Công tác huy động vốn trong hoạt động của Ngân hàng thương mại 1.1.1 Khái niệm về vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Vốn của ngân hàng thương mại là nhữn
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường địnhhướng XHCN, đảng, nhà nước và nhân dân ta cùng đồng tâm hiệp lực phấn đấu cho
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước để đưa nước ta trở thành mộtnước xã hội chủ nghĩa dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Đểthực hiện được mục tiêu lâu dài đó đòi hỏi phải có nguồn tài lực vững chắc, đó làvốn để đầu tư Nguồn vốn dể phát triển kinh tế đất nước là vô cùng quan trọng vàcần phải được động viên khai thác cả ở trong và ngoài nước
Với phương châm đi vay để cho vay, hệ thống NHTM đã trở thành trunggian điều hòa và phân phối vốn có hiệu quả nhất trong nền kinh tế Làm sao để khơităng nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vay của nền kinh tế, đó luôn là động lực thôithúc các NHTM tìm kiếm cơ hội, giải pháp để không ngừng tăng trưởng quy mô vàchất lượng nguồn vốn huy động
Từ Sơn là một thị xã nhỏ , nhưng có tiềm năng phát triển kinh tế , mạnh cả
về SXTTCN và TMDV ,giá trị sản xuất công nghiệp , tiểu thủ công nghiệp năm
2010 ước đạt 4.450 tỷ đồng, tăng 2,5 lần.Tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ ướctính đạt 3.333 tỷ đồng, tăng 3,3 lần so với năm trước, các DN và HXS được khôiphục và phát triển mạnh,người dân thị xã Từ Sơn năng động trên thương trường và
có kinh nghiệm trong đầu tư sản xuất kinh doanh
Nằm gần thủ đô Hà Nội và các trục đường giao thông chính nên thị xã TừSơn có nhiều điều kiện để hòa nhập với cuộc sống mới, với sự phát triển kinh tếnâng cao dân trí và phát huy tiềm năng của mình
Với nhiều ngành nghề truyền thống như đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, bánh phuthê Đình Bảng, làng sắt Đa Hội và11 cụm công nghiệp tập trung , với gần 12.000doanh nghiệp và hộ gia đình , cá nhân tham gia sản xuất kinh doanh Đây chính làthị trường tiềm năng cho các Ngân hàng thương mại và Các tổ chức tín dụng quantâm đầu tư tín dụng lại có vị trí thuận lợi sớm bắt nhịp với cơ chế thị trường nên bộmặt của huyện trong thời gian qua đã có nhiều biến đổi tốt Tuy nhiên nền kinh tế
Trang 2của thị xã Từ Sơn tăng trưởng vẫn còn ở mức thấp Tổng thể nền kinh tế huyện chủyếu vẫn là sản xuất nhỏ, các ngành nghề phát triển không đồng đều
NHNo thị xã Từ Sơn có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triểnkinh tế của thị xã Trong những năm qua NHNo thị xã Từ Sơn đã huy động khốilượng nguồn vốn tương đối để đáp ứng cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh
tế của huyện, bước đầu đã giải quyết được nhiều khó khăn Tuy nhiên, nguồn vốnhuy động từ nội bộ nền kinh tế của thị xã Từ Sơn còn thấp chưa tương xứng vớitiềm năng Làm thế nào để thu hút được mọi nguồn vốn nhàn rỗi của nền kinh tếvào Ngân hàng thực sự là vấn đề cấp thiết cần tìm ra lời giải đáp
Xuất phát từ thực tế trên, dựa trên những vấn đề lý luận đã được nghiên cứutrong quá trình học, cộng với những kinh nghiệm làm việc thực tế, em đã lựa chọn
đề tài " Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NHNo Thị xã Từ Sơn
tỉnh Bắc Ninh" làm khóa luận tốt nghiệp.
2 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu những vấn đề sau :
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ huy động vốn củaNHTM
- Phân tích thực trạng nguồn vốn của NHNo thị xã Từ Sơn
- Đưa ra các giải pháp tạo bước chuyển biến mới trong hoạt động huy độngvốn, cải thiện cơ cấu vốn đáp ứng yêu cầu của công việc xây dựng và phát triểnkinh tế thị xã Từ Sơn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung chủ yếu của nghiệp vụ huy độngvốn của NHTM
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Chỉ giới hạn nghiên cứu nghiệp vụhuy động vốn tại NHNo thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, những giải pháp đưa racũng giới hạn trong phạm vi áp dụng tại NHNo thị xã Từ Sơn
Trang 34 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử đểxem xét các sự vật, hiện tượng trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng vàthường xuyên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, phương pháp phân tíchtổng hợp số liệu thực tế, vận dụng lý luận vào thực tiễn để giải thích nguyên nhân từ
đó đưa ra các giải pháp thích hợp
5 Kết cấu của khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa khóa luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Huy động vốn và hiệu quả công tác huy động vốn của Ngân
hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại NHNo & PTNT thị xã Từ Sơn
tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn
tại NHNo & PTNT thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Trang 4CHƯƠNG 1 HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Công tác huy động vốn trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch
vụ kinh doanh khác Nó chi phối toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại,
quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, bao gồm:
- Vốn tự có
- Vốn đi vay
- Vốn huy động
- Vốn khác
1.1.2 Khái niệm về vốn huy động
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ cácTCKT và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tíndụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinhdoanh Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau Ngânhàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trảđúng hạn cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn (tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầurút vốn (tiền gửi không kỳ hạn) Vốn huy động vai trò rất quan trọng đối với mọihoạt động kinh doanh của NHTM
Vốn huy động luôn biến động, nên Ngân hàng không được phép sử dụng hết
số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năngthanh toán Vốn huy động bao gồm:
Tiền gửi
Trang 5Thực hiện chức năng thủ quỹ cho xã hội của các NHTM, các NHTM thườngxuyên nhận tiền gửi của các Doanh nghiệp, TCKT & cá nhân trong nền kinh tế dướinhiều hình thức:
Tiền gửi không kỳ hạn
Đây là khoản tiền gửi mà người gửi có thể rút ra sử dụng bất cứ lúc nào vàNgân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng Tiền gửi không kỳ hạn có lãisuất thấp hoặc không được lãi và bao gồm hai loại sau:
- Tiền gửi thanh toán là các khoản tiền gửi không kỳ hạn trước hết được sử
dụng để tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hóa, dịch vụ và cáckhoản chi khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, antoàn và thuận tiện qua dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) của cácNHTM Các NHTM có dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tốt sẽ có lợi thếtrong việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi này để chuyển một phần để cho vay Tiền gửithanh toán thường được bảo quản tại Ngân hàng trên hai loại tài khoản: tài khoảntiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai Đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, việcrút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thường được thực hiện bằng séc hay chuyểnkhoản Khách hàng mở tài khoản này nhằm mục đích "đảm bảo khả năng" và sửdụng dễ dàng thuận tiện đồng vốn khi cần Tài khoản vãng lai là tài khoản có lúc dư
nợ, có lúc dư có Với tài khoản này, khách hàng còn có thể được Ngân hàng đápứng nhu cầu tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định Đứng trên góc độ Ngânhàng, tiền gửi không kỳ hạn là một khoản nợ mà Ngân hàng luôn phải chủ động trảcho khách hàng vào bất cứ lúc nào Tuy nhiên, trong mỗi Ngân hàng do có sựkhông khớp nhịp giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản tiền gửi thanh toán củadoanh nghiệp hay giữa các tài khoản của các doanh nghiệp làm cho nhập lớn hơnxuất, tạo nên tồn khoản mà Ngân hàng được phép sử dụng một phần làm vốn kinhdoanh
- Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy là khoản tiền được ký gửi với mục đích an
toàn tài sản, không mang tính chất phục vụ thanh toán Khi cần khách hàng có thểđến Ngân hàng rút ra để chi tiêu Cũng giống như trường hợp trên, Ngân hàng phảithỏa mãn yêu cầu của khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và chỉ được phép sửdụng tồn khoản chi khi đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả
Trang 6 Tiền gửi có kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận trước giữa khách hàng và Ngân hàng vềthời gian rút tiền Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích lũy và xét vềbản chất chúng được ký thác với mục đích hưởng lãi Các NHTM nhận hai loại tiềngửi có kỳ hạn: Là tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút (tức khi muốn rút ra phảibáo trước) về cơ bản, các khoản tiền gửi có kỳ hạn không được sử dụng để tiếnhành thanh toán như các khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai Thôngthường, tiền gửi có kỳ hạn là các khoản tiền gửi có thời hạn càng dài thì lãi suấtcàng cao
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửitiết kiệm Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, Ngân hàng có thể sử dụng phần lớntồn khoản vào kinh doanh Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng hóa tiềngửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứngnhu cầu của mọi khách hàng
Tiền gửi tiết kiệm
Xét về bản chất, đây là một phần thu thập của cá nhân người lao động chưasử dụng cho tiêu dùng Họ gửi vào Ngân hàng với mục đích tích lũy tiền một cách
an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt
để tích lũy tiền tệ trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân Trên thực tế, trong nền kinh tếthị trường tiền gửi tiết kiệm được phát triển dưới hai loại hình tiết kiệm sau:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào
song không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền có sự thỏa thuận về thời hạn gửi và
rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn
Các nguồn huy động khác.
Bên cạnh phương thức nhận tiền gửi, các NHTM còn phát hành chứng chỉtiền gửi, kỳ phiếu & trái phiếu NHTM Thực chất các nghiệp vụ này là Ngân hàng
Trang 7huy động vốn tiền tệ bằng việc phát hành chứng từ có giá Trong đó, chứng chỉ tiềngửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá qui định, trái phiếu là loại phiếu nợ trung vàdài hạn Hai loại phiếu nợ trên được Ngân hàng phát hành từng đợt, tùy theo mụcđích với sự chấp thuận của NHTW hoặc Hội đồng chứng khoán Quốc gia
Trong huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếuNgân hàng, các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động.Nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi Ngân hàng thiếu vốn mà vốn tự có và vốnhuy động tiền gửi không đủ Như vậy, khi thực hiện huy động vốn dưới các hìnhthức này, các Ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lượng huyđộng , mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động Vốn này chỉ được huy độngtrong một thời gian nhất định, khi đã huy động đủ khối lượng vốn theo dự kiến cácNgân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán) kỳ phiếu, trái phiếu
Tóm lại: Vốn huy động là tiền đề, đồng thời là điều kiện tiên quyết đối với
mở rộng hoạt động kinh doanh của các NHTM Quy mô, cơ cấu, giá cả bình quânhuy động vốn sẽ quyết định đến việc sử dụng vốn, ảnh hưởng lớn đến năng lựccạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập với khu vực & Quốc
tế Mặt khác, nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốncủa Ngân hàng, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.Đồng thời các NHTM phải tôn trọng các giới hạn về mức huy động vốn theo quiđịnh ở mỗi nước
1.1.3 Vai trò của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh Ngân hàng
1.1.3.1.Vốn là cơ sở để tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải
có vốn Riêng đối với Ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt độngkinh doanh của mình Nói cách khác, Ngân hàng không có vốn thì không thực hiệnđược các nghiệp vụ kinh doanh bởi vì, với đặc trưng của hoạt động Ngân hàng, vốnkhông chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng chủ yếu củaNHTM
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt trên thị trường tiền
tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn).Những Ngân hàng trường vốn là Ngân hàng có nhiều thế mạnh trong kinh doanh
Trang 8Chính vì thế, có thể nói: vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của Ngânhàng Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức là đủ vốn điều lệ theo luật định, thìNgân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trìnhhoạt động của mình
1.1.3.2 Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của Ngân hàng
Vốn của Ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tíndụng Thông thường, nếu so với các Ngân hàng lớn thì các Ngân hàng nhỏ có khoảnmục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay của cácNgân hàng này cũng nhỏ hơn Trong khi, các Ngân hàng lớn cho vay được tại thịtrường trong vùng thậm chí trong nước và cả quốc tế, thì các Ngân hàng nhỏ lại bịgiới hạn trong phạm vi hẹp nên các Ngân hàng nhỏ không phản ứng nhậy bén đượcvới sự biến động về lãi suất, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ cáctầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế Giả sử trên địa bàn Ngân hàng đó, nhucầu vốn rất lớn, mà nếu Ngân hàng không huy động được, thì không thể đáp ứngđược nhu cầu cho vay Ngược lại nếu khả năng vốn của Ngân hàng đủ đáp ứng cácnhu cầu vay, Ngân hàng có đủ điều kiện mở rộng thị trường tín dụng và các dịch vụNgân hàng Chính vì vậy, càng khẳng định rõ tầm quan trọng của vốn trong hoạtđộng kinh doanh Ngân hàng
1.1.3.3 Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của Ngân hàng trên thương trường
Thật vậy, trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy
mô hoạt động đòi hỏi các Ngân hàng phải coi uy tín lớn trên thị trường là điều trọngyếu Uy tín đó phải thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả chokhách hàng của Ngân hàng Khả năng thanh toán của Ngân hàng càng cao thì vốnkhả dụng của Ngân hàng càng lớn Vì vậy, loại trừ các nhân tố khác, khả năngthanh toán của Ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của Ngân hàng nói chung và với vốnkhả dụng của Ngân hàng nói riêng Với tiềm năng vốn lớn, Ngân hàng có thể hoạtđộng kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnhtranh có hiệu quả nhằm vừa giữ chữ tín, vừa nâng cao thanh thế trên thương trường
Trang 91.1.3.4 Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuậthiện đại của Ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn Đồng thời, khả năngvốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với Ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tíndụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động vềthời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho kháchhàng Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của Ngânhàng sẽ tăng lên nhanh chóng và Ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinhdoanh Đây cũng là điều kiện để bổ sung thêm vốn tự có Ngân hàng, tăng cường cơ
sở vật chất kỹ thuật và quy mô hoạt động của Ngân hàng trên mọi lĩnh vực
Đồng thời, vốn của Ngân hàng lớn sẽ giúp cho Ngân hàng có đủ khả năngtài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là cho vay màcòn mở rộng các hình thức liên doanh liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua(leasing), mua bán nợ (factoring), kinh doanh trên thị trường chứng khoán Chínhcác hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt độngkinh doanh và tạo thêm vốn cho Ngân hàng đồng thời tăng sức cạnh tranh của Ngânhàng trên thương trường
1.2 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Thương mại
Các NHTM làm nhiệm vụ vay tiền (hầu hết từ những người gửi tiền) và chovay hoặc đầu tư với mục đích hưởng lợi qua lãi suất Đây là công việc của mộttrung gian tài chính, đóng vai trò trung gian giữa người có vốn và người cần vốn.Quá trình huy động vốn của các NHTM được thực hiện dưới các hình thức sau:
1.2.1 Huy động vốn tiền gửi
1.2.1.1 Huy động tiền gửi không kì hạn
Đây là loại tiển gửi mà chủ nhân của nó có thế rút tiền hoặc trả cho bên thứ
ba bằng phát hành séc Chính vì vậy, mà nó còn có tên là tiền gửi có thể phát hànhséc Ở một số nước có công nghệ Ngân hàng phát triển cao, việc rút tiền từ tàikhoản này phần lớn được thực hiện bằng điện thoại hoặc cũng có thể rút tiền mộtcách dễ dàng qua các máy rút tiền tự động - ATM
Trang 10Đối với khách hàng, khi sử dụng tài khoản tiền gửi không kỳ hạn việc thanhtoán dễ dàng được xem như là yếu tố quan trọng, còn việc hưởng lãi đối với số vốnđược dùng với mục đích giao dịch chỉ là điều thứ yếu Do vậy, loại tiền gửi nàyđược mệnh danh là tiền gửi theo yêu cầu, không đem lãi suất cụ thể Về phía cácNHTM, có chăng lợi thế là chỉ cần bỏ ra những chi phí về quản lý tài khoản hoặctrả lãi (nếu có thì cũng rất nhỏ) Lợi thế này của Ngân hàng tuy nhiên còn phụ thuộcvào từng thời kỳ trong năm và khả năng của Ngân hàng trong việc dự đoán về biếnđộng trên số dư tiền gửi không kỳ hạn này
Ở Việt Nam, tiền gửi thuộc loại này được thể hiện dưới các hình thức như:tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của các Tổ chức kinh tế và tài khoản tiền gửi cánhân Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng ở Việt Nam cònquá thấp, để khuyến khích việc thực hiện thanh toán qua Ngân hàng, các NHTM ởViệt Nam đã tiến hành trả lãi cho tiền gửi này (có những thời điểm được trả ngangbằng với lãi suất tiền gửi không kì hạn) Ở các nước phát triển, loại tiền này chiếmmột vị trí tương đối quan trọng trong kết cấu nguồn vốn của NHTM Chẳng hạn, ở
Mỹ, các tài khoản thuộc loại này chiếm khoảng 30% tiền gửi Ngân hàng Vì lẽ đó,
để tạo nguồn tiền gửi trên tài khoản thanh toán, việc thu hút và giữ khách hàngđược các Ngân hàng rất coi trọng Có thế kể ra đây một số kinh nghiệm ở Đức như:quảng cáo, nâng cao uy tín hoạt động, hiện đại hóa và mở rộng cung ứng dịch vụ,
mở rộng phạm vi hoạt động trong và ngoài nước, tạo tiện lợi cho các dịch vụ kháchhàng về thời gian và tốc độ, giảm chi phí bằng cách lấy lợi nhuận từ việc sử dụng sốvốn "tạm thời nhàn rỗi này" để bù đắp cho các khoản lệ phí thanh toán phải thu củakhách hàng
1.2.1.2 Huy động tiền gửi có kỳ hạn
Ở Mỹ tiền gửi có kỳ hạn chiếm 39% tiền gửi Ngân hàng Các khoản này chủyếu được thể hiện bằng chứng chỉ tiền gửi (CDs – Certificate of Deposits) và đượcghi rõ hạn định và giá trị thanh toán Việc rút tiền trước hạn sẽ bị phạt và mức phạt
có thể vượt quá tiền lãi được hưởng tính đến ngày rút tiền Nhưng ở Đức, để khắcphục việc rút vốn trước hạn gây bất lợi cho người gửi tiền, Ngân hàng thường cấpcho khách hàng cần rút vốn trước hạn một khoản tín dụng mà coi khoản tiền gửitheo kỳ hạn là khoản đảm bảo cho tín dụng đó Mức lãi suất đối với các chứng chỉ
Trang 11tiền gửi có thể cố định hoặc linh hoạt tùy theo sự lựa chọn của khách hàng và đốivới các chứng chỉ tiền gửi có lãi suất linh hoạt; khách hàng có thể gửi thêm tiềntrước hạn định Các chứng chỉ tiền gửi đã được đa dạng hóa nhằm đáp ứng sự cạnhtranh trong huy động vốn của các Ngân hàng Ví dụ, các chứng chỉ tiền gửi vớimệnh giá cao do Ngân hàng lớn phát hành có thể chuyển nhượng được và chính nhữngngười mua chứng khoán đã tạo ra một thị trường phụ cho các chứng chỉ tiền gửi này Nhưvậy, Ngân hàng có thể thu hút vốn từ các nhà đầu tư lớn, mà lẽ ra các nhà đầu tư này đã cóthể dùng vốn đầu vào các trái phiếu Kho bạc hay vào thị trường tiền tệ Các chứng chỉ tiềngửi có khả năng chuyện nhượng tốt này thường được các công ty, các quỹ hưu trí và các tổchức chính quyền đầu tư với khối lượng lớn và được giao dịch trên thị trường chứng khoánthứ cấp, trước hạn định thanh toán.
Ở Việt Nam, hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi (màchúng ta vẫn thường gọi là kỳ phiếu Ngân hàng có mục đích) đã xuất hiện vớicác thời hạn 3 tháng, 6 tháng Tuy mới được sử dụng trong vài năm trở lạiđây, song tình hình huy động này đã ngày càng phát huy vai trò trong việc tạovốn của các Ngân hàng Trên thực tế, tỷ trọng huy động vốn bằng hình thứcphát hành kỳ phiếu Ngân hàng cao hơn so với các loại hình huy động khác
1.2.2 Huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Từ lâu tiền gửi tiết kiệm đã được coi là công cụ huy động vốn truyền thốngcủa các NHTM Vốn huy động từ các tài khoản tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọngđáng kể trong tiền gửi Ngân hàng (ở Mỹ, tài khoản tiền gửi chiếm khoảng 25%).Tiền gửi tiết kiệm bao gồm các loại sau: Loại không kỳ hạn, loại có kỳ hạn ngắn vàloại có kỳ hạn dài
1.2.2.1 Tiết kiệm không kỳ hạn
Thực chất đây là khoản tiền gửi tiết kiệm thông thường Đối với khoản tiềnnày, chủ tài khoản có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào mà không phải báo trước Tuy số
dư tài khoản này thường không lớn, nhưng có ưu điểm hơn so với các tài khoản tiềngửi giao dịch ở chỗ khác: số dư này ít biến động Chính vì vậy, đối với loại tiềnnày, các NHTM thường phải trả lãi suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán Đó làđiều kiện để các NHTM có thể dễ dàng huy động số vốn này
Trang 121.2.2.2 Tiết kiệm có kỳ hạn ngắn
Loại hình tiết kiệm này khá quen thuộc ở Việt Nam Các NHTM ở ViệtNam thường huy động tiết kiệm với kỳ hạn từ ba tháng đến một năm Về nguyêntắc, một khi khách hàng đã gửi tiền vào tài khoản này, họ sẽ không được rút ra (cảgốc và lãi) trừ khi đã hết hạn gửi tiền Để tăng sức cạnh tranh thu hút tiền gửi, một
số NHTM vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước hạn Tuy nhiên, nhằm tránh việckhuyến khích khách hàng rút tiền trước hạn, một phần trong tiền lãi mã khách hàngđược hưởng đã bị khấu trừ (có thể là Ngân hàng chỉ được hưởng một mức lãi suấttiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn cho khoảng thời gian khách hàng gửi tiền)
1.2.2.3 Tiết kiệm dài hạn:
Loại tiết kiệm này rất phổ biến ở một số nước công nghiệp, nhằm thu hút sốtiền nhàn rỗi trong thời hạn dài So với các loại hình tiết kiệm khác, đối với tàikhoản này, bất kỳ lúc nào chủ tài khoản cũng có thê gửi tiền vào tài khoản với sốlượng không hạn chế, nhưng chỉ được rút ra khi đến hạn Đây là loại hình tiết kiệm
mà Ngân hàng cần tận dụng nhằm tạo các nguồn vốn có tính ổn định cao phục vụcho hoạt động cấp tín dụng dài hạn của mình
1.2.3 Huy động vốn thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá
1.2.3.1.Huy động vốn qua phát hành chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn
Việc huy động các chứng chỉ tiền gửi thuộc loại này có ý nghĩa quan trọng
cả trong việc quản lý tài sản Nợ và trong việc tăng nguồn vốn ổn định cho Ngânhàng khi cần thiết
Mức lãi được trả cho các chứng chỉ tiền gửi loại này được quy định bằngcách thỏa thuận trực tiếp giữa Ngân hàng và người gửi tiền hoặc được quy định ởmức mà người gửi tiền có thể chấp nhận được
Xuất phát từ thực tế khách quan, những người mua chứng chỉ tiền gửi này rấtnhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất Để huy động được vốn nhằ m đáp ứng cácnhu cầu thanh toán hay nhu cầu tín dụng, các NHTM có thể đưa ra mức lãi suấtcao hơn so với chứng chỉ tiền gửi khác (hoặc cũng có thể cao hơn mức lãi suấtcủa trái phiếu Kho bạc trong điều kiện ở Việt Nam)
Trang 131.2.3.2 Huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng Thương mại
Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn trên thị trường vốn dướihình thức giấy nhận nợ do các tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn, trong
đó cam kết trả lãi và gốc cho người mua (hoặc người sở hữu) sau một thời gian nhấtđịnh Về phía người mua, trái phiếu Ngân hàng là giấy chứng nhận việc đầu tư vốn
và quyền được hưởng thu nhập của người mua trên số tiền mua trái phiếu Ngânhàng
Thực chất, hình thức tạo vốn nay đã giúp cho các Ngân hàng thương mạichủ động trong việc huy động vốn để thực hiện các dự án đầu tư dài hạn và quahình tạo vốn này còn giúp các NHTM tạo vốn một cạnh tranh nhanh chóng
Theo kinh nghiệm tại Đức, trái phiếu Ngân hàng được phát hành với mức lãisuất cố định và mức lãi suất này được xác định theo mức lãi suất trên thị trường vốntại thời điểm phát hành Hầu hết các trái phiếu Ngân hàng đều được đưa vào giaodịch chính thức hay giao dịch tự do ở một hay nhiều sở giao dịch chứng khoánĐức Do đó, những người đầu tư vào trái phiếu Ngân hàng đều có thể thu hồi vốnvào bất cứ lúc nào Chính vì vậy, điều đó không chỉ tạo điều kiện cho Ngân hàngtrong việc thu hút vốn mà còn thuận lợi kể cả cho khách hàng
Ngoài ra, kinh nghiệm cho thấy: việc huy động vốn từ trái phiếu khá phổbiến ở các nước, nó được xuất hiện và phát triển từ các nước Châu Âu trong nhữngnăm 60 của thể kỷ 20 và ngày nay các giao dịch này đã phát triển tới quy mô quốc
tế bao gồm nhiều Ngân hàng và công ty tài chính tham gia Nghiệp vụ huy độngvốn qua trái phiếu đã đem đến cho Ngân hàng những khoản lợi nhuận cao bởi khảnăng " tiêu thụ" các khoản vốn huy động này đã được nhanh chóng chuyển đến cácnước đang "khát vốn" để phát triển nhất là ở Châu Á, Nam Mỹ
Huy động vốn qua đi vay các Tổ chức Tín dụng và Ngân hàng Trung ương
1.2.3.3 Vay các Tổ chức tín dụng khác trên thị trường tiền tệ liên Ngân hàng
Các khoản vay ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của cácNHTM không chỉ về mặt quy mô đơn thuần mà chủ yếu mang ý nghĩa như là mộtbiện pháp quản lý các mục tài sản nợ Các Ngân hàng có thể đi vay từ nhiều nguồnkhác nhau: Vay từ các Tổ chức tín dụng khác
Trang 14Đó là các khoản vay thông thường mà các NHTM vay lẫn nhau trên thịtrường liên Ngân hàng hay thị trường tiền tệ Tuy nhiên, các NHTM thường sửdụng tới hai giải pháp trên trong các trường hợp sau:
- Thứ nhất : Các Ngân hàng thường chỉ vay Ngân hàng Trung ương khi
không còn giải pháp nào khác nhằm tránh việc sử dụng tối đa hạn mức tái chiếtkhấu, mà qua đó có thể gây sự chú ý của Ngân hàng Trung ương
- Thứ hai : Khi một khách hàng tốt trả một khoản nợ cũ và yêu cầu vay tiếp
một khoản khác mà bị từ chối vì Ngân hàng đang có khó khăn về vốn, thì có thểNgân hàng sẽ mất vĩnh viễn khách hàng đó vào tay đối thủ cạnh tranh
1.2.3.4 Vay Ngân hàng Trung ương.
Hình thức thường gặp là vay tái chiết khấu Với vai trò là người cho vaycuối cùng, Ngân hàng Trung ương luôn cho các NHTM vay được Ngân hàng Trungương sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô, tùy vào yêu cầu điều tiết của nềnkinh tế mà lãi suất này có thể được nâng cao hoặc hạ thấp Các NHTM có thể vayNgân hàng Trung ương khi có nhu cầu, nhưng ở hầu hết các nước Ngân hàngTrung ương đều không cho phép các NHTM lạm dụng khả năng đó bằng các công
cụ như hạn mức tái chiết khấu hay lãi suất tái chiết khấu Song dù sao, đây cũng làsâu sau đối với hoạt động huy động vốn nhằm làm tăng gia tăng vốn khẳ dụng trongkinh doanh của các Ngân hàng thương mai
1.2.4 Các hình thức huy động vốn khác
Ở đây, NHTM có thể sử dụng để thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi từ các hoạtđộng ủy thác về các dịch vụ xã hội: câu lạc bộ giáng sinh, nghỉ hè và các kế hoạchkhác được mệnh danh là: “câu lạc bộ tiết kiệm” Các kế hoạch này được tạo ra đểkhuyến khích những người tiết kiệm ký thác mỗi tuần một số tiền nhất định tạiNgân hàng Số tiền này sau một thời gian nhất định sẽ là một số tiền đủ lớn đểngười giữ tiền có thể trang trải được các chi phí cho các dịch vụ trên Tuy nhiên, để
mở rộng khả năng thu hút vốn này các NHTM còn phải ngừng nâng cao uy tín củamình trên thương trường, trong đó đặc biệt quan tâm tới phát triển các dịch vụNgân hàng
Trang 151.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn
1.3.1 Các nhân tố khách quan
Hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn của NHTM nóiriêng luôn gắn với môi trường kinh doanh, đặc biệt là môi trường kinh tế và pháp
lý
1.3.1.1 Môi trường Kinh tế - Xã hội
- Việc huy động và sử dụng vốn của ngân hàng bị các chỉ tiêu kinh tế nhưtốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập của thực thể, tốc độ chu chuyển vốn,tình trạng thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát tác động trực tiếp
- Phân bố dân cư, thu nhập của người dân là một nguồn lực tiềm tàng có thểkhai thác nhằm mở rộng quy mô huy động vốn của NHTM
- Môi trường văn hóa như tập quán, tâm lý, thói quen sử dụng tiền của dân cư ảnhhưởng nhiều đến quyết định kinh tế của người có thu nhập về tiêu dùng và tiết kiệm, mức
độ chấp nhận hưởng lãi suất khi gửi tiền vào các tổ chức tín dụng hay quyết định chi sốtiền nhàn rỗi của họ đầu tư vào bất động sản, động sản, chứng khoán để được mức sinhlời cao hơn
1.3.1.2 Môi trường pháp lý
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt chịu tác độngbởi nhiều cơ chế quản lý của Chính phủ và Ngân hàng Trung ương Thay đổi chínhsách Nhà Nước, của Ngân hàng Trung ương về tài chính, tiền tệ, tín dụng, lãi suấtsẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như khả năng thu hút nguồn vốn củaNHTM Sự ổn định về chính trị hay chính sách ngoại giao cũng tác động đến quan
hệ nguồn vốn của một Ngân hàng với các quốc gia khác trong khu vực và trên thếgiới
1.3.1.3 Môi trường Công nghệ thông tin
Khả năng ứng dụng công nghệ trở thành một trong những điều kiện bắt buộc
để Ngân hàng tồn tại và phát triển Trong những năm gần đây, nhờ tiến bộ của côngnghệ thông tin, đã xuất hiện nhiều sản phẩm dịch vụ mới liên quan đến hoạt độnghuy động nguồn vốn của Ngân hàng như dịch vụ Ngân hàng tại nhà (Homebanking), máy rút tiền tự động ATM, thư tín dụng, hệ thống thanh toán điện tử.v.v
Trang 16Với những sản phẩm dịch vụ mới, tỷ lệ gửi tiền, thanh toán qua Ngân hàng ngàycàng tăng và đạt tỷ lệ cao
1.3.1.4 Môi trường cạnh tranh giữa các Ngân hàng
Hoạt động kinh doanh Ngân hàng ngày càng có sự tham gia của nhiều loại hìnhNgân hàng mới và các tổ chức tài chính phi Ngân hàng Cạnh tranh có xu hướng gia tăngmạnh, làm giảm đi sự khác biệt giữa các NHTM với các tổ chức tài chính phi Ngân hàng.Khách hàng có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư trực tiếp vào mua chứng khoán của Chính phủ
và công ty Xu hướng cạnh tranh trong ngành Ngân hàng càng tăng do các yếu tố nhưthay đổi chính sách về tài chính - tiền tệ, đổi mới tài chính của doanh nghiệp kinhdoanh tiền tệ, xu hướng chứng khoán hóa
Trong môi trường ngành Ngân hàng, cạnh tranh về tiền gửi diễn ra dướinhiều hình thức Các Ngân hàng có thể áp dụng những điều kiện giống nhau cho tất
cả các khách hàng gửi tiền Vì lý do này, các sản phẩm dịch vụ liên quan đến tiềngửi được mở rộng và được phổ biến nhanh chóng Thêm vào đó, nhiều tổ chức tàichính phi Ngân hàng có thể huy động tiền gửi có kỳ hạn, thậm chí còn cung cấp cáctài khoản không kỳ hạn Do cạnh tranh, lãi suất tiền gửi tăng lên trong khi giá dịch
vụ liên quan đến tiền gửi giảm xuống điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinhdoanh của các Ngân hàng
1.3.2 Các nhân tố chủ quan
1.3.2.1 Chiến lược khách hàng của Ngân hàng về huy động vốn.
Giờ đây, khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn Ngân hàng mà theo họ làthuận tiện hơn chứ không chỉ đơn thuần là nơi cất trữ tiền tệ và kiếm lời lãi suất Do
đó, các Ngân hàng nhận thấy cần có chiến lược khách hàng đúng đắn trong hoạtđộng nói chung và trong huy động vốn nói riêng
Nghiên cứu khách hàng mục tiêu
Trước tiên, Ngân hàng cần hiểu được động cơ, thói quen và những mongmuốn của người gửi tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng gửi tiền thông quaphân tích lợi ích của khách hàng Mục đích của tiền gửi trên loại tài khoản khácnhau rất khác nhau như tiền gửi giao dịch để phát hành séc thanh toán, tiền gửi cókỳ hạn để dành tiền tiêu dùng, đầu tư trong tương lai đồng thời hưởng lãi
Trang 17Trên cơ sở những thông tin về khách hàng, Ngân hàng có thể đưa ra hệ thốngcác chính sách và biện pháp phù hợp để được quy mô và cơ cấu nguồn vốn mongmuốn Hệ thống các chính sách đáp ứng và gợi mở nhu cầu liên quan đến huy độngvốn bao gồm:
Chiến lược phát triển sản phẩm
Các chính sách liên quan đến sản phẩm và dịch vụ tiền gửi của Ngân hàng.Nhóm chính sách này nhằm vào việc đánh giá các loại sản phẩm dịch vụ cung cấp
và chất lượng của chứng như: Chất lượng tài khoản, kỳ hạn và các dịch vụ liên quanđến tiền gửi như rút tiền tự động, giao dịch tại nhà, rút ngắn thời gian thanh toán.Những năm gần đây các Ngân hàng đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, hoàn thiện vàđổi mới nâng cáo chất lượng sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường đồngthời mở rộng phát triển dịch vụ mới
Chính sách lãi suất
Các chính sách về giá cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và chi phí dịch vụđược coi là giá cả của các sản phẩm và dịch vụ tài chính Ngân hàng sử dụng hệthống lãi suất tiền gửi và thay đổi qui mô công cụ quan trọng trong việc huy độngtiền gửi và thay đổi quy mô nguồn vốn Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn Ngânhàng cần ấn định mức lãi suất cạnh tranh thực hiện những ưu đãi về giá cho nhữngkhách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên
Phát triển cơ sở vật chất & mạng lưới chi nhánh
Chính sách về tổ chức - kỹ thuật: Đây là chính sách và biện pháp nhằm làmthuận lợi, nhanh chóng, đơn giản trong quan hệ với khách hàng Bao gồm việc bốtrí mạng lưới thu hút vốn, hoàn thiện công nghệ Ngân hàng, cơ chế tài chính đồngthời tổ chức thông suốt hệ thống thanh toán sao cho nhanh chóng, an toàn, chínhxác Cơ sở vật chất kỹ thuật là một trong các nguồn lực để Ngân hàng hoạt động cóhiệu quả Đó là mạng lưới chi nhánh, các điểm giao dịch với đặc thù vị trí, hệ thốngthông tin và thiết bị khác
Phong cách giao dịch
Chính sách trong phục vụ và giao tiếp: Các chính sách này được NHTM rấtquan tâm nhằm tạo, củng cố uy tín của mình trên thị trường, gắn bó với khách hàngtruyền thống và hấp dẫn khách hàng mới Trong điều kiện khó khăn có thể duy trì
Trang 18sự khác biệt về sản phẩm và giá cả như hiện nay, chất lượng dịch vụ khách hàng trởthành công cụ cạnh tranh vô cùng quan trọng để thu hút nguồn vốn Thái độ phục
vụ thân thiện để giữ khách hàng hiện có và thu hút thêm khách hàng mới
Các nhân tố khác
Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng: Ngân hàng phải dự đoán thay đổi củamôi trường để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp mà trong đó chiến lượcphát triển quy mô và điều chỉnh cơ cấu là một bộ phận quan trọng
Quy mô vốn tự có: Vốn tự có là nguồn vốn có thể đóng vai trò cái đệmchống đỡ sự sụt giảm giá trị tài sản của NHTM, nó đảm bảo lòng tin của kháchhàng đối với Ngân hàng cũng là yếu tố quyết định giới hạn tối đa của quy mônguồn vốn
Tài sản vô hình: Tài sản vô hình quan trọng nhất của Ngân hàng là uy tín của
nó trong hệ thống, của các thành viên trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc.Thuộc nhóm này phải kể đến các quan hệ mà Ngân hàng đã tạo lập được với cáckhách hàng hiện có, khách hàng tiềm năng, các trung gian tài chính và các cơ quanNhà Nước
Tính chất sở hữu của Ngân hàng: Yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắcđến mô hình, cơ cấu tổ chức và cơ chế tài chính, chiến lược kinh doanh từ đó ảnhhưởng đến hoạt động huy động vốn, quản lý và sử dụng vốn
Tóm lại : Nghiên cứu các thành phần, cơ cấu NV đối với hoạt động kinh
doanh của NHTM, các phương thức huy động vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô cơ cấu nguồn vốn Những nội dung này làm sáng tỏ lý luận liên quan đến hoạt động về nguồn vốn của ngân và hoạt động huy động vốn của Ngân hàng, giúp chúng ta có một cơ sở lý luận rõ ràng để đi sâu phân tích thực trạng nguồn vốn và hoạt động huy động vốn của NHTM nói chung, của NHNo thị xã Từ Sơn nói riêng,
để từ đó có thể đưa ra những giải pháp phù hợp với mục đích nghiên cứu nhằm phục vụ phát triển kinh tế theo đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà Nước.
Trang 19CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP THỊ XÃ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH2.1 Khái quát về NHNo &PTNT– chi nhánh thị xã Từ Sơn
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của NHNo & PTNT– chi nhánh Từ Sơn
- Tên đầy đủ : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam –Chi nhánh thị xã Từ Sơn
- Tên viết tắt : Chi nhánh NHNo & PTNT thị xã Từ Sơn
- Tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh : Việt Nam Bank For Agriculture andRural Development, Tu Son Branch
- Trụ sở đặt tại : Phường Đình Bảng, Thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh
NHNo & PTNT thị xã Từ Sơn tiền thân là bàn tiết kiệm ( Có mặt đầu tiên tại
Từ Sơn từ những năm 1960), sau là phòng giao dịch thuộc NHNo & PTNT tỉnh HàBắc với tên gọi NHNo & PTNT Khu vực Từ Sơn, cho đến khi tái lập Huyện TừSơn được đổi tên là NHNo & PTNT Huyện Từ Sơn, sau là Thị xã Từ Sơn Vớithâm niên công tác bình quân của cán bộ là trên 15 năm , lại chủ yếu là người địaphương do vậy hiểu rất rõ về con người phong tục tập quán và đặc biệt là môi trườngsản xuất kinh doanh , hoạt động thương mại của các ngành nghề tại đây Đặc biệt NHNohuyện Từ Sơn còn được đặt tại trung tâm của huyện đó là thị xã Từ Sơn, thuận lợi choquá trình giao dịch của Ngân hàng
NHNo & PTNT thị xã Từ Sơn hiện có 4 điểm giao dịch , cơ bản nằm trong cáckhu kinh tế phát triển , trong đó có 3 điểm giao dịch có trụ sở được cấp đất ổn định từnhiều năm nay , cơ sở vật chất tương đối khang trang , là địa chỉ tin vậy của phần đôngkhách hàng có thâm niên sản xuất kinh doanh lâu đời tại thị xã Từ Sơn
Từ nhiều năm nay , hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT thị xã Từ Sơnluôn gắn bó , đồng hành với Nông nghiệp ,nông thôn , nông dân và kinh tế làng nghề , dovậy luôn nhận được sự hỗ trợ , ủng hộ của các cấp chính quyền địa phương
Chi nhánh NHNo & PTNT Từ Sơn được nâng cấp lên Chi nhánh cấp I từ ngày1/10/1999, đây là điều kiện để Chi nhánh linh hoạt hơn trong cơ chế điều hành , khắcphục một số hạn chế mà Chi nhánh loại 3 thường gặp trong kinh doanh , là cơ sở thuận
Trang 20lợi để Chi nhánh cạnh tranh trong kinh doanh và quảng bá thương hiệu của NHNoVNvới địa phương
Sau quá trình phát triển ổn định, đến nay Ngân hàng có tổng số cán bộ là 66 ngườithuộc biên chế nhà nước
Với nhiệm vụ chủ yếu là huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trongnền kinh tế để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn, đặc biệt là tronglĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đồng thời thực hiện các nghiệp vụ Ngân hàngkhác, đến thời điểm 31/12/2010 NHNo thị xã Từ Sơn đã đạt được:
* Về nguồn vốn: Tổng nguồn vốn trên địa bàn huyện là: 651 tỷ đồng tăng
tư phát triển, với phương châm "đi vay để cho vay”, NHNo thị xã Từ Sơn đã hướngmạnh hoạt động kinh doanh của mình vào phục vụ sản xuất kinh doanh trên địa bàn,đặc biệt là phục vụ sự phát triển của nông nghiệp nông thôn và nông dân , coi nôngdân là "người bạn đồng hành của mình trên con đường cùng phát triển Vì vậy,trong thời gian qua Ngân hàng đã góp phần rất lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội ở Từ Sơn cụ thể, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện,chuyển dịch cơ cấu kinh tế chuyển biến mạnh mẽ, đi dần vào sản xuất hàng hóa,
mở rông phát triển ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn bước đầu được phục hồi vàphát triển góp phần làm chuyển dịch căn bản cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nôngthôn, có lợi thế xuất khẩu, phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thâmcanh tăng vụ chuyển biến mạnh các mô hình đầu tư trồng trọt chăn nuôi giải quyếtđược công ăn việc làm cho người lao động, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệmới trong nông nghiệp, Quan hệ sản xuất được đổi mới theo hướng xây dựng nềncông nghiệp hóa với nhiều thành phần kinh tế tham gia, kết cấu hạ tầng Kinh tế- Xãhội nông thôn được tăng cường, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảmbảo, môi trường sinh thái được cải thiện một bước góp phần quan trọng vào sự ổn
Trang 21định và phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp nông thôn của địa phương.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức, mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp thị xã Từ Sơn.
NHNo thị xã Từ Sơn là một NHTM hoạt động độc lập trên địa bàn vớí 8 xã
và một thị xã Trước những năm 2002 nền kinh tế huyện còn gặp nhiều khó khăn,
cơ sở hạ tầng còn bất cập, giao thương các xã trong thị xã gặp không ít khó khăn Vìvậy mô hình tổ chức hoạt động của Ngân Hàng nông nghiệp cũng phải vươn dài vàtiếp cận tới các xã và vùng sâu vùng xa biên chế trên 60 cán bộ viên chức với 3Phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh thị xã Từ Sơn
Trong những năm gần đây thị xã Từ Sơn đã được nhà nước và chính phủquan tâm xác định là một trong những vùng trọng điểm của Tỉnh Bắc Ninh về tiềmnăng phát triển kinh tế, tương lai ổn định đời sống dân sinh Mở rộng và nâng cấp
hạ tầng cơ sở rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn Quán triệt nhữngmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thị xã, NHNo thị xã Từ Sơn cũng có nhữngbước chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức, trên cơ sở giảm bớt chi phí, tính gọn
về bộ máy tổ chức biên chế Nâng cao chất lượng phục vụ trên cơ sở đào tạo cán bộchuyên sâu và hoạt động đa năng trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh Ngân hàng.Hiện tại NHNo thị xã Từ Sơn gồm 66 cán bộ công nhân viên chức gồm:
- Giám đốc ngân hàng
- 02 phó giám đốc phụ trách kinh doanh + kế toán
Các phòng ban:
- Phòng kế hoạch kinh doanh
- Phòng kế toán ngân quỹ
- Phòng dịch vụ marketing
- Phòng hành chính nhân sự
- Phòng kiểm soát nội bộ
- Phòng giao dịch Châu Khê
- Phòng giao dịch Đồng Kỵ
- Phòng giao dịch Đông Ngàn
Trang 22Sơ đồ tổ chức NHNo Thị xã Từ Sơn
2.1.3 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo thị xã Từ Sơn
NHNo thị xã Từ Sơn là một đơn vị hạch toán, trực thuộc NHNo VN, hoạtđộng kinh doanh đa năng về tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ Ngân hàng trên địa bànnhằm phát triển KT-XH, góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nôngthôn Để tồn tại, phát triển và không ngừng vươn lên trong cạnh tranh với các tổchức tín dụng khác trên địa bàn, NHNo thị xã Từ Sơn đã thực thi các chính sáchtiền tệ - tín dụng và các dịch vụ Ngân hàng một cách linh hoạt và có hiệu quả
GIÁM ĐỐC
Phó giám đốc 1
Phòng kiểm soát nội bộ
Phó giám đốc 2
Phòng kế hoạch Kinh doanh
Phòng hành chính, nhân sự
Phòng kế toán – Ngân quỹ
Phòng giao dịch Châu Khê
Phòng dịch vụ marketting
Phòng giao dịch Đồng Kỵ
Phòng giao dịch Đông Ngàn
Trang 232.1.3.1 Khái quát hoạt động huy động vốn
Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng tổng nguồn vốn giai đoạn 2008-2010
Đơn vị: Triệu đồng
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2008- 2010)
Nhìn vào biểu đồ ta thấy tăng vốn trong các năm của Chi nhánh tăng.Tổngnguồn vốn tính đến ngày 31/12/2009 đạt 485.000 triệu đồng , tăng so với31/12/2008 là 24 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 6,2%.Đến ngày 31/12/2010 tổng nguồn vốn củangân hàng đạt 651.000 triệu đồng , tăng so với 31/12/2009 là 166 tỷ đồng, tỷ lệ tăng34,2 %.Điều đó chứng tỏ sau khi ngân hàng được nâng cấp thành chi nhánh cấp 1năm 2009 thì tổng nguồn vốn tăng lên đáng kể cùng với sự nỗ lực của cán bộ côngnhân viên của Chi nhánh Thể hiện một dấu hiệu an toàn, một quyền độc lập nhấtđịnh của Ngân Hàng
460944 495268
651000
0 100000
Trang 242.1.3.2 Khái quát hoạt động sử dụng vốn
Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng dư nợ tại Chi nhánh giai đoạn 2008-2010.
(Nguồn: Báo cáo tổng kết NHNo Từ Sơn năm 2008- 2010)
Tổng dư nợ tín dụng thương mại đến 31/12/2010 đạt 1.116.000 triệu đồng
Dư nơ cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh 15 đơn vị đạt 396.000 triệuđồng chiếm 35,49%
Dư nợ cho vay hộ sản xuất đạt 720.000 triệu đồng, chiếm 37%
Vốn tín dụng NHNo thị xã Từ Sơn đã thực sự góp phần thúc đẩy các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế và dân cư phát triển sản xuất kinh doanh, đặc biệt là kinh
tế hộ gia đình nhằm phát triển nông nghiệp nông thôn tại địa bàn
2.1.3.3 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh:
- Tổng doanh thu năm 2010 của Chi nhánh đạt 114.799 triệu đồng
- Tổng chi phí năm 2010 của Chi nhánh là 102.892 triệu đồng
- Lợi nhuận năm 2010 của Chi nhánh đạt 11.907 triệu đồng
Qua kết quả trên cho thấy việc hoạt động của Chi nhánh NHNo thị xã TừSơn với sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên và đa dạng hoá các sản phẩm mới rađời ngày càng được hoàn thiện và đa dạng mang lại lợi ích kinh tế cho Ngân hàng
và Nhân dân trên toàn huyện, khẳng định vị thế của NHNo thị xã trên địa bàn Vàvốn tín dụng NHNo thị xã Từ Sơn đã thực sự góp phần thúc đẩy các doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế và dân cư phát triển sản xuất kinh doanh, đứng vững
Đơn vị: Triệu đồng
394987 496000
1116000
0 200000
Trang 25trong cơ chế thị trường, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình nhằm phát triển nông nghiệpnông thôn ngoài ra NHNo thị xã Từ Sơn còn làm dịch vụ chuyển tiền điện tử, chitrả kiều hối, kinh doanh ngoại tệ và các dịch vụ Ngân hàng khác
2.2 Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp thị xã Từ Sơn
Bảng 2 1: Nguồn vốn tiền gửi của Ngân hàng Nông nghiệp thị xã
Từ Sơn giai đoạn 2008-2010
Đơn vị tính:Triệu đồng
tăng trưởng 09/08 (%)
Tốc độ tăng trưởng 10/09(%)
(Nguồn báo cáo tổng kết NHNo thị xã Từ Sơn các năm 2008-2010)
Nguồn vốn chính của NHNo thị xã Từ Sơn bao gồm: Nguồn vốn huyđộng trên địa bàn,vốn đi vay
Từ bảng trên ta đưa ra nhận xét chung: Tổng nguồn vốn tăng trưởngtương đối tốt qua các năm Tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 16%/năm
2.2.1 Thực trạng vốn huy động của NHNo thị xã Từ Sơn theo cơ cấu tiền gửi.
Nguồn vốn huy động tại địa phương là điều kiện, tiền đề mở rộng đầu tư chonhu cầu phát triển kinh tế của huyện NHNo thị xã Từ Sơn đã tập trung mọi nỗ lực
và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của toàn chi nhánh nên lượng vốn huy động từ thịtrường ngày một tăng Các hình thức huy động vốn chủ yếu đã và đang áp dụng nhưsau:
Trang 26- Tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn của các Tổ chức kinh tế, tài chính và cánhân, tiền gửi của các tổ chức tín dụng Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạncủa dân cư, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu.
Xác định được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động, NHNo thị xã TừSơn đã chú trọng các biện pháp nhằm tăng trưởng nguồn vốn như mở rộng mạnglưới, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khách hàng, linh hoạt điều hành lãi suất trongphạm vi cho phép nhất là trên địa bàn có cạnh tranh
Bảng 2.2: Vốn huy động của Ngân hàng Nông nghiệp
Thị xã Từ Sơn giai đoạn 2008 -2010
Đơn vị tính:Triệu đồng
quân
Tỷ trọng (%)
1 Tiền gửi TC và cá nhân 29.490 56.384 100.076 61.983 11,57
2 Tiền gửi các TCTD
3 Tiền gửi tiết kiệm 428.115 413.172 521.786 454.358 84,82
4 Kỳ phiếu, trái phiếu 3.159 25.630 29.005 19.265 3.59
% so với năm trước 154,69 107,45 131,41 131,18
(Nguồn báo cáo tổng kết NHNo thị xã Từ Sơn các năm 2008-2010)
Biểu đồ 2.3: Vốn huy động qua các năm 2008 - 2010
Vốn huy động năm 2008
tiền gửi của các tổ chức và cá nhân tiền gửi tiết kiệm
tiền gửi của các TCTD khác
kì phiếu, trái phiếu 6,39%
92,88%
0,04% 0,69%
Trang 27Vốn huy động năm 2009
Vốn huy động năm 2010
Số liệu Biểu đồ 2.3 và bảng cho thấy qua các năm từ 2008-2010 nguồn vốn huy động có mức tăng trưởng tương đối tốt, năm 2008 huy động được 460.944 triệuđồng, đến năm 2010 đã huy động được 650.872 triệu đồng tăng 70,6% so với năm
2008 Sự tăng lên của vốn huy động phù hợp với sự tăng lên của tổng nguồn Nó là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và thông thường thì đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất Trong đó:
Tiền gửi các doanh nghiệp, Tổ chức kinh tế và cá nhân mở tài khoản tạiNgân hàng tăng: năm 2008 chiếm tỷ trọng 6,39% trong vốn huy động, năm 2009chiếm 11,39% năm 2010 chiếm 15,38% Trong tổng tiền gửi thanh toán của tổ chức
tiền gửi của các tổ chức và cá nhân tiền gửi tiết kiệm
tiền gửi của các TCTD khác
kì phiếu, trái phiếu 11,39%
83,42%
0,02% 5,17%
tiền gửi của các tổ chức và cá nhân tiền gửi tiết kiệm
tiền gửi của các TCTD khác
kì phiếu, trái phiếu 0,001% 4,45% 15,37%
80,17%
Trang 28và cá nhân thì tiền gửi Kho bạc Nhà nước chiếm tỷ trọng tương đối lớn Đây lànguồn vốn huy động có lãi suất thấp, do đó đã góp phần rất quan trọng trong việc hạthấp lãi suất đầu vào Qua kết quả trên cho thấy NHNo thị xã Từ Sơn đã rất cố gắngtrong việc thu hút nguồn vốn này, có mối quan hệ chặt chẽ với kho bạc nên đã tạođiều kiện trong việc đáp ứng khối lượng tiền mặt lớn, chi trả nhanh chóng kịp thời.Tuy nhiên, nguồn vốn này không ổn định, NHNo thị xã Từ Sơn không kế hoạch hóatrước được.
Ngoài ra tiền gửi thanh toán của các tổ chức chức kinh tế và cá nhân cũngtăng đáng kể về số lượng tài khoản cũng như số dư tiền gửi, thu hút được một sốđơn vị thường xuyên có số dư tiền gửi thanh toán đạt được kết quả trên có nguyênnhân chủ quan do NHNo thị xã Từ Sơn đã áp dụng chính sách khách hàng đúngđắn, ứng dụng tin học vào thanh toán, mặc dù công tác thanh toán không phải làmục đích sinh lời chính nhưng nó lại tạo ra uy tín để mở rộng nguồn vốn làm cơ sởtăng trưởng tín dụng, tiết kiệm chi phí Sử dụng nguồn vốn này có nhiều lợi thế, lãisuất bình quân của loại tiền gửi này thấp, khách hàng chủ yếu gửi không kỳ hạnhoặc nếu gửi có kỳ hạn thì cũng là kỳ hạn ngắn theo vòng luân chuyển vốn của kinhdoanh Nhưng nguồn vốn này không được sử dụng vào mục đích dài hạn vì kháchhàng gửi vào, rút ra thường xuyên, NHNo thị xã Từ Sơn chỉ được sử dụng tối đa88%, còn 12% dự trữ đảm bảo thanh toán cho khách hàng khi họ có nhu cầu
Ưu điểm của huy động vốn qua tài khoản tiền gửi
- Khách hàng được sử dụng các dịch vụ Ngân hàng
- Rất thích hợp với việc áp dụng các công nghệ khoa học Ngân hàng hiện đại
- Thủ tục mở tài khoản đơn giản, giao dịch nhanh chóng thuận lợi
- Được hưởng lãi suất theo tiền gửi không kỳ hạn
- An toàn, bí mật
Nhược điểm của tài khoản tiền gửi: Hiện nay việc huy động vốn qua tàikhoản tiền gửi nói chung mới chỉ thực hiện có hiệu quả đối với tổ chức kinh tế vàdoanh nghiệp tư nhân còn đối với tài khoản tiền gửi cá nhân thì việc mở tài khoảntại Ngân hàng để hạch toán tất cả các khoản thu chi của cá nhân và sử dụng côngnghệ Ngân hàng còn rất hạn hẹp chưa trở thành thông lệ, tập quán, thói quen củadân cư Cụ thể tại NHNo thị xã Từ Sơn ch ỉ có các doanh nghiệp tư nhân mở tài
Trang 29khoản, chủ tài khoản sử dụng số tiền trên tài khoản chủ yếu là rút tiền mặt trực tiếp
từ Ngân hàng để chỉ tiêu, chỉ có một bộ phận rất nhỏ sử dụng UNC để trả cho ngườithụ hưởng Mặt khác từ tài khoản tiền gửi thanh toán, Ngân hàng chưa có đủ cơ sởvật chất kỹ thuật và môi trường để cung cấp cho khách hàng các dịch vụ Ngân hàngmột cách hoàn hảo toàn diện do đó chưa khuyến khích được nhiều người mở tàikhoản tiền gửi thanh toán
* Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động vốn truyền thống của
Ngân hàng được nhân dân quen dùng và trở thành tập quán của dân cư khi có nhucầu gửi tiền vào Ngân hàng để hưởng lãi hoặc tiết kiệm cho chi tiêu trong tương lai
Trong tổng nguồn vốn huy động thì tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ lệ cao nhất,đây là nguồn vốn ổn định hơn so với nguồn tiền gửi thanh toán Bằng nhiều biệnpháp huy động tiền gửi tiết kiệm như mở rộng mạng lưới tiết kiệm, tăng giờ giaodịch và các ngày nghỉ khi cần thiết với thái độ giao dịch hòa nhã vui lòng kháchđến, vừa lòng khách đi, tăng thời gian giao dịch, đảm bảo an toàn tuyệt đối và bímật cho khách hàng, tăng cường công tác tuyên truyền quảng cáo thông báo kịpthời các thay đổi về thể thức, lãi xuất tiết kiệm từng loại cho khách hàng biết để lựachọn (Xem biểu số 3)
Bảng 2.3: Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp
Tỷtrọng(%) Số tiền
Tỷtrọng(%)
Kỳ hạn dưới 12 T 373.105 87,15 343.038 83,03 391.732 75,08Kỳ hạn từ 12T đến24T 17.909 4,18 24.696 5,98 25.350 4,86
( Nguồn bảng cân đối kế toán NHNo thị xã Từ Sơn )
Từ số liệu biểu số 03 cho thấy nguồn huy động tiết kiệm tăng không đều
qua các năm, năm 2009 số dư tiền gửi tiết kiệm giảm so với năm 2008, năm 2010
số dư tiền gửi tiết kiệm tăng 26,37% so với năm 2009 Năm 2010 nguồn tiết kiệm tăng lớn là do Ngân hàng liên tục phát động các đợt tiết kiệm dự thưởng với lãi suất
Trang 30cao ngoài ra còn được tặng quà khuyến mại, khi hết hạn Ngân hàng tự động chuyển sang kỳ hạn mới tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng không phải đến Ngân hàng chuyển sổ
Như vậy NHNo thị xã Từ Sơn ngoài việc sử dụng biện pháp truyền thốngtrong huy động tiết kiệm, còn bổ sung nhiều nhân tố làm thay đổi về chất trong huyđộng tiền gửi tiết kiệm như sử dụng công cụ lãi suất, sử dụng chính sách kháchhàng, khuyến mại nhằm đa dạng hóa các loại tiền gửi tiết kiệm đáp ứng nhu cầungười gửi tiền để huy động tốt hơn nguồn vốn này
Ưu điểm của tiền gửi tiết kiệm:
- Là sản phẩm truyền thống của Ngân hàng trong huy động vốn được dân
cư quen dùng và tín nhiệm, thủ tục gửi, lĩnh tiền đơn giản dễ hiểu, việc hạch toántheo dõi và quản lý tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng cũng đơn giản
- Lãi suất của tiền gửi tiết kiệm thay đổi theo lãi suất của thị trường đảmbảo quyền lợi cho người gửi tiền, tiền gửi tiết kiệm được bảo đảm an toàn, bí mậttuyệt đối
- Tiền gửi tiết kiệm có nhiều loại kỳ hạn.,từ không kỳ hạn đến kỳ hạn 3tháng, 6 tháng đáp ứng tương đối với nhu cầu người gửi
- Được ủy quyền lĩnh ra, cầm cố hoặc thừa kế theo luật định
Nhược điểm của tiền gửi tiết kiệm :
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có lãi suất thấp nên chưa khuyến khíchđược người gửi tiền vào Ngân hàng
- Các loại hình tiết kiệm, mỗi lần gửi tiết kiệm có kỳ hạn Ngân hàng pháthành một sổ tiết kiệm có kỳ hạn giao cho khách hàng giữ Như vậy gây bất lợi cho
cả phía Ngân hàng cả phía khách hàng (Khách hàng phải bảo quản nhiều sổ tiếtkiệm, bảo quản và theo dõi không thuận lợi, Ngân hàng phải phát hành nhiều sổ,theo dõi và tính lãi nhiều món)
- Người gửi tiết kiệm không được sử dụng các dịch vụ Ngân hàng từ số tiền gửinày Sổ tiết kiệm không được mua bán, chuyển nhượng trên thị trường
* Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
NHNo thị xã Từ Sơn huy động tiền gửi dưới hình thức phát hành kỳ phiếu 3tháng, 6 tháng, 12 tháng phát hành thường xuyên để khách hàng lựa chọn nhằmmục đích huy động vốn trong dân cư trên địa bàn để cân đối vốn tại địa phương.Đây là hình thức huy động vốn linh hoạt nhằm giải quyết những nhu cầu tức thời,
Trang 31Ngân hàng căn cứ vào từng thời điểm để quyết định đưa ra hình thức huy động nàymột cách chủ động, có thể huy động vốn ngắn hạn hoặc trung và dài hạn Kỳ hạncủa loại này có tính ổn định cao do đó Ngân hàng có thể tăng được hệ số sử dụngvốn, tăng tỷ lệ đầu tư trung, dài hạn Kỳ phiếu có thể trả lãi truớc hoặc sau, vì vậyNgân hàng có thể sử dụng hình thức này để chủ động tính toán kế hoạch tài chính,kết quả kinh doanh của Ngân hàng Tuy nhiên, kỳ phiếu cũng có nhược điểm giốngnhư tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và lãi suất của loại vốn này thường cao nên ảnhhưởng đến kinh doanh của Ngân hàng.
* Tiền gửi của các tổ chức tín dụng
Do đặc thù của quan hệ thanh toán mà các tổ chức tín dụng thường mở tàikhoản tại các tổ chức tín dụng khác tạo thành tiền gửi của các tổ chức tín dụng.NHNo thị xã Từ Sơn loại tiền gửi này hầu như là rất ít
2.2.2 Thực trạng vốn huy động của NHNo thị xã Từ Sơn phân theo kỳ hạn vốn.
- Kỳ hạn của vốn huy động: Trong cơ cấu kỳ hạn vốn huy động của NHNothị xã Từ Sơn tại thời điểm 31/12/2010 thì tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệmkhông kỳ hạn đạt 100.663 triệu chiếm tỷ trọng 16,8 % Đối với tiền gửi có kỳ hạnngắn thấp hơn loại trừ 12 tháng trở lên, tại thời điểm 31/12/2010 đạt 426.801 triệuchiếm tỷ trọng 71,25 % Tổng vốn huy động
Tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đạt 71.536 tỷ đồng chiếm tỷ trọng11,9% trong tổng vốn huy động Điều này chứng tỏ chất lượng dịch vụ Ngân hàngngày càng được nâng cao, và mục đích người gửi tiền là để hưởng lợi nhuận songphải chú trọng khai thác nguồn vốn có kỳ hạn dài để chủ động trong kinh doanh
Bảng 2.4 Số liệu về phân loại vốn huy động theo kỳ hạn
Trang 32mở rộng đầu tư tín dụng, để chủ động đáp ứng nhu cầu thiếu vốn cho khách hàng.Sử dụng vốn là khâu nối tiếp quyết định hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.
Để đạt được mục tiêu sinh lời và an toàn, mỗi Ngân hàng phải xây dựngdanh mục nguồn vốn và tài sản sao cho đảm bảo sự phù hợp tương đối về quy mô,kết cấu, thời hạn và lãi suất Một cơ cấu thời hạn của nguồn vốn được xem là tíchcực khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Đảm bảo khả năng thanh toán cần thiết
- Sự phù hợp về độ nhạy cảm với lãi suất của nguồn vốn và tài sản
- Sự linh hoạt trong cơ cấu để có thể điều chỉnh theo hướng có lợi cho kết quả kinh doanh bằng việc có thể khai thác cơ hội hoặc tránh rủi ro có thể có Nguồnvốn ngắn hạn (Lãi suất thấp) chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn có lợi cho kinh doanh nhưng khi lãi xuất thay đổi theo chiều hướng tăng sẽ rất dễ dẫn đến rủi ro
Bảng 2.5 : Cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn Ngân hàng
Nông nghiệp thị xã Từ Sơn
Đơn vị : Triệu đồng