TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của ngành tinh bột sắn ở Việt Nam
Trong tự nhiên, tinh bột có đƣợc với số lƣợng lớn, đƣợc xem nhƣ là một loại carbohydrat hữu cơ hình thành tự nhiên Nó đƣợc tìm thấy trong củ, hạt, quả của các loại cây trồng Tinh bột cung cấp cho cây nguồn năng lƣợng trong quá trình cây ngủ và nảy mầm Nó cũng là nguồn năng lƣợng quan trọng nhất của động vật và con người Các dữ liệu thống kê cho thấy ngày nay tinh bột có hơn 4 nghìn ứng dụng
Các loại tinh bột tự nhiên phổ biến và có giá trị thương mại chủ yếu bao gồm tinh bột sắn, tinh bột khoai tây, tinh bột ngô và tinh bột lúa mì Trong đó, thành phần và đặc tính của tinh bột sắn gần giống với tinh bột khoai tây, mang lại nhiều lợi thế hơn so với tinh bột ngô và tinh bột lúa mì Giá cả của tinh bột khoai tây cao hơn nhiều so với tinh bột sắn, nhưng nhờ các ưu điểm về đặc tính và giá thành, nhu cầu sử dụng tinh bột sắn trên toàn thế giới đang tăng trưởng rõ rệt Đồng thời, xu hướng tiêu dùng hướng tới thực phẩm không biến đổi gen đang thúc đẩy sự chú ý và mong muốn ngày càng lớn đối với các sản phẩm tinh bột tự nhiên và an toàn cho sức khỏe.
Ngành chế biến tinh bột sắn là một ngành công nghiệp chủ đạo trong lĩnh vực thực phẩm ở Đông Nam Á, hoạt động chủ yếu từ cuối tháng 8 năm trước đến đầu tháng 4 năm sau theo mùa vụ Củ sắn, nguyên liệu chính của ngành, chứa tới 30% tinh bột, là nguồn cung cấp tinh bột cao cấp, đồng thời ít chứa protein, carbohydrate và chất béo Tinh bột sắn không chỉ là nguồn thức ăn bổ dưỡng cho con người mà còn là nguyên liệu quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và công nghiệp khác.
Kể từ cuối những năm 1990, nhận thức về giá trị của cây sắn và sản phẩm của nó đã thúc đẩy sự phát triển đột biến trong trồng trọt và chế biến sắn Trong vòng chỉ 6 năm (1998-2003), ngành sắn Việt Nam đã xây dựng 42 nhà máy sản xuất tinh bột sắn, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ, với trang thiết bị kỹ thuật nhập khẩu từ Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Hà Lan và cả các tổ chức nghiên cứu, thiết kế, chế tạo của Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực chế biến và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Vai trò và vị trí của ngành sản xuất tinh bột sắn trong nền kinh tế quốc dân
Việt Nam là nước xuất khẩu tinh bột sắn đứng thứ 3 trên thế giới sau Indonesia và Thái Lan Cả nước có hơn 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn quy mô lớn, công suất từ 50 đến 200 tấn/ngày, cùng hơn 4.000 cơ sở chế biến thủ công Tổng công suất của các nhà máy chế biến sắn quy mô công nghiệp hiện nay có khả năng chế biến đến 40% sản lượng sắn của cả nước.
Năm 2009, xuất khẩu sắn của Việt Nam dự kiến trở thành ngành hàng chủ lực, với kim ngạch đạt 573,8 triệu USD, tăng 56,5% so với năm 2008 Tuy nhiên, đến năm 2010, tổng lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm sắn giảm tới 48,8% so với năm trước, chủ yếu do nhu cầu sử dụng sắn trong các ngành công nghiệp trong nước tăng cao, gây áp lực khiến nguồn cung xuất khẩu bị thu hẹp.
Năm 2010, lượng sắn xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh tới 48,8%, nhưng giá trị xuất khẩu chỉ giảm 2,6% nhờ vào sự tăng mạnh của giá bán sắn trên thị trường quốc tế Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, Việt Nam đã xuất khẩu 1.677 nghìn tấn sắn và các sản phẩm từ sắn, mang lại doanh thu 556 triệu đô la Mỹ trong năm này.
Trong cơ cấu các sản phẩm sắn xuất khẩu của Việt Nam năm 2010, sắn lát chiếm tỷ lệ lớn nhất với khoảng 56,8%, trong khi tinh bột sắn chiếm khoảng 42,9%, các loại sản phẩm khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ So với năm 2009, tỷ trọng của sắn lát đã giảm 13,5%, còn tinh bột sắn lại tăng 15,4% trong tổng lượng xuất khẩu, cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu mặt hàng sắn xuất khẩu của Việt Nam.
Xu hướng xuất khẩu sắn chuyển hướng tăng tỷ trọng sản phẩm tinh và giảm tỷ trọng sản phẩm thô là một tín hiệu tích cực trong bối cảnh nhiều ngành công nghiệp trong nước như thức ăn chăn nuôi và ethanol đang cần nguyên liệu sắn Đồng thời, giá tinh bột sắn trên thị trường toàn cầu đang tăng mạnh, thúc đẩy lợi nhuận và cơ hội phát triển của ngành sắn trong nước.
Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong lĩnh vực sắn, chiếm tới 94,8% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn lát, đạt khoảng 196,5 triệu USD năm 2010 Ngoài ra, thị trường này cũng chiếm 90% tổng kim ngạch xuất khẩu tinh bột sắn của Việt Nam, tương đương 315,4 triệu USD, khẳng định vị trí quan trọng của Trung Quốc trong tiêu thụ các sản phẩm sắn của Việt Nam.
Năm 2010, nhu cầu tiêu thụ sắn phục vụ ngành chế biến trong nước tăng mạnh, khiến nguồn cung dành cho xuất khẩu giảm đáng kể Theo Tổng cục Thống kê, mặc dù năng suất sắn vẫn đạt mức cao 17,2 tấn/héc ta, nhưng sản lượng toàn quốc chỉ đạt 8,52 triệu tấn, giảm 0,4% so với năm trước Nguyên nhân chính là diện tích trồng sắn giảm 2,5%, còn 496.200 héc ta, ảnh hưởng đến tổng sản lượng sắn của cả nước trong năm đó.
Tổng sản lượng sắn bán ra giảm nhẹ, khiến nguồn cung sắn dồi dào để chế biến sắn lát xuất khẩu bị thu hẹp lại Trong khi ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi, tinh bột sắn và ethanol đang mở rộng, dẫn đến sự cạnh tranh về nguồn nguyên liệu Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số thức ăn chăn nuôi trung bình năm 2010 đạt 245% so với năm 2005, tăng 20% so với năm 2009, thể hiện xu hướng tăng mạnh trong tiêu thụ thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.
Trong bối cảnh nguồn cung sắn trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và xuất khẩu, nhập khẩu sắn của Việt Nam đã tăng mạnh Năm 2010, dù lượng và giá trị xuất khẩu sắn giảm đáng kể, giá trị nhập khẩu sắn của Việt Nam lại tăng lần lượt 122,1% và 94,6% so với năm 2008 và 2009 Kim ngạch nhập khẩu sắn lát trong năm 2010 đạt 35,3 triệu USD, trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu tinh bột sắn là 9,8 triệu USD, cho thấy sự phụ thuộc ngày càng tăng vào nguồn cung nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất ngành tinh bột sắn tới môi trường nước
Ngành tinh bột sắn ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhưng đi kèm với đó là những thách thức về môi trường do hoạt động sản xuất gây ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Việc xử lý chất thải và kiểm soát khí thải trong quá trình sản xuất tinh bột sắn trở thành vấn đề cấp thiết để bảo vệ môi trường Các nhà sản xuất cần chú trọng đến các giải pháp công nghệ thân thiện với môi trường nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực Sự phát triển bền vững của ngành đòi hỏi phải cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.
Quá trình sản xuất tinh bột sắn sử dụng lượng lớn nước và năng lượng, đồng thời sinh ra chất thải dưới cả ba dạng rắn, khí, lỏng
Trong những năm gần đây, sự phát triển của ngành sản xuất tinh bột sắn đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước thải ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân Nước thải từ các nhà máy chế biến sắn thải ra trực tiếp vào hệ thống kênh thủy lợi phục vụ tưới tiêu, gây ô nhiễm nguồn nước tưới lúa và làm giảm năng suất mùa vụ Người dân sống gần các nhà máy tinh bột sắn lo lắng về tác động tiêu cực của ô nhiễm nước thải đến sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày của họ Trong mùa chính vụ, lượng nước thải lớn làm tăng nguy cơ ô nhiễm đất đai và nguồn nước, đặc biệt trong các vùng trồng lúa, gây thiệt hại đáng kể đối với mùa màng Ngoài ra, môi trường không khí ở các địa phương gần nhà máy thường bị ô nhiễm nặng nề, mùi hôi thối tác động tiêu cực đến cuộc sống và sức khỏe của người dân, ảnh hưởng cả trong mùa mưa lẫn mùa nắng Đặc biệt, ở những khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn, người dân vẫn dựa vào nguồn nước giếng sinh hoạt, nhưng nước bị ô nhiễm khiến họ dễ mắc bệnh tật, đe dọa sức khỏe và cuộc sống của cộng đồng địa phương.
Nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường tại các vùng sản xuất chế biến sắn là do nước thải được xả trực tiếp vào vườn, đất canh tác, đồng ruộng, mương thủy lợi và suối mà không qua xử lý, làm giảm năng suất cây trồng và gây chết thủy sinh vật, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động nuôi trồng thủy sản.
Hầu hết nước thải từ các nhà máy tinh bột quy mô nhỏ (hộ gia đình) được thải trực tiếp ra sông hoặc kênh rạch mà không qua xử lý, gây ô nhiễm môi trường Trong khi đó, các nhà máy lớn sử dụng hệ thống hồ sinh học tự nhiên để xử lý nước thải, nhưng công nghệ này vẫn chưa đảm bảo đạt tiêu chuẩn xả thải tại địa phương Điều này dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chính vì vậy kiểm soát công tác xử lý nước thải trước khi xả thải là ưu tiên hàng đầu hiện nay để bảo vệ nguồn tiếp nhận.
Sắn có hàm lượng nước khoảng 55,2% và tinh bột chiếm khoảng 25-29%, cùng với hàm lượng protein 0,4mg/100g chất khô và hàm lượng HCN khoảng 2,9mg/100g sắn tươi, các thành phần này thay đổi theo mùa vụ, điều kiện canh tác, giống sắn, thời gian và điều kiện bảo quản Chính các thành phần hữu cơ như tinh bột, protein, xenluloza, pectin và đường có trong củ sắn tươi là nguyên nhân gây ô nhiễm cao cho dòng nước thải của nhà máy sản xuất tinh bột sắn trong quá trình chế biến.
Hiện nay, nhiều nhà máy sản xuất tinh bột sắn vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do thải trực tiếp mà không qua xử lý hoặc chỉ xử lý sơ bộ Các thiết bị máy móc cũ kỹ khiến việc xử lý nước thải gặp nhiều khó khăn và hiệu quả không cao Riêng công ty Vedan đã chú trọng đến phương pháp xử lý nước thải bằng hồ sinh học, nhưng phương pháp này tốn kém và không có biện pháp chống thấm, làm tăng nguy cơ ô nhiễm mạch nước ngầm.
Hiện nay, rất ít tài liệu về xử lý nước thải từ chế biến tinh bột sắn, đặc biệt là các nghiên cứu cụ thể tại Việt Nam Hầu hết các cơ sở chế biến tinh bột sắn trong nước vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải hiệu quả, kể cả các nhà máy có công suất lớn Chỉ có một số công trình nghiên cứu về công nghệ xử lý nước thải tinh bột sắn đã được thực hiện tại Việt Nam, góp phần nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong ngành chế biến tinh bột sắn.
Nghiên cứu của PGS.TS Bùi Trung từ Viện công nghệ hóa học tập trung hoàn thiện công nghệ xử lý chất thải từ quá trình chế biến tinh bột sắn (khoai mì) tại Việt Nam Công trình này nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả quản lý chất thải trong ngành sản xuất tinh bột sắn Các vấn đề chính được đề cập bao gồm phương pháp xử lý chất thải tối ưu, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và phát triển các giải pháp bền vững trong công nghiệp chế biến sắn Đây là bước tiến quan trọng góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp sạch, tăng giá trị kinh tế và bảo vệ môi trường tại Việt Nam.
Đã tiến hành khảo sát hiện trạng và đánh giá mức độ ô nhiễm tại một số cơ sở sản xuất tinh bột sắn ở Tây Ninh nhằm xác định các nguồn gây ô nhiễm chính Dựa trên kết quả phân tích, các phương án kỹ thuật phù hợp đã được đề xuất nhằm giảm thiểu tác động ô nhiễm ra môi trường Việc nghiên cứu này giúp xây dựng các giải pháp tối ưu, nâng cao hiệu quả xử lý chất thải, bảo vệ nguồn tiếp nhận và đảm bảo phát triển bền vững ngành sản xuất tinh bột sắn tại địa phương.
Chúng tôi tiến hành khảo sát các công đoạn quan trọng trong quá trình xử lý nước thải ô nhiễm và xử lý bã thải sắn dư thừa để xác định các thông số kỹ thuật cần thiết Các bước này nhằm xây dựng các công trình xử lý phù hợp với quy mô sản xuất thực tế, đảm bảo hiệu quả tối ưu trong việc giảm ô nhiễm và xử lý chất thải Việc này giúp đảm bảo các công trình xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường và phù hợp với yêu cầu sản xuất cụ thể.
Chúng tôi đã xây dựng quy trình và thiết kế công trình xử lý nước thải sắn quy mô 600 m3/ngày, đảm bảo tính khả thi cao và hiệu quả trong việc tận thu nguồn khí biogas Dự án này giúp tiết kiệm chi phí xây dựng, phù hợp với điều kiện thực tế của các nhà máy chế biến tinh bột sắn tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả xử lý nước thải và bảo vệ môi trường.
Chúng tôi xây dựng quy trình và thiết kế mô hình xử lý bã sắn nhằm tối ưu hóa việc tận thu biogas với công suất 1 tấn bã/modul, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng chất thải nông nghiệp Ngoài ra, phương án chế biến bã sắn thành phân compost cũng được đề xuất như một giải pháp bền vững khi lượng bã sắn không được tận dụng hết cho các mục tiêu có giá trị kinh tế cao hơn Các phương án này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn tạo ra các nguồn tài nguyên hữu ích, thúc đẩy phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững.
Nghiên cứu của sinh viên Ngô Thị Vũ Lệ tại ĐH Bách Khoa năm 2008 đã đánh giá hiện trạng môi trường và sản xuất của nhà máy tinh bột sắn Quảng Ngãi Công trình đã lựa chọn hệ thống xử lý nước thải phù hợp cho nhà máy này, đồng thời tính toán các thiết bị chính trong hệ thống để đảm bảo hiệu quả xử lý Ngoài ra, nghiên cứu cũng ước tính chi phí xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường của nhà máy tinh bột sắn Quảng Ngãi.
Các công trình nghiên cứu về ô nhiễm trong sản xuất tinh bột sắn đã đánh giá mức độ ô nhiễm tại nhiều nhà máy Những đề tài này đề xuất các giải pháp công nghệ nhằm giảm thiểu tác động môi trường của hoạt động chế biến tinh bột sắn, góp phần nâng cao hiệu quả và bền vững cho ngành công nghiệp này.
Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam đề ra các giải pháp xử lý nước thải hiệu quả, tuy nhiên chưa xem xét đầy đủ về mặt kinh tế để nâng cao tính khả thi trong thực tế Để đánh giá hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải, cần tiến hành các đánh giá chất lượng môi trường nước mặt và nước ngầm của khu vực đó Hiện tại, phần lớn các nghiên cứu chưa đánh giá rõ ảnh hưởng của nước thải sau xử lý đối với chất lượng nguồn nước tiếp nhận, điều này là một hạn chế quan trọng trong việc đảm bảo an toàn môi trường.
MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm đạt đƣợc những mục tiêu sau:
- Góp phần nâng cao chất lượng chất lượng nguồn tài nguyên nước và giảm thiểu ô nhiễm tại xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
- Đánh giá được ảnh hưởng của hoạt động sản xuất tinh bột sắn tới chất lượng nước khu vực xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu ô nhiễm của nước thải từ hoạt động sản xuất của nhà máy SXTBS Phú Mỹ
2.1.3 Đối tượng và thời gian nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là:
- Chất lượng nước thải của nhà máy SXTBS Phú Mỹ thuộc xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
- Chất lượng nước mặt (nước suối Trọng) và nước ngầm (nước giếng đào) của khu vực xung quanh nhà máy (trong phạm vi 1Km 2 )
Thời gian nghiên cứu từ ngày 14/02/2011 đến ngày 10/05/2011.
Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc mục tiêu đặt ra, đề tài tiến hành những nội dung chủ yếu sau:
-Nghiên cứu quy trình sản xuất và quy trình xử lý nước thải của Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Phú Mỹ
- Đánh giá chất lượng nước thải của nhà máy Sản xuất tinh bột sắn Phú
- Đánh giá chất lượng nước mặt và nước ngầm tại khu vực xung quanh nhà máy thông qua một số thông số SS, BOD5, COD, TDS, PO4
Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước từ hoạt động sản xuất của nhà máy SXTBS Phú Mỹ tại xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Các biện pháp bao gồm lắp đặt hệ thống xử lý chất thải hiệu quả, nâng cao ý thức về quản lý môi trường cho nhân viên nhà máy, và thực hiện các quy trình sản xuất thân thiện với môi trường Ngoài ra, việc giám sát định kỳ chất lượng nước và thực hiện giải pháp kỹ thuật phù hợp sẽ giúp giảm thiểu tối đa ô nhiễm nguồn nước Những giải pháp này góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của địa phương và duy trì an toàn cho nguồn nước sinh hoạt cộng đồng.
Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu
Phương pháp này giúp thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của người dân cũng như hiện trạng xử lý nước thải của nhà máy Dữ liệu thu thập cho phép đánh giá chính xác chất lượng nguồn nước thải của nhà máy và tác động của nó đến cuộc sống của người dân trong khu vực nghiên cứu.
- Số liệu đƣợc thu thập tại UBND xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
- Số liệu sơ đồ công nghệ đƣợc thu thập tại phòng kỹ thuật Nhà máy SXTBS Phú Mỹ
2.3.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu
Qua quá trình điều tra và khảo sát thực địa xung quanh nhà máy sắn Phú Mỹ, chúng tôi nhận thấy nguồn nước thải sau xử lý của nhà máy được xả ra suối Trọng, một con suối có lưu lượng lớn và là nguồn cung cấp nước chính cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương Chính vì vậy, suối Trọng được chọn làm địa điểm chính để đánh giá chất lượng nguồn nước mặt trong khu vực nghiên cứu Đề tài đã tiến hành lấy 9 mẫu nước tại các vị trí khác nhau trên suối Trọng để phân tích chất lượng nước.
Với nghiên cứu nước mặt:
Mẫu 1: Cống thải của nhà máy bắt đầu đổ ra suối Trọng
Mẫu 2: Nước suối Trọng cách nhà máy 100m xuôi dòng chảy
Mẫu 3: Nước suối Trọng cách nhà máy 200m xuôi dòng chảy
Mẫu 4: Nước suối Trọng cách nhà máy 300m xuôi dòng chảy
Mẫu 5: Nước suối Trọng cách nhà máy 500m xuôi dòng chảy
Mẫu 6: Nước suối Trọng cách nhà máy 1 Km xuôi dòng chảy
Mẫu 7: Nước suối Trọng cách nhà máy 100m phía trên ngược dòng chảy
Với nghiên cứu nước ngầm
Mẫu 8: Mẫu nước giếng đào nhà ông Phạm Văn Hùng - Xóm Lầm 2, xã Phong Phú cách nhà máy khoảng 500m, giếng sâu khoảng 8m
Mẫu 9: Mẫu nước giếng đào nhà ông Bùi Văn Vin - Xóm Lầm 2, xã Phong Phú, cách nhà máy khoảng gần 1 Km, giếng sâu khoảng 10m
Vị trí các điểm lấy mẫu nghiên cứu đƣợc thể hiện qua sơ đồ hình 2.1
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí lấy mẫu nghiên cứu
Các bước lấy mẫu nước được tiến hành như sau:
Bước 1: Chuẩn bị dụng cụ lấy mẫu
- Dùng chai nhựa polyetylen (có thể tích là 1,5 lít) đã đƣợc rửa sạch và tráng bằng nước chuẩn bị lấy mẫu
- Giấy, bút, băng dính, gậy tre, dây… dùng để lấy mẫu dán nhãn trên vỏ do có tên, địa điểm, và thời gian lấy mẫu
Bước 2: Tiến hành lấy mẫu
- Thời gian lấy mẫu khoảng 9h sáng, vì lúc này sự biến đổi các chất trong môi trường nước là nhỏ nhất
Để lấy mẫu nước, buộc dây vào chai có nút giật và gắn vào gậy tre sao cho cân bằng để chai chìm xuống nước Thả chai đúng vị trí cần lấy mẫu, giật nút để nước chảy vào trong chai, rồi từ từ kéo chai lên, tháo dây và đậy kín nắp dưới nước để đảm bảo mẫu đầy đủ và tránh sai lệch các chỉ tiêu hóa học Sau đó, lau khô bên ngoài chai, quấn băng dính quanh nút để tránh rò rỉ nước trong quá trình vận chuyển Ghi rõ hiệu và thông tin mẫu trên chai bằng bút, rồi bỏ các mẫu vào hộp carton để vận chuyển về phòng thí nghiệm, nơi sẽ tiến hành phân tích các chỉ tiêu nước.
2.3.2.2 Phương pháp phân tích mẫu
* Phương pháp xác định DO (Dessolved Oxygen) Đơn vị tính của DO thường dùng là mg/l
Phương pháp điện cực oxy hòa tan là kỹ thuật phổ biến hiện nay để đo nồng độ oxy hòa tan trong nước Máy đo DO hoạt động dựa trên nguyên tắc dòng điện xuất hiện trong điện cực tỷ lệ thuận với lượng oxy hòa tan khuếch tán qua màng điện cực Lượng oxy khuếch tán qua màng phản ánh chính xác nồng độ oxy hòa tan, và việc đo cường độ dòng điện này giúp xác định chỉ số DO một cách chính xác.
Sử dụng máy đo DO nhanh YSI 5000
* Phương pháp xác định tổng chất rắn hòa tan TDS (Total Dissolved Solids)
Tổng chất rắn hòa tan (TDS) là tổng số các ion mang điện tích, bao gồm khoáng chất, muối hoặc kim loại tồn tại trong một khối lượng nước nhất định, phản ánh độ sạch hay độ tinh khiết của nguồn nước TDS thường được sử dụng làm tiêu chí ban đầu để đánh giá chất lượng nước, giúp xác định mức độ ô nhiễm hoặc tinh khiết của nguồn nước Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng máy đo nhanh Exstik II của hãng Extech để đo TDS, đảm bảo kết quả chính xác và đáng tin cậy.
*.Phương pháp xác định hàm lượng chất rắn lơ lửng SS (Suspended
Cân khối lượng giấy lọc trước khi lọc (m 1 )
Lấy 100 ml mẫu nước, đánh số mẫu trên giấy lọc, lắc đều mẫu nước trước khi lọc, lọc mẫu bằng giấy lọc
Sấy giấy lọc ở 105 0 C trong 2-3 giờ Cân và ghi khối lƣợng giấy lọc (m2) Các chỉ tiêu của vật chất lơ lửng đƣợc tính theo công thức:
m1: Khối lượng giấy lọc sấy ở 105 0 C trước khi lọc (mg)
m2: Khối lƣợng giấy lọc sấy ở 105 0 C sau khi lọc (mg)
V: Thể tích mẫu nước qua giấy lọc (l)
* Phương pháp xác định BOD 5 (Biochemical oxygen demand)
- Lấy 1 bình nước cất sục khí để bão hòa oxy
- Pha dung dịch dinh dưỡng bằng cách: cứ 1 lít nước cất cho vào 1ml dung dịch đệm Phốtphát, 1ml MgSO4 , 1ml CaCl2, 1ml FeCl3 , sau đó khuấy đều
- Lấy 10 ml mẫu nước thải đã được lọc cho vào bình định mức 300ml, và định mức bằng dung dịch dinh dƣỡng tới vạch định mức
Đầu tiên, đo lượng ôxy hòa tan trong mẫu thử và đảm bảo nắp kín để ngăn ôxy từ không khí thấm vào Mẫu thử được giữ ở nhiệt độ 20°C trong bóng tối suốt 5 ngày nhằm ngăn chặn quá trình quang hợp, nguồn bổ sung ôxy ngoài dự kiến Sau thời gian này, tiến hành đo lại lượng ôxy hòa tan trong mẫu để đánh giá chính xác quá trình sinh học diễn ra.
BOD5 đƣợc tính theo công thức:
Trong đó: DO0 - giá trị DO ngày đầu (mẫu đối chứng)
DO5 - giá trị Do ngày thứ 5 d - hệ số pha loãng
BOD5 (mẫu) = BOD5( mẫu ủ) – BOD5( mẫu trắng)
* Phương pháp xác định COD (chemical oxygen demand)
Chỉ số COD (Chemical Oxygen Demand) đo lường lượng oxy cần thiết để oxy hóa các hợp chất hữu cơ trong nước bằng dung dịch Kali bicromat (K2Cr2O7) COD là chỉ số quan trọng được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ ô nhiễm hữu cơ trong nước, đặc biệt là nước mặt Chỉ số này thể hiện khối lượng hợp chất hữu cơ có trong nước dưới dạng hàm lượng oxy (mg/L), giúp xác định mức độ ô nhiễm và chất lượng nước một cách khách quan Các ứng dụng của COD rất đa dạng, chủ yếu trong việc xác định lượng chất ô nhiễm hữu cơ tồn tại trong nước, từ đó hỗ trợ quản lý và xử lý nước hiệu quả.
- Lấy 2ml nước thải Sau đó cho vào 1ml K2Cr2O7 và 3 ml Ag2SO4 đun trên bếp ở nhiệt độ 150 0 C sau 2 giờ
Lấy ra cho vào bình định mức 40 ml, tiếp tục cho chỉ thị Feroin vào từng mẫu, sau đó đem đi chuẩn độ bằng dung dịch (NH2)Fe(SO4)2 đến khi dung dịch chuyển sang màu xanh lá cây thì dừng lại
Kết quả COD đƣợc tính toán nhƣ sau:
( a b N a: VFe2+ chuẩn độ mẫu trắng = 2,6 b: VFe2+ chuẩn độ mẫu
N: Nồng độ đương lượng của dung dịch Fe 2+
* Phương pháp xác định PO4
Lấy 20 ml dung dịch mẫu đã đƣợc lọc qua giấy lọc, sau đó điều chỉnh pH = 8.5
Thêm vào mẫu nước 5 ml dung dịch thử phốtphát rồi để 1h sau đó đem đi so màu
Tính toán kết quả: Dựa vào phương trình Y = aX + b để tính kết quả theo công thức: C0 V0 = C1.V1
Trong đó: C0: là nồng độ ban đầu (mg/l)
V0: là thể tích ban đầu (ml)
C1: là nồng độ sau được tính từ đường chuẩn (mg/l)
V1: là thể tích bình định mức
*Phương pháp xác định Nitrat (NO 3 - )
Lấy 100ml mẫu, điều chỉnh pH = 7, cho vào chén sứ Sau đó cô cạn trên bếp đun ở nhiệt độ 90 - 100 0 C
Thêm vào 1ml axít đisunfuafenic vào phần cặn, dùng đũa thủy tinh khuấy cho cặn tan hết
Cho thêm 20ml nước cất, 6ml NH3 Nếu xuất hiện kết tủa, ta phải lọc qua giấy lọc Sau đó để vài phút và chuyển vào bình định mức 50ml, rồi đem đi so màu
Tính toán kết quả: Dựa vào phương trình Y = aX + b để tính kết quả theo công thức; C0 V0 = C1.V1
V0: là thể tích ban đầu (ml)
C1: là nồng độ sau được tính từ đường chuẩn (mg/l)
V1: là thể tích bình định mức (Nếu khi so màu mẫu vượt đường chuẩn thì ta pha loãng mẫu)
* Phương pháp xác định Cyanua
Lấy 5ml mẫu đã lọc, pha với 5ml nước cất và đưa vào máy đo Sau đó, thêm một viên axit cyanua vào mẫu để đảm bảo phản ứng hoàn toàn Đóng nắp và tiến hành đo bằng máy để thu thập kết quả chính xác.
2.3.2.3 Phương pháp so sánh, đánh giá
Nước thải từ hoạt động sản xuất tinh bột sắn phụ thuộc vào quy mô sản xuất, trình độ công nghệ và thiết bị xử lý nước thải Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần và lượng chất thải phát sinh Quá trình vận hành và công tác quan trắc môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát chất lượng nước thải, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường và nâng cao hiệu quả xử lý Tối ưu quy trình sản xuất và áp dụng công nghệ hiện đại giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của nước thải sắn tới môi trường.
Nước thải từ hoạt động sản xuất tinh bột sắn, dù ở quy mô lớn hay nhỏ, đều phải tuân thủ quy chuẩn nước thải công nghiệp Việt Nam QCVN 24:2009/BTNMT Trong đó, áp dụng cột B để xác định giá trị C của các thông số ô nhiễm trong nước thải, phù hợp với nguồn tiếp nhận là các nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt Giá trị C của QCVN 24:2009/BTNMT dùng để tính Cmax, là giới hạn tối đa các thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp được phép xả vào nguồn tiếp nhận.
Giá trị tối đa cho phép của các thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp đƣợc tính toán nhƣ sau:
Cmax = C x Kq x Kf Lưu lượng dòng chảy nguồn tiếp nhận không co lưu lượng nên lấy
Hệ số lưu lượng nguồn thải vi lưu lượng nguồn thỉa của nhà máy la 1200- 2000 m 3 /ngày nằm trong khoảng 500< F< 5000 nên Kf = 1,0
- Đối với mẫu nước mặt: Áp dụng QCVN 08:2008/BTNMT cột B2 cho giao thông thủy và các mục đích khác với yêu cầu nước chất lượng thấp
- Đối với chất lượng nước ngầm áp dụng QCVN 09:2008/BTNMT
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ - XÃ HỘI XÃ PHONG PHÚ HUYỆN TÂN LẠC- HÒA BÌNH
Điều kiện tự nhiên và môi trường
Xã Phong Phú là trung tâm của huyện Mường Bi, có quốc lộ 6B và tỉnh lộ 12C đi qua, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu hàng hóa với các khu vực lân cận Với tổng diện tích tự nhiên 1.350ha, xã gồm 8 xóm và một phố, đáp ứng nhu cầu sinh sống của dân cư địa phương Hiện nay, xã có tổng cộng 806 hộ dân với hơn 3.815 nhân khẩu, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Khu sản xuất của nhà máy nằm trên đồi, tiếp giáp với khu ruộng của người dân, gây ảnh hưởng đến môi trường nông nghiệp địa phương Nước thải của công ty được đổ trực tiếp xuống suối Trọng, vốn là nguồn nước quan trọng phục vụ hoạt động sản xuất và cuộc sống của người dân trong khu vực Việc xả thải này có thể gây ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng đến sinh thái tự nhiên, đe dọa sức khỏe cộng đồng và sinh kế của người dân địa phương.
Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Phú Mỹ tọa lạc tại xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, với diện tích khoảng 10ha Đây là cơ sở sản xuất tinh bột sắn quy mô lớn nằm ngay trên trục quốc lộ 6 (Km 110), thuận tiện cho việc vận chuyển và giao thương Vị trí của nhà máy không chỉ giúp tối ưu hóa logistics mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, trở thành điểm đến tin cậy trong ngành công nghiệp chế biến tinh bột sắn tại khu vực.
Tỉnh Hòa Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng từ lượng mưa lớn cùng mức bức xạ nhiệt cao Vị trí nằm bên sườn Tây của dãy Hoàng Liên Sơn và nằm giữa hai vùng khí hậu Đông Bắc và Tây Bắc, khiến khí hậu của tỉnh mang đặc điểm chuyển tiếp giữa hai vùng khí hậu này Nhiệt độ trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
- Nhiệt độ trung bình năm: 23,6 – 24,1 o C
- Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất: 29,6 o C (tháng 6)
- Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất: 16,4 o C
Nhiệt độ cao nhất trong năm thường là tháng 6, 7, 8, 9 và nhiệt độ thấp nhất trong năm là tháng 1 và 2 b, Chế độ mƣa
Trong năm, lượng mưa trung bình dao động từ 1.703 đến 2.499,1 mm, với mùa mưa chiếm tới 88,2% tổng lượng mưa cả năm Trong 6 tháng mùa mưa, lượng mưa trung bình hàng tháng từ 262 đến 609 mm, trung bình 18 ngày mưa mỗi tháng, trong khi các tháng khô nhất là tháng 12, 1, 2, 3, với lượng mưa chỉ khoảng 13,1 – 24,7 mm Độ ẩm không khí trung bình hàng năm dao động từ 81% đến 83,3%, trung bình thay đổi từ 70% đến 86%, và đạt cao nhất vào tháng cao điểm mùa mưa.
7, 8, và 9 Mùa khô hanh có tháng độ ẩm trung bình xuống tới 78% d, Chế độ gió
Trong khu vực nghiên cứu, mùa đông (tháng 1, 2, 11, 12) có hướng gió chủ yếu là Bắc và Đông Bắc với tần suất từ 20-30%, trong khi mùa hè, hướng gió chính thường là Nam và Tây Nam với tần suất khoảng 18% Chủ yếu, gió tại đây mang tính chất hoàn lưu địa phương Tốc độ gió trung bình hàng tháng khoảng từ 0,4 đến 1,0 m/s và không thay đổi nhiều trong suốt năm.
Tốc độ gió mạnh cực đại vào mùa hè có thể đạt 30m/s e, Tài nguyên
Tài nguyên thực vật quanh khu vực nhà máy được bảo vệ và phát triển xanh tốt nhờ chương trình trồng rừng của tỉnh và chính phủ, đặc biệt trên các ngọn đồi thấp Các loại cây lâm nghiệp được trồng nhằm tạo màu xanh tự nhiên, góp phần bảo vệ môi trường và làm cảnh quan thêm sinh động Đây là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững, đảm bảo không chỉ cảnh quan đẹp mà còn duy trì đa dạng sinh học tại địa phương.
+ Nhóm cây lương thực gồm: Lúa, ngô, khoai, sắn, mía, trong dó diện tích khá lớn là mía, các loại rau màu nhƣ đỗ, lạc, bắp cải …
+ Nhóm cây ăn quả gồm: Mít, đu đủ, chuối, nhãn, vải, cam…các loại cây này thường được trồng trên đất gia đình và sườn đồi
Cây hoang dại phổ biến thường là các loại cây bụi và cỏ thuộc nhóm thảo dược hoang dã, thường mọc tự nhiên tại các vùng đất hoang hóa, đất lưu không hoặc ven đường giao thông Chúng thích nghi tốt với môi trường tự nhiên và dễ dàng phát triển mà không cần chăm sóc đặc biệt Việc hiểu rõ về các loại cây này giúp chúng ta nhận biết và quản lý hiệu quả các loài thực vật hoang dã trong khu vực.
Nhóm cây thâm gỗ chủ yếu gồm Bạch đàn, Keo lai và các loại cây lâm nghiệp trồng theo các dự án, chương trình trồng rừng ở đồi nhằm phát triển bền vững kinh tế Trong đó, cây keo là loại cây phổ biến nhất trong khu vực, mang lại giá trị kinh tế cao nhờ khả năng phát triển nhanh và hiệu quả kinh tế vượt trội Các dự án trồng rừng này góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao thu nhập cho cộng đồng và thúc đẩy ngành lâm nghiệp phát triển bền vững.
Vùng trung du xen lẫn miền núi có thảm thực vật khí hậu nhiệt đới đa dạng, phù hợp với điều kiện địa chất ổn định Đất ở khu vực này chủ yếu là đất đồi màu vàng và đất sét, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hệ sinh thái phong phú Điều kiện tự nhiên ổn định giúp duy trì thảm thực vật nhiệt đới đặc trưng của vùng trung du và miền núi.
Khu vực này chủ yếu có rừng trồng, đồi hoang cây dại, khiến động vật tự nhiên chủ yếu gồm các loài bò sát, gặm nhấm và chim Hiện nay, không còn nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen, và các loài chim cùng các loài quý hiếm đã giảm đáng kể Nhiều loài từng khá phổ biến trước đây nay cũng đã ngày càng ít gặp.
Ngoài các loài động vật tự nhiên như chuột nhà, chuột đồng và dúi, còn có các loài gia súc, gia cầm quen thuộc với người nông dân như trâu, bò, lợn, gà, ngan, ngỗng và vịt Những loài này đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chăn nuôi, góp phần cung cấp thực phẩm và sinh kế cho người dân nông thôn Các loài động vật này phân bố rộng khắp, thích nghi với nhiều môi trường và là nguồn protein thiết yếu trong đời sống hàng ngày.
Tài nguyên nước mặt chính trong vùng là suối Trọng, nơi tiếp nhận nước mưa từ các vùng xung quanh Suối Trọng là nguồn nước chủ yếu phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của cộng đồng địa phương, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho cộng đồng và đảm bảo sự phát triển bền vững của khu vực.
Khu vực có nguồn nước ngầm phong phú, hầu hết các giếng đào đều chứa lượng nước dồi dào, đảm bảo cung cấp nguồn nước sạch cho sinh hoạt hàng ngày Nguồn nước này được sử dụng chủ yếu làm nước ăn uống và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của cư dân.
Điều kiện kinh tế - xã hội xã Phong Phú
Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp của địa phương đã chuyển đổi mạnh mẽ từ trồng cây lương thực sang cây công nghiệp và cây ăn quả, nhằm nâng cao thu nhập cho người nông dân và thúc đẩy ngành chế biến nông sản phát triển Chính sách phát triển bền vững của địa phương tập trung vào mở rộng các vùng cây công nghiệp, cây ăn quả để làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Bên cạnh đó, địa phương còn chú trọng đến công tác chăm sóc gia súc, gia cầm, và phát triển mô hình kinh tế VAC, góp phần đa dạng hóa nguồn thu nhập và thúc đẩy phát triển nông nghiệp toàn diện.
Cây lúa: Tổng diện tích cây lúa theo điều tra năm 2010 là: 130.84ha, trong đó:
+ Vụ chiêm: 117,3 ha; Vụ mùa: 126,9 ha
+ Tổng diện tích cây lúa cả năm 244,2 ha
Diện tích gieo trồng là 240,7 ha, năng suất bình quân 50ta/ha, tổng sản lƣợng 1221 tấn
- Cây ngô: Trồng đƣợc 64ha, so với kế hoạch vƣợt 14,3ha, năng suất bình quân ƣớc tính đạt 38 tạ, sản lƣợng 2447,2tấn
- Cây sắn: Trồng đƣợc 54,3ha so với kế hoạch đạt 98,7%
- Cây đậu các loại: Trồng đƣợc 8,5ha so với kế hoạch đạt 80,9%
- Rau các loại: Trồng đƣợc 7,5ha so với kế hoạch đạt 62,5%
- Cây mía trồng đƣợc: 90ha đạt 90% kế hoạch
+ Tổng đàn trâu bò: 517 con trong đó: Đàn trâu: 364 con, đàn bò: 153 con + Tổng đàn lợn: 1987 con tăng so với 2010 là 337 con
+ Tổng đàn gia cầm: 385 con
Ngoài ra còn phát triển chăn nuôi thủy sản ở hộ gia đình, làm tốt công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm
Về địa chính lâm nghiệp: Trong năm 2010 quy hoạch làm sổ cho tất cả các hộ nông dân có đất nhận khoán rừng, kể cả đất trồng (PAM cũ)
- Công tác giao thông thủy lợi
Theo nghị quyết của HĐND xã, trong những năm gần đây, công tác giao thông trên địa bàn ngày càng được chú trọng, trở thành mạch máu kết nối các xóm trong toàn xã Đồng thời, xã đã tích cực làm tốt chiến dịch phát động về công tác giao thông do huyện phát động, góp phần nâng cao an toàn và hiệu quả phương tiện đi lại, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
+ Công tác thủy lợi: thường xuyên nạo vét các hệ thống mương, tu sửa kè cống Quản lý và điều tiết nước có hiệu quả
-Sản xuất tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ, xây dụng cơ bản
Trong địa phương, có 113 hộ kinh doanh nhỏ lẻ và các hoạt động thủ công nghiệp dịch vụ trị giá tổng cộng 8.182.889.000 đồng Tổng giá trị sản xuất và dịch vụ của toàn xã đạt gần 15 tỷ đồng, mang lại thu nhập bình quân khoảng 4 triệu đồng/người/năm.
+ Về kinh tế tổng sản lƣợng: 1822,9 tấn (quy thóc)
+ Bình quân lương thực: 480kg/người/năm
+ Số hộ nghèo giảm: 1,7% so với năm 2009
* Về giáo dục đào tạo: Kết quả trong năm 2010 đã huy động trẻ em đúng độ tuổi đến trường đạt 100% Trong đó:
+ Trường mầm non có 170 cháu và 18 giáo viên, số giáo viên dạy giỏi cấp huyện là 2, chuyển cấp 55 cháu đạt 100%
Trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia từ năm 2006, với 15 phòng học khang trang Trong năm học vừa qua, nhà trường có tổng số 32 giáo viên và 315 học sinh, đạt tỷ lệ chuyển lớp 99,5% và chuyển cấp 100% Nhiều giáo viên của trường được công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh (2 đồng chí) và cấp huyện (6 đồng chí), trong khi có 7 học sinh giỏi cấp huyện và 7 học sinh giỏi cấp tỉnh, thể hiện chất lượng giáo dục đạt thành tích cao.
Trường trung học cơ sở đã đạt nhiều thành tích nổi bật, với một tập thể lao động xuất sắc cấp tỉnh và hai đồng chí đạt tiêu chuẩn giáo viên giỏi cấp tỉnh Ngoài ra, nhà trường có 17 giáo viên dạy giỏi cấp huyện và 4 đồng chí đạt tiêu chuẩn chiến sĩ thi đua, khẳng định chất lượng đội ngũ giảng viên Trong năm học, có 6 học sinh giỏi cấp tỉnh, 34 học sinh giỏi cấp huyện và 31 học sinh giỏi cấp trường, thể hiện sự cố gắng học tập của học sinh Tỷ lệ chuyển lớp đạt 99,5%, chuyển cấp 98,6%, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
Trong công tác y tế, dân số, gia đình và trẻ em, đội ngũ y tế trực trạm gồm 4 người, bao gồm bác sĩ, y sĩ và y tá, đảm trách công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng Hệ thống mạng lưới y tế tại địa phương bao gồm 9 y tế thôn bản, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cơ sở và đảm bảo chăm sóc sức khỏe toàn diện cho cộng đồng.
Việc làm tốt công tác phòng chống suy dinh dưỡng đã giúp giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ xuống còn 19,3%, trong đó trẻ suy dinh dưỡng hàng năm chiếm 13% Chính phủ và các tổ chức y tế đã tích cực thực hiện các chương trình điểm về y tế, đặc biệt là Chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản và Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng Các hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe cộng đồng và giảm thiểu tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em Việc phối hợp hiệu quả giữa các chương trình KHHGĐ và y tế đã tạo ra những kết quả tích cực trong công tác phòng chống suy dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
* Công tác xóa đói giảm nghèo
Hợp tác cùng BCĐ xuất khẩu lao động huyện và các tổ chức tư vấn, ban ngành, đoàn thể địa phương đã tổ chức thành công hội nghị tư vấn xuất khẩu lao động Đến nay, xã đã có 18 người đăng ký và đi lao động ở nước ngoài, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và tạo cơ hội việc làm cho người dân.
Trong năm qua, NHCS huyện đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc vay vốn và giải quyết việc làm cho hộ nghèo trong xã, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Các chương trình mục tiêu về xóa đói giảm nghèo đã được triển khai hiệu quả, giúp giảm số hộ nghèo trong xã xuống còn 276 hộ, chiếm 36,7% tổng số hộ, giảm 0,7% so với năm 2009 Chính sách ưu đãi dành cho hộ nghèo đã được tổ chức thực hiện tốt, góp phần nâng cao đời sống của người dân nghèo trong xã.
Nhà máy chế biến tinh bột sắn Phú Mỹ được xây dựng đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và nâng cao đời sống của người dân xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, Hòa Bình Sự xuất hiện của nhà máy không chỉ tạo việc làm cho cộng đồng mà còn làm đẹp cảnh quan và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong khu vực Nhờ nhà máy, thu nhập của người dân tăng lên rõ rệt, góp phần vào sự thay đổi tích cực của đời sống cộng đồng địa phương.
Hướng gió và khả năng thoáng khí của nhà máy đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lượng khí thải phát tán ra môi trường Khi gió thổi trực tiếp từ nhà máy, khí thải có khả năng lan truyền rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến khu vực dân cư xung quanh Việc tối ưu hóa hướng gió và thiết kế kiến trúc thoáng đãng sẽ giúp giảm thiểu tác động của khí thải, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân sống gần nhà máy.
Lưu lượng nước suối Trọng lớn và nằm gần nhà máy, vì vậy việc xả thải nước thải từ hoạt động sản xuất không được xử lý chặt chẽ có thể gây ô nhiễm nguồn nước Đảm bảo xử lý nước thải đúng quy trình là cần thiết để bảo vệ môi trường và nguồn nước sạch cho cộng đồng.
- Các loài động, thực vật hiện tại của khu vực khi nhà máy đƣa vào hoạt động đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng:
Nhà máy đã tạo việc làm cho hơn 100 lao động trực tiếp và trên 1.500 lao động gián tiếp, chủ yếu là nông dân trồng sắn, góp phần cải thiện đời sống cộng đồng địa phương Hoạt động của nhà máy tận dụng nguồn nhân lực dư thừa và phát huy tiềm năng đất đai rộng lớn của vùng nguyên liệu cây sắn Đồng thời, dự án góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương bền vững.
Nhà máy mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người nông dân địa phương, giúp cải thiện cuộc sống của họ Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nước, đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Nếu tình trạng ô nhiễm này tiếp tục kéo dài, sẽ dẫn đến các căn bệnh nguy hiểm, làm suy kiệt kinh tế và gây thiệt hại lớn đến mùa màng do nước thải ô nhiễm làm chết cây trồng Điều này không chỉ phá hoại mùa vụ mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nước sinh hoạt của người dân.
Nghiên cứu quy trình sản xuất và quy trình xử lý nước thải của nhà máy sản xuất tinh bột sắn Phú Mỹ
4.1.1 Quy trình sản xuất của nhà máy sản xuất tinh bột sắn Phú Mỹ
Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Phú Mỹ được thành lập năm 2006 nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế theo chính sách của Đảng và Nhà nước Dự án dựa trên các quy định khuyến khích đầu tư và Bộ luật về phát triển ngành nông nghiệp của địa phương Việc xây dựng nhà máy góp phần tạo việc làm và nâng cao giá trị nông sản sắn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương giúp hoạt động sản xuất diễn ra thuận lợi, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước.
+ Luật Đầu tƣ số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005
+ Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
Quyết định số 31/2002/QĐ-UB ngày 25/11/2002 của UBND tỉnh Hòa Bình ban hành các quy định về ưu đãi đầu tư và thủ tục cấp giấy phép đầu tư cho các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như dự án đầu tư trong nước tại tỉnh Hòa Bình Đồng thời, ngày 06/10/2005, UBND tỉnh Hòa Bình đã ban hành Quyết định số 43/2005/QĐ-UBND để sửa đổi, bổ sung các quy định tại Quyết định số 31/2002/QĐ-UB, nhằm hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.
Năm 2007 Nhà máy đã đi vào hoạt động với quy trình công nghệ xây dựng quy trình công nghệ nhƣ sơ đồ ở hình 4.1:
Củ sắn sau thu hoạch
Máy xúc củ Thùng chứa Băng tải củi Máy rửa khô tách đất Máy rửa nước sơ bộ và tách vỏ cứng Máy rửa nước kết thúc
Băng tải củ sạch Máy thái băm Máy nghiền, xát Bơm cháo Lọc tách bã thô Lọc tách bã tinh lần I Tách cát, lọc tách bã tinh lần II
Xác định trữ lƣợng tinh bột Đánh tơi Đánh tơi
Lọc dịch sữa bò Lọc dịch sữa tinh và cô đặc
Ly tâm tách nước Đánh tơi
Sấy tháp Làm nguội Qua rây Vô bao SP Thành Phẩm
Hình 4.1: Sơ đồ quy trình công nghệ SXTBS của nhà máy SXTBS Phú Mỹ
Quy trình công nghệ chế biến tinh bột sắn của Nhà máy nhƣ sau:
Sau khi thu hoạch, củ sắn được chuyển ngay đến nhà máy trong ngày để đảm bảo chất lượng Chất lượng củ sắn sau 1-2 ngày thu hoạch được đánh giá dựa trên hàm lượng tinh bột trong củ, với các thông số cơ bản phản ánh độ tươi mới và giá trị dinh dưỡng Việc xử lý kịp thời giúp giữ gìn chất lượng củ sắn, tối ưu hóa hiệu quả sản xuất tinh bột sắn dựa trên các tiêu chuẩn về độ ẩm và hàm lượng tinh bột.
Sắn được máy xúc chuyển từ bãi chứa tới thùng nhận, sau đó được vận chuyển bằng băng tải từ dây chuyền đến máy rửa khô Máy rửa khô có nhiệm vụ loại bỏ đất và cát bám dính vào vỏ củ, giúp làm sạch phần vỏ cứng của sắn Sau khi sơ bộ làm sạch, củ sắn tiếp tục được chuyển vào máy rửa củ để đảm bảo vệ sinh và chuẩn bị cho các bước tiếp theo trong quá trình chế biến.
Sau đó củ sắn đƣợc băng tải đƣa tới máy băm, thái và tới máy nghiền xát Tại đây củ được trà, xát cùng với nước và cho hỗn hợp bao gồm bã, dịch rửa và nước Hỗn hợp này được bơm cháo bơm lên hệ thống ly tâm tách bã
Các thiết bị tách đƣợc lắp đặt sao cho hỗn hợp bã, dịch sữa đƣợc tách bã và tách dịch sữa 2 lần Dịch thu cũng đƣợc tách 2 lần Bã sau khi tách dịch đƣợc đưa ra ngoài phân xưởng, dịch sữa được chứa lại trong các thùng chứa công nghệ và đƣợc các bơm dịch sữa chuyển tới các thùng chứa có khuấy để chuyển tới ly tâm tách nước và ly tâm đĩa để làm sạch và được phân loại và cô dịch
Quá trình ly tâm tách bã, thu dịch và làm sạch, phân loại dịch sữa đều được thực hiện với nguồn nước sạch và kiểm soát lưu lượng hợp lý để tối ưu hóa tỷ lệ bột thu hồi cao nhất Đồng thời, quá trình này đảm bảo dịch sữa có độ đậm đặc phù hợp nhất để ly tâm tách nước hiệu quả, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cuối cùng.
Sau khi dịch sữa đạt yêu cầu về độ sạch và nồng độ tinh bột, dịch sữa đặc được chuyển đến máy ly tâm để tách nước, giúp loại bỏ lượng nước thừa trong hỗn hợp Tinh bột được thu hồi và cấp vào máy đánh tơi để giữ độ ẩm khoảng 30-40%, đảm bảo quá trình xử lý tiếp theo hiệu quả Tiếp theo, tinh bột tơi được phân phối qua vít vào các thiết bị sấy, chuẩn bị cho quá trình sấy khô diễn ra thuận lợi.
Sau khi sấy khô, tinh bột có nhiệt độ cao (đến 40 đến 45 0 C) đƣợc các
Cyclon lắng chứa được thiết kế để gom lại các phần bã và bụi từ quá trình xử lý, sau đó thông qua các vít tải lắp phía dưới để vận chuyển chúng vào ống dẫn Hệ thống này giúp chuyển các chất thải tới bộ phận làm nguội, nơi chúng được làm mát đến nhiệt độ môi trường, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình vận hành.
Sau khi các Cyclon nguội và tinh bột khô, chúng được đưa vào máy rây để xay nghiền nhằm phá hủy các liên kết cơ học của tinh bột Quá trình này giúp chuẩn bị tinh bột cho việc đóng gói và chuyển đến kho thành phẩm, đảm bảo chất lượng sản phẩm cuối cùng.
Tinh bột sắn thu hồi có các thông số chất lƣợng sau:
- Mùi vị: không có mùi lạ
Với quy trình công nghệ nhƣ vậy, để đảm bảo chất lƣợng của tinh bột sắn, sẽ có rất nhiều khâu gây ô nhiễm nguồn nước
Mức độ ô nhiễm nước thải tinh bột sắn chủ yếu được đánh giá dựa trên nhu cầu ôxy sinh hóa BOD và nhu cầu ôxy hóa học COD, phản ánh mức độ chất hữu cơ trong nước Ngoài ra, các chỉ tiêu khác như PO4^3- cũng được xem xét để đánh giá tình trạng ô nhiễm, đặc biệt liên quan đến các vấn đề về phân bón và sự phát triển của tảo trong nước Việc phân tích các chỉ tiêu này giúp xác định chính xác mức độ ô nhiễm và đề xuất các biện pháp xử lý hiệu quả cho nước thải tinh bột sắn. -Nâng cao hiệu quả xử lý nước thải tinh bột sắn với công nghệ phân tích BOD, COD và PO4^3- chính xác – [Tìm hiểu ngay](https://pollinations.ai/redirect/claude)
, SS TDS Nước thải từ quá trình chế biến tinh bột sắn gồm 3 nguồn chính
- Khâu rửa sơ bộ và tách vỏ củ, khâu lọc tách bã và lắng bột, và khâu ly tâm tách nước
- Nước thải trong quá trình rửa củ có chứa đất bùn và mảng vỏ củ…
Nước thải từ công đoạn đầu tách vỏ chứa nồng độ cyanua cao do HCN tập trung chủ yếu trong vỏ Khi lớp vỏ bị bóc tách, chúng kết hợp với nước tạo thành ferro/ferri Cyanat, gây ra màu xám cho nước thải Điều này dẫn đến tình trạng ô nhiễm độc hại nguồn nước tiếp nhận, ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Nước thải từ quá trình ly tâm, lọc tách bã và lắng bột chứa chủ yếu các hợp chất hữu cơ hòa tan cùng một số lượng nhỏ tinh bột thất thoát Các chỉ số COD và BOD, chất rắn lơ lửng (SS) trong nước thải cao, đồng thời còn chứa các dịch bào có tannin, độc tố HCN, men và các chất vi lượng có nguồn gốc từ sắn, đây là những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường cần được xử lý kịp thời.
Nước thải của nhà máy có lưu lượng lớn khoảng 1200 – 2000 m 3 /ngày, tập trung ở nhiều nguồn bởi nhiều công đoạn sản xuất cần phải sử dụng nước
Vì vậy nhà máy SXRBS Phú Mỹ cần có giải pháp để xử lý nước thải từ hoạt động chế biến tinh bột sắn
4.1.2 Hệ thống xử lý nước thải của nhà máy chế biến tinh bột sắn Phú Mỹ
Sau quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về tình hình hoạt đông sản xuất của nhà máy tinh bột sắn Phú Mỹ, nhận thấy rằng:
Với công suất 100 tấn sản phẩm tinh bột/ngày, tiêu thụ khoảng 350 đến
Nhà máy có công suất tiêu thụ 400 tấn sắn củ tươi mỗi ngày, đáp ứng toàn bộ lượng sắn củ do nông dân Hòa Bình sản xuất hàng năm Với quy mô hoạt động lớn, nhà máy tạo ra lượng nước thải đáng kể, khoảng từ [điền số liệu cụ thể], cần có các biện pháp xử lý phù hợp để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường Việc quản lý và xử lý nước thải là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo phát triển bền vững cho ngành chế biến sắn tại khu vực Hòa Bình.
1200 – 2000 m 3 một ngày Với lượng nước thải như vậy cần phải được xử lý, nếu không chắc chắn sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng tới nguồn nước của khu vực
Từ khi bắt đầu đi vào hoạt động, nhà máy đã sử dụng hệ thống xử lý nước thải với quy trình công nghệ như ở hình 4.2
Hình 4.2 trình bày sơ đồ công nghệ xử lý nước thải của nhà máy sản xuất tinh bột sắn Phú Mỹ, thể hiện quy trình xử lý hiệu quả nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Ảnh 4.1 mô tả cống nước thải từ vách ngăn ra bể lắng của nhà máy, đảm bảo nước thải được định hướng và xử lý phù hợp trước khi thải ra môi trường Sơ đồ công nghệ này giúp tăng cường hiệu suất xử lý nước thải, đảm bảo tuân thủ quy chuẩn môi trường, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.
Ghi chú: Đường đi của nước thải Đường đi của bùn thải
* Thuyết minh công nghệ hình 4.2:
Đánh giá chất lượng nước thải của nhà máy Sản xuất tinh bột sắn Phú Mỹ
Kết quả phân tích các thông số phản ánh chất lượng nguồn nước thải của nhà máy sản xuất tinh bột sắn Phú Mỹ đã được trình bày rõ ràng trong bảng 4.1 và hình 4.3, cho thấy mức độ ô nhiễm và các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường.
Bảng 4.1 Các thông số phản ánh chất lượng nước thải của nhà máy sắn Phú
Xyanua mg/l Mẫu phân tích 0.57 674 217 219.6 2640 5.3613 0.7989 10
DO TDS SS BOD5 COD
Hình 4.3 Giá trị các thông số vật lý và hóa học trong nước thải của nhà máy SXTBS Phú Mỹ
Thông số 1: Thông số DO
Thông số 2: Thông số TDS
Thông số 3: Thông số SS
Thông số 4: Thông số BOD5
Thông số 5: Thông số COD
Hình 4.4 Giá trị các thông số chất nguy hại trong nước thải nhà máy
Thông số 1: Thông số PO4 3-
Thông số 2: Thông số NO3
Thông số 3: Thông số CN-
Từ số liệu của bảng 4.1 và hình 4.3 và 4.4, đề tài có nhận xét sau:
- Đối với các thông số phản ánh tính chất vật lý của nước thải
Thông số TDS không được quy định trong QCVN 24/2009/BTNMT; tuy nhiên, theo bảng 4.1, việc đánh giá hàm lượng TDS chỉ mang tính định tính và không cao về chính xác Tuy nhiên, nồng độ TDS cao ảnh hưởng đến độ tinh khiết của nguồn nước, và nếu không được xử lý trong nước thải, nó có thể góp phần làm ô nhiễm nguồn nước tiếp nhận.
Hàm lượng SS trong nước thải của nhà máy là 217 mg/l, cao gấp 2,4 lần so với quy chuẩn cho phép, cho thấy sự vượt quá mức cao của các chất lơ lửng Điều này làm tiêu thụ lượng oxy hòa tan (DO) trong nước, gây giảm DO trong nước thải Sự giảm DO này ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thủy sinh, đặc biệt là hệ vi sinh vật, gây suy giảm chất lượng môi trường nước.
- Đối với các thông số phân tích chất hóa học của nước thải
Các thông số hóa học trong quá trình sản xuất tinh bột sắn chủ yếu là: BOD5,COD, Cyanua, PO4
Thông số BOD5 cao tới 219,6 mg/l, vượt quy chuẩn gần 4,4 lần, trong khi nồng độ COD vượt quy chuẩn gấp 26,4 lần cho thấy quá trình phân hủy yếm khí diễn ra mạnh mẽ do hàm lượng BOD cao Hiện tượng này gây thối nguồn nước, giết chết hệ sinh vật thủy sinh, và thúc đẩy hoạt động của vi khuẩn gây mùi hôi thối, dẫn đến ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng và gây mùi khó chịu quanh khu vực nhà máy.
Trong nước thải của nhà máy, hàm lượng Cyanua vượt quy chuẩn cho phép tới 100 lần với mức 10 mg/l, cho thấy mức ô nhiễm cực kỳ nghiêm trọng và cần được xử lý khẩn cấp để giảm thiểu tác động đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Trong quá trình sản xuất, axit HCN hòa tan trong nước rửa bã và thoát khỏi dây chuyền sản xuất, góp phần gây ô nhiễm môi trường và tạo màu sẫm của nước thải Axit HCN là độc tố có trong vỏ sắn; khi củ sắn còn dưới đất, trong nó không chứa HCN tự do mà ở dạng liên kết gọi là phazeolutanin (C10H17NO6) Sau khi đào, dưới tác dụng của enzym cyanoaza hoặc trong môi trường axit, phazeolutanin phân hủy thành glucoza, axeton và axit cyanuahydric (HCN), gây độc toàn thân cho người HCN ở dạng lỏng trong dung dịch có khả năng kết hợp với enzym trong tế bào, làm ức chế khả năng cấp oxy cho hồng cầu, dẫn đến thiếu oxy các cơ quan của cơ thể Nồng độ HCN thấp có thể gây chóng mặt, miệng đắng và buồn nôn, trong khi nồng độ cao gây cảm giác bồng bềnh, khó thở, da hồng, co giật, mê man, bất tỉnh, hoa mắt, giãn đồng tử, đau ngực, tim ngừng đập và tử vong.
Trong quá trình sản xuất sắn, HCN hòa tan trong nước thải và phản ứng với sắt, hình thành sắt cyanua có màu xám Việc xử lý nhanh chóng HCN là rất cần thiết để ngăn chặn ảnh hưởng đến màu sắc của tinh bột và nước thải, đảm bảo quá trình sản xuất sạch sẽ và an toàn môi trường.
Hàm lượng cyanua trong nước thải quá cao có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng nếu không được xử lý đúng cách trước khi xả thải ra môi trường Ô nhiễm này không chỉ đe dọa sự trong lành của nguồn nước mà còn ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư địa phương Việc xử lý chất thải chứa cyanua hiệu quả là cần thiết để đảm bảo bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hai thông số này đều nằm trong quy chuẩn cho phép của nước thải công nghiệp Tuy nhiên, hàm lượng PO4³⁻ đã gần đạt tới giới hạn quy chuẩn, yêu cầu chú ý kiểm tra định kỳ và thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời khi hàm lượng này tăng cao trong nước thải.
Chất lượng nước thải của nhà máy SXTBS Phú Mỹ vẫn chưa được xử lý hiệu quả, khi các thông số như Cyanua, COD, SS, BOD5 vượt quá quy chuẩn cho phép nhiều lần Nguồn nước thải của nhà máy sắn Phú Mỹ hiện đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường của nhà máy tinh bột sắn Phú Mỹ là do chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải theo hướng phát triển bền vững, khiến mùi hôi từ quá trình sản xuất phát sinh lớn từ bể lắng Khi nhà máy tăng công suất, hệ thống bể lắng và bể điều tiết không đủ khả năng xử lý, dẫn đến tình trạng quá tải và ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước suối Trọng — nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất và sinh hoạt của người dân xã Phong Phú Việc xử lý kịp thời các vấn đề này là cần thiết để đảm bảo môi trường và an sinh cộng đồng.
Đánh giá chất lượng nước mặt và nước ngầm tại khu vực xung quanh nhà máy
4.3.1 Đánh giá chất lượng nước mặt tại khu vực xung quanh nhà máy Để đánh giá mức độ ô nhiễm của quá trình sản xuất ảnh hưởng tới nguồn nước mặt của khu vực, đề tài tiến hành lấy mẫu phân tích một số tính chất hóa học, lý học và so sánh các thông số này với quy chuẩn Việt Nam
Các thông số đánh giá gồm: DO, COD, SS, BOD5 , COD, PO4 3- , NO3 - , Cyanua
Kết quả phân tích các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước mặt tại khu vực nghiên cứu đƣợc tổng hợp ở bảng 4.2:
Bảng 4.2 Các thông số đánh giá chất lượng nước mặt khu vực xung quanh nhà máy sắn Phú Mỹ
M 2: cách nhà máy 100m xuôi dòng chảy
M 3: cách nhà máy 200m xuôi dòng chảy
M 4: cách nhà máy 300m xuôi dòng chảy
M 5: cách nhà máy 500m xuôi dòng chảy
M 6: cách nhà máy 1 Km xuôi dòng chảy
M 7: cách nhà máy 100m phía trên ngƣợc dòng chảy
Oxy hòa tan (DO) là lượng oxy cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật thủy sinh trong nước Nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của sinh vật thủy sinh và là điều kiện không thể thiếu cho quá trình phân hủy hiếu khí của vi sinh vật Khi nước bị ô nhiễm, các chất hữu cơ dễ phân hủy sẽ tiêu thụ lượng oxy hòa tan, làm giảm mức DO trong nước Do đó, mức DO thấp hơn phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ của nguồn nước Oxy hòa tan còn có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình tự làm sạch của dòng sông, hồ, góp phần duy trì hệ sinh thái nước trong lành và cân bằng.
Giá trị DO tại các điểm lấy mẫu nước được thể hiện qua biểu đồ hình 4.5
Hình 4.5 Giá trị DO tại các điểm lấy mẫu nước mặt
Ghi chú: Mẫu 1 (trên biểu đồ) là Mẫu 7
Dữ liệu từ bảng 4.2 và hình 4.5 cho thấy các mẫu nước suối tại các vị trí gần nguồn xả thải của nhà máy như M2 (100m), M3 (200m), và M4 (300m) đều có hàm lượng chất lượng thấp hơn so với quy chuẩn chuẩn Kết quả phân tích cũng cho thấy, càng gần nguồn xả thải, hàm lượng DO trong nước càng giảm, phản ánh ảnh hưởng tiêu cực của quá trình thải ra môi trường.
Các vị trí M5 (cách nguồn thải 500m) và M6 (cách 1km) ghi nhận hàm lượng DO tăng cao hơn và đã đạt tiêu chuẩn cho phép, trong khi M7 (phía trên dòng chảy, cách nguồn thải 100m) có nồng độ DO cao gấp 3,5 lần so với quy chuẩn, cho thấy nước thải từ nhà máy sắn chứa hàm lượng chất hữu cơ chưa được xử lý triệt để, gây ô nhiễm nguồn nước mặt khu vực Khoảng cách 300m xuôi dòng vẫn còn tình trạng ô nhiễm do chỉ tiêu DO nhưng chưa quá nghiêm trọng; tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài, hệ sinh vật thủy sinh sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, dẫn đến chết hàng loạt và là nguyên nhân tiềm tàng gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng hơn trong tương lai.
Chất rắn hòa tan (TDS) luôn tồn tại dưới dạng các ion âm và ion dương, phản ánh khả năng hòa tan cao của nước Khi chảy ngầm trong lòng đất, nước có xu hướng lấy các ion như Canxi và các khoáng chất từ vật chất trong mạch nước Điều này giúp xác định mức độ hòa tan của các khoáng chất trong nước, ảnh hưởng đến chất lượng và tính chất của nước đang sử dụng.
Hình vẽ giá trị TDS tại các điểm lấy mẫu nước được thể hiện qua biểu đồ hình 4.6
Hình 4.6 Giá trị TDS tại các điểm lấy mẫu nước mặt
Ghi chú: Trên biểu đồ 4.6 mẫu 1 là mẫu 7 ở bảng 4.2
Dựa trên số liệu tại bảng 4.2 và hình 4.6, hàm lượng TDS của mẫu 2 (cách 100m) và mẫu 3 (cách 200m) vượt quá giới hạn quy chuẩn, trong khi các mẫu nước còn lại đều đáp ứng tiêu chuẩn an toàn.
Theo quy định của Việt Nam, hàm lượng TDS trong nước tinh khiết không vượt quá 500 mg/l, còn trong nước sinh hoạt không vượt quá 1000 mg/l, phản ánh mức độ tinh khiết của nước Hàm lượng TDS thấp thể hiện nước càng trong sạch và tinh khiết, nhưng cũng cần lưu ý rằng nguồn nước có TDS cao không nhất thiết là không an toàn, vì nó có thể chứa nhiều ion có lợi cho sức khỏe.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thông số TDS càng gần nguồn thải có hàm lượng càng cao, phản ánh mức độ ô nhiễm của nước Điều này cho thấy TDS trong các mẫu nước thải của nhà máy SXTBS Phú Mỹ ảnh hưởng đáng kể đến độ tinh khiết và độ sạch của nguồn nước suối Trọng Việc đánh giá mức TDS giúp xác định mức độ ô nhiễm và tác động của hoạt động công nghiệp đến nguồn nước tự nhiên Đây là yếu tố quan trọng để kiểm soát chất lượng nước và bảo vệ môi trường trong khu vực.
Chất rắn lơ lửng trong nước thải gồm các hạt nhỏ hữu cơ hoặc vô cơ, gây đục nước khi không lắng xuống Khi dòng chảy giảm, phần lớn các chất rắn lơ lửng sẽ lắng ở đáy hồ, còn các hạt không lắng được tạo thành độ đục Các chất lơ lửng hữu cơ tiêu thụ oxy để phân hủy, làm giảm mức DO của nguồn nước Cặn lắng tích tụ gây giảm thể tích hữu dụng của các bể xử lý nước, ảnh hưởng đến hiệu quả của quy trình xử lý.
Hình vẽ giá trị SS tại các điểm lấy mẫu nước được thể hiện qua biểu đồ hình 4.7
Hình 4.7 Giá trị SS taị các vị trí lấy mẫu nước mặt
Ghi chú: Trên biểu đồ 4.7 mẫu 1 là mẫu 7 ở bảng 4.2
Các mẫu nước phân tích đều có nồng độ SS vượt quá tiêu chuẩn cho phép, trong đó mẫu 2 (cách 100m) và mẫu 3 (cách 200m) có giá trị gần gấp đôi quy chuẩn Các công đoạn sản xuất như rửa khô, tách đất và lọc bã đã làm tăng đáng kể hàm lượng SS trong nguồn nước Hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gây ra hiện tượng đục nước, làm giảm năng suất cây trồng và gây bồi lắng tại suối Trọng – nguồn tiếp nhận nguồn thải.
Mẫu 7 là nguồn nước suối trước khi tiếp nhận nguồn thải từ nhà máy có hàm lượng SS nằm trong quy chuẩn quy định Tuy nhiên, kết quả phân tích cho thấy nguồn nước thải của nhà máy sắn Phú Mỹ có hàm lượng SS cao, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nguồn nước mặt Điều này cho thấy cần phải kiểm soát chặt chẽ lượng chất rắn lơ lửng trong nước thải để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hóa các chất hữu cơ trong nước trong một khoảng thời gian xác định, được đo bằng mg/l Chỉ tiêu BOD phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước thải; khi BOD càng cao thì mức ô nhiễm hữu cơ của nước thải hoặc nguồn nước càng lớn.
Thời gian để vi sinh vật oxy hóa hoàn toàn các chất hữu cơ có thể kéo dài từ vài ngày đến vài chục ngày, phụ thuộc vào đặc tính của nước thải, nhiệt độ môi trường và khả năng phân hủy của hệ vi sinh vật trong nước thải Để đảm bảo tính chuẩn xác của các số liệu, người ta thường sử dụng chỉ tiêu BOD5 (hàm lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hóa các chất hữu cơ trong 5 ngày ở 20°C) để đánh giá mức độ Bồ Đào NHA.
Hình vẽ giá trị BOD5 tại các điểm lấy mẫu nước được thể hiện qua biểu đồ hình 4.8
Hình 4.8 Giá trị BOD 5 tại các điểm lấy mẫu nước mặt
Ghi chú: Trên biểu đồ 4.8 mẫu 1 là mẫu 7 ở bảng 4.2
Các kết quả từ bảng 4.2 và hình 4.8 cho thấy các điểm lấy mẫu nước suối Trọng từ vị trí cống thải ở khoảng cách 100m đến 1000m đều có nồng độ BOD5 vượt quá quy chuẩn Việt Nam (QCVN) Nồng độ BOD5 tăng lên khi càng gần nguồn thải, rõ ràng nhất tại vị trí cách cống thải 100m, nơi nồng độ vượt quy chuẩn gấp 9,1 lần Tại các vị trí cách 200m, 300m, 500m và 1000m, giá trị này lần lượt vượt gấp 8,86; 8,84; 8,8 và 7,5 lần Tuy nhiên, ở khoảng cách 100m ngược dòng, nồng độ BOD5 là 12,6 mg/l, nằm trong phạm vi cho phép của quy chuẩn, cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của nguồn thải đến chất lượng nước suối Trọng.
Nguyên nhân chính gây ra chỉ số BOD5 cao là do trong nước thải có hàm lượng chất hữu cơ từ tinh bột sắn quá lớn, trong khi công suất nhà máy hoạt động mạnh và hệ thống xử lý nước thải không đủ khả năng đáp ứng Chất hữu cơ này dễ bị vi sinh vật phân hủy thông qua quá trình sử dụng oxy hòa tan để oxy hóa các hợp chất hữu cơ, làm giảm lượng oxy hòa tan trong nước Sự ô nhiễm này gây suy giảm oxy hòa tan, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên thủy sinh và dẫn đến ô nhiễm nguồn nước suối Trọng Như vậy, nguồn nước suối Trọng đang chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của ô nhiễm.