ulei P Henn.,

Melanopsammopsis ulei (P Henn.) Stahel, Fusicladium macrosporum Kuyper (chỉ

trạng thái conidia của nấm) và Aposphaeria ulei P Henn (chỉ trạng thái pycnidia của

nấm) Dù với nhiều tên gọi khác nhau, nhưng chúng cùng chỉ một loại nấm Hilton (1955) và Holliday (1970a; 1970b) đã trình bày chi tiết về định danh và lịch sử hình thành tên gọi của nấm

4.1 Bào tử

M ulei thuộc họ Ascomycetes và sinh sản ra ba loại bào tử theo thứ tự: conidia

(Hình 9a), pycnospore (Hình 9b) và ascospore (Hình 9c) Conidia được sinh ra rất nhiều trong suốt giai đoạn vô tính trong khi pycnospore và ascospore lại được sản sinh

ra trong giai đoạn hữu tính của nấm Conidia có hai phần, một phần dạng bầu và phần còn lại dạng thon Dạng đặc trưng của conidia là dạng xoắn, kích thước có sự biến thiên lớn được nêu trong Bảng 1 Kích thước của nó thay đổi tùy theo vùng và mùa Đôi khi, conidia chỉ có một phần, chúng thường phổ biến lúc thời tiết khô và nuôi trong phòng thí nghiệm

(a) Conidia với hai phần (Holliday, 1970)

(b) Pycnospore (Holliday, 1970) (c) Ascospore

Hình 9: Bào tử của nấm M ulei

Trang 7

7

Pycnospre có hình dạng như quả tạ và kích thước nhỏ (dài 6-10 µm và rộng 2-5 µm) Ascospore có dạng hình chữ nhật với hai phần không đều và kích thước cũng biến thiên (Bảng 1)

Bảng 1 Bào tử của M ulei

Conidia

Hầu hết có vách ngăn, nhỏ

ở hai đầu, có màu xám đậm cho tới màu xanh olive, xoắn lại đôi khi là đơn bào

- 12-30 x 5-8 µm (Langford, 1945)

- 23-65 x 5-10 µm (Holliday, 1970b)

- 23-65 x 5-10 µm nếu có vách ngăn và 15-34 x 5-9 µm nếu không có vách ngăn (Chee & Holliday, 1986)

Pycnospore

Hình dạng giống với quả

tạ đôi với kích thước hai đầu gấp đôi phần giữa

- 6-10 µm (Holliday, 1970b)

- 6-10 µm (Chee & Holliday, 1986)

Ascospore

Có vách ngăn tạo kích thước hai phần khác nhau, hình elip và trong suốt

- 3 -5 x 10-15 µm (Langford, 1945)

- 2-5 x 12-20 µm (Holliday, 1970b)

- 2-5 x 12-20 µm (Chee & Holliday, 1986)

4.2 Nuôi cấy M ulei

Cho dù trước đây, M ulei được cho rằng là nấm ký sinh bắt buộc, hiện nay nấm

đã được phân lập và nuôi cấy thành công bằng môi trường nhân tạo Nhiều môi trường khác nhau được phát triển chứa thành phần chuyên biệt như: chiết xuất từ lá, vitamin, nước dừa… (Blazquez và Owen, 1957; Chee, 1978b; Langdon, 1966; Langford, 1945; Mattos, 1999; Medeiros, 1977) Môi trường đường có trong khoai tây rất tốt cho sự

sinh trưởng của M ulei (Chee, 1978b) Sự tăng trưởng của khuẩn lạc rất chậm, nó có

thể nổi lên hay sát bề mặt của môi trường nuôi cấy (Hình 10) Conidia hiện được hình thành trong môi trường nhân tạo, nhất là môi trường chuyên biệt cho sự sinh sản của bào tử (Chee, 1978b, Junqueira et al., 1984; 1987; Mattos, 1999) Luân phiên chiếu

sáng xen kẽ với giữ tối sẽ gia tăng đáng kể sự hình thành conidia (Chee, 1978b)

Hình 10: Khuẩn ty của M ulei nuôi nhân tạo 4.3 Nòi sinh lý của M ulei

Nhiều nòi sinh lý phát hiện trước đây của M ulei và các nòi mới xuất hiện đã

vượt qua tính kháng bệnh của một vài dòng vô tính, trước đây nhiều nhà khoa học đã quan sát hiện tượng này (Langdon, 1965; Langford, 1945) Miller (1966) đã tìm ra nấm hình thành bốn loài (race) riêng biệt (loài 1, loài 2, loài 3 và loài 4), ông cũng

Trang 8

phân chia nhóm các dòng vô tính phản ứng với bốn loài trên Nhiều loài khác và nòi

sinh lý của M ulei cũng được tìm thấy Chee và cộng sự (1986) phân chia ra chín loài của M ulei có ngồn gốc từ Bahia, Brazil dựa trên một nhóm của các dòng vô tính khác nhau Sau đó, Ismail và Almeida (1987) xác định chỉ có bốn lòai của M ulei (loài 2, loài 3, loài 4 và loài 6) tồn tại ở Bahia Một nòi có độc tính cao của M ulei đã được

phát hiện ở Trinidad và Tobago (Chee, 1978; Liyanage và Chee, 1981) Nhiều biến đổi

trong quần thể của M ulei đã được tìm thấy tại Brazil (Furtado et al., 1995; Junqueira

et al., 1986; Mattos et al., 2007), Guiana thuộc Pháp (Rivano, 1997) và Mexico (Cano,

1997) Ba nhóm sinh lý của M ulei được phân biệt từ 16 nguồn (isolate) phân lập khác nhau (Junqueira et al, 1986) Rivano (1997) đã xác định được bảy “tác nhân gây độc” qua đó xác định 11 nòi sinh lý của M ulei trong tổng số 16 chủng nêu trên Gasparotto

và Junqueira (1994) đề cập sự tồn tại của quá trình biến đổi sinh lý sinh thái giữa các

nguồn M ulei Cho tới nay, vẫn chưa thể xác định chính xác số lượng các nòi sinh lý của M ulei Mattos và cộng sự (2007) xác định có 36 dạng biến thiên về hình thái vết

bệnhgây ra từ các chủng lấy ở Bahia với một nhóm gồm các dòng vô tính khác nhau

Số lượng loài của M ulei có thể vào khoảng 50 (Pinheiro, 1995) Tuy nhiên, không nghi ngờ số lượng nòi, có thể là hơn bốn, của M ulei hiện vẫn đang tồn tại

4.4 Sự sống của bào tử

Thời gian sống của bào tử bị ảnh hưởng bởi các điều kiện khí hậu, nhất là ẩm độ

và nhiệt độ Bào tử nằm trong quả thể vẫn có thể sống lâu hơn các bào tử đã bị tách rời Một vài nghiên cứu chuyên biệt được thực hiện để xác định thời gian sống của bào

tử ở biên độ nhiệt độ và ẩm độ khác nhau, kết quả cho thấy bào tử có thể sống với khoảng thời gian nhất định (Bảng 2) Ở điều kiện ẩm ướt với nhiệt độ 24°C, perithecia lấy từ lá giai đoạn xanh có thể sống 12 ngày và sống 9 ngày trên lá bị rụng giai đoạn màu nâu (Chee, 1976d) Conidia đặt trên lam kính và duy trì ở nhiệt độ 24°C và ẩm độ 95%, có thể sống sốt trong 3 tuần mà vẫn có thể nảy mầm (Chee, 1976d) Tỷ lệ nảy mầm của conidia thay đổi thời gian, sau một tuần thì tỷ lệ này là 12-27% và giảm xuống còn 3-6% sau 3 tuần Conidia đã tách rời vẫn có sống trong vòng chín ngày ở

ẩm độ đạt 65% và sáu ngày nếu ở 80-90% (Chee, 1976d)

Bảng 2 Sức sống của bào tử và perithecia

Điểm đáng ghi nhận là bào tử được bảo quản trong điều kiện lạnh và khô có thời gian sống lâu hơn Conidia và ascospore lấy từ lá và giữ trong tủ lạnh với một khoảng thời gian nhất định vẫn có thể nảy mầm Bào tử đặt trên lam kính và để khô trong 16 tuần vẫn có thể nảy mầm và ascospore bị khô vẫn sống trong 15 ngày (Chee, 1976d) Thực tế, bào tử giữ ở nhiệt độ đông lạnh (-74 °C) vẫn sống sót (Lebai-Juri, 1995) Conidia teo lại khi ở điều kiện khô (Hình 11) và sẽ căng lên khi gặp ẩm độ cao

Trang 9

9

Hình 11: Conidia bị rút lại trong điều kiện khô

Trong một nghiên cứu khác, bào tử vẫn sống sau một khoảng thời gian đặt trên

những vật liệu thông thường (Zhang et al., 1986) Conidia được đặt trên giấy, kính, da

và vải trong một tuần vẫn có thể nảy mẩm đạt 5,8 -31,5% (Bảng 3) Vài conidia nằm trong đất suốt 10 ngày vẫn có thể nảy mầm

Bảng 3 Sức sống của conidia trên bề mặt vật liệu khác nhau trong 7 ngày

5.2 Nảy mầm của bào tử

Conidia lấy từ vết bệnh dễ dàng nảy mầm trong điều kiện ẩm ướt, conidia đặt trong nước cất nảy mầm trong vòng một giờ và đạt hầu hết trong vòng ba giờ (Holliday, 1970) Bào tử nảy mầm ở phần giữa trước sau đó đến hai đầu Tương tự, ascospore nảy mầm trong vòng 2-6 giờ (Chee, 1976) Trên lá tách rời, conidia nảy

mầm trong ba giờ sau khi lây nhiễm (Blasquez and Owen 1963; Ismail et al., 1978; Kajornchaiyakul et al., 1984) Điều kiện môi trường ảnh hưởng đến sự nảy mầm của

bào tử, nhiệt độ tối ưu cho conidia và ascospore nảy mầm là 24°C (Chee, 1976) Tuy nhiên, phạm vị nảy mầm của conidia trong khoảng 14-36°C và ascospore là 14-29°C

Trang 10

Vòng đời của SALB (theo Chee & Holliday 1986) 5.3 Bệnh dịch học

Các nghiên cứu về bệnh dịch học cho thấy rằng quá trình sản sinh và phóng thích

bào tử và thay đổi theo các điều kiện môi trường (Chee, 1976c; Gasparotto et al.,

1989; 1991; Holliday, 1969; Rocha & Filho, 1978) Nhiệt độ tối thích cho sản sinh bào

tử là 24°C và ẩm độ cao thuận lợi cho quá trình này Lây bệnh đạt tỷ lệ cao nhất tại 24°C và thấp hơn ở 18°C, tương tự với ẩm độ tương đối 100% và 65% (Chee, 1976c) Bào tử được phát tán theo từng đợt, thấp vào ban đêm, tăng dần lên vào buổi sáng sớm, đạt cực đại vào buổi trưa và sau đó giảm dần Tại Trinidad & Tobago, thời điểm đạt cực đại vào khoảng 10 h (Chee, 1976c; Holliday, 1969), trong khi ở Brazil là vào giữa trưa (Rocha & Filho, 1978) Bào tử phát tán bị tác động bởi lượng mưa, số lượng tăng sau khi mưa (Chee, 1976c; Holliday, 1968) Với ascospore, vào ngày khô ráo, nó được phóng thích cao hơn vào ban đêm và đạt cực đại lúc 06 giờ sáng Vào ngày ẩm ướt, ascospore cũng được phóng thích và nhất là sau khi mưa

5.4 Lây nhiễm bệnh

Chỉ có conidia và ascospore là tác nhân gây bệnh Pycnospore không gây bệnh

khi được lây nhiễm nhân tạo mặc dù pycnospore nảy mầm trong điều kiện in vitro

(Holliday, 1970) Giải phẩu về hiện tượng nhiễm bệnh đã được nghiên cứu (Blazquez

và Owen, 1963, Ismail et al, 1978) và được Lieberei tóm tắt lại (2007). Sau khi nảy mầm, ống mầmcó thể thâm nhập trực tiếp vào lá qua gian bào hoặc tạo ra giác hút để xuyên qua biểu bì.Phản ứng của cây cao su với nấm phụ thuộc vào tính mẫn cảm của

lá.Đối với lá mẫn cảm, khuẩn ty phát triển vào gian bào của mô lá Tuy nhiên, với một

số dòng vô tính có tính kháng bệnh cao hay miễn nhiễm, bệnh bị kìm hảm bởi sự sụp

tế bào của ký chủ bị xẹp lại kèm theo sự đổi màu do tích tụ các hợp chất phenolic

(Berger, năm 1992, Figari, 1965; Giesemannn, et al, 1986; Martains, et al., 1970 và Pita et al, 1992)

Trang 11

Tapajos, Solimoes và sông Machado (Goncalves et al, 1983) Sau khi trồng không lâu,

cây cao su ở đồn điền này đều bị SALB gây hại nghiêm trọng Do vậy, công ty đã bỏ đồn điền này vào năm 1933 và thành lập một đồn điền khác tại Belterra vào năm 1934, với giống trồng nội địa và nhập từ châu Á cho đến năm 1942 đã trồng được 6,570

ha Đáng tiếc là đồn điền này cũng bị SALB tàn phá, đây là nguyên nhân khiến Ford quyết định bỏ hoang hai đồn điền này chỉ sau bảy năm thành lập Một vài công ty khác cũng tiến hành thiết lập đồn điền cao su, Goodyear trồng tại Panama và Brazil (Belem, Para và Una, Bahia) Firestone thì thành lập đồn điền ở Bahia và cuối cùng bán lại cho Michelin, hiện là công ty duy nhất còn sở hữu đại điền cao su tại Brazil, đóng tại bang Bahia và Mato Grosso Chính vì vậy mà SALB được xem là nguyên nhân hạn chế sự

mở rộng của ngành cao su thiên nhiên tại Trung và Nam Mỹ

Brazil cũng phát triển trồng cao su bằng dự án mang tên PROBOR với khoảng 150.000 ha cao su được trồng từ 1967 đến 1986 Đáng tiếc là cho tới năm 1986, sau khi điều tra có khoảng 100.000 ha vườn cây bị SALB gây hại và dự án phải chấm dứt trước khi đạt kết quả cuối cùng dự kiến vào năm 1994

Bảng 4 Lịch sử tàn phá của SALB Quốc

Brazil - Năm 1928, Ford thành lập đồn điền với diện tích 3.200 ha tại Fordlandia

và ngừng hoạt động vào năm 1933

- Năm 1936, Ford thành lập một đồn điền khác với diện tích 6.478 ha và ngừng hoạt động vào năm 1943

- Năm 1972, dự án PROBOR ra đời và dự kiến kéo dài đến năm 1994 Tuy nhiên, nó không thể được hoàn thành đến giai đoạn cuối, vì tới năm

1986 đã phát hiện khoảng 100.000 ha trên tổng số 150.000 ha bị nhiễm SALB nghiêm trọng

Surinam Một đồn điền được thành lập vào năm 1911 và đóng cửa năm 1918

Panama Goodyear thành lập đồn điền cao su vào năm 1935 và đóng cửa năm 1941 Lieberei, 2007

Một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực bệnh cây dự đoán rằng SALB sẽ tàn phá vườn cao su ở khu vực Đông Nam Á vì điều kiện khí hậu ở đây rất giống với các khu vực bị bệnh ở Brazil (Chee, 1980, Silva, 2007) Hơn nữa, các dòng vô tính cao su được trồng ở Châu Á rất mẫn cảm với SALB Chỉ cần một đợt bùng phát dịch SALB thì trong thời gian ngắn sẽ hủy hoại tất cả vườn cây cao su ở khu vực Đông Nam

Á Richard Evans Shultes, một nhà thực vật học nổi tiếng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về cao su, tiên đoán rằng chỉ trong vòng năm năm, nếu hiện tượng trên xảy

Trang 12

ra thì ngành công nghiệp cao su ở Đông Nam Á sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng (Davis, 1997)

SALB gây thiệt hại nặng nhất khi nó tấn công lá non, tán lá mới hình thành sau mùa thay lá hàng năm Lá bị nhiễm bệnh nặng bị rụng, chu kỳ lây bệnh và rụng lá lập lại dẫn đến tán cây xơ xác trong cả năm Sinh trưởng của cây non giảm làm kéo dài thời gian kiến thiết cơ bản Tại các nước Châu Á, thời gian kiến thiết cơ bản của cây cao su chỉ trong khoảng sáu năm nhưng tại các nước có SALB, thời gian này đôi khi kéo dài đến 13 năm Nếu vườn cây bị nhiễm bệnh trong một thời gian dài có thể gây chết cây Những cây bị nhiễm SALB thường cho sản lượng thấp hơn những cây khác Ngày nay, tổn thất về sản lượng đi kèm với các chi phí phát sinh thêm về quản lý và đầu tư thêm cho vườn cây, nhất là phòng trừ sâu bệnh dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp của cây cao su tại các nước có sự hiện diện của SALB

6.2 Biện pháp kiểm dịch

Một số bệnh dịch khác gồm: bệnh cháy lá khoai tây, bệnh rỉ sắt cà phê và bệnh cây du Hà Lan đã vượt đại dương và xâm nhập ở những vùng mới Sự lan truyền do gió mang theo bào tử nấm bệnh hoặc nhập những cây trồng đã bị nhiễm bệnh Vì vậy, SALB luôn là mối đe dọa cho các nước trồng cao su tại đông bán cầu trong bối cảnh các nước vùng Nam Mỹ mở rộng diện tích cao su, cùng với giao thương gia tăng giữa khu vực có SALB và các nước trồng cao su ở Châu Á và Châu Phi Từ thập niên 1950,

đã hình thành nhận thức về mối đe dọa của SALB với các nước trồng cao su ở khu vực Châu Á (Altson, 1955; Hilton, 1955; Rao, 1973) và bắt đầu thúc đẩy các hoạt động kiểm dịch riêng biệt Sự ra đời của Uỷ ban Bảo vệ Thực vật Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (APPPC) vào năm 1955 là một giải pháp hữu hiệu ngăn chặn tối đa cơ hội lan truyền của SALB vào Châu Á (Lieberei, năm 2007; Thurston, 1973) Ngoài điều khoản thông thường, Hiệp Định quy định rõ các biện pháp để đối phó với SALB đặc biệt là quy định về nhập khẩu giống cao su các loại

Hiệp Hội Các Nước Sản Xuất Cao Su Thiên Nhiên (ANRPC) thành lập một Ủy Ban Kỹ Thuật và một Hiệp Định về SALB nhằm đảm bảo các hoạt động phổ biến và hiệu quả để đối phó với dịch bệnh này Không may là cả Ủy Ban và Hiệp Định này đều bị bãi bỏ Đóng góp chính của Ủy Ban đó là giới thiệu các biện pháp tăng cường khả năng bảo vệ và chuẩn bị của các nước thành viên để hạn chế và đối phó với SALB Hầu hết các nước thành viên đều tham gia thành lập Ủy Ban Các Quốc Gia Đối Phó SALB và đề ra Kế Hoạch Dự Phòng bao gồm các biện pháp diệt trừ khi SALB bùng phát ANRPC cũng đề xuất chương trình đào tạo nâng cao kiến thức về SALB cho các nhân viên kiểm dịch và nghiên cứu cây trồng Cùng với sự cộng tác của Hiệp Hội Nghiên Cứu và Phát Triển Cao Su Thế Giới (IRRDB), các chương trình đào tạo đặc biệt và các buổi hội thảo về SALB đã được tổ chức ở Brazil và một số quốc gia thành viên khác Chương trình học bổng của IRRDB về SALB dành cho các nhân viên kiểm dịch và các nhà bệnh cây nghiên cứu về SALB tại Brazil Chiến lược này nhằm đảm bảo mỗi quốc gia thành viên đều có người am hiểu về SALB Ngoài ra, một số biện pháp đã được triển khai nhằm giải quyết khả năng xâm nhập của các bào tử nấm

M ulei dính trên cơ thể và quần áo những người đã từng đến khu vực lây nhiễm

SALB Chính vì vậy, hành khách từ các nước có SALB đi đến các nước trồng cao su ở Đông bán cầu được khuyến cáo nghỉ tại nước ôn đới bắc Mỹ hoặc châu Âu Bằng cách này, họ có thể tắm, giặt để loại bỏ các bào tử còn sống sót vương lại trên cơ thể và quần áo Chất tẩy rửa, chiếu xạ tia cực tím và hơi nóng ẩm đều có thể giết chết bào tử

nấm M ulei (Chee, 1985; Lebai Juri et al., 1997; Zhang et al., 1986) Tia gamma cũng

có thể làm được điều đó (Lebai Juri et al., 1997) Trước đây, có những chuyến bay

Trang 13

13

trực tiếp từ các quốc gia nhiễm SALB tới Thái Lan và Malaysia, hai quốc gia này đã phải thực hiện các biện pháp kiểm dịch chặt chẽ đối với các hành khách và hành lý của

họ

Bảng 5 Tác dụng của tia UV và biện pháp khác đối với conidia của M ulei

Tia cực tím (UV)

5-10% conidia vẫn sống sau 15 phút chiếu bằng UV (Zhang and Chee, 1986) nhưng sau 45-60 phút tất cả

đều chết (Lebai Juri et al., 1997)

Chất tẩy trùng thông thường,

chất tẩy rửa, formalin lỏng và

M ulei Từ những loại thuốc cũ trước đây như chlorothalonil, propineb, mancozeb và

benomyl cho tới các loại thuốc nội hấp mới (triadimefon, thiophanate methyl, prochloraz, propiconazole, and triadimenol, triforine, azoxystrobin) đều có thể phòng

trị M ulei (Chee, 1978a; 1980; 1985; Chee and Holliday, 1986; Rocha et al., 1975;

Santos & Pereira, 1985; 1986a; 1986b) Phun thuốc trừ nấm trên quy mô lớn bằng máy phun mù (fogging) (Lim, 1982; Rocha et al., 1973) hoặc máy bay (Alencar et al., 1975; Bezeera et al., 1980; Mainstone et al., 1977; Rocha et al., 1975; Rogers &

Peterson, 1976) mang lại kết quả khác nhau Không thiếu thuốc trừ nấm có hiệu quả, tuy nhiên, chi phí ít mang lại hiệu quả kinh tế, nhất là ở giai đoạn giá bán cao su thấp

H brasiliensis là loài cây thay lá thường niên, thời gian rụng lá qua đông và ra lá

mới kéo dài vài tuần, hiện tượng này cũng phụ thuộc vào điều kiện thời tiết Nói chung, quá trình này sẽ kéo dài hơn vào mùa ẩm ướt và thường là mỗi cây cao su qua đông bán phần Cần phun thuốc ở lúc lá non mọc sau khi qua đông cho đến trước khi

lá chuyển sang màu xanh, khi này lá đã có khả năng đề kháng với M ulei Do phải

phun nhiều lần, nên hiệu quả kinh tế của biện pháp này này là không cao

Trong vườm ươm, thuốc trừ nấm thường được xử lý bằng bình phun đeo vai có động cơ Riêng vườn cây trưởng thành, với chiều cao trên 20 m, gây khó khăn cho việc phun thuốc vì vậy mà phải dùng loại máy lớn hơn có động cơ hoặc đi liền với máy kéo Loại máy phun mù (fogger) cũng được dùng để cho SALB (Lim, 1982;

Rocha et al., 1973), tuy nhiên hiệu quả của nó vẫn chưa thật sự rõ ràng (Albuquerque

et al., 1987) Máy bay và trực thăng cũng được dùng để phun cho khu vực lớn cho

vườn cây trưởng thành (Alencar et al., 1975; Mainstone et al., 1977; Rocha &

Vasconcelos, 1975; Rogers & Peterson, 1976) Theo Rogers & Peterson (1976) phun mancozeb sáu đợt với chu kỳ hàng tuần mới cho hiệu quả với SALB Hiệu quả của

thuốc trừ nấm sẽ được cải thiện nếu phối hợp với dầu phun thích hợp (Pereira et al., 1980; Rao et al., 1980) Sử dụng thuốc trừ nấm cũng nâng cao sản lượng mủ cao su (Alencar et al., 1975; Chee, 1980)

Ngày đăng: 07/06/2014, 08:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Triệu chứng trên lá non - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Hình 1 Triệu chứng trên lá non (Trang 2)
Hình 3: Triệu chứng trên lá non - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Hình 3 Triệu chứng trên lá non (Trang 3)
Hình 2: Chồi bị trụi lá - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Hình 2 Chồi bị trụi lá (Trang 3)
Hình 4: Pycnidia ở hai mặt lá cao su - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Hình 4 Pycnidia ở hai mặt lá cao su (Trang 3)
Hình 6: Triệu chứng xuất hiện trên lá trưởng thành: lỗ thủng hình thành sau khi - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Hình 6 Triệu chứng xuất hiện trên lá trưởng thành: lỗ thủng hình thành sau khi (Trang 4)
Hình 5: Perithecia ở hai mặt của lá cao su trưởng thành - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Hình 5 Perithecia ở hai mặt của lá cao su trưởng thành (Trang 4)
Hình 7. Các bộ phận khác của cây cao su bị nhiễm bệnh - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Hình 7. Các bộ phận khác của cây cao su bị nhiễm bệnh (Trang 5)
Hình 8. Cây bị nhiễm bệnh nặng - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Hình 8. Cây bị nhiễm bệnh nặng (Trang 6)
Hình  dạng  giống  với  quả - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
nh dạng giống với quả (Trang 7)
Bảng 1. Bào tử của M. ulei - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Bảng 1. Bào tử của M. ulei (Trang 7)
Bảng 2. Sức sống của bào tử và perithecia  Loại bào tử  Điều kiện lưu trữ  Thời gian sống sót - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Bảng 2. Sức sống của bào tử và perithecia Loại bào tử Điều kiện lưu trữ Thời gian sống sót (Trang 8)
Bảng 3. Sức sống của conidia trên bề mặt vật liệu khác nhau trong 7 ngày - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Bảng 3. Sức sống của conidia trên bề mặt vật liệu khác nhau trong 7 ngày (Trang 9)
Hình 11: Conidia bị rút lại trong điều kiện khô - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Hình 11 Conidia bị rút lại trong điều kiện khô (Trang 9)
Hình 12. Sử dụng máy phun thuốc trị bệnh  7.2. Phòng trừ sinh học - BỆNH CHÁY lá NAM mỹ gây hại TRÊN cây CAO SU (DO nấm MICROCYCLUS ULEI gây RA)
Hình 12. Sử dụng máy phun thuốc trị bệnh 7.2. Phòng trừ sinh học (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm