LỜI NÓI ĐẦU Để đánh giá quá trình 4 năm học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, được sự đồng ý của trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Qu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG GIẢM LŨ CỦA RỪNG TRÀM Ở
VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM, ĐỒNG THÁP
NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG & MÔI TRƯỜNG
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Để đánh giá quá trình 4 năm học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, được sự đồng ý của trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường tôi
đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu khả năng giảm lũ của rừng tràm ở Vườn quốc gia Tràm Chim, Đồng Tháp”
Trong quá trình thực hiện khóa luận tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo của Viện sinh thái rừng và môi trường trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo, các bạn sinh viên Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy Trần Quang Bảo đã trực tiếp hướng dẫn tận tình giúp tôi hoàn thành đề tài
Trong quá trình thực hiện, mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng song do thời gian có hạn và kinh nghiệm còn non kém nên Khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót nhất định Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy cô cùng các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Xuân Mai, ngày 12 tháng 5 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Viên
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ ……… ……… 1
Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3
2.1.1 Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng 3
2.1.2 Nghiên cứu về rừng tràm 5
2.1.3 Nghiên cứu về chế độ thủy văn các khu vực đất ngập nước 7
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 9
Phần 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 11
3.1.1 Mục tiêu chung 11
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 11
3.2 Đối tượng nghiên cứu 11
3.3 Nội dung nghiên cứu 11
3.4 Phương pháp nghiên cứu 12
3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 12
3.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp 12
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 15
Phần 4: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 18
4.1 Vị trí địa lý 17
4.2 Địa hình 17
4.3 Khí hậu - thủy văn 17
4.4 Địa chất, đất đai 19
4.5 Đa dạng sinh học 20
Trang 4Phần 5: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ………23
5.1 Đặc điểm phân bố rừng tràm ở VQG Tràm Chim 22
5.1.1 Đặc điểm phân bố rừng tràm và các hệ sinh thái xung quanh 22
5.1.2 Đặc điểm cấu trúc rừng tràm 27
5.1.3 Cấu trúc tuổi rừng 33
5.2 Diễn biến mực nước lũ 35
5.2.1 Diễn biến mực nước lũ 37
5.2.2 Vận tốc dòng chảy lũ 42
5.3 Ảnh hưởng của rừng tràm tới diễn biến mực nước lũ 44
5.3.1 Ảnh hưởng của cấu trúc rừng tràm tới diễn biến mực nước lũ 44
5.3.2 Ảnh hưởng của tuổi từng đến diễn biến mực nước lũ 46
5.3.3 Ảnh hưởng của bề rộng đai rừng tràm tới vận tốc dòng chảy lũ 47
5.4 Giải pháp nâng cao khả năng phòng hộ của rừng tràm 51
Phần 6: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 56
6.1 Kết luận 54
6.2 Tồn tại 55
6.3 Khuyến nghị 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
BẢNG TÓM TẮT KHÓA LUẬN TÔT NGHIỆP
1 Tên khóa luận: “ Nghiên cứu khả năng giảm lũ của rừng tràm ở Vườn quốc
gia Tràm Chim, Đồng Tháp”
2 Giáo viên hướng dẫn: Trần Quang Bảo
3 Sinh viên thực hiện: Trần Thị Viên
4 Địa điểm nghiên cứu: Vườn quốc gia Tràm Chim, Đồng Tháp
5 Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu khả năng giảm lũ của rừng tràm góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học cho công tác quản lý, quy hoạch diện tích rừng tràm hợp lý cho khu vực VQG Tràm Chim nói riêng và khu vưc Đồng bằng sông Cửu Long nói chung
6 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của rừng tràm ở VQG Tràm Chim
- Nghiên cứu diễn biến mực nước lũ ở VQG Tràm Chim
- Nghiên cứu ảnh hưởng của rừng tràm đến diễn biến mực nước lũ ở VQG Tràm Chim
7 Kết quả đạt được:
- Tuổi rừng trung bình của lâm phần tràm trong khu vực là tuổi 15 Mật
độ trung bình của rừng tràm trong khu vực nghiên cứu là 5240 cây/ha D1.3 trung bình của lâm phần là 10cm, Dt trung bình là 2,4m, Hvn trung bình là 9,1m, Hdc trung bình là 4,5 m Trong lâm phần những đặc trưng cấu trúc của rừng có biến động khá lớn
- Lũ trong khu vực xuất hiện từ tháng 7 hàng năm và kết thúc vào tháng
11 Riêng năm 2009 lũ kéo dài trong cả tháng 12 Mực nước lũ cao nhất và đỉnh lũ cao nhất rơi vào năm 2000 Diễn biến lũ tăng giảm phức tạp và không theo một quy luật chung nào
- Các đặc trưng D1.3, Hvn và tuổi rừng có mối tương quan chặt với diễn biến mực nước lũ D1.3 liên hệ với DBL theo Phương trình tương quan
Trang 6Y = - 4,924X + 284,3 với hệ số tương quan R = 0,8 Hvn liên hệ với DBL theo phương trình Y = - 4,029X + 282,1 với hệ số tương quan R = 0,8 Tuổi rừng liên hệ với DBL theo phương trình Y = - 0.864X + 309.9 với hệ số tương quan R = 0,8 Khi tuổi rừng và các chỉ tiêu lâm học của rừng tăng lên thì khả năng giảm lũ của rừng tăng theo
- Bề rộng đai rừng và vận tốc dòng chảy lũ có mối tương quan rất chặt Với hệ số tương quan là R = 0,94 và phương trình tương quan giữa chúng có dạng Y = - 0,006X + 0,882 Khi bề rộng đai rừng tăng thì vận tốc dòng chảy
lũ giảm Khi bề rộng đai rừng là 125 m thì vận tốc dòng chảy lũ gần bằng 0
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
I Bảng
Bảng 5.1: Bảng tính các đặc trưng mẫu cho các chỉ tiêu lâm học
Bảng 5.2: Bảng chia tổ ghép nhóm D1.3
Bảng 5.3: Bảng chia tổ ghép nhóm số cây theo Hvn
Bảng 5.4: Bảng tổng hợp tuổi 15 cây giải tích
Bảng 5.5: Mực nước lũ trung bình 10 năm và các tháng trong năm
Bảng 5.6: Bảng quan trắc VL tại một số điểm điều tra
II Biểu đồ
Biểu đồ 5.1: Phân bố số cây theo cỡ kính
Biểu đồ 5.2: Phân bố số cây theo chiều cao vút ngọn
Biểu đồ 5.3: Biểu đồ diễn biến đỉnh lũ
Biểu đồ 5.4: Biểu đồ biến động mực nước lũ trung bình 10 năm
Biểu đồ 5.5: Biểu đồ tương quan giữa D1.3 & DBL
Biểu đồ 5.6: Biểu đồ tương quan giữa Hvn & DBL
Biểu đồ 5.7: Biểu đồ tương quan giữa Hdc & DBL
Biểu đồ 5.8: Vận tốc dòng chảy lũ tại bìa rừng và các HST khác
Biểu đồ 5.9: So sánh Vận tốc dòng chảy lũ giữa rừng với các HST khác
Biểu đồ 5.10: So sánh VL phía sau đai rừng với các HST khác
Biểu đồ 5.11: Biểu đồ tương quan giữa bề rộng đai rừng và VL
III Hình
Hình 1: Bản đồ hiện trạng VQG Tràm Chim
Hình 5.2: Rừng tràm mùa lũ
Hình 5.3: Tràm phân bố theo cụm
Hình 5.4: Đồng cỏ năng đầu mùa lũ
Hình 5.5: Sen, loài thực vật thuỷ sinh rất hay gặp ở các đầm lầy ngập nước vùng Đồng Tháp Mười
Hình 5.6: Một số hình ảnh thớt giải tích
Hình 5.7: Mùa lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 8IUCN Quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế OTC Ô tiêu chuẩn
Trang 91
Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự tồn tại và phát triển của con người liên quan mật thiết đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên đó, rừng có vai trò đặc biệt quan trọng không gì thay thế được trong nhiều lĩnh vực nhằm
phục vụ các nhu cầu của con người Rừng là nguồn tài nguyên quý giá, là bộ
phận quan trọng của sinh quyển, mỗi loại rừng có vai trò và tác dụng riêng
của nó Là một hệ sinh thái đặc biệt, Tràm (Melaleuca sp.) là loài cây thân gỗ
đặc trưng vốn phân bố tự nhiên và là loài cây trồng chính trên vùng đất phèn nặng, ngập nước theo mùa của vùng ĐBSCL Giá trị của hệ sinh thái rừng tràm không chỉ là lâm sản mà phải kể tới cả một hệ thực vật, động vật đa dạng
và hàng loạt chức năng sinh thái khác Rừng Tràm còn góp phần cải thiện chất lượng nước cho cộng đồng có thể coi đó là chiếc máy lọc nước tự nhiên khổng lồ Nó đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng nước không chỉ cho nước phèn tại chỗ mà nó còn có thể rửa phèn cho những cánh đồng bị phèn lân cận Đây là tấm lá chắn thiên nhiên, một hệ sinh thái bền vững bảo vệ cho khu dân cư và những cánh đồng lúa năng suất cao trong vùng, mà ít người quan tâm tới Cho tới những năm gần đây khi vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phải mất đi hàng ngàn tỷ đồng, hàng trăm mạng người do bão lũ thì chúng ta mới thức tỉnh về hậu quả của nạn phá rừng dọc lưu vực sông Mê Kông Khi “tấm chắn thiên nhiên” này bị phá vỡ, dòng
lũ tự do tàn phá những cánh đồng, nhà cửa, công trình Đất phèn ngày càng khô nứt do mực nước ngầm ngày càng hạ thấp, nhiễm mặn ở hạ nguồn ngày càng tăng, năng suất cây trồng không còn bền vững
Những năm gần đây, lũ liên tục ập xuống trên lưu vực sông Mê Kông, trong đó có Việt Nam Đồng Tháp Mười trở thành một diện tích nước mênh mông, một Biển Hồ định kỳ Do mất rừng bão, lũ không có nơi dừng chân trước khi đổ trút lên những cộng đồng dân cư và công trình khác, hậu quả là
Trang 102
dân cư trong vùng không được thiên nhiên che chở Không có rừng tràm, không có những ô trữ nước khổng lồ này, đất xói mòn phù sa màu mỡ sẽ bị dòng lũ cuốn phăng ra biển, với cường độ và tốc độ lớn
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nước giàu, tổ chức khác trên thế giới (IUCN, JICA, JIBIC…) đã đầu tư nhiều dự án nghiên cứu về hệ sinh thái đất phèn ngập và hỗ trợ cho những chương trình này Chính vì rừng tràm trên đất phèn ngập nước có những giá trị to lớn không chỉ về kinh tế mà cả về môi trường với nhiều chức năng sinh thái không thể nào thay thế được Do đó, việc xác định diện tích và phân bố rừng tràm cho vùng lũ ĐBSCL là cần thiết Việc xác định diện tích rừng cần thiết cho toàn vùng trên cơ sở xác định diện
tích cho từng khu vực trong vùng Chính vì vậy tôi tiến hành đề tài “Nghiên
cứu khả năng giảm lũ của rừng tràm ở Vườn quốc gia Tràm Chim, Đồng Tháp” để cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc xác định diện tích rừng cần
thiết cho VQG Tràm Chim nói riêng và khu vực ĐBSCL nói chung
Trang 113
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2.1.1 Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng
Nghiên cứu về vai trò phòng hộ của rừng đã được thực hiện từ những năm đầu thế kỉ trước Người ta tập trung chủ yếu vào vai trò của rừng trong việc ngăn cản xói mòn và phục hồi đất, vai trò bảo vệ nguồn nước, chắn gió
và chắn cát
Công trình nghiên cứu đầu tiên về xói mòn đất có ý nghĩa quan trọng nhất trong lĩnh vực xói mòn đất đã được thực hiện bởi Volli từ năm 1844 Tác giả khẳng định xói mòn được thực hiện qua hai pha chủ yếu là (1) - bắn phá làm tơi rời các hạt đất và (2) - cuốn trôi chúng, trong đó pha đầu là quan trọng nhất Để bảo vệ đất cần giảm được động năng hạt mưa, nhờ đó, giảm được khả năng bắn phá của mưa làm tơi rời các hạt đất Tác giả coi đây là vấn đề có
ý nghĩa quyết định nhất trong chống xói mòn bảo vệ đất Về sau, nghiên cứu định lượng về xói mòn đã được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới Phương trình xói mòn đất được áp dụng rộng rãi nhất cho đến nay là phương trình mất đất phổ biến do Wischmeier và các cộng sự xây dựng từ năm 1956 (Hudson, 1998) Trong đó thể hiện được liên hệ của xói mòn đất với 6 nhân tố ảnh hưởng là chế độ mưa, tính chất đất, độ dốc, chiều dài sườn dốc, kiểu trồng cây
và biện pháp bảo vệ đất Phương trình của Wischmeier đã gợi ý về các biện pháp chống xói mòn bảo vệ đất Đó là tất cả những biện pháp có thể làm thay đổi một hoặc một nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn đất trong các phương trình của Wischmeier Tuy nhiên, việc áp dụng phương trình này cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong điều kiện thiếu dữ liệu nghiên cứu cơ bản để xác định các thông số cần thiết của phương trình, chẳng hạn thiếu hệ
số về tính xói mòn của mưa, hệ số về tính xói mòn của đất, hay hệ số về ảnh hưởng của các kiểu trồng cây đến xói mòn
Trang 124
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng đến các quá trình tích luỹ và vận chuyển nước, hay các quá trình thuỷ văn, cũng được nghiên cứu từ thế kỷ XIX Công trình nghiên cứu đầu tiên về thuỷ văn rừng được ghi nhận là công trình của A A Monchanop (1860) Ông đã xác lập được phương trình cân bằng nước và vai trò của rừng với các thành phần cân bằng nước ở miền nam nước Nga Ý nghĩa quan trọng của công trình này là hình thành phương pháp nghiên cứu về thuỷ văn rừng, trong đó phương trình cân bằng nước là công cụ quan trọng nhất
Khả năng giữ nước của rừng được phản ánh thông qua ảnh hưởng của
nó đến hiệu ích của nguồn nước, nên về nguyên tắc có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá khả năng giữ nước của rừng, trong đó có những chỉ tiêu về chất lượng nước như: mức thay đổi của hàm lượng các chất hoá học, các chất hoà tan trong nước sau khi đã dịch chuyển qua hệ sinh thái rừng,
hệ số dòng chảy bề mặt, mực nước ngầm, tần suất lũ, có những chỉ tiêu phản ánh năng lực ảnh hưởng của rừng đến nước như: các nhân tố cấu trúc rừng, các tính chất vật lý của đất rừng Tuy nhiên, xét về tính đại diện và khả năng dễ xác định thì hệ số dòng chảy bề mặt và lượng nước giữ lại trong đất
là những chỉ tiêu tốt nhất phản ánh khả năng giữ nước của rừng Dòng chảy mặt càng thấp, lượng nước giữ lại trong đất càng nhiều, khả năng giữ nước của rừng sẽ càng tốt
G.Fiebiger (1993) đã dùng khái niệm “Dung tích giữ nước của rừng” để phản ánh khả năng giữ nước của nó và được xác định bằng tổng lượng nước giữ lại trên tán, lượng nước giữ lại bởi vật rơi rụng và lượng nước tích giữ trong đất Quan điểm này được các nhà thuỷ văn rừng chấp nhận một cách rộng rãi (Phạm Văn Điển, 2006)
Về mặt lý thuyết khả năng giữ nước của rừng được hiểu là khả năng làm tăng hiệu ích kinh tế của nguồn nước Song hiệu quả kinh tế của nước liên quan đến hiệu quả của nhiều ngành kinh tế, thường rất khó xác định Vì vậy, trong thực tế có thể xác định khả năng giữ nước của rừng bằng khả năng
Trang 13Khi nghiên cứu về vai trò của rừng với nguồn nước, các tác giả đã cố gắng xác định những quan hệ định lượng của rừng với đặc điểm của nguồn nước (các tính hiệu ích của nước) Tuy nhiên, vì tính phức tạp của các quá trình thuỷ văn mà cho đến nay vẫn chưa có những công thức cho phép định lượng khả năng giữ nước của rừng có thể áp dụng chung cho cả thế giới Trong những năm gần đây xuất hiện một số mô hình dự báo thủy văn, trong
đó có tính ảnh hưởng thảm rừng Tuy nhiên, sai số của chúng còn lớn do không tính đến được đầy đủ những nhân tố ảnh hưởng cụ thể của các nước, các vùng khác nhau
2.1.2 Nghiên cứu về rừng tràm
Tràm (Melaleuca) là một Chi thuộc họ Sim (Myrtaceae) có phân bố tự
nhiên từ Australia đến Việt Nam (Brinkman and Xuan, 1991) Các lâm phần tràm tự nhiên thường mọc thuần loài, đều tuổi Trong những lâm phần tự nhiên quá trình tỉa thưa tự nhiên diễn ra rất mạnh do sự cạnh tranh về chất dinh dưỡng, nước và ánh sáng (Yoda et al., 1963)
Okubo et al (2003) đã tiến hành so sánh sinh trưởng của tràm M
cajuputi trên 3 lập địa: tầng than bùn dày (>1m), than bùn mỏng (<1m) và đất
cát podzol Kết quả cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt về sinh trưởng của tràm trên cả ba lập địa, tuy nhiên năng suất tiềm năng của lâm phần tốt nhất nhất trên các vùng có than bùn dày và đất chua ngập nước (axit sulfate) Yamanoshita et al (2001) đã kết luận, mặc dù có tốc độ sinh trưởng bằng
Trang 146
nhau, nhưng năng suất tiềm năng của tràm trên đất than bùn dày không cao bằng các loài ưu thế khác ở rừng mưa nhiệt đới Osaki et al (1998) đã tiến
hành nghiên cứu sinh trưởng của nhiều loài bản địa, trong đó có tràm M
cajuputi, trên đất than bùn có nồng độ nhôm (Al) và pH khác nhau Nghiên
cứu của Yamanoshita et al (2001) cho thấy tràm có thể sinh trưởng tốt trong điều kiện ngập nước kéo dài
Nghiên cứu của Crase et al (2006) về khả năng tái sinh sau lửa của
Tràm (Melaleuca triumphalis) ở vùng phía Bắc của Úc Tràm là một loài cây
có khả năng chịu lửa, khả năng tái sinh sau lửa rất mạnh thể hiện mật độ quần thể ở những nơi bị cháy lớn hơn rất nhiều so với các quần thể đối chứng (không cháy sau một thời gian dài) Khả năng chống chịu lửa của rừng tràm phụ thuộc rất lớn vào kích thước và quy mô đám cháy và được xác định thông qua khối lượng vật liệu cháy, cường độ đám cháy và mùa cháy (Price et al., 2003) Lửa xuất hiện thường xuyên với cường độ lớn sẽ đốt cháy hoặc làm triệt tiêu khả năng nảy mầm của hạt (Bradstock et al 1997) Nghiên cứu của Yates and Russell-Smith (2003) đã cho thấy rừng tràm có khả năng chịu đựng được tổn thương do lửa thường xuyên, tuy nhiên, khoảng cách giữa hai lần cháy phải đủ dài để cây lớn lên đạt kích thước tối thiểu để ra hoa và kết quả trở lại và tồn tại sau lửa
Franklin et al (2007) đã tiến hành điều tra 340 ô tiêu chuẩn phân bố trên vùng diện tích rộng 450000 km2 ở phía bắc Úc để nghiên cứu quy luật
phân bố và tái sinh của rừng tràm Kết quả cho thấy của tràm Melaleuca
argentea thích hợp với nền đất cát và phân bố chúng bị giới hạn bởi các dòng
sông Trong khi đó tràm Melaleuca cajuputi lại thích hợp với đất thịt và xuất hiện ở các vùng đất thấp ven biển Các loài tràm Melaleuca dealbata, M
viridiflora và M leucadendra có phân bố trên nhiều loại đất khác nhau phụ
thuộc vào tình trạng ngập lụt Tràm M argentea và M leucadendra phân bố ở các vùng ngập dọc sông Ngược lại M viridiflora và M cajuputi lại xuất hiện
ở vùng đầm lầy ở cửa sông Các tác giả đã đi đến kết luận, ở các vùng nhiệt
Trang 157
đới phía bắc nước Úc, rừng tràm thay thế rừng mưa nhiệt đới ở những nơi có lửa cháy hoặc ngập lụt mạnh Franklin & Bowman (2004) Tuy nhiên, ở các khu vực cao hơn, sự xuất hiện của lửa thường xuyên đã hạn chế sự xâm lấn của tràm với thảm thực vật khác như savan, trảng cỏ Điều này đã được chứng minh trong nghiên cứu đốt thử của Crowley et al (2009) trong vòng 3 năm liên tục và so sánh với khu vực không có lửa cháy trong vòng 20 năm đã làm
tăng mật độ tràm Melaleuca viridiflora lên 7 lần
Bowman và Rainey (1996) đã nghiên cứu ảnh hưởng của độ cao địa
hình đến cấu trúc đường kính của tràm Melaleuca cajuputi trên các vùng bán ngập ở phía bắc Úc Kết quả cho thấy tràm M cajuputi phân bố ở độ cao từ 1-
6 m, không có biến động lớn về cỡ kính trong các độ cao này Phân bố số cây
của tràm M cajuputi theo cấp kính là gián đoạn không liên tục, nguyên nhân
chính là do tác động của cháy rừng
Theo Dr Jon Davies (2008), mực nước ở rừng trên than bùn vùng Pekan của Malaixia rất ít khi xuống dưới 20 cm và đây cũng là điều kiện thủy văn của hầu hết các vùng rừng than bùn nhiệt đới Nó đảm bảo điều kiện yếm khí để tốc độ oxy hoá và phân huỷ than bùn chậm hơn hơn tốc độ hình thành luỹ chúng, lớp than bùn sẽ ổn định và cao dần lên Trước đây, với quy mô diện tích hàng trăm nghìn hecta và không có kênh rạch rừng tràm trên than bùn của Việt Nam cũng đã có phần lớn thời gian trong năm ngập nước và mực nước không nằm thấp hơn mặt than bùn quá 20 cm Chỉ như vậy, than bùn mới có thể tồn tại lâu dài trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm
2.1.3 Nghiên cứu về chế độ thủy văn các khu vực đất ngập nước
Chế độ thủy văn (hay nói chung là chế độ mực nước hoặc đặc biệt hơn
ở vùng Bắc Mỹ gọi là chu kỳ của nước) là hình thái theo mùa của cao độ nước mặt và bên dưới bề mặt của nước (Hollis và Thompson, 1997; Thompson và Finlayson) Đây là đặc điểm của mỗi loại đất ngập nước và tính liên tục, bất biến của hình thái này trên cơ sở năm này qua năm khác đảm bảo tính ổn định hợp lý cho một vùng đất ngập nước (Mitsch và Gosselink, 1993) Cả độ dài
Trang 168
thời gian có sự có mặt của nước và số lần trung bình mà sự ngập lụt này diễn
ra trong một thời gian nhất định nào đó, thì khoảng thời gian ngập lụt và tần
số lụt lội tuần tự theo đó cũng có sự khác nhau ở mỗi vùng đất ngập nước khác nhau Sự khác nhau về khoảng thời gian và tần số ngập lụt cũng đa dạng như độ sâu và mức độ cao thấp của mực nước Một đặc điểm không kém phần quan trọng khác trong chế độ thủy văn của một vùng đất ngập nước là mức độ thay đổi từ năm này qua năm khác
Chế độ mực nước là một yếu tố quan trọng điều tiết cấu trúc của một hệ sinh thái đất ngập nước và quá trình sinh thái của nó Rất nhiều đặc điểm trong chế độ mực nước có thể tác động đến sự phát triển và tồn tại của các loài thực vật (Wheeler và Shaw, 1995) Ảnh hưởng mực nước cao hay thấp lên cả sự phát triển của các loài và thành phần cấu tạo quần xã của chúng còn tùy thuộc vào cường độ, khoảng thời gian, tần số và chu kỳ Sự phản ứng của một loài, cá thể đối với chế độ thủy văn của một vùng đất ngập nước cũng có
sự thay đổi khác nhau Các loài thực vật khác nhau có các vị trí tốt nhất ưa thích trên một građien phản ánh khoảng thời gian và độ sâu của nước ngập hoặc độ thẫm uớt của nước trong đất (Newbold và Mountford, 1997) Tuy nhiên, đối với rất nhiều loài thực vật thì tầm quan trọng về độ sâu của nước lại không có vẻ chắc chắn; ví dụ loài tràm xuất hiện ở rất nhiều vùng đất ngập nước ngọt nhiệt đới có vẻ thích hợp với việc chịu đựng độ sâu của nước hơn, thế nhưng sự chịu đựng của loài, cá thể hoặc một loài phụ thì vẫn chưa thể biết được Điều này thấy rõ qua loài tràm mà ở vùng Bắc Úc chúng dường như chịu được ngập từ 3 - 6 tháng (Finlayson et al, 1993) trong khi đó ở Việt Nam chúng còn được trồng ở những khu vực có từ 10 - 11 tháng bị ngập nước (J Barzen, pers.comm.)
Cường độ dao động về độ sẫm nước trong đất tại khu vực đất ngập nước và kế đến là sự biến đổi và quá trình ôxy hóa, cũng tạo ra các ảnh hưởng nghiêm trọng đối với các chất dinh dưỡng (mà đặc biệt là nitơ), các sự chuyển hóa và chu kỳ (Ross, 1995) Sự ngập nước lâu dài hoặc mãi mãi sẽ làm giảm
Trang 179
thành phần khí ôxy trong đất của khu vực đất ngập nước và tạo ra các hoá chất giới hạn số lượng các loài thực vật vĩ mô có thể sống sót mà không có các khả năng thích nghi phù hợp Nói chung, các vùng đất ngập nước bị ngập úng trong thời gian dài thì mức độ đa dạng của các loài thấp hơn các vùng đất ngập úng ngắn hạn
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Đến nay đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò của rừng chống xói mòn bảo vệ đất, trong đó có công trình của Nguyễn Ngọc Lung (1997) về tác dụng phòng hộ nguồn nước của một số thảm thực vật chính ở Tây Nguyên và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nước, của Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1995) về xói mòn đất dưới điều kiện hoạt động canh tác nông nghiệp và một số rừng trồng, Vương Văn Quỳnh (1994)
về xói mòn đất ở vùng nguyên liệu giấy Các công trình nghiên cứu về tác dụng của rừng chắn cát bay được nghiên cứu bởi viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, trong đó phải kể đến công trình luận án của Nguyễn Văn Thuyết (2005) Tuy nhiên hiện còn ít nghiên cứu về tác dụng của rừng trong việc chống lại các quá trình thoái hoá đất như quá trình mặn hoá, phèn hoá, hoang mạc hoá, chắn sóng biển, giảm lũ
Cho đến nay việc xác định diện tích rừng phòng hộ được thực hiện bởi viện điều tra quy hoạch rừng Người ta đã căn cứ vào những nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng xói mòn và khô hạn để đánh giá sự cần thiết phải có rừng và từ đó quy hoạch ba loại rừng Phương pháp xác định chủ yếu là chồng xếp bản đồ Các bản đồ đề tài được thiết lập trên cơ sở phân vùng riêng rẽ từng nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn và khô hạn như độ cao, độ dốc, loại đất,
và lượng mưa Việc chồng xếp các bản đồ đề tài sẽ hình thành những vùng trong đó tương đối đồng nhất về điều kiện ảnh hưởng đến xói mòn và khô hạn Trên cơ sở phân tích biến động của các các nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn và khô hạn người ta phân chia ra các vùng ít xung yếu, xung yếu và rất
Trang 1810
xung yếu Từ đây sử dụng một số thông tin bổ sung về điều kiện kinh tế xã hội người ta tiến hành quy hoạch 3 loại rừng: sản xuất, phòng hộ và đặc dụng
Mặc dù tốn nhiều công sức nhưng việc xác định diện tích rừng và mức
độ phòng hộ xung yếu vẫn chưa có sức thuyết phục cao Nguyên nhân chủ yếu do thiếu cơ sơ của việc phân cấp các nhân tố ảnh hưởng đến nguy cơ xói mòn và khô hạn cũng như phương pháp tích hợp chúng trong đánh giá sự cần thiết phải bảo vệ và phát triển rừng Vì vậy, quy hoạch 3 loại rừng có cơ sở pháp lý nhưng vẫn chưa đủ cơ sở khoa học và thực tiễn để áp dụng
Nhìn chung, cho đến nay các công trình nghiên cứu về hiệu quả chống xói mòn đất, chắn gió, chắn cát của rừng ở Việt Nam và thế giới là tương đối phong phú Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về hiệu quả giữ nước và giảm lũ vùng đồng bằng còn ít được thực hiện ở nước ta Những thông tin thu được còn tản mạn chưa đủ làm cơ sở khoa học cho xác định diện tích và phân
bố rừng cần thiết Do đó, nghiên cứu hiệu quả giữ nước và giảm lũ của rừng tràm nhằm cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc xác định diện tích và phân
bố rừng tràm cần thiết cho vùng lũ Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 19
11
Phần 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu khả năng giảm lũ của rừng tràm góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học cho công tác quản lý, quy hoạch diện tích rừng tràm hợp lý cho khu vực VQG Tràm Chim nói riêng và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu diễn biến mực nước lũ; cấu trúc rừng tràm ở Vườn quốc gia Tràm Chim, Đồng Tháp
3.3 Nội dung nghiên cứu
1) Nghiên cứu đặc điểm phân bố của rừng tràm ở VQG Tràm Chim
+ Phân bố của rừng tràm và các thảm thực vật xung quanh
+ Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tràm
+ Đặc điểm giải tích thân cây nhằm xác định tuổi cây rừng và lâm phần
Trang 2012
2) Nghiên cứu diễn biến mực nước lũ ở VQG Tràm Chim
+ Diễn biến mực nước lũ trong 10 năm từ năm 2000 đến năm 2010 + Tốc độ dòng chảy lũ trước, trong và sau các khu rừng tràm
3) Nghiên cứu ảnh hưởng của rừng tràm đến diễn biến mực nước lũ ở VQG Tràm Chim
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc rừng tới diễn biến mực nước lũ + Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi rừng tràm tới diễn biến mực nước lũ + Nghiên cứu ảnh hưởng của bề rộng đai rừng tràm tới vận tốc dòng chảy lũ
4) Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng phòng hộ của rừng tràm
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu thủy văn, tài nguyên rừng
- Kết quả của những công trình nghiên cứu liên quan
- Số liệu mực nước lũ của trạm đo Tân Hưng
3.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
a Phương pháp điều tra cấu trúc rừng
Lập các OTC điển hình với diện tích là 500m2 trên đó đo đếm các chỉ tiêu D1.3, Dt, Hvn, Hdc
Trang 21Ghi chú
DT NB TB DT NB TB
b Phương pháp điều tra giải tích
- Chọn cây lấy mẫu: Cây lấy mẫu là những cây sinh trưởng và phát triển
bình thường được chọn theo cách rút mẫu điển hình, hệ thống hoặc ngẫu nhiên Cũng có thể chọn cây giải tích là cây lớn nhất trong lâm phần vì nó
chứa đựng lịch sử dài nhất trong rừng
- Thu thập mẫu:
+ Đánh dấu trên cây giải tích
Để thống nhất việc đo tính sau này cần dùng sơn hoặc phấn đánh dấu trên thân cây giải tích như sau: Khoanh vị trí cổ rễ cây, vị trí 1,3 m và vạch hướng Bắc trên thân cây
+ Chặt cây giải tích: Khi chặt tránh dập, vỡ xước râu tôm
+ Cưa thớt trên thân cây giải tích: Sau khi ngả cây, phát hết cành nhánh
và vạch tiếp hướng Bắc lên ngọn cây Tiếp theo, đánh dấu những vị trí cần cưa thớt Cưa cẩn thận những vị trí đã đánh dấu để lấy ra các thớt gỗ nguyên vẹn
+ Đánh dấu trên thớt gỗ: Trên mỗi cây giải tích phải cưa nhiều thớt gỗ,
để tránh nhầm lẫn cần đánh dấu từng thớt theo nguyên tắc; Mặt trên của thớt
là mặt cưa đúng vị trí đã vạch sẵn trên thân cây phải giữ nguyên Theo hướng Bắc đã vạch sẵn kẻ hướng Đông - Tây, Nam - Bắc ở bề mặt dưới thớt ghi ký hiệu
- Xử lý mẫu:
Sau khi cưa, thớt giải tích được phơi khô ở nhiệt độ phòng để không làm nứt nẻ mặt thớt
Trang 2214
Để ranh giới vòng năm thể hiện rõ, xác định tuổi và đo đạc chính xác
bề rộng vòng năm, chúng tôi tiến hành dùng bào và giấy giáp làm phẳng và nhẵn bề mặt của thớt, sau đó dùng vecni quét lên bề mặt đã làm nhẵn, khi cần thiết có thể ngâm nước hoặc xoa một số hoá chất khác lên thớt cho vòng năm hiện rõ ràng hơn
- Xác định tuổi vòng năm:
Việc xác định tuổi vòng năm là một công việc có tính chất quyết định đến kết quả nghiên cứu Xác định chính xác được tuổi vòng năm sẽ đảm bảo cho việc phân tích quy luật biến động vòng năm không bị nhiễu loạn, đảm bảo tính chính xác của các kết quả nghiên cứu
Mi = 2010 - Ki
Trong đó, Mi: năm hình thành vòng năm thứ i
Ki: số vòng năm nằm ngoài vòng năm thứ i
- Đo bề rộng vòng năm:
Bề rộng vòng năm là tổng bề dày các lớp gỗ trong một năm được xác định theo chiều vuông góc với đường ranh giới giữa chúng Việc đo vòng năm được đo từ ngoài vào đến tâm thớt, vòng ngoài cùng là được tính là thời điểm hiện tại Số liệu đo đếm được ghi vào mẫu biểu 02:
Mẫu biểu 02: Biểu ghi bề rộng vòng năm
Stt Vị trí thớt Năm T1(mm) T2(mm) T3(mm) T4(mm) Ghi chú
1
2
3
c Phương pháp khảo sát tốc độ dòng chảy
Khảo sát vận tốc dòng chảy lũ thông qua việc khảo sát 55 điểm điều tra ở phía trước, trong và sau các khu rừng tràm bằng phương pháp quan sát tốc độ di động của các phao nổi
Trang 2315
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi thu thập số liệu ngoại nghiệp, tiến hành xử lý số liệu và tính các chỉ tiêu cần thiết, từ đó đưa ra các phân tích và nhận định về chỉ tiêu nghiên cứu Trong quá trình xử lý số liệu tôi sử dụng phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp SPSS và phần mềm Excel
Xtb: là trị số trung bình của chỉ tiêu điều tra X
Xi: là trị số quan sát thứ của X
- Vẽ biểu đồ phân bố số cây theo cỡ đường kính Ni - Di
c Nghiên cứu quy luật phân bố N/H
- Tính các đặc trưng mẫu:
+ Chiều cao trung bình, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất
+ Sai tiêu chuẩn về chiều cao
+ Phạm vi biến động về chiều cao
+ Hệ số biến động về chiều cao
+ Độ nhọn, độ lệch của phân bố
Trang 2416
- Xác lập quy luật
- Vẽ biểu đồ phân bố số cây theo cỡ chiều cao Ni – Hi
d Lập biểu đồ biến động về diễn biến mực nước lũ
Dựa vào số liệu đo mực nước lũ trong các tháng mùa lũ trong 10 năm của trạm thủy lợi Tân Hưng thiết lập biểu đồ diễn biến mực nước lũ
e Phân tích ảnh hưởng của rừng đến diễn biến mực nước lũ
- Phân tích tương quan giữa mực nước lũ với các đặc trưng lâm học của rừng tràm
- Phân tích tương quan giữa mực nước lũ với rừng tràm ở các tuổi khác nhau
- Phân tích tương quan giữa vận tốc dòng chảy lũ với bề rộng của đai rừng tràm
Trang 2517
Phần 4
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Vườn quốc gia Tràm Chim thuộc tỉnh Đồng Tháp là một khu đất ngập nước được xếp trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam Nơi đây có nhiều loài chim quý, đặc biệt là sếu đầu đỏ, một loài chim cực kỳ quý hiếm, có tên trong sách đỏ VQG Tràm Chim được thành lập theo Quyết định số 253/1998/QĐ - TTg ngày 29/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ, có mục tiêu
và nhiệm vụ: “Bảo tồn HST ĐNN điển hình của vùng Đồng bằng sông Cửu Long thành một mẫu chuẩn quốc gia về HST ĐNN vùng lụt kín Đồng Tháp Mười; Bảo tồn những giá trị độc đáo về văn hóa, lịch sử và nghiên cứu, khai thác hợp lý hệ sinh thái của vùng vì lợi ích quốc gia và đóng góp vào việc bảo
vệ môi trường sinh thái chung của vùng Đông Nam Á”
4.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Tràm Chim nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Tọa độ địa lý 10°40′ - 10°47′ vĩ bắc, 105°26′ - 105°36′ kinh đông với tổng diện tích 7.588 ha nằm trong địa giới của 5 xã (Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Thành B, Phú Thọ, Tân Công Sinh) và Thị trấn Tràm Chim
4.3 Khí hậu - thủy văn
Nhiệt độ: Nhiệt độ ở đây cao quanh năm và tương đối ít biến động,
nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27°C, nhiệt độ thấp hơn khoảng 1 - 2°C vào cuối mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 2) và tăng lên khoảng 1 - 2°C vào
Trang 26Chế độ gió: Từ tháng 5 đến tháng 11, hướng gió thịnh hành ở vùng này
là hướng Tây - Nam, tốc độ gió trung bình là 3 m/s mang theo nhiều hơi nước
và gây mưa Từ tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông - Bắc, tốc độ gió trung bình khoảng 2 m/s Bão hầu như không ảnh hưởng đến Tràm Chim và vì thế, gió với tốc độ lớn trong cơn mưa chưa từng xảy ra
Lượng mưa: Lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt, trung bình khoảng
1.650 mm/năm Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, hơn 90% lượng mưa tập trung vào khoảng thời gian này Trong khi đó, tháng 1, 2, 3 lại là những tháng khô hạn nhất, thời tiết hầu như không có mưa Số ngày mưa trung bình đo được tại Vườn quốc gia Tràm Chim khoảng 110 - 160 ngày/năm
Chế độ nước: Vườn quốc gia Tràm Chim chịu ảnh hưởng thủy văn của
vùng châu thổ sông Mê Kông, nhận nguồn nước trực tiếp từ sông Mê Kông thông qua hệ thống kinh thủy lợi (kênh Hồng Ngự - Long An, Đồng Tiến, An Hòa và Phú Hiệp) tràn vào nội đồng và bị ngập lũ hàng năm từ tháng 8 đến tháng 12 Vườn quốc gia Tràm Chim được chia thành 5 vùng quản lý khác nhau (A1 - A5), mỗi khu vực được bao bọc xung quanh bởi hệ thống kênh và
đê với tổng chiều dài lên đến 59 km Mực nước bên trong vườn quốc gia được điều tiết thông qua hệ thống cống và cửa xả nằm ở các bờ bao xung quanh Hiện nay, để giảm rủi ro do lửa vào mùa khô, mực nước bên trong vườn quốc gia luôn được giữ ở mức cao hơn những điều kiện trong quá khứ Thành phần thực vật, phân bố và tốc độ sinh trưởng đã bị ảnh hưởng bởi những tác động này
Trang 27- Trầm tích biển gió: Trầm tích mang nhiều vật liệu thô (quartz) tạo
thành những gò cao trong vùng Đồng Tháp Mười
- Trầm tích biển: Cùng với trầm tích biển gió, trầm tích biển cũng thuộc Pleistocen, và chiếm diện tích khoảng 1.158 ha
Đất trong khu vực được chia thành các nhóm sau:
- Nhóm đất cát cổ (aeric Tropaquults), được hình thành thông qua quá
trình phong hóa trầm tích Pleistocen chiếm diện tích khoảng 154 ha,
- Đất xám điển hình (Typic Tropaquults), khoảng 476 ha
- Đất xám đọng mùn (humic Tropaquults), 274 ha
Các nhóm đất dốc tụ trên nền trầm tích Proluvi chiếm diện tích 1.559
ha
Các nhóm đất phù sa có nền phèn: Trầm tích sông - biển chồng lên lớp trầm tích đầm lầy - biển hình thành những vạt đất phù sa có tầng sinh phèn
Trang 2820
(sulfidic) (sulfic Tropaquents, sulfic Tropaquepts, sulfic Hydraquents) và đất
phù sa có tầng phèn (sulfuric) chứa các khoáng jarosit
Đất phèn hoạt động (Sulfaquepts), hình thành từ nền trầm tích đầm lầy
biển với diện tích khoảng 355 ha, phân bố nhiều nhất tại khu A5 Độ chua của đất: pH chỉ khoảng từ 2,0 - 3,2
4.5 Đa dạng sinh học
Hệ sinh thái động vật:
Vườn quốc gia Tràm Chim là nơi cư trú của trên 100 loài động vật có xương sống, 40 loài cá và 147 loài chim nước Trong đó, có 13 loài chim quý
hiếm của thế giới Đặc biệt là một loài chim hạc còn gọi là sếu đầu đỏ (Grus
antigone) hay sếu cổ trụi
Hệ sinh thái thực vật:
Sự tương tác giữa các yếu tố tự nhiên: địa mạo, trầm tích, đất, nước và các yếu tố khác đã hình thành những cảnh quan tự nhiên với các hệ sinh thái đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười
Hệ sinh thái rừng tràm (Melaleuca spp.) có thể tìm thấy khá nhiều trong
đồng bằng ngập nước Phạm vi xuất hiện của hệ sinh thái này khá đa dạng, từ vùng triền của đất dốc tụ cho đến đất phèn hoạt động Những cánh rừng tràm có thể phát triển trên những cánh đồng, đồng thời cũng có thể phát triển khá nhiều dọc theo sông rạch Tuy nhiên, những cánh rừng tràm nguyên sinh dường như không còn nữa mà chỉ có thể tìm thấy một phần rừng tràm tái sinh với diện tích quá nhỏ so với một vùng Đồng Tháp Mười rộng lớn
Hệ sinh thái đồng cỏ ngập nước theo mùa khá phổ biến và chiếm ưu thế trong vùng này xưa kia Thảm thực vật với các quần xã thay đổi theo môi
trường tự nhiên trong từng vùng Những cánh đồng Hoàng đầu ấn (Xyris
indica), cỏ Năng (Eleocharis sp.), cỏ Ống(Panicum repens), cánh đồng cỏ
Mồm (Ischaemum sp.), cỏ Lác (Cyperus sp.) trải rộng khắp vùng này xưa kia
vẫn còn tìm gặp khá nhiều ở các khu bảo tồn và vườn quốc gia, mặc dù tính phong phú giữa các loài đã và đang bị suy giảm
Trang 2921
Các loài sen - súng (Nymphaea sp.) cùng các loài thực vật thủy sinh
khác chiếm ưu thế và đặc trưng ở các vùng đầm lầy đã bị thu hẹp diện tích do quá trình thoát thủy cải tạo đất cho mục tiêu sản xuất nông nghiệp
Có thể cho rằng các hệ sinh thái tự nhiên cùng với tính đa dạng sinh học đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười đã bị suy giảm nghiêm trọng, cảnh quan tự nhiên đã thay đổi sau một thời gian khai phá cho mục tiêu phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển kinh tế nông nghiệp chung cho vùng hạ lưu châu thổ sông Cửu Long Trước nguy cơ suy giảm tính đa dạng sinh học và hủy diệt các nguồn gen quý hiếm, một số nỗ lực về công tác bảo tồn và phục hồi tính đa dạng sinh học vùng đất ngập nước trong châu thổ sông Mê Kông đã được đặt ra Thông qua những nỗ lực này, các khu bảo tồn thiên nhiên đã được hình thành, và Vườn quốc gia Tràm Chim và Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen là hai khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước rất điển hình được thành lập nhằm thực hiện những mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười
Trang 3022
Phần 5 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
5.1 Đặc điểm phân bố rừng tràm ở VQG Tràm Chim
5.1.1 Đặc điểm phân bố rừng tràm và các hệ sinh thái xung quanh
Theo bản đồ hiện trạng thảm thực vật vườn quốc gia Tràm Chim năm
2008 (hình 5.1) ta thấy toàn khu vực được chia thành 5 khu từ A1 – A5 Trong đó có 2 hệ sinh thái chủ yếu đó là HST rừng Tràm và HST Đồng ngập nước theo mùa (bao gồm HST đồng cỏ Năng, đồng cỏ Mồm, đồng cỏ Ống, đồng lúa Ma, đồng Lác nước và thực vật thủy sinh) Với diện tích 2590,84 ha chiếm 35,4 % tổng diện tích toàn vườn, đồng cỏ Năng ( hình 5.4) trở thành một trảng cỏ rộng lớn có diện tích lớn nhất trong các HST và có phân bố trên toàn khu vực loài chiếm ưu thế là Năng ngọt xen lẫn đũa bếp, đắng tán… đây
là nơi kiếm ăn ưa thích của các loài chim nước Rừng tràm (Melaleuca
cajuputi) là thảm thực vật thân gỗ có diện tích lớn nhất và là hệ sinh thái lớn
thứ 2 trong vùng, với diện tích khoảng 2000,56 ha chiếm 27,3 % tổng diện tích toàn vườn Do tác động của con người, hầu hết những cánh rừng tràm nguyên sinh đã biến mất và hiện nay chỉ còn lại là những cánh rừng tràm
trồng, thuộc loài Melaleuca cajuputi (họ Myrtaceae), nhưng do được bảo tồn
nhiều năm nên có những cụm tràm phân bố theo kiểu tự nhiên Hai kiểu phân
bố được ghi nhận: tập trung (khoảng 1.826 ha) và tràm phân tán Tràm phân tán có sự hiện diện thảm cỏ xen kẽ gồm các loài Năng Ống, cỏ Mồm
và Hoàng Đầu Ấn… Rừng tràm có phân bố trên tất cả các khu của vườn tuy nhiên tập trung nhiều nhất ở các khu A2, A3, A4 tại đây tràm phân bố theo kiểu tập trung, khu A1 và A5 chỉ phân bố phân tán theo đám Ở các ao, đìa và đầm lầy ngập nước xuất hiện đa phần là các loài thực vật thủy sinh như: sen, súng, rau muống, bèo cái…(hình 5.5) Rừng tràm và các hệ sinh thái ngập nước trong khu vực phân bố đan xen lẫn nhau Các hệ sinh thái ngập nước thường phân bố ở trước và ngay sau các đai rừng tràm Các hệ sinh thái ngập
Trang 3123
nước còn phân bố ngay trong rừng tràm đặc biệt là mùa nước nổi trong rừng còn xuất hiện các loài thực vật thủy sinh (hình 5.4)
Hình 5.1: Bản đồ hiện trạng VQG Tràm Chim
Trang 3224
Do đặc điểm về địa hình là trũng và bằng phẳng nên các hệ sinh thái ở VQG Tràm Chim hầu như bị ngập nước quanh năm Mực nước ngập có thể lên tới trên 4 m với thời gian ngập kéo dài vậy mà các loài thực vật nơi đây vẫn có thể sinh trưởng phát triển một cách bình thường Không chỉ có các HST ngập nước mới chịu ngập lụt mà cả HST rừng tràm cũng chịu ngập 4 – 5 tháng/năm ( hình 5.2)
Hình 5.2: Rừng tràm mùa lũ