1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử sơn động bắc giang

74 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử Sơn Động Bắc Giang
Tác giả Đỗ Văn Điển
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thế Nhã
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Sinh thái học và Bảo tồn đa dạng sinh học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 10,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (9)
    • 1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (9)
      • 1.1.1. Nghiên cứu về côn trùng nói chung (9)
      • 1.1.2. Các nghiên cứu về ĐDSH côn trùng ở ngoài nước (0)
    • 1.2. Nghiên cứu trong nước (12)
  • Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (15)
    • 2.1. Giới thiệu về khu bảo tồn (15)
      • 2.1.1. Giới thiệu chung (15)
      • 2.1.2. Bộ máy tổ trức và cơ cấu hoạt động (17)
    • 2.2. Điều kiện tự nhiên (18)
      • 2.2.1. Vị trí địa lý của khu bảo tồn (18)
      • 2.2.2. Địa hình địa thế (18)
      • 2.2.3. Khí hậu thuỷ văn (18)
      • 2.2.4. Địa chất thổ nhưỡng (20)
    • 2.3. Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội (21)
      • 2.3.1. Dân số, dân tộc, lao động (21)
      • 2.3.2. Tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập (21)
      • 2.3.3. Cơ sở hạ tầng (22)
    • 2.4. Đa dạng sinh học (22)
      • 2.4.1. Về Thực vật (23)
      • 2.4.2. Về động vật (24)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (26)
    • 3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (26)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (27)
      • 3.4.1 Phương pháp kế thừa (27)
      • 3.4.2. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp (27)
      • 3.4.3. Công tác nội nghiệp (32)
  • Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (26)
    • 4.1. Thành phần của các loài côn trùng trong khu vực nghiên cứu (34)
    • 4.2. Đa dạng thành phần loài côn trùng trong khu vực nghiên cứu (35)
      • 4.2.1. Đa dạng về các bậc phân loại (họ, loài) của các bộ côn trùng (35)
      • 4.2.2. Sự đa dạng ở bậc họ (36)
    • 4.3. Sự đa dạng về phân bố (38)
      • 4.3.1. Sự phân bố của côn trùng theo sinh cảnh sống (38)
      • 4.3.2. Sự phân bố côn trùng theo đai độ cao (40)
      • 4.3.3. Ảnh hưởng của địa hình đến phân bố côn trùng trong khu vực nghiên cứu (41)
    • 4.4. Sự đa dạng về hình thái của các loài côn trùng trong khu vực nghiên cứu (42)
    • 4.5. Sự đa dạng về sinh thái (45)
      • 4.5.1. Sự đa dạng về nguồn thức ăn (46)
      • 4.5.2. Sự đa dạng về môi trường sống (48)
    • 4.6. Đánh giá vai trò đa dạng loài côn trùng (49)
    • 4.7. Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững (53)
      • 4.7.1. Các loài quý hiếm trong khu vực nghiên cứu (53)
      • 4.7.2. Đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của các loài côn trùng ưu tiên trong bảo tồn (53)
      • 4.7.3. Các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học loài côn trùng (55)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (60)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về côn trùng nói chung

Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng đặc biệt nổi bật là đóng góp của nhà tự nhiên học Carl von Linne người Thụy Điển Ông được coi là người tiên phong trong hệ thống phân loại sinh vật, giúp định hình cách xác định và phân loại côn trùng hiệu quả Bằng việc xây dựng hệ thống phân loại động thực vật, Carl von Linne đã mở đường cho các nghiên cứu về côn trùng ngày càng phát triển và chính xác hơn.

Tuy nhiên, mãi đến cuối thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX các nghiên cứu về côn trùng mới được quan tâm và phát triển

Trong lịch sử phân loại côn trùng, năm 1904 có Krepton, năm 1928 có Martunov và năm 1938 có Weber đã tiếp tục phát triển các hệ thống phân loại dựa trên đặc điểm bộ, họ của côn trùng Các công trình này đã giới thiệu nhiều hệ thống phân loại khác nhau tùy theo quan điểm của từng tác giả, thường chỉ dừng lại ở cấp độ phân loại bộ, họ Ví dụ, Carl von Linne dựa vào cấu tạo cánh để phân côn trùng thành 7 bộ, trong khi Pharisi dựa vào cấu tạo miệng để chia thành 8 bộ, phản ánh những quy chuẩn phân loại khác nhau trong nghiên cứu sinh học côn trùng.

Năm 1920 đến 1940 các nhà thu thập mẫu côn trùng nghiệp dư đã xuất bản tài liệu phân loại bướm ở Niederland gồm 33 tập

Năm 1950, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô công bố tập sách “Phân loại côn trùng ở các dải rừng phòng hộ” do nhóm tác giả L.V Apnolgi và G.A Buyên- cô biên soạn, đánh dấu bước đầu trong nghiên cứu về hệ thống phân loại côn trùng tại Liên Xô Đến giữa thế kỷ XX, các nhà khoa học bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực này và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, như các công trình của Manfred Koch (1955), A.I Linski (1962), M.A Ioneson (1962), Brues A.L Metander (1965), cũng như các nghiên cứu của Donaldi-Borror và Richard E White từ năm 1970 đến 1978 về phương pháp phân loại và nhận biết côn trùng.

Theo Wilson (1988) tổng số các loài sinh vật đã được biết trên trái đất là 1.413.000 loài, trong đó tỷ lệ các nhóm loài sinh vật như sau:

Nhóm loài Tổng số loài % các loài % động vật

- Các loài động vật khác 281.000 loài 19,89 26,44

- Động vật nguyên sinh 30.800 loài 2.18 2.90

- Thực vật bậc cao 248.500 loài 2.18 2,90

- Các loại vi khuẩn 4.800 loài 0,34

Hiện nay, có dự đoán còn khoảng 3-4 triệu loài sinh vật chưa được con người biết đến, chủ yếu là các loài côn trùng sống trong vùng nhiệt đới Do các nhà phân loại học thường chú trọng vào những loài “hấp dẫn” hơn, kiến thức về các loài còn hạn chế, đặc biệt là các loài như giun, côn trùng nhỏ, nấm sống trong đất hoặc trong tán lá rậm rạp của rừng nhiệt đới Những loài này thường rất nhỏ, khó nghiên cứu và ít được chú ý trong các công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học.

1.1.2 Các nghiên cứu về đa dạng sinh học (ĐDSH) côn trùng ở ngoài nước

1.1.2.1 Nghiên cứu về phân loại, thành phần loài côn trùng

Côn trùng học bắt nguồn từ Aristotle (384-322 TCN), được xem là cha đẻ của lịch sử tự nhiên Ông là người first mô tả và phân loại thế giới động vật thành hai nhóm chính: nhóm có màu và nhóm không có màu Trong nhóm không có màu, ông nhận thấy cơ thể phân đốt, chia thành đầu, ngực và bụng, trong đó có côn trùng, giáp xác bậc thấp như tôm, cua, và các loài giun đất.

Carl von Linne (1707-1787) là người đặt nền móng cho hệ thống phân loại hiện đại về côn trùng, góp phần định hình các phương pháp phân loại khoa học ngày nay Ông đã phân chia côn trùng thành các bộ, giống và loài, trong đó bộ không cánh bao gồm cả Nhện, Giáp xác và Rết Tuy nhiên, ông cũng tách riêng Giun và Sao biển khỏi nhóm côn trùng để phản ánh chính xác đặc điểm sinh học của các loài này.

Trong thời kỳ Linne, các nghiên cứu về côn trùng ngày càng phát triển, góp phần mở rộng hiểu biết về thế giới động vật Tuy nhiên, côn trùng học vẫn chỉ là một lĩnh vực phụ thuộc vào ngành động vật học, giữ vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu sự đa dạng và sinh thái của các loài côn trùng.

Tiếp theo đó nhiều nhà côn trùng học nổi tiếng trên thế giới đã đưa côn trùng học thành chuyên ngành sinh học độc lập, đó là Fabre (1823-1915), Keppri (1833-

…và cũng trong thời gian này, một loạt các loài côn trùng đã được phát hiện và mô tả

Số lượng các loài động vật, như côn trùng, trong một sinh cảnh nhất định phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kích thước của sinh cảnh, mức độ không đồng nhất của môi trường, tuổi thọ, và mức độ đa dạng sinh học của hệ sinh thái đó Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp tối ưu hóa quản lý và bảo tồn các quần thể động vật trong tự nhiên.

Nhiều nghiên cứu quan trọng về côn trùng ở khu vực đã được thực hiện bởi các nhà khoa học Trung Quốc Năm 1987, Thái Bàng Hoa và Cao Thu Lâm công bố công trình phân loại côn trùng rừng Vân Nam, trong khi năm 1999, Li Chuanlong nhấn mạnh sự đa dạng sinh học của các loài bướm ngày tại Vân Nam Do Vân Nam gần Việt Nam, nhiều loài côn trùng trong các nghiên cứu này cũng xuất hiện ở khu vực của chúng ta Tài liệu “Bướm đảo Hải Nam” của Cố Mậu Bình và Trần Phượng Trân, với hơn 500 loài bướm ngày được giới thiệu qua ảnh màu nhiều góc độ, cho thấy sự đa dạng lớn của bướm ngày khu vực này Ngoài ra, nghiên cứu về đặc điểm sinh học của côn trùng rừng Trung Quốc của Xiao Gangrou cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp kiến thức chuyên sâu về các loài côn trùng trong vùng.

Trong tổng số 1300 trang, phần lớn nội dung giới thiệu về các loài côn trùng có ý nghĩa kinh tế quan trọng, đặc biệt là các loài sâu hại Các tài liệu đáng chú ý về thiên địch bao gồm “Tạp chí Bọ rùa Vân Nam” của Tào Thành Nhất và “Sổ Tay côn trùng thiên địch” của Trường Đại học Nông nghiệp Triết Giang Tuy nhiên, phần lớn các tài liệu này chủ yếu tập trung vào phân loại, thiếu các phân tích sâu về tính đa dạng sinh học của các đối tượng nghiên cứu.

1.1.2.2 Nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH côn trùng trên thế giới

Nhiều nghiên cứu quốc tế đã tập trung vào việc xác định các nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học (ĐDSH) của côn trùng Trong số những nguyên nhân chính, việc mất môi trường sống và ô nhiễm là những yếu tố hàng đầu góp phần làm giảm số lượng và đa dạng của các loài côn trùng trên toàn thế giới Những tác động từ hoạt động con người như nạn khai thác quá mức, sử dụng thuốc trừ sâu và biến đổi khí hậu cũng đã được xác định là các nguyên nhân quan trọng gây suy thoái ĐDSH côn trùng Hiểu rõ các nguyên nhân này sẽ giúp các nhà khoa học và nhà quản lý đưa ra giải pháp bảo vệ và duy trì đa dạng sinh học côn trùng bền vững.

- Do khai thác quá mức dẫn đến sự tuyệt chủng của một số loài động thực vật

- Do sự phát triển ồ ạt của công nghiệp hóa hiện đại hóa

- Sự xuất hiện nhiều loài ngoại lại xâm hại các loài bản địa

1.1.2.3 Nghiên cứu về các giải pháp bảo tồn ĐDSH côn trùng trên thế giới

Bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) là một vấn đề phức tạp và mang tính hệ thống, đòi hỏi tiếp cận toàn diện Mặc dù côn trùng phong phú về thành phần loài với số lượng thể lớn, chúng vẫn chỉ là một trong nhiều nhóm sinh vật sống trên trái đất này Trong bất kỳ hệ sinh thái nào, côn trùng có mối liên hệ chặt chẽ với các loài sinh vật khác, vì vậy việc bảo vệ chúng không thể thực hiện độc lập mà cần hướng tới bảo tồn toàn bộ hệ sinh thái.

Trong bối cảnh nghiên cứu côn trùng ngày càng phát triển mạnh mẽ, xu hướng hiện nay là tập trung vào các chuyên ngành hẹp như từng bộ, giống, và loài cụ thể Các công trình nghiên cứu này thường được trình bày trên các tạp chí, báo cáo hội nghị, và các trang web quốc tế, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của từng quốc gia cũng như toàn cầu.

Nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu về phân loại côn trùng đầu tiên tại Việt Nam bắt nguồn từ dự án của đoàn nghiên cứu Pháp mang tên Mission Pavie, đã khảo sát Đông Dương trong 16 năm (1879-1895) Trong thời gian này, đoàn đã xác định được 8 bộ côn trùng quan trọng, mở ra tiền đề cho ngành côn trùng học Việt Nam Các phát hiện của nghiên cứu này đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng hệ sinh thái côn trùng tại khu vực Đông Dương, góp phần thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong nước.

Có 85 họ và 1.040 loài côn trùng được ghi nhận trong nghiên cứu, trong đó phần lớn mẫu vật được thu thập ở Lào và Campuchia, còn tại Việt Nam số lượng mẫu ít hơn đáng kể Các mẫu vật quan trọng này chủ yếu được lưu trữ tại các viện bảo tàng uy tín như Paris, London, Genève và Stockholm, góp phần thúc đẩy nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học của khu vực.

Năm 1972, Bộ môn Điều tra Sâu bệnh thuộc Cục Điều tra Rừng (nay là Viện Điều tra Quy hoạch Rừng) bắt đầu tiến hành điều tra côn trùng trên các vùng tự nhiên của tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Hòa Bình Các kết quả thu thập đã cho thấy nhiều mẫu côn trùng và sâu bệnh quan trọng, được lưu giữ tại Bảo Tàng của Viện để phục vụ nghiên cứu Tuy nhiên, do nhiều hạn chế về nguồn lực, số lượng mẫu vật được giám định còn hạn chế, khiến khả năng đánh giá toàn diện về giá trị của các loại côn trùng, sâu bệnh trong giai đoạn này còn chưa đầy đủ.

Dựa trên báo cáo kết quả điều tra côn trùng và bệnh côn trùng tại các tỉnh miền Nam giai đoạn 1977-1978 của Viện Bảo vệ thực vật, đã xác định được tổng cộng 1096 loài côn trùng Trong đó, bộ Chuồn chuồn gồm 4 loài, bộ Gián có 2 loài, bộ Bọ ngựa có 2 loài, bộ Cánh bằng chỉ có 1 loài, bộ Bọ que cũng có 1 loài, bộ Cánh thẳng chiếm ưu thế với 72 loài, bộ Cánh da gồm 1 loài, bộ Cánh giống có 121 loài, bộ Cánh nửa gồm 100 loài, bộ Cánh cứng có 232 loài, bộ Cánh phấn đông đảo với 474 loài, bộ Cánh màng gồm 19 loài, và bộ Hai cánh gồm 57 loài.

Kết quả điều tra côn trùng và bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam giai đoạn 1997-

Năm 1998, Viện Bảo vệ Thực vật đã khảo sát 421 loài côn trùng trên các cây ăn quả tại Việt Nam, trong đó bộ Chuồn chuồn có 1 loài, bộ Cánh thẳng gồm 19 loài, bộ Bọ Ngựa có 4 loài, bộ Cánh da 3 loài, bộ Cánh tơ 4 loài, bộ Cánh nửa 56 loài và bộ Cánh đều 29 loài Theo Đỗ Tất Lợi trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam,” nhiều loài côn trùng như Dế cơm và Ong đen được sử dụng trong y học để điều trị các bệnh lý Đây là minh chứng cho sự đa dạng và ứng dụng của côn trùng trong lĩnh vực y học cổ truyền tại Việt Nam.

Việc nghiên cứu các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam còn hạn chế và chủ yếu mới dừng lại ở một số địa phương, khu bảo tồn nhỏ lẻ Lê Xuân Hệ trong Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Điều tra cơ bản ĐDSH, chim Vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An” đã đề xuất các biện pháp khai thác, sử dụng hợp lý một số loài côn trùng có ích như ong ruồi và ong khói, đồng thời đề xuất nhân nuôi các loài côn trùng cánh cứng và bướm đẹp để bảo tồn đa dạng sinh học Đặng Thị Đáp (2008) đã đề xuất mô hình nhân nuôi một số loài bướm tại Tam Đảo, tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào các loài có giá trị thẩm mỹ cao, chưa mở rộng ra các loài khác có vai trò sinh thái quan trọng.

Việc nghiên cứu ĐDSH côn trùng đã được thực hiện ở một số Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn như: VQG Cát Tiên, Tam Đảo, Xuân Sơn…

Các nghiên cứu về đa dạng sinh học của côn trùng chủ yếu đã tập trung vào việc điều tra và phát hiện thành phần loài tại các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia Tuy nhiên, việc nghiên cứu về đặc điểm phân bố, giá trị của đa dạng sinh học côn trùng và các giải pháp bảo tồn vẫn còn hạn chế Đặc biệt, tại khu bảo tồn Tây Yên Tử chưa có bất kỳ nghiên cứu nào liên quan đến côn trùng, cho thấy cần tăng cường các hoạt động nghiên cứu để nâng cao nhận thức và hiệu quả bảo vệ đa dạng sinh học.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Giới thiệu về khu bảo tồn

Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử được thành lập ngày 22 tháng 7 năm 2002 theo Quyết định số 117/QĐ-UB của UBND tỉnh Bắc Giang, trên cơ sở tổ chức lại Ban quản lý bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, Tiểu khu Thanh Sơn thuộc Lâm trường Sơn Động II, và Tiểu khu Chía – Nước Vàng thuộc Lâm trường Mai Sơn Nơi đây nằm trên địa bàn thị trấn Thanh Sơn và các xã Thanh Luận, Tuấn Mậu, An Lạc của huyện Sơn Động, cùng xã Lục Sơn thuộc huyện Lục Nam, giáp với tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh Diện tích của Khu bảo tồn là 13.022,7 ha rừng và đất rừng đặc dụng, gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (6.022,5 ha) và phân khu phục hồi sinh thái (7.000,2 ha), trong đó riêng phân khu hành chính – dịch vụ rộng 22 ha.

Rừng tự nhiên khu vực núi Yên Tử không chỉ chứa đựng giá trị đa dạng sinh học cao mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu và cung cấp nước cho vùng hạ lưu thuộc Đông Bắc Việt Nam Nghiên cứu sơ bộ đã ghi nhận 728 loài thực vật và 285 loài động vật rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, trong đó có nhiều loài thực vật quý hiếm như Pơ mu, Thông tre, Sến mật, Trầm hương, Táu mật, Thông nàng, cùng các loài động vật như Cu li, Voọc đen, Gấu ngựa, Hươu vàng, Rùa vàng Đặc biệt, ngoài các loài quý hiếm và đặc hữu, núi Yên Tử còn phát hiện nhiều loài mới và ghi nhận mới, thể hiện giá trị đa dạng sinh học đặc biệt của khu vực.

Tử là trong vài năm trở lại đây

Yên Tử có vị trí địa lý tự nhiên chiến lược, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn Nơi đây không chỉ mang ý nghĩa về mặt sinh thái mà còn giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của khu vực Chính vì vậy, Yên Tử đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Hội đồng, nhằm thúc đẩy các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của vùng đất thiêng này.

Bộ trưởng (nay là Chính phủ) phê duyệt vào danh mục rừng đặc dụng Việt Nam theo Chỉ thị số 194/CT-HĐBT, ngày 9/8/1986 với mục tiêu chính là:

1 Bảo tồn diện tích rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên núi cao thuộc vùng Đông Bắc - Việt Nam

2 Bảo vệ nguồn gen và đa dạng sinh học của khu hệ động, thực vật rừng nhiệt đới, các giá trị khoa học, địa chất và cảnh quan

3 Tăng cường vai trò phòng hộ, duy trì và điều hoà nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái

4 Ổn định điều kiện sống và kinh tế xã hội của người dân trong KBT bằng các giải pháp kỹ thuật, tuyên truyền phổ biến các chính sách bảo vệ rừng, môi trường và chính sách hưởng lợi của người dân

Từ khi thành lập, KBTTN Tây Yên Tử đã trở thành địa điểm nghiên cứu khoa học lý tưởng, thu hút nhiều thế hệ nghiên cứu sinh, sinh viên, học sinh và các tổ chức quốc tế như Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, Đại học Sư phạm Hà Nội, Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc, Bảo tàng Động vật Alexander Koenig, Vườn thú Cologne (Đức), Đại học Kyoto (Nhật Bản), và Viện Động vật Xanh-pê-tec-bua (Nga) Các công trình nghiên cứu tại đây đã xác nhận và khẳng định giá trị đa dạng sinh học đặc biệt của KBTTN Tây Yên Tử, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

KBTTN Tây Yên Tử nổi bật với đa dạng sinh học phong phú cùng các cảnh quan tự nhiên hiếm có, tạo nên một kỳ quan thiên nhiên độc đáo Nơi đây còn có nhiều quần thể di tích lịch sử – văn hóa đã được xếp hạng như Thác Giót, Đá Rạn, Ao Vua, Hồ Tiên, và Suối Nước Vàng, góp phần làm giàu giá trị văn hóa và lịch sử của khu vực Các tuyến du lịch tại Tây Yên Tử thu hút bởi cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, núi rừng hùng vĩ, chứa đựng nhiều giá trị vật thể và phi vật thể vô cùng quý giá của quốc gia Tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng này hứa hẹn sẽ mở ra nhiều tiềm năng khai thác du lịch trong tương lai, góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

2.1.2 Bộ máy tổ trức và cơ cấu hoạt động

Hình 2-01 : Bộ máy tổ chức và cơ cấu hoạt động của KBTTN Tây Yên Tử

KBTTN Tây Yên Tử có 25 cán bộ và nhân viên, gồm ban lãnh đạo gồm Trưởng ban – Hạt trưởng Kiểm lâm, Phó trưởng ban phụ trách kỹ thuật và Hạt phó phụ trách phân ban Khe Rỗ Ngoài ra, cơ cấu tổ chức còn bao gồm Bộ phận Kỹ thuật, Bộ phận Hành chính, Tổ cơ động - Pháp chế, cùng lực lượng kiểm lâm địa bàn được phân bổ tại 6 trạm, trong đó có 3 trạm thuộc Phân ban Khe Rỗ và 3 trạm thuộc Phân ban Thanh Sơn – Lục Sơn.

Trong đội ngũ cán bộ, có 12 người có trình độ đại học trở lên, 10 người tốt nghiệp cao đẳng hoặc trung cấp, và 3 người có trình độ sơ cấp, đảm bảo năng lực và nhiệt huyết trong công việc KBTTN Tây Yên Tử chú trọng đến việc nâng cao kỹ năng và rèn luyện kinh nghiệm quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học thông qua các khóa tập huấn và đào tạo để đáp ứng yêu cầu công việc trong tương lai.

Trưởng ban - Hạt Trưởng Phó Trưởng ban Phó Trưởng ban

Trạm KL Đồng Thông Trạm KL Nước Vàng

Điều kiện tự nhiên

2.2.1 Vị trí địa lý của khu bảo tồn

Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có diện tích rộng 13.023ha, nằm trên địa bàn của bốn xã và thị trấn: An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận, Tuấn Mậu (huyện Sơn Động) và xã Lục Sơn (huyện Lục Nam) Vị trí địa lý của khu bảo tồn đảm bảo sự đa dạng sinh học phong phú và là nơi bảo tồn các hệ sinh thái đặc trưng của vùng núi cao Bắc Bộ Đây là khu vực có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm, đồng thời góp phần phát triển du lịch sinh thái và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cộng đồng địa phương.

+ Từ 21 0 9' đến 21 0 13' Vĩ độ Bắc

+ Từ 106 0 33' đến 107 0 2' Kinh độ Đông

Phía Đông và phía Nam giáp tỉnh Quảng Ninh và Hải Dương

Phía Tây và Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn và phần còn lại của các xã Thanh Sơn, Thanh Luận, An Lạc, Dương Hưu, Long Sơn, Lục Sơn

Trung tâm Khu Bảo tồn đặt tại thôn Chợ, xã Thanh Sơn Cách thị trấn An Châu, huyện Sơn Động 25 km về phía Đông Nam

Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử nằm trong lưu vực Yên Tử Tây, được bao bọc bởi dãy Yên Tử và có đỉnh cao nhất là 1068m Địa hình dốc và hiểm trở, đặc biệt với độ dốc vượt quá 300 và nhiều vách đá dựng đứng, tạo nên một khu vực cực kỳ phức tạp, chia cắt mạnh mẽ Từ Đông Nam sang Tây Bắc, địa thế dần thấp xuống, với khu vực giáp ranh tỉnh Quảng Ninh có độ dốc trung bình 35-40 độ Nhờ đặc điểm địa hình này, Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử vẫn còn giữ được nhiều khu vực nguyên vẹn cùng với quần thể sinh vật phong phú, đa dạng, góp phần bảo vệ hệ sinh thái quý giá của khu vực.

Khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (KBTTN Tây Yên Tử), thuộc hai huyện Sơn Động và Lục Nam tỉnh Bắc Giang, có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với lượng mưa lớn quanh năm Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23°C, trong đó nhiệt độ trung bình tháng cao nhất đạt 28,5°C, và tháng thấp nhất là 15,8°C Lượng mưa trung bình năm tại đây là 1.483,3mm, với mức cao nhất trung bình tháng là 291,9mm và thấp nhất là 31,2mm Tổng số ngày mưa trong năm khá nhiều, góp phần tạo nên đặc trưng khí hậu tươi mát, phù hợp cho các hệ sinh thái đa dạng của khu vực.

Trong vòng 120 ngày tập trung vào các tháng 5, 6, 7, 8, độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, thấp nhất là 79%, giúp duy trì điều kiện khí hậu phù hợp Lượng bốc hơi trung bình hàng năm đạt 1.050 mm, chủ yếu diễn ra trong các tháng 5, 6, 7, và tỷ lệ bốc hơi thấp hơn lượng mưa, giảm thiểu nguy cơ hạn hán trong mùa khô Điều này cho thấy mùa khô ít bị ảnh hưởng bởi hiện tượng hạn hán do cân bằng giữa lượng mưa và hoạt động bốc hơi tự nhiên.

Sương mù thường xuất hiện vào các tháng 1, 2, 9, 10, 11, 12, gây ảnh hưởng đến hoạt động nông nghiệp và đời sống người dân Trong các tháng 1, 11, 12, sương muối thỉnh thoảng xuất hiện, gây thiệt hại cho trồng trọt và chăn nuôi tại địa phương Sơn Động và Lục Nam chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa chính: gió mùa Đông Bắc xuất hiện vào mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3, đi kèm mưa phùn và giá lạnh, trong khi gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10 khiến mùa hè trở nên nóng với các cơn giông bão, mưa to đến rất to Tuy nhiên, nhờ vị trí xa biển và được dãy Yên Tử che chắn, mức độ thiệt hại do bão gây ra tại đây thường không lớn.

Nhiệt độ và độ ẩm là hai yếu tố quyết định quan trọng đến đời sống của côn trùng theo giáo trình “Côn trùng rừng” Côn trùng là động vật thân nhiệt không cố định, vì vậy sự thay đổi của nhiệt độ môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệt độ cơ thể của chúng Khi nhiệt độ môi trường phù hợp, quá trình trao đổi chất và năng lượng diễn ra bình thường, giúp côn trùng duy trì hoạt động sống hiệu quả Ngược lại, khi nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao ngoài giới hạn thích hợp, hoạt động của côn trùng giảm dần và chúng có thể rơi vào trạng thái hôn mê do nóng hoặc lạnh, thậm chí dẫn đến tử vong.

Cơ thể côn trùng chứa lượng nước lớn, dao động từ 45% đến 92%, giúp chúng duy trì sự sống và hoạt động Trọng lượng của côn trùng thay đổi tùy theo loài và pha phát triển, phản ánh sự thích nghi của chúng với môi trường sống Một số loài côn trùng điều chỉnh sản phẩm bài tiết, như amoniac (nitơ) khi sống trong nước và urê khi trên cạn, nhằm tiết kiệm nước nhưng chỉ duy trì được trong thời gian nhất định Độ ẩm và lượng mưa có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến thực vật và nguồn thức ăn của côn trùng, qua đó tác động lớn đến đời sống và hoạt động của các loài côn trùng trong hệ sinh thái.

Theo giáo trình “Côn trùng rừng”, đa số các loài côn trùng trong vùng nhiệt đới sống tốt trong khoảng nhiệt độ từ 15°C đến 35°C và độ ẩm từ 70% đến 100%, với điều kiện lý tưởng là 20°C đến 30°C và 80% đến 90% So sánh với điều kiện khí hậu của khu vực nghiên cứu, nhiệt độ và độ ẩm phù hợp giúp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đa dạng các loài côn trùng Điều này dẫn đến sự phong phú về thành phần loài, số lượng và sự đa dạng của côn trùng trong区域.

Khu Bảo tồn thiên nhiên Yên Tử nằm trong lưu vực Yên Tử Tây, gồm 7 con suối lớn như Suối Đồng Rì, suối Bài, suối Nước Nóng, suối Nước Vàng, suối Đá Ngang, suối Khe Đin và suối Khe Rỗ Những con suối này thuộc thượng nguồn của sông Lục Nam và được duy trì nguồn nước quanh năm nhờ sự che phủ của nhiều khu rừng trong lưu vực.

Nguồn cung cấp nước chính cho các xã Thanh Sơn, Thanh Luận, Lục Sơn và An Lạc, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân địa phương.

2.2.4 Địa chất thổ nhưỡng Đất thuộc các xã An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận, Lục Sơn được hình thành trên phức hệ đất trầm tích, gồm các loại đá mẹ sa thạch, phiến thạch sét, sa phiến thạch, cuội kết và phù sa cổ

Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có 2 loại đất chính sau:

Đất Feralít chủ yếu phân bố trên các đỉnh núi cao từ 300m trở lên, thường còn được che phủ bởi thực vật và có tầng đất sâu, ẩm ướt Các khu vực này có lớp thảm mục khá dày, giúp cải thiện khả năng giữ nước và cung cấp dinh dưỡng cho thực vật Đặc điểm nổi bật của loại đất này là giàu dinh dưỡng, thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng Trong đất Feralít, thường xuất hiện các loại phụ đặc trưng như các khoáng chất và thành phần địa chất đặc thù, góp phần vào tính đa dạng và đặc trưng của hệ sinh thái.

+ Đất Feralít núi màu vàng

+ Đất Feralít núi màu vàng nâu

+ Đất Feralít núi bằng, tầng B không rõ

Đất Feralít điển hình phân bố chủ yếu ở độ cao 200-300m, tập trung tại khu Tây Bắc của khu bảo tồn, hình thành trên nền đá phiến thạch và sa thạch Tầng đất này có độ dày trung bình đến dày, mang đặc điểm của đất rừng, với những khu còn rừng có tầng đất sâu, ẩm, giàu dinh dưỡng Ngược lại, ở những vùng đã mất rừng, đất bị thoái hoá nghiêm trọng, nghèo dinh dưỡng Các loại phụ Feralít gồm có nhiều dạng khác nhau phù hợp với từng điều kiện sinh thái của khu vực.

+ Đất Ferlít màu vàng, phát triển trên đá mẹ sa thạch, tầng đất nông, nghèo dinh dưỡng

+ Đất Ferlít màu vàng đỏ, phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét, sa phiến thạch tầng đất trung bình, chất dinh dưỡng trung bình.

Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội

2.3.1 Dân số, dân tộc, lao động

Trên địa bàn KBTTN Tây Yên Tử có 4 xã:

+ Xã Thanh Luận có 565 hộ với 2.704 khẩu

+ Xã Thanh Sơn có 868 hộ với 4.487 khẩu

+ Xã Lục Sơn có 1.613 hộ với 6.831 khẩu

+ Xã An Lạc có 732 hộ với 3.424 khẩu

Gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Sán dìu, Sán trắng, Hoa, Cao lan, Sán chí

- Tổng số hộ là 3.778 hộ với 17.446 người Trong độ tuổi lao động là: 6.649 người Trong đó:

+ Lao động nữ là 3.524 người

+ Lao động nam là 3.125 người

2.3.2 Tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập

Các hộ dân trong vùng dự án chủ yếu sinh sống bằng nghề nông như trồng trọt, chăn nuôi, thu hái lâm sản phụ và trồng cây công nghiệp, thể hiện rõ đặc trưng tập quán canh tác của cư dân địa phương Ngoài ra, nguồn sống của các hộ gia đình vẫn còn phần lớn dựa vào rừng, phản ánh mối liên hệ gắn bó lâu dài giữa cộng đồng và tài nguyên thiên nhiên nơi đây.

Các hộ gia đình chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nhưng diện tích đất canh tác còn hạn chế, với bình quân ruộng nước chỉ từ 1,8 đến 2,5 sào/người ở các xã Thanh Sơn, Thanh Luận, Lục Sơn và An Lạc Bình quân lương thực đầu người đạt 280kg/năm, dẫn đến tình trạng thiếu ăn và cuộc sống còn nhiều khó khăn Trước kia, đồng bào phụ thuộc nhiều vào rừng để tồn tại, nhưng hiện nay đã trồng các loại cây công nghiệp như chè, cây ăn quả và tham gia các dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm như Việt - Đức, dự án trồng rừng kinh tế, góp phần nâng cao đời sống cộng đồng.

Trong quá khứ, nhân dân vùng dự án chủ yếu khai thác rừng như khai thác gỗ, tre, nứa và thu hái lâm sản phụ Tuy nhiên, hiện nay, người dân địa phương đã tích cực tham gia bảo vệ rừng và trồng rừng theo các chương trình của dự án khu bảo tồn cũng như các dự án vùng đệm, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực.

- Các ngành sản xuất khác: Chưa phát triển

Cuộc sống của người dân quanh Khu Bảo tồn còn đối mặt với nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào tài nguyên rừng để sinh tồn Việc khai thác tài nguyên rừng không hợp lý đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học và làm mất cân bằng sinh thái trong vùng.

Xã Thanh Sơn, Thanh Luận, Lục Sơn có tuyến đường 289 đi qua nhưng do phải vượt qua nhiều sông suối nên chất lượng đường rất kém, gây khó khăn trong việc đi lại, đặc biệt vào mùa mưa Trong khi đó, xã An Lạc chỉ có các tuyến đường nội bộ, chất lượng đường xuống cấp và phải vượt sông, khiến việc đi lại trong xã không thuận tiện.

Trong Khu Bảo tồn, hệ thống đường đi chủ yếu là các tuyến đường lâm nghiệp cũ và đường vận chuyển than Tuy nhiên, do đã lâu không được duy tu, bảo dưỡng, chất lượng của các tuyến đường này đã xuống cấp đáng kể, ảnh hưởng đến hoạt động đi lại và vận chuyển trong khu vực.

Lưu vực các suối có nhiều rừng, giúp duy trì dòng chảy nước quanh năm, đảm bảo nguồn nước ổn định phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng.

Trong khu vực dự án, hầu hết dân cư đã có điện lưới quốc gia, góp phần nâng cao đời sống văn hoá và mức sống của các hộ gia đình Nhà cửa khang trang với nhiều tài sản có giá trị như ti vi, xe máy, tủ lạnh thể hiện sự tiến bộ của xã hội Các xã trong vùng đều có trường học, trạm y tế, đáp ứng nhu cầu giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Hệ thống chợ Nòn và chợ Đồng Đỉnh mang lại thuận tiện cho người dân trong hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá.

Đa dạng sinh học

Yên Tử, còn gọi là Linh Sơn hay Núi Thiêng, là dãy núi cao nổi bật tại miền Đông Bắc Việt Nam Với hệ sinh thái tự nhiên đa dạng và phong phú, Yên Tử đã trở thành khu vực có giá trị sinh thái đặc biệt và đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học.

Kết quả khảo sát thực địa mới nhất tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử đã xác định được 5 kiểu thảm thực vật chính là:

Dưới độ cao 100m, hai kiểu thảm thực vật đặc trưng gồm Trảng cỏ và Trảng cây bụi, trong đó có nhiều loài cây dược liệu quý, góp phần đa dạng sinh học và giá trị dược liệu của khu vực.

- Ở độ cao 100 -200m: Là trảng hóp xen gỗ và tre nứa, đây là hình thái của thảm thực vật thứ sinh, bao gồm cả cây thuốc

- Từ 200m lên đến 900m là kiểu rừng kín thường xanh, cây lá rộng thường xen cây lá kim, mưa ẩm nhiệt đới

- Từ 900 đến 1.068m là kiểu rừng cây gỗ lá rộng

Trong 5 kiểu thảm thực vật trên, kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng xen cây lá kim mưa ẩm nhiệt đới hiện chiếm hầu hết khu bảo tồn (70% các loài cây đã thống kê được) Các loài có giá trị kinh tế, có ý nghĩa khoa học cũng được phát hiện tại đây, đáng chú ý như các loài: Dẻ đỏ, Dẻ cau, Thông nàng (Thông đuôi gà) Từ độ cao 900m trở lên thảm thực vật với ưu thế rõ rệt của thảm Trúc Thảm Trúc xuất hiện ở gần đỉnh núi, chứng minh sức sống trường tồn ngày cả trên các sống núi chỉ toàn đá

Tại KBTTN Tây Yên Tử, đã ghi nhận 492 loài thực vật bậc cao có mạch, phân chia thành 8 nhóm sử dụng chính Trong đó, nhóm cây gỗ chiếm tỷ lệ lớn nhất với 32.3%, tiếp theo là nhóm cây thuốc, chiếm 20.9% Các nhóm còn lại gồm cây dùng để chi tananh, tinh dầu và nhựa, cây làm thực phẩm cho con người, cây làm thức ăn cho vật nuôi, vật liệu xây dựng, đồ trang trí mỹ nghệ, và cây cảnh (chủ yếu là loài lan), trong đó tổng số cây dược liệu chiếm trên 40% tổng số loài đã thống kê.

Hệ thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử sở hữu đa dạng sinh học phong phú, thể hiện qua sự hiện diện của nhiều loài quý hiếm, trong đó có 4 loài được ghi trong Nghị định số 48/2002/NĐ-CP (nay là Nghị định số 32/2006/NĐ-CP) thuộc danh mục thực vật hoang dã quý hiếm nhóm IIA, gồm Lim xanh, Kim giao, Sa nhân và Vù hương Các loài cây thuốc phát triển ở độ cao dưới 700m chủ yếu thuộc các họ như Dầu, Núc nác, Thích, góp phần quan trọng vào bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học của khu vực.

Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có đa dạng các loài thực vật quý hiếm và đặc hữu Trong đó, các họ cây như Long não, Dẻ, Sau sau, Ngọc lan, Chè và quần thể Trúc Yên Tử sinh trưởng ở độ cao trên 700m Các loài cây vô cùng quý giá như Tùng La Hán, Hoàng đàn, Trúc mặt, Trúc bụng phật, Súi núi đá và Thông 2 lá cũng góp phần làm phong phú hệ sinh thái nơi đây Bên cạnh đó, khu bảo tồn còn nổi bật với các cây thuốc quý như Ba kích, Trầm hương, Bình vôi, Hoa đầu, Thổ Phục Linh, Hoàng đằng, Cẩu tích, Bồ cốt toái, Đẳng sâm, cây Hồi và Quế Theo tài liệu “Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử giá trị bảo tồn đa dạng sinh học và tiềm năng phát triển”, danh sách các loài thực vật đặc hữu và quý hiếm đã được ghi nhận trong Phụ lục 04, thể hiện giá trị bảo tồn cao của khu vực này.

Dựa trên Báo cáo đa dạng sinh học của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (2002-2003), khu bảo tồn Tây Yên Tử có thành phần phân loại học gồm 4 lớp chính là thú, chim, bò sát, ếch, nhái, với tổng cộng 27 bộ, 91 họ và 285 loài, chiếm lần lượt 75%, 61.07% và 21.7% so với toàn quốc So sánh với các vườn quốc gia và khu bảo tồn khác ở miền Bắc, thành phần đa dạng hơn so với Khu Bảo tồn Hữu Liên (Lạng Sơn), trong khi kém hơn Vườn quốc gia Tam Đảo về số loài, nhưng phong phú hơn VQG Ba Vì và Cát Bà về số loài và số bộ Điều này chứng tỏ rằng Tây Yên Tử có hệ sinh thái đa dạng và phong phú về loài Đồng thời, đã xác định có 65 loài động vật quý hiếm, chiếm 22.89% tổng số, trong đó có 15 loài thuộc nhóm IB, 31 loài nhóm IIB theo Nghị định số 48/2002/NĐ-CP (nay là Nghị định số 32/2006/NĐ-CP); bên cạnh đó còn có 4 loài ở mức E, 16 loài ở mức V và 4 loài ở mức khác, thể hiện sự đa dạng về loài quý hiếm trong khu bảo tồn.

R và 13 loài ở bậc T, ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2002); 2 loài bậc CR, 4 loài bậc

EN, 9 loài bậc VU, 6 loài ở bậc LR/nt và 1 loài ở bậc DD ghi trong Danh lục đỏ IUCN (2000)

Dựa trên báo cáo mới nhất năm 2009 từ nhóm nghiên cứu bò sát và ếch nhái của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, đã ghi nhận sơ bộ khoảng 48 loài động vật gồm 23 loài ếch nhái và 25 loài bò sát Nghiên cứu đặc biệt đã phát hiện ra một số loài đặc hữu, những loài bị đe dọa cấp toàn cầu hoặc loài mới được mô tả gần đây, như Ếch Yên Tử (Odorrana yentuensis) chỉ mới được ghi nhận tại Yên Tử, và Cá cóc Việt Nam (Tylototriton vietnamensis) nằm trong danh sách gần bị đe dọa (NT) theo Bảng Đỏ IUCN.

Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus) được xếp vào Phụ lục II của Công ước CITES, thể hiện tầm quan trọng của việc bảo vệ loài này Loài Ếch cây lớn (Phacophorus maximus) mới được ghi nhận tại Việt Nam vào năm 2008, cho thấy sự đa dạng sinh học còn đang được khám phá Ngoài ra, Ếch cây hai đốm (Phacophorus rhodopus) trước đây chỉ được ghi nhận ở miền Trung Việt Nam, nay đã được ghi nhận tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tây Yên Tử Do đó, Khu BTTN Tây Yên Tử có tiềm năng đa dạng sinh học rất cao, cần thúc đẩy các đề tài nghiên cứu để khám phá các loài mới trong tương lai.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đánh giá mức độ phong phú và đa dạng của tài nguyên côn trùng tại khu bảo tồn Tây Yên Tử, tập trung vào thành phần loài, phân bố địa lý, sinh cảnh tự nhiên và ý nghĩa sinh thái của chúng Nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về vai trò quan trọng của côn trùng trong hệ sinh thái, cũng như đóng góp của chúng vào bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn Tây Yên Tử Việc phân tích này còn hỗ trợ trong việc xây dựng các giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên côn trùng, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của sinh vật nhỏ này trong môi trường tự nhiên.

- Đưa ra được các giải pháp khoa học để quản lý , bảo tồn và phát triển tài nguyên côn trùng trong Khu Bảo tồn

3.2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Các loài côn trùng trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử

- Điều tra ở các dạng sinh cảnh, môi truờng đất, nước, trên cây và trong không khí tại các điểm điều tra được xác định ở KBTTN Tây Yên Tử.

Nội dung nghiên cứu

1 Xác định thành phần loài côn trùng trong khu vực nghiên cứu

2 Nghiên cứu tính đa dạng của các loài côn trùng trong khu vực nghiên cứu:

 Xác định tính đa dạng hình thái

 Đa dạng về sinh thái

 Nghiên cứu đặc điểm phân bố theo (sinh cảnh, đai độ cao)

 Đa dạng về vai trò

3 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý côn trùng trong khu vực nghiên cứu

 Xác định loài ưu tiên bảo tồn và phát triển

 Đặc điểm sinh học, sinh thái các loài ưu tiên trong Khu Bảo tồn

 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Thành phần của các loài côn trùng trong khu vực nghiên cứu

Trong thời gian nghiên cứu tại KBTTN Tây Yên Tử, tôi đã điều tra và thống kê được 119 loài côn trùng thuộc 51 họ và 12 bộ, với kết quả được trình bày trong phụ lục 02 Mặc dù thời gian điều tra ngắn, số lượng loài côn trùng thu thập được cho thấy sự đa dạng cao của các loài tại khu vực này Các phân tích tiếp theo sẽ làm rõ mức độ phong phú và đa dạng sinh học của côn trùng tại Tây Yên Tử.

Từ cột tỷ lệ P% trong phụ lục 02, chúng ta có thể đánh giá mức độ xuất hiện của các loài côn trùng trong khu bảo tồn Tây Yên Tử Dựa vào những dữ liệu này, tôi xác định được ba nhóm côn trùng chính xuất hiện tại đây, góp phần giúp nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học của khu vực Thông qua phân tích tỷ lệ gặp, chúng ta có thể đưa ra các giải pháp bảo vệ phù hợp cho từng nhóm côn trùng trong khu bảo tồn này.

- Nhóm ngẫu nhiên gặp chiếm: 83,19%

Nhóm ít gặp Nhóm thường gặp Nhóm ngẫu nhiên

Hình 4-01: Biểu đồ tỷ lệ bắt gặp của các loài trong khu vực nghiên cứu

* Danh sách các loài côn trùng thường gặp trong khu vực nghiên cứu được trình bày trong bảng sau:

Bảng 4-01: Các loài côn trùng thường gặp trong khu vực nghiên cứu

STT Tên khoa học Họ Bộ P %

5 Dysphania militaris Linnaeus Geometridae Lepidoptera 56,70

Dựa trên kết quả điều tra, có 5 loài côn trùng phổ biến trong khu vực nghiên cứu, thuộc 5 họ và 4 bộ khác nhau Trong đó, bộ Cánh vẩy là nhóm có số loài thường gặp nhiều nhất, với 2 họ và 2 loài Nguyên nhân chính là do đặc điểm sinh thái đa dạng của các loài trong bộ này, cùng với đặc điểm dễ nhận biết của các giai đoạn trưởng thành, và điều kiện môi trường khu vực nghiên cứu ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển của chúng.

Đa dạng thành phần loài côn trùng trong khu vực nghiên cứu

4.2.1 Đa dạng về các bậc phân loại (họ, loài) của các bộ côn trùng Để thấy rõ hơn được sự phong phú về thành phần loài côn trùng tôi tiến hành thống kê số loài theo bộ, họ Kết quả được trình bày ở bảng sau:

Bảng 4-02: Tỷ lệ các loài côn trùng theo bộ/họ trong khu vực nghiên cứu

Số họ Tỷ lệ % Số loài Tỷ lệ %

P ha sm at op te ra

B la tto pt er a Iso pt er a

H et er op te ra

H ym en op te ra

Le pi do pt er a

Hình 4-02: Tỷ lệ phần trăm số họ, loài của các bộ côn trùng

Cấu trúc thành phần các loài và họ côn trùng tại KBTTN Tây Yên Tử không phản ánh chính xác cấu trúc tự nhiên, trong đó bộ Coleoptera được ước tính có hơn 1 triệu loài, với khoảng 360.000 – 400.000 loài đã được mô tả Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) chiếm vị trí hàng đầu, với 23,53% về số họ và 28,57% về số loài, tiếp theo là bộ Cánh cứng (Coleoptera) với 17,65% về số họ và 18,49% về số loài Bộ Bọ que (Phasmatoptera) chiếm vị trí thấp nhất với 1,96% về số họ và 0,84% về số loài, cho thấy sự đa dạng chưa phản ánh đầy đủ thực tế tự nhiên của các nhóm côn trùng tại khu vực.

Nguyên nhân gây sự khác nhau chủ yếu đến từ việc bộ Cánh vẩy có pha trưởng thành dễ thu thập, với màu sắc rực rỡ giúp việc phát hiện mẫu vật trở nên dễ dàng Do chưa có điều kiện thực tập và thời gian để tiến hành nghiên cứu chi tiết trên tất cả các bộ và họ, các chương trình điều tra về côn trùng vẫn tập trung vào một số nhóm nhất định Côn trùng là nhóm đa dạng phong phú nhất trong giới động vật, khiến cho công tác nghiên cứu và khảo sát trở nên phức tạp và hạn chế phạm vi.

4.2.2 Sự đa dạng ở bậc họ Để thấy được tính đa dạng số lượng loài côn trùng trong KBTTN Tây Yên Tử ở bậc họ chúng ta xem xét ở bảng sau:

Bảng 4-03: Sự phân bố số lƣợng loài côn trùng trong các họ

5-10 loài 4 loài 3 loài 2 loài 1 loài

Bảng 4-03 cho thấy, có 6 họ có từ 5-10 loài, tổng cộng 34 loài, chiếm 28,57% tổng số loài, tập trung chủ yếu trong các bộ Orthoptera, Hymenoptera, Coleoptera, Lepidoptera Ngoài ra, có 6 họ mỗi họ có 4 loài, tổng cộng 24 loài, chiếm 20,17% tổng số loài, trong khi số họ có ít loài nhất là 21 họ với tổng cộng 21 loài, chiếm 17,64% Các họ như Tettigoniidae, Phasmatidae, Hymenopodidae có số loài điều tra ít, do đó cần tiến hành điều tra chi tiết và đưa ra các biện pháp bảo tồn phù hợp Nhiều họ còn có số loài đáng kể được thể hiện rõ trong bảng, đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học của khu vực.

Bảng 4-04: Các họ có khá nhiều loài côn trùng tại khu BTTN Tây Yên Tử

STT Tên họ Số loài

Nhìn vào bảng 4-03 và 4-04, có thể thấy hệ côn trùng tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tây Yên Tử đa dạng và phong phú Trong đó, các họ côn trùng lớn như Formicidae (kiến) nổi bật với số loài lên đến 8, thể hiện sự đa dạng sinh học cao trong khu vực.

Chrysomelidae, hay còn gọi là bọ lá, bao gồm 6 loài, là một trong những họ có số lượng loài lớn trong hệ côn trùng Việt Nam Trong thời gian ngắn, số họ và số loài được thu thập tại KBTTN Tây Yên Tử đã khá lớn, cho thấy tiềm năng phát hiện thêm nhiều loài côn trùng mới thuộc họ này trong khu vực.

Sự đa dạng về phân bố

Phân bố của côn trùng phụ thuộc vào các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, gió, đất đai, thực bì và loài cây thức ăn, tất cả đều thay đổi theo độ cao và hướng phơi Do đó, sự phân bố của chúng cũng khác biệt ở từng khu vực Hệ thống 30 ô tiêu chuẩn điều tra trong khu vực nghiên cứu đại diện cho các sinh cảnh khác nhau, và tỷ lệ bắt gặp các loài côn trùng cũng phù hợp với đặc điểm của từng sinh cảnh đó.

4.3.1 Sự phân bố của côn trùng theo sinh cảnh sống

Côn trùng có điều kiện sống rất phong phú và phức tạp, phân bố đa dạng từ vùng núi cao, núi thấp, rừng nguyên sinh đến rừng thứ sinh, khe núi đá và các vùng cây bụi Nhiều loài côn trùng thích nghi với môi trường xung quanh bản làng, nương rẫy, ven đường, ruộng ẩm, khe suối, thể hiện khả năng thích nghi rất cao Dựa trên đặc điểm địa hình, khí hậu và tài nguyên rừng của khu vực Tây Yên Tử, tôi đã tiến hành điều tra trên 5 sinh cảnh khác nhau để hiểu rõ hơn về phân bố và đa dạng của côn trùng tại đây.

1 Ruộng nương, ao hồ sông suối

2 Rừng trồng Keo tai tượng (độ cao

Ngày đăng: 09/08/2023, 01:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alexander L.monastyrkii và alexey L.Devyatkin (2003), Butterfly ò Vietnam an illustrated checlist – Danh mục minh họa các loài bướm ngày ở Việt Nam, NXB Thống Nhất, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Butterfly ò Vietnam an illustrated checlist – Danh mục minh họa các loài bướm ngày ở Việt Nam
Tác giả: Alexander L.monastyrkii, alexey L.Devyatkin
Nhà XB: NXB Thống Nhất
Năm: 2003
2. Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường (2000), Sách đỏ Việt Nam, Phần động vật, NXB Khoa học và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam, Phần động vật
Tác giả: Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường
Nhà XB: NXB Khoa học và Công nghệ
Năm: 2000
3. Cố Mậu Binh, Trần Phượng Trân (1997): Bướm đảo Hải Nam. NXB Lâm nghiệp Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bướm đảo Hải Nam
Tác giả: Cố Mậu Binh, Trần Phượng Trân
Nhà XB: NXB Lâm nghiệp Trung Quốc
Năm: 1997
4. Thái Bàng Hoa, Cao Thu Lâm (1987): Côn trùng rưng Vân Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng rưng Vân Nam
Tác giả: Thái Bàng Hoa, Cao Thu Lâm
Năm: 1987
5. Trần Văn Mão, Đặng Vũ Cẩn, Hoàng Kim Ngũ, Phạm Ngọc Hưng, Trần Công Loanh (1992): Quản lý bảo vệ rừng, tập II. Trương Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý bảo vệ rừng, tập II
Tác giả: Trần Văn Mão, Đặng Vũ Cẩn, Hoàng Kim Ngũ, Phạm Ngọc Hưng, Trần Công Loanh
Nhà XB: Trương Đại học Lâm nghiệp
Năm: 1992
6. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh (Hà Nội-1997): Côn trùng rừng (Giáo trình Đại học Lâm nghiệp). NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng rừng
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
7. Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh (2002), Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích. Tập 1-Sử dụng côn trùng có ích, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích. Tập 1-Sử dụng côn trùng có ích
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Công Loanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2001): Sâu bệnh hại cây cảnh. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu bệnh hại cây cảnh
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
10. Le Hong Trai, Jonatan C. Eames, Dr Andrey N. Kuznrtsov, Dr Nguyen Van Sang, Bùi Xuan Phương and Dr Alexander L. Monasyrskii (8-2001): PARC Ba bel Na hang (Viet Nam PARC Project – VIE/95/G31) Sách, tạp chí
Tiêu đề: PARC Ba bel Na hang (Viet Nam PARC Project – VIE/95/G31)
Tác giả: Le Hong Trai, Jonatan C. Eames, Dr Andrey N. Kuznrtsov, Dr Nguyen Van Sang, Bùi Xuan Phương, Dr Alexander L. Monasyrskii
Năm: 2001
11. Phạm Bình Quyền (1994): Sinh thái học côn trùng. NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học côn trùng
Tác giả: Phạm Bình Quyền
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1994
12. Võ Quý, Phạm Bình Quyền, Hoàng Văn Thắng (1999): Cơ sở sinh học bảo tồn. NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học bảo tồn
Tác giả: Võ Quý, Phạm Bình Quyền, Hoàng Văn Thắng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
13. Viện Bảo vệ thực vật (1997), Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật – tập 1: Phương pháp điều tra cơ bản dịch hại nông nghiệp và thiên địch của chúng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật – tập 1: Phương pháp điều tra cơ bản dịch hại nông nghiệp và thiên địch của chúng
Tác giả: Viện Bảo vệ thực vật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2-01 : Bộ máy tổ trức và cơ cấu hoạt động của KBTTN Tây Yên Tử  11  Hình 3-01: Một số dạng sinh cảnh chính trong khu vực nghiên cứu  23  Hình 4-01: Biểu đồ tỷ lệ bắt gặp của các loài trong khu vực nghiên cứu  28  Hình 4-02: Tỷ lệ phần trăm số họ, loà - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
Hình 2 01 : Bộ máy tổ trức và cơ cấu hoạt động của KBTTN Tây Yên Tử 11 Hình 3-01: Một số dạng sinh cảnh chính trong khu vực nghiên cứu 23 Hình 4-01: Biểu đồ tỷ lệ bắt gặp của các loài trong khu vực nghiên cứu 28 Hình 4-02: Tỷ lệ phần trăm số họ, loà (Trang 5)
Hình 2-01 : Bộ máy tổ chức và cơ cấu hoạt động của KBTTN Tây Yên Tử - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
Hình 2 01 : Bộ máy tổ chức và cơ cấu hoạt động của KBTTN Tây Yên Tử (Trang 17)
Bảng 3-01: Đặc điểm tuyến điều tra và điểm điều tra - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
Bảng 3 01: Đặc điểm tuyến điều tra và điểm điều tra (Trang 28)
Hình 3-01: Một số dạng sinh cảnh chính trong khu vực nghiên cứu: - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
Hình 3 01: Một số dạng sinh cảnh chính trong khu vực nghiên cứu: (Trang 29)
Hình 4-01: Biểu đồ tỷ lệ bắt gặp của các loài trong khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
Hình 4 01: Biểu đồ tỷ lệ bắt gặp của các loài trong khu vực nghiên cứu (Trang 34)
Bảng 4-02: Tỷ lệ các loài côn trùng theo bộ/họ trong khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
Bảng 4 02: Tỷ lệ các loài côn trùng theo bộ/họ trong khu vực nghiên cứu (Trang 35)
Hình 4-02: Tỷ lệ phần trăm số họ, loài của các bộ côn trùng - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
Hình 4 02: Tỷ lệ phần trăm số họ, loài của các bộ côn trùng (Trang 36)
Bảng 4-05: Thống kê số loài theo sinh cảnh sống - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
Bảng 4 05: Thống kê số loài theo sinh cảnh sống (Trang 39)
Bảng 4-06: Thống kê số loài phân bố theo độ cao - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
Bảng 4 06: Thống kê số loài phân bố theo độ cao (Trang 40)
Bảng 4-07: Tỷ lệ các loài côn trùng ở các dạng địa hình khác nhau - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
Bảng 4 07: Tỷ lệ các loài côn trùng ở các dạng địa hình khác nhau (Trang 42)
Hình ảnh 4-07: Troides helena (Linnaeus) - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
nh ảnh 4-07: Troides helena (Linnaeus) (Trang 54)
Hình ảnh 4-08: Mantis  religiosa  Linnaeus - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
nh ảnh 4-08: Mantis religiosa Linnaeus (Trang 55)
Hình P.01-01: Điều tra trong gỗ mục  Hình P.01-02: Điều tra trên thân cây - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
nh P.01-01: Điều tra trong gỗ mục Hình P.01-02: Điều tra trên thân cây (Trang 63)
Hình P.01-07: Brachytrupes portentosus - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
nh P.01-07: Brachytrupes portentosus (Trang 64)
Hình P.01-13: Dysphania militaris - Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học côn trùng trong khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử   sơn động  bắc giang
nh P.01-13: Dysphania militaris (Trang 65)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm