Sự phát triển loại hình doanh nghiệp này từ lâu được đánh giá là thị trườngquan trọng cho việc nâng cao và tăng trưởng hoạt động tín dụng của ngân hàng.Với vai trò của mình, tín dụng ngâ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo hiện nay, hệthống ngân hàng thương mại đã có những đóng góp vô cùng quan trọng để thúcđẩy nền kinh tế phát triển, đẩy lùi lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền Khi nềnkinh tế càng phát triển mạnh thì nhu cầu vốn rất lớn, bao gồm cả ngắn, trung vàdài hạn Tín dụng ngân hàng đã tạo điều kiện cho các chủ thể đầu tư phát triểnsản xuất kinh doanh, từ đó tăng trưởng kinh tế vững mạnh, từng bước hội nhậpvới khu vực và thế giới
Cùng với sự trưởng thành và lớn mạnh của NHĐT&PT Việt Nam,NHĐT&PT Điện Biên cũng đã hình dung được vai trò to lớn của mình trongviệc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Mặc dù là một tỉnh miền núi còn gặpnhiều khó khăn do địa bàn chia cắt, trình độ dân trí thấp, kinh tế xã hội chưa pháttriển song không vì thế mà việc tuyên truyền về những chính sách lớn của Đảng
và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội bị hạn chế
Trong những năm vừa qua, số lượng khách hàng có quan hệ vớiNHĐT&PT Điện biên ngày càng tăng, đặc biệt khách hàng là Doanh nghiệp xâylắp Sự phát triển loại hình doanh nghiệp này từ lâu được đánh giá là thị trườngquan trọng cho việc nâng cao và tăng trưởng hoạt động tín dụng của ngân hàng.Với vai trò của mình, tín dụng ngân hàng có tác động tích cực trong việc đáp ứngnhu cầu bức thiết về vốn giúp Doanh nghiệp xây lắp đổi mới trang thiết bị, muanguyên vật liệu, mua sắm máy móc, thiết bị thi công góp phần tạo ra bộ mặtmới cho tỉnh Điện Biên Chính vì vậy, từ khi thành lập cho đến nay, NHĐT&PTĐiện Biên (NHĐT&PT Lai Châu cũ) luôn coi việc nâng cao chất lượng tín dụngvới khách hàng là Doanh nghiệp xây lắp là nhiệm vụ hết sức quan trọng vì nóquyết định đến sự phát triển của ngân hàng Tuy nhiên, việc nâng cao chất lượngtín dụng đối với Doanh nghiệp xây lắp gặp rất nhiều khó khăn do đặc điểm riêngbiệt của loại hình doanh nghiệp này và do cơ chế quản lý của ngân hàng Vậy
Trang 2câu hỏi đặt ra ở đây là, làm thế nào để nâng cao chất lượng tín dụng đối vớiDoanh nghiệp xây lắp Là người trực tiếp thực tập tại NHĐT&PT Điện Biên, emthấy được sự cần thiết phải có những biện pháp thiết thực và cụ thể cho công tác
này Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng tín dụng đối
với Doanh nghiệp xây lắp tại Chi nhánh NHĐT&PT Điện Biên” cho chuyên
đề của mình
Ngoài mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề gồm ba phần chính, đó là:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp xây lắp tại NHĐT&PT Điện Biên
- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp xây lắp tại NHĐT&PT Điện Biên
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song cũng không thể tránh khỏi những khiếmkhuyết trong chuyên đề của mình Em xin gửi lời cảm ơn tới giảng viên hướngdẫn TS Phan Thị Thu Hà và NHĐT&PT Điện Biên (cụ thể là phòng Tín dụng –nơi em thực tập) đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành bài chuyên đềmột cách tốt nhất
Điện Biên, tháng 4 năm 2006
Sinh viên
Phạm Thị Nha Trang
Trang 3CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm, các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nềnkinh tế Tuỳ theo sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống tài chính của mỗiquốc gia, ngân hàng bao gồm nhiều hình thức khác nhau như ngân hàng thươngmại quốc doanh, ngân hàng thương mại tư nhân, ngân hàng thương mại cổ phần,ngân hàng thương mại liên doanh hoặc chi nhánh ngân hàng thương mại nướcngoài
1.1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngânhàng Đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lựcthúc đẩy phát triển kinh tế
Các nhà nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho rằng nghề ngânhàng đã xuất hiện thời Trung cổ trên cơ sở của sự phát triển và lưu thông hànghóa Các thương nhân buôn bán, các lãnh chúa giàu có có khối lượng tiền lớn vàxuất hiện nhu cầu cất giữ an toàn Và những người giàu có, các thợ vàng đã đóngvai trò của người giữ hộ Nhưng thời gian sau nhận thấy được nhu cầu chi trả hộ,nhu cầu về vốn của các thương nhân ngày càng cao trong khi đó mình lại giữmột khối lượng tiền lớn cho nên những người làm nghề giữ hộ đã đem cho vay
và lấy lãi Mặt khác để thu hút lượng tiền gửi ngày càng nhiều, các nhà giữ hộtiền thay đổi từ hình thức thu phí sang hình thức trả lãi cho người gửi tiền Bằngcách cung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càngnhiều tiền gửi, là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi suất Cứ như vậy với sự
Trang 4phát triển của kinh tế và công nghệ, xuất hiện các tổ chức thực hiện các hoạtđộng như: huy động vốn, cho vay, trung gian thanh toán - lúc đó ngân hàng thực
sự ra đời
Cùng với sự phát triển của kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã
có những bước tiến rất nhanh Và cho tới ngày nay, ngân hàng vẫn được khẳngđịnh là loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Các ngân hàng có thểđược định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiệntrong nền kinh tế, do đó có một số khái niệm về ngân hàng thương mại (NHTM)
Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên
phương diện các dịch vụ tài chính mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là các tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế" Sự đa
dạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc hình thành cácngân hàng đa năng như ngày nay
Hoặc "Ngân hàng thương mại là đơn vị kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với
những hoạt động chủ yếu và thường xuyên nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng tiền đó để cho vay và làm phương tiện thanh toán”.
Luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
lại định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng với nhiệm vụ thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM
Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập vàcung cấp các dịch vụ quản lý cho khách hàng, đồng thời nó cũng thực hiện nhiềuvai trò khác trong nền kinh tế Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộcvào năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu,
Trang 5thực hiện dịch vụ đó một cách có hiệu quả Các dịch vụ của ngân hàng được thểhiện thông qua các hoạt động cơ bản của nó.
a) Nghiệp vụ huy động vốn
Nguồn vốn của ngân hàng tập trung chủ yếu vào 3 nhóm: tiền gửi, tiền vay
và vốn tự có Nguồn quan trọng nhất là các khoản tiền gửi thanh toán và tiếtkiệm của khách hàng
- Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất củaNHTM Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động nghiệp vụ đầu tiên là mở cáckhoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngânhàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư Để gia tăngtiền gửi trong môi trường cạnh tranh, các ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thứchuy động khác nhau:
+ Tiền gửi thanh toán – là tiền của các doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vàongân hàng để nhờ giữ và thanh toán hộ
+ Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
+ Tiền gửi của các ngân hàng khác
- Vốn vay: Vào những giai đoạn cụ thể, các ngân hàng phải đi vay mượnthêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế
+ Phát hành giấy tờ có giá: kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu
+ Vay NHTW
+ Vay các tổ chức tín dụng khác
- Vốn chủ chủ sở hữu: Để đảm bảo hoạt động, các ngân hàng phải có mộtlượng vốn nhất định, có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhàcửa cho ngân hàng Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất
sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thịtrường
Trang 6+ Nguồn vốn hình thành ban đầu: có thể là vốn của nhà nước, vốn do các
cổ đông tham gia đóng góp, vốn do các bên liên doanh góp, vốn sở hữu tư nhân
+ Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: nguồn từ lợi nhuận,nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm,
+ Các quỹ: quỹ dự phòng tổn thất, quỹ thăng dư
b) Nghiệp vụ sử dụng vốn
Hoạt động chính của NHTM là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợinhuận Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhaucủa ngân hàng nhưng phải đảm bảo an toàn và sinh lời
- Nghiệp vụ cho vay (nghiệp vụ tín dụng): Là nghiệp vụ tạo khả năng sinhlời chính trong hoạt động của NHTM, thông qua các hình thức phổ biến sau:
+ Chiết khấu thương phiếu
+ Thấu chi
+ Cho vay trực tiếp từng lần
+ Cho vay theo hạn mức
+ Cho vay luân chuyển
+ Cho vay trả góp
+ Cho vay gián tiếp
Trang 7c) Các nghiệp vụ khác
Là các nghiệp vụ và các hoạt động mà ngân hàng hoàn thành các dịch vụcho khách hàng, qua đó ngân hàng nhận được khoản thu nhập dưới dạng hoahồng Gồm các nghiệp vụ như sau:
+ Hoạt động thanh toán: Thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thốngngân hàng tạo ra nhiều lợi nhuận trong thanh toán, giảm chi phí, giảm rủi ro khiđem theo nhiều tiền mặt trong người đồng thời tận dụng được khối lượng tiềnnhàn rỗi đem đầu tư mới
+ Hoạt động mua bán chuyển đổi ngoại tệ
+ Hoạt động bảo lãnh
+ Bảo quản vật có giá
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện nhiều hoạt động khác trên thị trườngnhư kinh doanh vàng, bạc, đá quý; dịch vụ tư vấn, dịch vụ cầm đồ, cho thuê kétsắt Các nghiệp vụ này giúp NHTM thu được những khoản lợi nhuận đáng kể.Đặc biệt là trong xu thế ngân hàng hiện đại ngày nay, các nghiệp vụ này đang rấtphát triển
Với ý nghĩa như trên, chúng ta có thể coi hoạt động ngân hàng của NHTMtrong nền kính tế thị trường là thiết lập, phát triển, hoàn thiện các mối quan hệvới khách hàng thông qua các sản phẩm, dịch vụ cung ứng cho mọi khách hàng
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT
LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.2.1 Khái niệm về tín dụng và chất lượng tín dụng ngân hàng
1.2.1.1 Khái niệm về tín dụng, đặc diểm của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ Khi một chủ thể kinh tế cầnmột lượng hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có hoặc
Trang 8cầu Có 2 cách vay mượn: vay chính loại hàng hóa đang có nhu cầu hoặc vaytiền để mua loại hàng hóa đó Quan hệ vay mượn như vậy gọi là quan hệ tíndụng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn
đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai Như vậy, có thể hiểu
“ Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”.
Tuy nhiên, khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng (hoặccác trung gian khác) – tín dụng ngân hàng – thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàngcho vay Như vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn lẫn nhau theonguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên làngân hàng và một bên là các đơn vị kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
và dân cư
Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai tròtrung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu vềvốn Khác với hình thức tín dụng trực tiếp, nguồn vốn của tín dụng ngân hàng lànguồn vốn huy động của xã hội với khối lượng cũng như thời hạn và mục đích
sử dụng Vì nguồn vốn huy động có tính chất nhàn rỗi tạm thời nên tín dụngngân hàng chủ yếu đáp ứng các nhu cầu vốn gắn hạn Tín dụng ngân hàng có vaitrò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nhu cầu kinh doanh của cácdoanh nghiệp, góp phần đẩy nhanh nhịp độ tích tụ, tập trung vốn và tăng cườngkhả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Tín dụng ngân hàng được sử dụngnhư công cụ để phát triển các ngành kinh tế chiến lược theo yêu cầu của Chính
phủ
Tín dụng ngân hàng mang một số đặc điểm sau:
Trang 9 Mục đích, đối tượng, thời hạn khoản vốn vay
- Mục đích: Đáp ứng nhu cầu vốn để tài trợ cho tài sản lưu động củadoanh nghiệp, đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, mua sắm trang thiết bị,cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ của doanh nghiệp
- Đối tượng: Ngân hàng cho vay đối với nhà nước để tài trợ cho nhu cầuchi tiêu thường xuyên của nhà nước Ngân hàng cho vay đối với các ngân hàng
và các tổ chức tài chính khác nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản Ngân hàngcho vay đối với các doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn tăng thêm cho sảnxuất kinh doanh Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng đông nhất của cácNHTM, phần lớn các khoản cho vay này có thể chấp hoặc cầm cố tài sản Ngânhàng cho vay đối với các cá nhân, hộ gia đình
- Thời hạn cho vay: Là khoảng thời hạn tính từ khi khách hàng bắt đầunhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và có lãi vốn vay đã được thỏathuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng
Hình thức tín dụng phong phú
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, góp phần phântán rủi ro, đồng thời để tăng sức cạnh tranh trên thị trường tín dụng, các NHTMkhông ngừng phát triển các hình thức cho vay, như: nghiệp vụ thấu chi, nghiệp
vụ chiết khấu, nghiệp vụ cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức
Là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động của NHTM
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chính của NHTM, mộthoạt động tạo ra phần lớn thu nhập cho ngân hàng, một hoạt động rất phức tạp vàchứa đựng nhiều rủi ro Rủi ro tín dụng xảy ra khi ngân hàng không thu được cảgốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi khoản vay khôngđúng kỳ hạn Từ đó rất dễ mang lại những tổn thất lớn cho ngân hàng và có thểlàm cho ngân hàng đi đến chỗ phá sản Vấn đề quan trọng ở đây là làm sao nhậnbiết được rủi ro, từ đó có những giải pháp để đối phó kịp thời, giảm thiểu rủi ro
Trang 10nhằm bảo toàn vốn cho ngân hàng cũng như nâng cao khả năng sinh lời từ hoạtđộng này.
1.2.1.2 Quan niệm về chất lượng tín dụng
Trong bất cứ nền kinh tế cạnh tranh nào, doanh nghiệp muốn đứng vữngtrong hoạt động kinh doanh thì việc cải thiện chất lượng là điều tất yếu Trong 3yếu tố: chất lượng, giá cả và lượng bán thì chất lượng là yếu tố quan trọng nhất,bởi vì khi chất lượng được nâng lên, giá thành sẽ hạ, đảm bảo thoả mãn chokhách hàng cả về chất lượng, giá cả, tạo điều kiện nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thịtrường
Với nhiều cách đề cập về chất lượng, nhiều nhà kinh tế, nhiều nhà kinh
doanh đã nói đến chất lượng bằng nhiều cách khác nhau, chất lượng là: “sự phù
hợp với mục đích hoặc sự sử dung”, là “ một trình độ dự kiến về độ đồng đều và
độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thị trường” hoặc “chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của
người sử dụng” Với cách đề cập như vậy, có thể hiểu: “Chất lượng tín dụng là
sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng”.
Qua khái niệm có thể thấy, khi xem xét chất lượng tín dụng cần tính đến 3nhân tố, đó là: NHTM, khách hàng và nền kinh tế
- Thứ nhất, đối với NHTM thì chất lượng tín dụng được thể hiện ở phạm
vị, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng
và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúnghạn và có lãi
- Thứ hai, đối với khách hàng thì khoản tín dụng có chất lượng là phải
phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủtục, thời gian đơn giản, thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫnđảm bảo được nguyên tắc tín dụng
Trang 11- Thứ ba, đối với nền kinh tế, khoản tín dụng có chất lượng là khoản tín
dụng phải hỗ trợ cho hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phàn giảiquyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩyquá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăngtrưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế
Như vậy, chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (thể hiện quacác chỉ tiêu có thể tính toán như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn ) vừa trừutượng (thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế ).Chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan (khả năng quản lý,trình độ cán bộ, sự tuân thủ quy trình nghiệp vụ ) và khách quan (sự thay đổicủa môi trường bên ngoài, sự cố ý của khách hàng ) Chất lượng tín dụng là mộtchỉ tiêu tổng hợp nó phản ánh mức độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi nhucầu môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quátrình cạnh tranh để tồn tại và được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được kháchhàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện; mức độ an toàn của vốn tín dụng; chi phítổng thể về lãi suất, chi phí nghiệp vụ
1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM,phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng Trong quản lý tín dụng, các nhàquản lý kinh tế thường phân chia theo các tiêu thức sau:
a) Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: Là hình thức tín dụng có thời hạn hợp đồng ngắnthường là dưới 12 tháng và có thể được chia thành các khoảng thời gian là 3tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng Nhu cầu vốn ngắn hạn của nền kinh tế xuấtphát từ những nhu cầu trong chu kỳ sản xuất kinh doanh để mua nguyên vật liệu,trả lương, dự trữ hàng hoá Nói chung tín dụng ngắn hạn đóng vai trò quan trọngtrong vốn lưu động của doanh nghiệp
Trang 12- Tín dụng trung hạn: Là hình thức tín dụng có thời hạn hợp đồng từ trên 1năm đến 5 năm Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tàisản cố định hoặc đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,xây dựng các dự án mà có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và tối đa có thểlên tới 20 đên 40 năm Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đápứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vậntải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới
Việc phân chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngânhàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụngcũng như khả năng hoàn trả của khách hàng
b) Căn cứ vào hình thức tài trợ
- Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết kháchhàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định
- Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước cho khách hàngtương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sởhữu một thương phiếu chưa đến hạn
- Cho thuê: Là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuêtheo những thoả thuận nhất định Sau thời gian nhất định khách hàng phải trả cảgốc và lãi cho ngân hàng
- Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghiệp vụ tài chính
hộ khách hàng của mình Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng chokhách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi
c) Căn cứ vào mức độ đảm bảo
Trang 13- Tín dụng có đảm bảo: Là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc ngườibảo lãnh đứng ra đảm bảo cho khoản nợ.
- Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức tín dụng không có tìa sản đảmbảo hoặc người bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay
d) Căn cứ vào mức độ rủi ro
- Tín dụng lành mạnh: Là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
- Tín dụng có vấn đề: Là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnhnhư khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hànggặp thiên tai
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Là khoản nợ đã quá hạn với thời hạnngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn
- Nợ quá hạn khó đòi: Là các khoản nợ quá hạn lâu, khả năng trả nợ rấtkém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì
Ngoài ra còn một số hình thức phân loại tín dụng khác như căn cứ vào đốitượng tín dụng, căn cứ vào mục đích sử dụng, căn cứ vào ngành kinh tế
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường và chỉ tiêu
đánh giá chất lượng tín dụng
1.2.3.1 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Vốn có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xãhội, vì nó là nhân tố không thể thiếu để ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ,phát triển công nghệ và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Cùng với sự pháttriển nhanh chóng của khoa học công nghệ, nhu cầu vốn cho đầu tư, xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật, phát triển sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế ngày cànglớn Nguồn vốn đáp ứng nhu cầu này có thể khai thác từ nhiều kênh: kênh dẫnvốn từ ngân sách nhà nước, tín dụng ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, từ
cá nhân trong đó tín dụng ngân hàng giữ vai trò đặc biệt quan trọng
Trang 14Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của tín dụng ngân hàng thể hiện ởnhững mặt sau:
* Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn đầu
tư cho sản xuất, lưu thông hàng hóa và làm phát triển tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng đã trở thành một kênhdẫn vốn một cách kịp thời cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thểkinh tế trong xã hội Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy mạnh tốc độ sản xuấtcũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm Với một hệ thống các hình thức tín dụng đadạng, ngân hàng không những thoả mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế
mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chiphí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguốn vốn cho các chủ thể kinh doanh.Bên cạnh đó, ngân hàng không ngừng mở rộng và nâng cao hiệu quả các hìnhthức tín dụng, từ đó sẽ tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thựchiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, giúp các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơhội đầu tư và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động rất phức tạp và chứađựng nhiều rủi ro Do đó các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theocác điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro, buộc những người đi vay phải quan tâmthực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổchức cung ứng tín dụng
* Tín dụng ngân hàng góp phần giúp các chủ thể kinh tế tăng cường quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả.
Bản chất của tín dụng là hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gianqui định Do vậy, hoạt động tín dụng ngân hàng phản ánh phần nào kết quả sảnxuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế, thúc đẩy các chủ thể kinh tế sử dụngvốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay của vốn, tạo lợi nhuận cao
Trang 15Các chủ thể kinh tế khi sử dụng vốn vay ngân hàng phải thực hiện đầy đủcam kết với ngân hàng, để đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, có khả nănghoàn trả được gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn Chính vì vậy, các chủ thể kinh
tế phải sử dụng rất nhiều biện pháp tăng cường chế độ quản lý hạch toán, chế độquản lý tài chính, chế độ kế toán Còn về phía ngân hàng, trước khi cho vayphải xem xét, đánh giá kỹ lưỡng phương án sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp và ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp có phương án khảthi, cân đối được nguồn vốn để tài trợ đúng hạn cho ngân hàng Trong thời hạnthực hiện hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ thực hiện quá trình giám sát, kiểm tra,kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay, thông qua đó ngân hàng sẽ giám sátchặt chẽ việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải sửdụng vốn đúng mục đích
* Tín dụng ngân hàng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô.
Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởngkinh tế và tạo công ăn việc làm Việc đảm bảo một cách hài hoà các mục tiêuphụ thuộc vào khối lượng và cơ cấu tín dụng, phụ thuộc vào các điều kiện tíndụng như lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mởrộng tín dụng được quy định trong chính sách tín dụng từng thời kỳ Như vậy,thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng như lãi suất, điềukiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được quyđịnh trong chính sách tín dụng từng thời kỳ, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tíndụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó ảnh hưởngđến tổng cầu của nền kinh tế Sự thay đổi của tổng cầu dựa trên tác động củachính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại với tổng cung và các điều kiện sảnxuất khác Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác độngcủa chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần thiết
Trang 16* Tín dụng ngân hàng tác động vào xu hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh doanh theo hướng CNH – HĐH.
Hiện nay, Nhà nước ta đang đẩy nhanh tiến độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
về công nghiệp và dịch vụ Trong điều kiện hạn chế về khả năng huy động vốn
từ ngân sách, bị động với nguồn vốn bên ngoài thì phát huy nội lực bằng việchuy động vốn tại chỗ để đầu tư cho vay thông qua hệ thống tín dụng ngân hàng
có ý nghĩa vô cùng to lớn để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Những doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực, ngành nghề, những vùng
mà Chính phủ khuyến khích phát triển thì các NHTM sẽ tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp này, chẳng hạn như: lãi suất cho vay ưu đãi, nới lỏng hạn mức tíndụng, đơn giản thủ tục vay Chính sự ưu đãi này, đã giúp các doanh nghiệp đẩynhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh doanh, đưa đất nước phát triểntheo hướng CNH – HĐH
* Tín dụng ngân hàng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội.
Các chính sách xã hội được đáp ứng bằng nguồn tài trợ không hoàn lại từNSNN Song phương thức tài trợ không hoàn lại thường bị hạn chế về quy mô vàthiếu hiệu quả Để khắc phục hạn chế này, phương thức tài trợ không hoàn lại có
xu hướng bị thay thế bởi phương thức tài trợ hoàn lại của tín dụng để nhằm duytrì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng Thôngqua phương thức tài trợ này, các mục tiêu chính sách xã hội được đáp ứng mộtcách chủ động và hiệu quả hơn Bởi vì, để có đảm bảo hoàn trả vốn đúng thờihạn, các đối tượng chính sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn,từng bước cải thiện kỹ năng lao động Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho sự ổnđịnh tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có thể tồntại độc lập với nguồn vốn tài trợ
Trang 17Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc phát triểnkinh tế thị trường Và nếu tín dụng ngân hàng thực hiện tốt các vai trò trên thìđược coi là có chất lượng tín dụng.
1.2.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng
Do chất lượng tín dụng là chỉ tiêu mang tính định lượng nên để đánh giáchất lượng tín dụng ngân hàng có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
a) Chỉ tiêu nợ quá hạn
Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó khả năng hoàn trả củangười vay là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng Khimột khoản vay không được hoàn trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý
do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc tín dụng quan trọng nhất của ngânhàng và nó bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường.Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề, có khảnăng mất vốn có nghĩa là tính an toàn thấp
- Nợ cần chú ý: Là các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày, các khoản nợ cơ
cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn đã cơ cấu lại và các khoản nợ kháctheo quy định
Trang 18- Nợ dưới tiêu chuẩn: Là các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày, các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấulại, các khoản nợ khác theo quy định
- Nợ nghi ngờ: Là các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo quyđịnh cơ cấu lại, các khoản nợ khác theo quy định
- Nợ quá hạn có khả năng mất vốn: Là các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, các khoản nợ đã cơ cấu lại thờihạn trả nợ trên 180 ngày theo thời hạn cơ cấu lại, các khoản nợ khác theo quyđịnh Chỉ tiêu đánh giá:
b) Tỷ lệ thu hồi nợ do bán tài sản của người vay
Nếu xét về bản chất tín dụng thì nguồn trả nợ cho ngân hàng của ngườivay về nguyên tắc là được phân tích ra từ phần thu nhậo do hoạt động sản xuấtkinh doanh của khách hàng, nó bao gồm các chi phí lao động vật hóa và phần giátrị mới sáng tạo ra Tuy nhiên, có trường hợp do bán sử dụng vốn kém hiệu quả,
bị mất vốn, nên người vay phải bán tài sản để trả nợ ngân hàng Số tiền do bán
Trang 19tài sản có thể đủ để trả hết nợ món vay, nhưng cũng có thể chỉ trả được một phần
nợ vay, song trong trường hợp nào đi chăng nữa thì vẫn có thể đánh giá là chấtlượng lượng tín dụng thấp
Tỷ lệ thanh toán nợ do Số tiền thu nợ do khách hàng bán tài sản bán tài sản của người vay Tổng doanh số thu nợ
Tỷ lệ này được các NHTM tính theo định kỳ (tháng, quý, năm), số thu dobán tài sản có thể thống kê theo báo cáo tín dụng Tuy nhiên, đây là chỉ tiêu rấtkhó đánh giá và số tài sản mà NHTM đang quản lý có tới hơn 1 nửa là tài sảnkhó bán
d) Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Đây là chỉ tiêu thường được các NHTM tính toán hàng năm để đánh giákhả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứngnhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa 3 lợi ích: Nhà nước, khách hàng
và ngân hàng Công thức vòng quay vốn tín dụng được xác định như sau:
Doanh số thu nợ
Vòng quay của vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân
Trang 20Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng (thường là 1năm) Hệ số này càng tăng, phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng càngtốt, chất lượng tín dụng càng cao.
e) Chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
Lợi nhuận là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triểncủa ngân hàng, do đó không thể bỏ qua chỉ tiêu này khi đánh giá chất lượng tíndụng Chất lượng tín dụng không thể nói là cao nếu lợi nhuận từ hoạt động này
mang lại thấp
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
- Chỉ tiêu 1:
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng dư nợ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ
lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng mang lại càng lớn,đồng thời nó phản ánh chất lượng tín dụng tốt
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
- Chỉ tiêu 2:
Tổng lợi nhuận của ngân hàng
Chỉ tiêu này nói lên mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng vào toàn bộkết quả kinh doanh của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận từ hoạtđộng tín dụng mang lại càng lớn, đồng thời nó phản ánh chất lượng tín dụng tốt
f) Cơ cấu tín dụng
- Doanh số cho vay/ Tổng doanh số cho vay
- Doanh số cho vay/ Tổng doanh số thu nợ
- Dư nợ/ Tổng dư nợ
- Doanh số cho vay: là tổng số tiền đã cho vay của ngân hàng đối với các doanh
nghiệp trong 1 thời kỳ Doanh số này càng cao càng chứng tỏ quy mô đang tăngtrưởng, đó là 1 dấu hiệu rất tốt cho ngân hàng
Trang 21- Doanh số thu nợ: là số tiền ngân hàng thu nợ của các doanh nghiệp trong 1 thời
kỳ Ngân hàng chỉ có thể có được doanh só thu nợ cao nếu họ cho vay đượcnhiều và đó là các khoản tín dụng có chất lượng tốt
- Dư nợ tín dụng: là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh số tiền mà khách hàng còn
vay ngân hàng tính đến 1 thời điểm cụ thể nào đó Chỉ tiêu này mà lớn, chứng tỏngân hàng cho vay đối với các doanh nghiệp (doanh nghiệp xây lắp) nhiều
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ: là tốc độ phản ánh mức độ cho vay là nhanh hay
chậm của ngân hàng; được tính bằng cách lấy dư nợ năm sau trừ đi dư nợ nămtrước chia cho dư nợ năm trước Nếu tỷ lệ này là dương có thể kết luận rằng thờiđiểm sau đã có sự mở rộng hoạt động tín dụng so với thời điểm trước - tức là cóchất lượng tín dụng
Nói chung, các ngân hàng đều mong muốn có được các tỷ lệ này cao vìhoạt động tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập lớn cho ngân hàng Mỗi ngânhàng tuỳ theo hoạt động của mình có kết cấu tài sản khác nhau mà tỷ lệ này khácnhau
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng và mang lại lợi nhuận chongân hàng, chiếm tới khoảng 70% lợi nhuận của ngân hàng Trong thời gian gầnđây, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã ảnh hưởng xấu tới chất lượng củakhoản vay này Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng chủ yếu tậptrung vào các nhân tố sau:
1.3.1 Từ môi trường kinh doanh
* Môi trường kinh tế
Một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộngquy mô hoạt động của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt đọng tín dụng củangân hàng phát triển, các khoản tín dụng sẽ có chất lượng cao hơn Môi trường
Trang 22kinh tế thuận lợi cũng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nhiệp làm ăn có hiệu quả.Khi làm ăn thuận lợi doanh nghiệp cần nhiều vốn, do vậy hoạt động cho vay củangân hàng sẽ tăng lên.
Ngược lại, trong thời kỳ đình trệ sản xuất – kinh doanh bị thu hẹp, hoạtđộng tín dụng gặp nhiều khó khăn trên tất cả các lĩnh vực Nhu cầu vốn tín dụnggiảm trong thời kỳ này và nếu vốn tín dụng đã được thực hiện cũng khó có thể sửdụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Chẳng hạn, khi lạm phátcao, lãi suất thực sẽ giảm xuống, nếu ngân hàng không thực hiện cân đối giữacác loại nguồn và sử dụng nguồn nhạy cảm với lãi suất thì có thể khoản cho vay
sẽ không đem lại kết quả như mong muốn Cũng có thể những biến động về tỷgiá hoặc biến động về thị trường làm chủ đầu tư không kịp đối phó dẫn đến thukhông đủ bù chi Đó là một trong rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến giảm khảnăng trả nợ cho ngân hàng, làm giảm chất lượng tín dụng của ngân hàng
* Môi trường pháp lý
Mỗi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinhdoanh nhưng phải đảm bảo theo khuân khổ pháp luật Hoạt động cho vay củangân hàng cũng không ngoại lệ, nó cũng phải tuân thủ theo những quy định củaNHNN, luật các tổ chức tín dụng Nếu môi trường pháp lý mà đồng bộ, đầy đủ,thống nhất, ổn định sẽ tác động mạnh tới chất lượng tín dụng Bởi vì, một mặt nógiúp người vay vốn cũng như ngân hàng dễ dàng trong giao dịch và tránh sự lợidụng khe hở của những đối tượng làm ăn không chân chính Mặt khác, nó giúpngân hàng và người vay vốn đưa ra cá chính sách đầu tư vào một ngành nào đó
mà không sợ bị mất vốn do quy chế thay đổi
Tuy nhiên, khi những văn bản, quy định pháp luật không rõ ràng, đồng bộthì rất khó khăn cho ngân hàng trong hoạt động cho vay đồng thời cũng gây khókhăn cho các doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới quy mô vay vốn và hoạt độngcho vay của ngân hàng
Trang 23* Môi trường tự nhiên
Điều kiện tự nhiên diễn ra không thuận lợi, chẳng hạn như: lũ lụt, dịchcúm gia cầm, hạn hán sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả sản xuất kinh doanh củangười vay vốn không chỉ đối với những ngành có liên quan đến nông nghiệp,ngư nghiệp mà còn ảnh hưởng xấu đến các ngành xây dựng khi đang thi côngcông trình Vì thế, việc đầu tư vào những ngành này có thể dẫn đến những rủi ro,làm ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ ngân hàng, làm ảnh hưởng xấu đến chấtlượng tín dụng
* Môi trường chính trị – xã hội
Môi trường chính trị - xã hội ổn định là 1 điều kiện vô cùng quan trọngtrong việc tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư Do vậy, một môi trường chính trị -
xã hội ổn định sẽ là cơ sở rất tốt cho hoạt động tín dụng của ngân hàng Ngượclại khi tình hình chính trị - xã hội không ổn định, gây lên tình trạng mất lòng tinvào việc đầu tư, không những hạn chế những khoản đầu tư mới mà còn tác độngkhông tốt tới những khoản vay cũ thông qua những ảnh hưởng của nó đến hoạtđộng của các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng, dẫn đến chất lượng tín dụnggiảm
1.3.2 Từ phía khách hàng
Trên thực tế, hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kì doanh nghiệp nàocũng chứa đựng những rủi ro từ khâu sản xuất đến lưu thông, tiêu thụ sản phẩm.Trong quan hệ tín dụng, doanh nghiệp là những người được ngân hàng tín nhiệmtrao quyền sử dụng vốn Vì vậy, rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh củakhách hàng cũng chính là rủi ro trong hoạt động của ngân hàng Điều này buộcchúng ta phải xem xét các vấn đề của khách hàng có liên quan tới chất lượng tíndụng của khách hàng Những vấn đề đó là:
- Các khách hàng có năng lực tài chính yếu kém, kinh doanh thua lỗ, nợnần chồng chất, dẫn đến việc không trả được nợ ngân hàng
Trang 24- Người vay sử dụng vốn vay sai mục đích trong hợp đồng đã cam kết vớingân hàng
- Người vay lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính do yếu tố chủ quanhoặc khách quan, dẫn đến thiếu hoặc không có khả năng thanh toán
- Các tài sản đảm bảo tín dụng bị giảm giá, khó phát mại hoặc khôngtương đương với mức vốn thu hồi
- Trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của các doanh nghiệp còn yếukém cho nên không thích ứng được với sự thay đổi của thị trường dẫn đén tìnhtrạng sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được, doanh nghiệp lâm vào tình trạng
có nguy cơ bị phá sản, không trả được nợ vay
- Do khách hàng cố ý lừa gạt ngân hàng Thực tế, nhiều khách hàng vìmuốn lao vào những cuộc kinh doanh đầy mạo hiểm, hoặc vì muốn sử dụng tiềnvay phục vụ riêng cho lợi ích cá nhân nên đã đưa ra những phương án kinhdoanh giả nhằm chiếm dụng vốn của ngân hàng Do đó đã đẩy ngân hàng rơi vàotình trạng nguy hiểm và ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng bất cứ lúc nào
- Do khách hàng không thường xuyên cung cấp thông tin đầy đủ, chínhxác cho ngân hàng
1.3.3 Từ phía ngân hàng
* Chính sách tín dụng
Mỗi một NHTM đều xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêngdưới nhiều hình thức khác nhau Chính sách tín dụng là một văn bản đưa ranhững triết lý và khái niệm cơ bản trong hoạt động cho vay, và là cơ sở để hìnhthành nên các thủ tục cho vay Do đó, chính sách tín dụng có tầm quan trọng đặcbiệt đối với sự phát triển của một NHTM
Một chính sách tín dụng được đánh giá là tốt là phải vạch ra cho cán bộ tíndụng phương hướng hoạt động và một khung tham chiếu rõ ràng để làm căn cứ
để xem xét các nhu cầu vay vốn Và chính sách tín dụng phải phù hợp thì mới
Trang 25thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo được khả năng sinh lời của tín dụng,phân tán rủi ro, tuân thủ chấp hành đúng pháp luật.
Do vậy, ta có thể hiểu rằng chất lượng tín dụng của ngân hàng có tốt hayxấu còn tuỳ thuộc vào việc xây dựng một chính sách tín dụng của ngân hàng cóđúng đắn hay không
* Thông tin tín dụng
Không phải tất cả các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng đều sử dụng vốnvay có hiệu quả và đúng mục đích Đó là chưa nói tới những kẻ mạo danh, mạonhận là doanh nghiệp để vay trái phép, chiếm dụng vốn bất hợp pháp, gây tổnthất lớn cho ngân hàng Vì vậy, tín dụng muốn đạt chất lượng cao, an toàn cầnphải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công tác này Việc nắm bắt kịpthời và chính xác các luồng thông tin tín dụng giúp cho người quản lý đưa raquyết định can thiệp kịp thời, nhằm tìm ra những cơ hội tốt cho kinh doanhvàgiảm rủi ro có thể xảy ra
* Công tác thẩm định tín dụng
Thẩm định dự án đầu tư là việc xét một cách kết quả, toàn diện các nộidung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của dự án để ra quyết định đầu
tư và cho phép đầu tư Mục đích của việc thẩm định là nhằm giúp ngân hàng rút
ra những kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ vàrủi ro có thể xảy ra của dự án để ra quyết định cho vay hay từ chối Từ việc thẩmđịnh, ngân hàng cũng có thể tham gia góp ý cho chủ đầu tư, xác định số tiền chovay, thời gian cho vay, mức thu nợ phù hợp với năng lực của doanh nghiệp nhằmtạo diều kiện cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả
Với những mục đích quan trọng như vậy, nên thẩm đinh là khâu phức tạp
và hay mắc sai sót nhất Như vậy, nếu khâu công tác thẩm định dự án mà tốt thìngân hàng sẽ giảm thiểu được rủi ro, chất lượng tín dụng cũng được nâng lên.Ngược lại, nếu thẩm định dự án không tốt sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng
Trang 26* Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng bao gồm những quy định phải thực hiện trong quá trìnhcho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Quy trình này bắt đầu từviệc tiếp nhận và chuẩn bị hồ sơ; thẩm định các điều kiện tín dụng của kháchhàng; ký hợp đồng tín dụng; giải ngân, theo dõi, giám sát việc sử dụng vốn vay;thu nợ, lãi phí và các thủ tục phát sinh Hoạt động tín dụng có được đảm bảo haykhông tuỳ thuộc vào việc lập ra được một quy trình tín dụng đảm bảo logic, khoahọc, thuận tiện cho cả khách hàng và ngân hàng
* Chất lượng cán bộ
Nhân tố con người là nhân tố trọng tâm trong mọi hoạt động Thực tế chothấy 1 trong những vấn đề có tính quyết định đến chất lượng tín dụng cao haythấp phụ thuộc nhiều từ việc hoạch định các chủ trương, chính sách, tới thẩmđịnh dự án, xét duyệt hồ sơ, kiểm tra sử dụng vốn và trong đó nhân tố con người
là không thể thiếu
Một ngân hàng mà có đội ngũ cán bộ công nhân viên được đào tạo vớichất lượng tốt, có trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao thì việc thực hiện cácnghiệp vụ của ngân hàng sẽ trở nên thuận tiện và đạt kết quả cao Hơn nữa, nhân
tố con người còn giúp cho ngân hàng tránh được rủi ro có thể xảy ra, nhờ đónâng cao được chất lượng tín dụng
* Công nghệ ngân hàng
Công nghệ thông tin, trang thiết bị kỹ thuật cũng là một yếu tố tác động tớichất lượng tín dụng ngân hàng, nhất là trong thời đại khoa học kỹ thuật đangphát triển như vũ bao hiện nay Một ngân hàng với các phương tiện kĩ thuật chấtlượng cao sẽ tạo điều kiện trong việc đơn giản thủ tục, rút ngắn thời gian giaodịch, giúp cán bộ tín dụng thực hiện các nghiệp vụ nhanh gọn, chính xác, đem lại
sự thuận tiện cho khách hàng khi thực hiện giao dịch với ngân hàng Đây là mộtyếu tố rất thuận lợi để ngân hàng nâng cao được chất lượng tín dụng
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
ĐIỆN BIÊN
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CHI NHÁNH NHĐT&PT ĐIỆN BIÊN VÀ DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP 2.1.1 Giới thiệu về Chi nhánh NHĐT&PT Điện Biên
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
NHĐT&PT Điện Biên là Chi nhánh trực thuộc NHĐT&PT Việt Nam, rađời và phát triển không chỉ gắn với quá trình hình thành và phát triển củaNHĐT&PT Việt Nam mà còn gắn với công cuộc xây dựng tỉnh Điện Biên (LaiChâu cũ) sau ngày giải phóng Quá trình hình thành và phát triển củaNHĐT&PT Điện Biên trải qua các giai đoạn sau:
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, kết thúc chiến tranh, miền Bắc đượchoàn toàn giải phóng Căn cứ và tình hình đặc điểm của nhân dân các dân tộcTây Bắc, để phù hợp với giai đoạn cách mạng mới - Đảng ta chủ trưong thựchiện chính sách dân tộc lúc này là cấp bách, nhằm tăng cường khối đại đoàn kết,tương trợ giúp đỡ lẫn nhau và thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, đẩymạnh sản xuất, ổn định đời sống, khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại
Ngày 29/4/1955, Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh số 230/SL thành lập Khu tự trịThái – Mèo Ngày 7/5/1955 Khu tự trị thái – Mèo chính thức ra mắt tại ChâuThuận Châu, bao gồm 2 tỉnh: Sơn La – Lai Châu và 2 huyện Văn Chấn, ThanUyên của tỉnh Yên Bái, huyện Phong Thổ của tỉnh Lào Cai
Ngày 25/5/1955 NH Quốc Gia Việt Nam và Khu uỷ, thống nhất thành lậpđại lý ngân hàng Khu tự trị Thái - Mèo Theo chỉ đạo của Uỷ Ban hành Chínhlâm thời tỉnh Lai Châu, chi nhánh ngân hàn tỉnh chính thức khai trương và bắt
Trang 28đầu hoạt động từ ngày 1/1/1963, chi điếm Mường Lay thành trụ sở của ngânhàng tỉnh.
Ngày 17/12/1982, Tổng Giám đốc NHNN Việt Nam ký quyết định số 109/NH-QG thành lập Chi nhánh ngân hàng Đầu tư & Xây dựng các huyện thị Chinhánh ngân hàng Đầu tư Phát triển tỉnh Lai Châu được thành lập theo quyết định
số 116/QĐ-NH ngày 30/12/1982 của Tổng Giám đốc NHNN Việt Nam
Thực hiện quyết định số 20/QĐ-TCCB ngày 29/3/1990 của Tổng Giámđốc NHNN Việt Nam: “Cho phép ngân hàng Đầu tư & Xây dựng Việt Namđược thành lập phòng Đầu tư Phát triển tại các tỉnh - để thực hiện nhiệm vụ vềcấp phát và tín dụng, đầu tư xây dựng cơ bản thuộc phạm vi hoạt động của ngânhàng Đầu tư 7& Phát triển Việt Nam Phòng Đầu tư & Xây dựng có nhiệm vụ:quản lý nguồn cấp phát về tín dụng, nhận gửi và huy động các nguồn vốn, thẩmđịnh các dự án và các luận chứng kinh tế, thực hiện nhiệm vụ tín dụng, thanhtoán và kế toán”
Ngày 25/4/1990, tổng Giám đốc ngân hàng Đầu tư & Xây dựng Việt Nam
ký Quyết định số 89/QĐ-TCCB về việc thành lập phòng đầu tư và phát triển tỉnhLai Châu trực thuộc ngân hàng Đầu tư & Xây dựng Việt Nam
Theo quyết định số 401- CH của Chủ tịch HĐBT nước Việt Nam ngày14/11/1990, ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi thành ngân hàngĐT&PT Việt Nam (BIDV) Ngày 26/11/1990, Thống đốc NHNN Việt Nam kýquyết định số 105/NH – QĐ về việc chuyển Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Xâydựng khu vực tỉnh – thành phố thành các chi nhánh NHĐT&PT tỉnh, thành phố,đồng thời chuyển các phòng Đầu tư & Xây dựng thành Chi nhánh NHĐT&PT cóhiệu lực thi hành từ ngày 1/11/1991
Thực hiện Quyết định này, phòng ĐT&PT tỉnh Lai Châu chuyển thànhChi nhánh NHĐT&PT tỉnh Lai Châu Tổ ĐT&PT huyện chuyển thành phòngĐT&PT, các tổ nghiệp vụ được chuyển thành các phòng
Trang 29Từ ngày 1/1/2004, thực hiện chủ trương chia tách tỉnh Lai Châu cũ thành
2 tỉnh: Lai Châu mới và Điện Biên, Chi nhánh NHĐT&PT Lai Châu cũ trở thànhchi nhánh ngân hàng ĐT&PT Điện Biên và là chi nhánh cấp 1
Đến nay, Chi nhánh NHĐT&PT Điện Biên là một NHTM Nhà nước trựcthuộc NHĐT&PT Việt Nam – kinh doanh đa năng, lấy phục vụ đầu tư và pháttriển làm chủ đạo
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức
NHĐT&PT Điện Biên là chi nhánh trực thuộc NHĐT&PT Việt Nam, cóđịa bàn hoạt động chủ yếu trên địa bàn tỉnh Điện Biên Tính đến thời điểm31/12/2005, bộ máy tổ chức của toàn chi nhánh gồm:
- 01 chi nhánh cấp 1, với 9 phòng ban, cụ thể: phòng tín dụng, phòng thẩmđịnh & quản lý tín dụng, phòng nguồn vốn, phòng tổ chức hành chính, phòng kếtoán, phòng dịch vụ khách hàng, phòng tiền tệ kho quỹ, phòng kiểm soát, phòng
tổ chức cán bộ
- 01 phòng giao dịch ở Bản Phủ
Điều hành Chi nhánh là ban Giám đốc, Giám đốc phụ trách kiêm công tác
tổ chức cán bộ và công tác kiểm soát nội bộ Các phó Giám đốc được phân côngphụ trách các phòng ban cụ thể Đứng đầu các phòng ban là các trưởng phòng,
có nhiệm vụ lãnh đạo tổ chức chỉ đạo điều hành và thực hiện chức năng nhiệm
vụ của phòng và chịu trách nhiệm trước giám đốc về các nghiệp vụ chuyên môncủa phòng
Tính đến thời điểm cuối tháng 3 năm 2006, tổng số cán bộ củaNHĐT&PT Điện Biên là 57 người Trong đó có tới 75% là trình độ đại học vàtrên đại học, còn lại là những cán bộ có trình độ cao đẳng, trung cấp hoặc đại họctại chức
2.1.1.3 Chức năng và nhiệm vụ
NHĐT&PT Điện Biên có các chức năng nhiệm vụ như sau:
Trang 30- Nhận tiền gửi bằng VNĐ và ngoại tệ, tiền gửi của các tổ chức kinh tế xãhội, tiền gửi của các tầng lớp dân cư dưới các hình thức gửi thanh toán, tiền gửi
có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu với nhiều mức lãi suấthấp dẫn
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng Việt nam đồng (VNĐ) vàngoại tệ đối với pháp nhân, cá nhân, hộ gia đình trong các lĩnh vự sản xuất kinhdoanh, dịch vụ, tiêu dùng
- Nhận cầm cố trái phiếu kho bạc Nhà nước, cầm cố sổ tiết kiệm, kỳ phiếu,các loại giấy tờ có giá khác do Ngân hàng đầu tư và phát triển Điện Biên và cácTCTD khác phát hành
- Cho vay các dự án đầu tư
- Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho các tổ chức và cá nhân; Chuyểntiền điện tử và thanh toán trong phạm vi cả nước nhanh chóng, chính xác vớicông nghệ thông tin hiện đại; Thu hộ chi hộ theo yêu cầu của khách hàng; Thụchiện uyr nhiệm chi trả tiền lương cho các cơ quan doanh nghiệp
- Thực hiện các dịch vụ bảo lãnh; Thực hiện các dịch vụ ngân quỹ; Đại lýbảo hiểm; Dịch vụ vấn tin số dư tài khoản qua điện thoại di động (BSMS)
Ngoài ra còn thực hiện một số chức năng nhiệm vụ khác
2.1.2 Giới thiệu chung về doanh nghiệp xây lắp
2.1.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp xây lắp (DNXL)
Theo Luật doanh nghiệp – Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999 thì doanhnghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạtđộng kinh doanh
Trang 31Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp là doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinhdoanh về xây dựng.
Trách nhiệm của các Doanh nghiệp xây lắp:
- Đăng ký hoạt động xây dựng tại nơi các cơ quan có thẩm quyền theo quyđịnh của pháp luật
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã cam kết trong hợpđồng, bao gồm cả số lượng, chất lượng, tính chính xác của sản phẩm theo thờigian thực hiện hợp đồng, có quy định và hướng dẫn sử dụng công trình trước khibàn giao công trình xây dựng, thực hiện bảo lãnh chất lượng sản phẩm xây dựng
và công trình theo quy định
- Thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, thực hiện an toàn laođộng, bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình xây dựng Thông tin rộng rãi
về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để chủ đầu tư biết và lựa chọn
2.1.2.2 Đặc điểm Doanh nghiệp xây lắp
Trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tạo ra cơ sở vật chất chủyếu cho nền kinh tế quốc dân, các tổ chức xây lắp nhận thầu giữ vai trò quantrọng Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại các tổ chức xây lắp như: Tổng công ty,công ty, xí nghiệp, đội xây dựng thuộc mọi thành phần kinh tế Tuy các đơn vịnày khác nhau về quy mô sản xuất, hình thức quản lý nhưng đều là những tổchức nhận thầu xây lắp và mang những đặc điểm sau:
Về loại hình tổ chức sản xuất, ngành nghề hoạt động
XDCB là một ngành nghề kinh tế quốc dân tronglĩnh vực sản xuất vật chất
có chức năng tái sản xuất, các TSCĐ có tính chất sản xuất và không có tính sảnxuất của nền kinh tế quốc dân Lĩnh vực hoạt động của xây lắp rất rộng và nhiệm
vụ của nó rất lớn là xây dựng mới khôi phục và sửa chữa TSCĐ
Công trình xây dựng được phân loại như sau:
Trang 32- Công trình dân dụng: nhà ở, chung cư, công trình công cộng
- Công trình giao thông: công trình đường bộ, công trình đường sắt, cầuhầm
- Công trình thuỷ lợi: hồ chứa nước, đập, cống, đường ống dẫn,
- Công trình công nghiệp: công trình khai thác quặng, khai thác than
- Công trình hạ tầng kỹ thuật: công trình cấp nước, thoát nước, nhà máy
Đặc điểm của sản phẩm xây lắp
Sản phẩm xây lắp có đặc điểm riêng biệt khác với các ngành sản xuấtkhác, đó là:
- Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có quy
mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xâylắp lâu dài, chu kỳ sản xuất có biên độ dao động từ 3 tháng đến 3 năm Chu kỳsống của các công trình XDCB thông thường cũng từ 30 năm trở lên vàcôngảtình này có đặc tính bền vững trong không gian Đặc điểm này đòi hỏi việc
tổ chức quản lý và hoạch toán sản phẩm xây lắp nhất thiết phải lập dự toán Quátrình sản xuất sản phẩm xây lắp phải so sánh với dự toán
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận vớichủ đầu tư ( giá thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thểhiện rõ ( vì đã quy định giá cả, người mua, người bán sản phẩm xây lắp có từ khixây dựng thông qua hợp đồng nhận thầu )
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện để sản xuất( xe máy, thiết bị thi công, người lao động, ) phải di chuyển theo địa điểm đặtsản phẩm Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hoạch toán bán tàisản, vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễmất mát hư hỏng
Trang 33- Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trìnhbàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài Nó phụ thuộc vào quy mô, tính phứctạp về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công được chia thành nhiềugiai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việcthường diễn ra ngoài trời như nắng, mưa, lũ lụt Đặc điểm này đòi hỏi việc tổchức quản lý, giám sát chặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng nhưthiết kế, dự toán Các nhà thầu phải có trách nhiệm bảo hành công trình.
- Quá trình sản xuất xây lắp phức tạp đòi hỏi các nhà tổ chức xây lắp phải
có trình độ, tổ chức phối hợp cao trong sản xuất, phải phối hợp chặt chẽ giữa các
tổ chức xây dựng tổng thầu hay thầu chính và các tổ chức thầu phụ
Đặc điểm chu chuyển vốn sản xuất kinh doanh của DNXL
Các đơn vị xây lắp là các đơn vị ký hợp đồng với các Chủ đầu tư chịutrách nhiệm trong vấn đề xây dựng các công trình theo thiết kế của Chủ đầu tư.Điều này cho thấy các đơn vị xây lắp ngày càng giữ vai trò quan trọng khôngnhững đối với chất lượng công trình mà còn cả về phương diện tài chính
Cũng như mọi doanh nghiệp khác, muốn tiến hành sản xuất kinh doanhcần có một số vốn thích đáng để đầu tư vào TSLĐ Số tiền ứng trước về nhữngtài sản đó được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp Để quản lý vốn lưu độngđược tốt cần phải phân loại vốn lưu động Với doanh nghiệp xây lắp, vốn lưuđộng cũng dựa trên các qui định chung và được chia thành:
- Vốn lưu động nằm trong quá trình dự trữ sản xuất
- Vốn lưu động nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất
- Vốn lưu động nằm trong quá trình lưu thông
Đối với Doanh nghiệp xây lắp, sản phẩm bao giờ cũng được thi công ngaytại chỗ, cho nên sản phẩm không phải nhập kho và không phải vận chuyển tớinơi tiêu thụ Mặt khác, việc thi công xây lắp sản xuất theo đơn đặt hàng cho nênsản phẩm xây lắp không khó khăn gì trong việc tiêu thụ sản phẩm Ngay sau khi