1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyên Đề Tiếng Việt Lớp 2 Theo Ctgdpt 2018.Doc

43 286 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Của Hoạt Động Viết Cho Học Sinh Lớp 2 Trong Chương Trình GDPT 2018
Trường học Trường Tiểu Học Cánh Diều
Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 4,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếng Việt là môn học quan trọng trong chương trình giảng dạy bậc Tiểu học. Đây là môn học cung cấp cho học sinh những cơ sở ban đầu làm công cụ để khám phá các môn học khác. Có thể nói Tiếng Việt là môn học chìa khoá giúp học sinh mở kho tàng kiến thức ở Tiểu học nói riêng và cả quá trình nhận thức nói chung. Ngoài việc cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết trong giao tiếp hàng ngày, môn Tiếng Việt còn giúp các em phát triển toàn diện, hình thành ở các em những cơ sở của thế giới khoa học, góp phần rèn luyện trí thông minh, hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con người mới. Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ. Dạy học Tiếng Việt giúp các em hình thành 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết. Mục tiêu của Chương trình GDPT mới lấy việc rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ (đọc, viết, nói và nghe) để phục vụ mục tiêu phát triển các năng lực đặc thù (năng lực ngôn ngữ và văn học). Là một phần của Tiếng Việt, dạy học sinh viết văn có vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là hoạt động mang tính chất thực hành tổng hợp các kiến thức từ các hoạt động đọc- hiểu, luyện tập về từ và câu, viết chính tả, kể chuyện. Tập làm văn là kết tinh nhiều mặt của năng lực sử dụng Tiếng Việt. Trong bộ sách Cánh diều, các tác giả biên soạn đã chủ trọng thống nhất nội dung rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ trong mỗi bài học theo chủ đề, chủ điểm để phục vụ mục tiêu bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sống và các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Bên cạnh đó với quan điểm tiếp cận mục tiêu đối tượng là lựa chọn, tổ chức nội dung học tập và các hoạt động học tập cho phù hợp với tâm sinh lí và trình độ nhận thức của HS để thực hiện giáo dục phân hóa, nhằm đáp ứng nhiều đối tượng HS và phù hợp với nhiều điều kiện dạy - học khác nhau cho nên SGK Tiếng Việt 2 đã chú ý thiết kế nội dung mở, phù hợp với sự đa dạng về trình độ học sinh. Theo thiết kế của bộ sách, phần dạy viết văn cho học sinh lớp 2 nằm trọn trong nội dung bài viết 2 và thực hiện theo mật độ 1 bài/ tuần. Tiếp cận với chương trình TV mới, với sách giáo khoa mới và phương pháp dạy học mới, việc nâng cao chất lượng giúp HS viết tốt câu, đoạn văn là một nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên làm công tác giảng dạy. Các bài viết văn là một sản phẩm mang tính thực hành tổng hợp, là sản phẩm sáng tạo, không lặp lại của mỗi học sinh. Vậy dạy học sinh lớp 2 như thế nào để thực hiện được mục tiêu môn học cũng như quan điểm chương trình TV 2018 là vấn đề trăn trở của mỗi thầy cô. Trên cơ sở thực tế dạy học, những kinh nghiệm rút ra trong quá trình dạy thực nghiệm cũng như quản lý chỉ đạo giáo viên trong nhà trường, chúng tôi đã mạnh dạn tổ chức chuyên đề: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động viết văn cho học sinh lớp 2 trong chương trình GDPT 2018.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018

(Bộ sách Cánh Diều)

Tiếng Việt là môn học quan trọng trong chương trình giảng dạy bậc Tiểuhọc Đây là môn học cung cấp cho học sinh những cơ sở ban đầu làm công cụ đểkhám phá các môn học khác Có thể nói Tiếng Việt là môn học chìa khoá giúphọc sinh mở kho tàng kiến thức ở Tiểu học nói riêng và cả quá trình nhận thứcnói chung Ngoài việc cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết trong giaotiếp hàng ngày, môn Tiếng Việt còn giúp các em phát triển toàn diện, hình thành

ở các em những cơ sở của thế giới khoa học, góp phần rèn luyện trí thông minh,hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con người mới

Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ Dạy học Tiếng Việt giúp các

em hình thành 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết Mục tiêu của Chương trìnhGDPT mới lấy việc rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ (đọc, viết, nói và nghe)

để phục vụ mục tiêu phát triển các năng lực đặc thù (năng lực ngôn ngữ vàvăn học) Là một phần của Tiếng Việt, dạy học sinh viết văn có vị trí đặc biệtquan trọng Đó là hoạt động mang tính chất thực hành tổng hợp các kiến thức từcác hoạt động đọc- hiểu, luyện tập về từ và câu, viết chính tả, kể chuyện Tập làmvăn là kết tinh nhiều mặt của năng lực sử dụng Tiếng Việt

Trong bộ sách Cánh diều, các tác giả biên soạn đã chủ trọng thống nhấtnội dung rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ trong mỗi bài học theo chủ đề, chủđiểm để phục vụ mục tiêu bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sống và các phẩm chấtyêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm Bên cạnh đó với quanđiểm tiếp cận mục tiêu đối tượng là lựa chọn, tổ chức nội dung học tập và cáchoạt động học tập cho phù hợp với tâm sinh lí và trình độ nhận thức của HS đểthực hiện giáo dục phân hóa, nhằm đáp ứng nhiều đối tượng HS và phù hợp vớinhiều điều kiện dạy - học khác nhau cho nên SGK Tiếng Việt 2 đã chú ý thiết kếnội dung mở, phù hợp với sự đa dạng về trình độ học sinh Theo thiết kế của bộsách, phần dạy viết văn cho học sinh lớp 2 nằm trọn trong nội dung bài viết 2 vàthực hiện theo mật độ 1 bài/ tuần Tiếp cận với chương trình TV mới, với sáchgiáo khoa mới và phương pháp dạy học mới, việc nâng cao chất lượng giúp HSviết tốt câu, đoạn văn là một nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên làm côngtác giảng dạy

Các bài viết văn là một sản phẩm mang tính thực hành tổng hợp, là sảnphẩm sáng tạo, không lặp lại của mỗi học sinh Vậy dạy học sinh lớp 2 như thếnào để thực hiện được mục tiêu môn học cũng như quan điểm chương trình TV

1

Trang 2

2018 là vấn đề trăn trở của mỗi thầy cô Trên cơ sở thực tế dạy học, những kinhnghiệm rút ra trong quá trình dạy thực nghiệm cũng như quản lý chỉ đạo giáo

viên trong nhà trường, chúng tôi đã mạnh dạn tổ chức chuyên đề: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động viết văn cho học sinh lớp 2 trong chương trình GDPT 2018.

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.2 Hạn chế:

*Giáo viên:

- Chưa hiểu hết quan điểm, mục tiêu chương trình, cách thiết kế của SGK Thực

tế khi dạy SGK mới còn nhiều lúng túng

- Hầu hết được đào tạo và áp dụng giảng dạy theo cách dạy học truyềnthống: Hiểu bản chất của việc dạy học là truyền thụ tri thức Phương pháp dạyhọc chủ yếu là diễn giảng, truyền thụ Chưa có sự gắn kết, tích hợp kiến thức,

kĩ năng trong các môn học

- Việc giảng dạy trên lớp phụ thuộc nhiều, thậm chí hoàn toàn vào Sách giáokhoa, sách thiết kế, không dám thay đổi vì sợ sai, hoặc ngại áp dụng cái mới

- Chưa vận dụng hiệu quả một số kĩ thuật dạy học tích cực như sơ đồ tư duytrong dạy học làm văn

* Học sinh:

- Ở lứa tuổi hiếu động, khó có sự tập trung cao

- Vốn từ của các em còn ít nên việc diễn đạt rất hạn chế, hầu hết học sinh chỉ nóiđược những câu ngắn, trả lời chưa đủ ý, diễn đạt rời rạc Những bài tập viết đoạnvăn ngắn chủ yếu được các em trình bày dưới dạng trả lời các câu hỏi gợị ý cótrong bài hoặc dựa hoàn toàn vào mẫu Các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ

2

Trang 3

sai, chấm câu còn hạn chế; có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc viếtkhông đủ ý…

- Chưa biết tổng hợp kiến thức, kĩ năng từ chủ đề, chủ điểm đang học: kiến thức

từ bài đọc - hiểu, từ đọc sách bào, bài viết 1, bài nói và nghe, để vận dụng trongbài viết 2

*Điều kiện thực tế địa phương :

- Đa phần phụ huynh học sinh làm nghề nông, hoặc công ty hoàn cảnh gia đìnhbận bịu nên phần lớn chưa quan tâm đến việc học của các em dẫn đến vốn sống,vốn từ ít phong phú việc diễn đạt ngôn ngữ kém

*Về phía nhà trường:

Nhiều năm nhà trường đã tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo chuyên đề vềdạy học nâng cao môn Tiếng Việt Tuy nhiên, hiệu quả của việc vận dụng vàogiảng dạy và học tập chưa cao

2 Các giải pháp, biện pháp thực hiện

Biện pháp 1 Giáo viên cần nắm chắc được quan điểm tiếp cận, cấu trúc của SGK Tiếng Việt 2, cấu trúc của các bài học và các dạng bài VIẾT trong sách giáo khoa Cánh Diều

1 Quan điểm tiếp cận chương trình bộ sách giáo khoa Cánh Diều

a Tiếp cận mục tiêu

Tiếp cận mục tiêu là lấy mục tiêu giáo dục của Chương trình GDPTlàm căn cứ để lựa chọn, tổ chức nội dung học tập và hoạt động học tập củahọc sinh, cụ thể là:

- Lấy việc rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ (Đọc, viết, nói, nghe) làm trục pháttriển của cuốn sách để phục vụ mục tiêu phát triển các năng lực đặc thù(năng lực ngôn ngữ và văn học)

- Thống nhất nội dung rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ trong mỗi bài học theo chủ

đề, chủ điểm để phục vụ mục tiêu bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sống và các phẩmchất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm

- Tích cực hóa hoạt động học tập của người học để HS phát triển toàn diện về phẩmchất và năng lực một cách vững chắc

b Tiếp cận đối tượng

- Tiếp cận đối tượng là lựa chọn, tổ chức nội dung học tập và các hoạt động học tậpphù hợp với tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh; cụ thể là: HS là ngườinói tiếng Việt, do đó nhiệm vụ trọng tâm của môn Tiếng Việt là hình thành và pháttriển các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe ở mức cao hơn (từ giao tiếp thông thườngđến giao tiếp văn hóa)

- HS còn nhỏ tuổi, do đó SGK Tiếng Việt 2 rất chú ý đến tính vừa sức và tâm lí lứatuổi Ví dụ chưa tổ chức các tiết học Luyện từ và câu riêng mà dạy kiến thức qua

3

Trang 4

các hoạt động đọc, viết, nói và nghe; tăng cường các trò chơi học tập, chú trọngkênh hình

- HS là đối tượng rất đa dạng cho nên SGK Tiếng Việt 2 thiết kế nội dung mở đểthực hiện giáo dục phân hóa, nhằm đáp ứng nhiều đối tượng HS và phù hợp vớinhiều điều kiện dạy-học khác nhau VD có nhiều bài tập lựa chọn trong các hoạtđộng đọc, viết, nói và nghe để GV và học HS chọn theo đặc điểm, điều kiện củamỗi lớp và khả năng, sở thích của mỗi HS

Em yêu Tổ quốc Việt Nam; 5) Em là công dân toàn cầu

Mỗi chủ đề được triển khai ở mỗi lớp thành 2 hoặc 3 chủ điểm lớn; mỗi chủđiểm lớn gồm 2 hoặc 3 chủ điểm nhỏ Thứ tự và tên cụ thể của các chủ điểm có thểđược thay đổi khi triển khai cụ thể vào tài liệu dạy học

Ở lớp 2, nội dung chủ đề Em là công dân toàn cầu ở lớp 2 bước đầu giúp HS

làm quen với thế giới tự nhiên và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sống cho các

em Chủ đề này, vì vậy, được đặt tên là Em yêu thiên nhiên.

Tên các chủ đề, chủ điểm và bài học trong SGK Tiếng Việt 2 cụ thể như sau:

Chủ đề Em là búp măng non

Chủ điểm 1: Thiếu nhi

- Bài 1: Cuộc sống quanh em

- Bài 2: Thời gian của em

Chủ điểm 4: Vật nuôi

- Bài 19: Bạn trong nhà

- Bài 20: Gắn bó với con người Chủ điểm 2: Bạn bè

- Bài 3: Cuộc sống quanh em

- Bài 4: Thời gian của em

Chủ đề Em yêu thiên nhiên

Chủ đề Em đi học

Chủ điểm 1: Cây cối

- Bài 21: Lá phổi xanh

- Bài 22: Chuyện cây chuyện người Chủ điểm 1: Mái trường

- Bài 5: Ngôi nhà thứ hai

- Bài 6: Em yêu trường em

Chủ điểm 2: Chim chóc

- Bài 23: Thế giới loài chim

- Bài 24: Những người bạn nhỏ Chủ điểm 2: Thầy cô

- Bài 7: Thầy cô của em

Chủ điểm 3: Muông thú

- Bài 25: Thế giới rừng xanh

4

Trang 5

- Bài 8: Em yêu thầy cô - Bài 26: Muôn loài chung sống

Chủ điểm 3: Em là học sinh

- Bài 10: Vui đến trường

- Bài 11: Học chăm học giỏi

Chủ điểm 4: Thời tiết

- Bài 28: Bốn mùa

- Bài 29: Muôn loài chung sống

Chủ đề Em ở nhà

Chủ điểm 1: Ông bà

- Bài 12: Vòng tay yêu thương

- Bài 13: Yêu kính ông bà

Chủ đề Em yêu Tổ quốc Việt Nam

Chủ điểm 2: Cha mẹ

- Bài 14: Công cha nghĩa mẹ

- Bài 15: Con cái thảo hiền

Chủ điểm 1: Quê hương

- Bài 30: Quê bạn, quê em

- Bài 31: Em yêu quê em Chủ điểm 3: Anh chị em

- Bài 16: Anh em thuận hòa

- Bài 17: Chị ngã em nâng

Chủ điểm 2: Đất nước

- Bài 32: Con Rồng cháu Tiên

- Bài 33: Những người quanh em

- Bài 34: Thiếu nhi đất Việt

3 Cấu trúc của bài học

Mỗi bài học được học trong 1 tuần (10 tiết) Cụ thể:

Bài học thứ nhất (số thứ tự lẻ) ở mỗi chủ

điểm gồm các nội dung sau:

Bài học thứ nhất (số thứ tự lẻ) ở mỗi chủđiểm gồm các nội dung sau:

1 Đọc hiểu: 2 tiết 1 Đọc hiểu: 2 tiết

2 Viết (Chính tả, Tập viết): 2 tiết 2 Viết (Chính tả, Tập viết): 2 tiết

3 Đọc hiểu: 2 tiết 3 Đọc hiểu: 2 tiết

4 Nói và nghe: 1 tiết 4 Nói và nghe: 1 tiết

5 Viết (Tập làm văn): 1 tiết 5 Viết (Tập làm văn): 1 tiết

6 Tự đọc sách báo: 2 tiết 6 Góc sáng tạo (HĐTN): 1,5 tiết

7 Tự đánh giá: 0,5 tiết Nhìn vào cấu trúc bài học thì mỗi tuần SGK Tiếng Việt Cánh Diều đều có 1 tiết Viết văn riêng giữa kì và cuối học kì ở các tuần 9,18, 27, 35 có một bài ôn tập

So sánh về chương trình sách giáo khoa trước đây với sách giáo khoa mới, tathấy, Chương trình Giáo dục phổ thông 2006 thời lượng dành cho môn Tiếng Việtlớp 2 là 315 tiết (9 tiết/tuần), còn ở chương trình giáo dục phổ thông 2018 thờilượng dành cho môn Tiếng Việt lớp 2 là 350 tiết (10 tiết/tuần), tăng 1 tiết/tuần sovới chương trình cũ

Chương trình giáo dục phổ thông 2006 của sách giáo khoa Tiếng Việt 2, phânmôn Tập làm văn tập trung vào các các dạng bài giúp các em học sinh thực hành

5

Trang 6

rèn luyện các kỹ năng nói, viết, nghe, phục vụ cho việc học tập và giao tiếp hằngngày, cụ thể:

+ Thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu, như: chào hỏi; tự giới thiệu;cảm ơn; xin lỗi; khẳng định; phủ định; mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị; chia buồn, an ủi;chia vui, khen ngợi; ngạc nhiên, thích thú; đáp lại lời chào, lời tự giới thiệu; đáp lờicảm ơn; đáp lời xin lỗi; đáp lời khẳng định; đáp lời phủ định; đáp lời đồng ý; đáplời chia vui; đáp lời khen ngợi; đáp lời từ chối; đáp lời an ủi

+ Thực hành về một số kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày, như:viết bản tự thuật ngắn, lập danh sách học sinh, tra mục lục sách, đọc thời khoá biểu,nhận và gọi điện thoại, viết nhắn tin, lập thời gian biểu, chép nội quy, đọc sổ liênlạc

+ Thực hành rèn luyện về kỹ năng diễn đạt (nói, viết), như: kể về người thântrong gia đình, về sự vật hay sự việc được chứng kiến; tả sơ lược về người, vật xungquanh theo gợi ý bằng tranh hoặc câu hỏi

+ Thực hành rèn luyện về kỹ năng nghe: dựa vào câu hỏi gợi ý để kể lại hoặcnêu được ý chính của mẩu chuyện ngắn đã nghe

Còn trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 của sách giáo khoa TiếngViệt 2, Cánh Diều, hoạt động Viết tập trung vào các dạng bài cụ thể như sau:

- Viết được 4-5 câu thuật lại một sự việc đã chứng kiến hoặc tham gia dựa vào gợi ý.

- Viết được 4-5 câu tả một đồ vật gần gũi, quen thuộc dựa vào gợi ý.

- Viết được 4-5 câu nói về tình cảm của mình đối với người thân hoặc sự việc dựa vào gợi ý.

- Viết được 4-5 câu giới thiệu một đồ vật quen thuộc dựa vào gợi ý.

- Biết đặt tên cho một bức tranh.

- Biết viết thời gian biểu, bưu thiếp, tin nhắn, lời cảm ơn, lời xin lỗi.

Như vậy so với chương trình cũ, nội dung Thực hành về các nghi thức lời nóitối thiểu đã được tổ chức chủ yếu ở hoạt động Nói và nghe (trao đổi) như: đáp lờiyêu cầu, đề nghị (Tuần 8, 11); đáp lại lời mời, lời nhờ (Tuần 16), đáp lời khen, lời

an ủi (tuần 19); đáp lời đồng ý (Tuần 23); đáp lời từ chối (Tuần 24, 25)

Sách bố trí dạy các nghi thức lời nói trong nội dung luyện nói và nghe là docác hành vi ngôn ngữ đó chủ yếu được thực hiện trong giao tiếp bằng lời nói miệng.Tuy nhiên, theo quan điểm tích hợp, trong bài viết, HS vẫn có thể thực hiện cáchành vi giao tiếp gắn với các nghi thức lời nói, điều này thể hiện rõ trong các bàiGóc sáng tạo (cần tính cả Góc sáng tạo vào hoạt động viết: tạo lập văn bản đaphương thức)

4 Các kiểu bài gồm nhiệm vụ đọc và viết ; nói và viết

4.1 Các bài Viết gồm 2 nhiệm vụ đọc và viết.

6

Trang 7

Tuần Bài 1 Bài 2

2 Đọc bản tự thuật Viết bản tự thuật của em theo mẫu

3 Đọc bản danh sách học

sinh

Cách viết các từ ở nhóm 1 và nhóm 2 khác nhau thế nào?

+ Bài 3: Viết họ, tên 5 bạn học sinh tổ em, xếp theo thứ tự trong bản chữ cái

17 Đọc tin nhắn và trả lời câu

hỏi

a/ Viết tin nhắn theo tình huống em tự nghĩ ra.b/ Viết tin nhắn theo tình huống sau

20 Đọc thời gian biểu dưới

đây của bạn Thu Huệ và

trả lời câu hỏi

Dựa theo mẫu thời gian biểu của bạn Thu Huệ,lập thời gian biểu buổi tối của em

Ở các bài Viết gồm 2 nhiệm vụ đọc – viết đã tập trung qua những dạng bài sau:

+ Viết bản tự thuật

+ Viết tin nhắn theo tình huống

+ Lập danh sách học sinh

+ Lập thời gian biểu

Đây là những dạng bài để giúp học sinh tạo lập văn bản thông thường đểphục vụ cuộc sống giao tiếp hàng ngày Nội dung này rất thiết thực, hướng các emthành người năng động, độc lập trong cuộc sống

4.1.1 Viết bản tự thuật ngắn:

* Mục đích yêu cầu:

Mục đích của bài tập là giúp HS biết cách tự giới thiệu về mình với thầy

cô, bạn bè hoặc người xung quanh

Tự thuật là những điều mình tự kể về mình nhằm để cho người khác nắm được những thông tin về mình

* Hướng dẫn HS chuẩn bị:

- Xác định yêu cầu: Viết bản tự thuật theo mẫu (SGK Cánh diều trang 19)

- Đọc từng dòng mẫu tự thuật trong SGK để nắm được những nội dung cần viết ra cho đúng và đủ

- Hỏi người thân trong gia đình (ông, bà, bố, mẹ, anh, chị,… ) để nắm được nhữngđiều mình chưa rõ (như ngày sinh, nơi sinh, quê quán, nơi ở hiện nay)

- Xem lại bài 1 “Tự thuật” trong SGK, tập 1 trang 19 của bạn Dương Hồng Anh để học tập cách viết và trình bày sạch đẹp

*Hướng dẫn HS làm bài:

Cần trình bày bài viết sạch sẽ, đúng chính tả (chú ý viết hoa những tên riêng vàcác con chữ đầu tiên của mỗi dòng cần ghi thẳng hàng dọc với nhau cho đẹp.)

7

Trang 8

4.1.2 Viết tin nhắn:

* Cho HS hiểu:

Khi muốn nói với ai điều gì mà không gặp được người đó, ta có thể viết

những điều cần nhắn vào giấy, để lại Nội dung lời nhắn cần viết ngắn gọn mà đủý

* Hướng dẫn chuẩn bị:

- Xác định yêu cầu: Chọn 1 trong 2 đề:

a/ Viết tin nhắn theo tình huống em tự nghĩ ra

b/ Viết tin nhắn theo tình huống sau: Chủ nhật, bố mẹ về quê Anh đi học vẽ, trưa mới về Ông ngoại đón em đến nhà ông bà chơi và ăn cơm ở đó Hãy nhắn tin để anh biết

- Xem lại bài1 (trang 140, tập 1 sách Cánh diều) để nắm được cách viết nhắn tin:Nhắn cho ai? Cần nói gọn và rõ nội dung gì? (Ví dụ: đi đâu, làm gì, cùng với ai,bao giờ về,…) Nhớ ghi thời điểm viết nhắn tin

8

Trang 9

* Hướng dẫn làm bài:

- Viết tin nhắn của em cho anh, bố, mẹ

Chú ý: Trình bày cho sạch sẽ, viết đúng chính tả, đầy đủ nội dung

* Chú ý cách ghi nhắn tin:

Ví dụ:

15 giờ, Chủ nhật

9

Trang 11

- Xác định yêu cầu: Lập danh sách 4-5 bạn học sinh tổ em theo mẫu đã học

- Xem lại bài tập 1 trong SGK Cánh Diều, tập 1, trang 27 để học tập cách lập

danh sách học sinh (Chú ý: Tên các bạn được xếp theo thứ tự bảng chữ cái.)

- Ghi tên các bạn trong tổ học tập: họ tên, ngày sinh, nơi ở (chọn 3 đến 5 bạn ) đểchuẩn bị lập danh sách theo mẫu đó cho, xếp tên các bạn theo đúng thứ tự bảngchữ cái đã học (đánh số thứ tự tên các bạn theo thứ tự bảng chữ cái)

* Hướng dẫn HS làm bài:

Trang 12

- Kẻ bảng danh sách theo mẫu trong SGK (đã có trong VBT Tiếng Việt)

- Lập danh sách theo từng cột trong bảng (xếp tên theo đúng thứ tự bảng chữ cái);

có thể hỏi bạn về những điều em chưa rõ Ví dụ: ngày sinh; nơi ở

Chú ý: Điền vào từng cột theo hàng ngang Chữ và số phải viết cân đối trong từng

ô cho đẹp

4.1.4 Lập thời gian biểu

Ngoài việc học bài trên lớp, HS còn cần được dạy để chủ động ngay từchuyện sắp xếp thời gian, công việc hằng ngày Dạy HS lập thời gian biểu là mộtbiện pháp hình thành ở các em thái độ tích cực, chủ động, tính kế hoạch và khảnăng sắp xếp cuộc sống riêng

Thời gian biểu là lịch sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi trong một ngày, gồm cảsáng, trưa, chiều, tối Thời gian biểu rất cần thiết vì nó giúp chúng ta làm việc tuần

tự, hợp lý và không bỏ sót công việc

* Hướng dẫn HS chuẩn bị:

- Xác định yêu cầu: Lập thời gian biểu một ngày đi học của em

- Xem lại bài tập 1 SGK Cánh Diều, tập 2, trang 17 về thời gian biểu của bạnNguyễn Thu Huệ, lớp 2A của trường Tiểu học Trần Quốc Toản

* Hướng dẫn HS làm bài:

Trang 13

- Yêu cầu HS dựa vào mẫu đã được tìm hiểu ở tiết trước để vận dụng hoàn thành trong VBT Tiếng Việt 2 Lưu ý HS sắp xếp các việc làm theo trình tự thời gian hợp lí Cố gắng ghi đủ các việc cụ thể cần làm và thời gian làm mỗi việc đó.

Trang 14

4.2 Các bài Viết gồm 2 nhiệm vụ nói và viết

4 Lập danh sách học sinh

6 Nói lời xin lỗi và lời đáp của các

nhân vật trong mỗi bức tranh

Viết 4-5 câu kể về một lần em có lỗi với ai đó (bố, mẹ, thầy cô, anh chị ) và em xin lỗi người đó

7 Kể với các bạn về một tiết học vui ở

11 Tả cho bạn nghe một đồ vật em yêu

thích

Dựa vào những điều đã nói ở bài tập 1, viết 4-5 câu tả một đồ vật emyêu thích

12 Kể về ông (bà) của em Dựa vào những điều vừa kể, em

hãy viết 4-5 câu về ông (bà) của em

13 Kể một việc em đã làm thể hiện sự

quan tâm, chăm sóc ông bà

Dựa vào những điều vừa kể, em hãy viết 4-5 câu về một việc em đãlàm thể hiện sự quan tâm, chăm sóc ông (bà) của em

14 Kể một việc bố mẹ đã làm để chăm

sóc em

Hãy viết 4-5 câu kể lại việc trên

15 Kể một việc em đã làm thể hiện tình

cảm yêu quý, biết ơn bố mẹ

Hãy viết 4-5 câu kể lại việc trên

16 Hãy kể về em bé (hoặc anh, chị) của

em)

Dựa vào những điều em vừa nói, hãy viết 4-5 câu về em bé (hoặc anh, chị) của em Trang trí đoạn viết bằng ảnh, tranh em vẽ em bé (hoặc anh, chị)

19 Dựa vào kết quả quan sát và trao đổi

Trang 15

ở tiết học trước, hãy viết 4-5 câu về

tranh (ảnh) vật nuôi em yêu thích

Trang trí đoạn viết bằng tranh (ảnh)

vật nuôi em sưu tầm, vẽ hoặc cắt dán

21 Hãy lập thời gian biểu một ngày đi

23 Dựa vào kết quả quan sát và trao đổi

ở tiết học trước, hãy viết 4-5 câu về

đồ vật, đồ chơi hình một loài chim

(hoặc tranh ảnh loài chim) em yêu

thích Trang trí đoạn viết bằng tranh

25 Dựa vào điều đã quan sát và trao đổi

với các bạn ở tiết học trước, hãy viết

4-5 câu về đồ vật, đồ chơi hình một

loài vật (hoặc tranh ảnh loài vật) Đặt

tên cho đoạn văn của em

28 Nói về một mùa em yêu thích Dựa vào những điều em vừa nói,

hãy viết 4 -5 câu về một mùa em yêu thích

29 Sưu tầm tranh (ảnh) hoặc vẽ tranh về

cảnh vật thiên nhiên Giới thiệu tranh

ảnh đó

Dựa vào những điều em vừa nói, hãy viết 4 -5 câu về tranh (ảnh) cảnh vật thiên nhiên

30 Chọn 1 trong 2 đề:

a) Viết 4-5 câu giới thiệu về trò chơi

thiếu nhi ở quê em

b) Viết 4-5 câu giới thiệu một loại

bánh hoặc một món ăn của quê

Mỗi tổ chuẩn bị một hoạt động trong Ngày hội quê hương sắp tới:a) Sưu tầm tranh, ảnh viết vẽ về quê hương

b) Giới thiệu 1-2 trò chơi của thiếu

Trang 16

hương nhi ở quê hương.

c) Giới thiệu 1-2 món ăn của quê hương

31 Viết 4-5 câu giới thiệu quê hương em

hoặc nơi em ở (kèm theo tranh, ảnh

em đã sưu tầm hoặc tự vẽ)

Giới thiệu bài viết của em với các bạn trong nhóm Tập hợp các bài viết thành bộ sưu tập để tham gia Ngày hội quê hương

32 Tìm từ thích hợp vào mỗi dòng theo

gợi ý

Viết 4-5 câu kể những điều em biết

về đất nước và con người Việt Nam

33 Nói về một người lao động ở trường

em

Dựa vào những điều em vừa nói, hãy viết 4 -5 câu (hoặc 4-5 dòng thơ) về một người lao động ở trường em

Theo tài liệu tập huấn của sách cánh diều com cách dạy hoạt động viết (Bài

viết 2) trong Tiếng Việt 2 được cụ thể bởi các bước sau:

4.2.1.Giao nhiệm vụ cho HS

• GV mời 1, 2 HS đọc đề bài, xác định yêu cầu của bài tập

• GV mời 1, 2 HS làm mẫu, nếu cần

4.2.2 Tổ chức cho HS thực hiện nhiệm vụ

• GV tổ chức cho HS nói theo yêu cầu (nhanh)

• GV tổ chức cho HS viết (trọng tâm của bài, cần dành nhiều thời gian)

4.2.3.Tổ chức cho HS báo cáo kết quả

• GV mời một vài HS đọc bài làm

• GV mời cả lớp nhận xét bài làm của bạn (nên hướng dẫn các em tìm ra nhữngđiểm tốt trong bài của bạn)

• GV đánh giá theo hướng động viên kết quả tốt hoặc sự tiến bộ của HS

Trang 17

Biện pháp 2: Khai thác tốt những “vật liệu” cần thiết trong sách giáo khoa để giúp học sinh hình thành cách viết văn.

1 “Vật liệu” là các bài mẫu trong sách giáo khoa

Như đã phân tích ở một số dạng bài gồm nhiệm vụ đọc – viết trong biện pháp

1, các bài tập 1 đều được xây dựng giống như bài tập mẫu hoặc làm quen trên cơ sở

để học sinh thực hành đọc, nói câu trước khi chuyển sang kĩ năng viết câu, viếtđoạn Làm tốt mối liên kết giữa 2 bài tập tức là giáo viên đã giúp học sinh nắmđược kiến thức một cách có hệ thống, có thể chuyển từ văn bản mẫu sang thực hànhtheo mẫu ( các bài đọc, viết tin nhắn, lập danh sách,…) biết vận dụng kiến thức làmvăn cả trong tình huống giao tiếp và trong ngôn ngữ văn bản (nói và viết : kể vềngười thân,…)

Vì vậy, GV muốn HS thực hiện tốt các dạng bài tập này, GV cần hướng dẫn

HS dựa vào những “vật liệu” mẫu là các bài mẫu của SGK để luyện nói, viết Tuynhiên gần đây có ý kiến cho rằng cần chấm dứt việc học theo văn mẫu, bài mẫu,dẫn tới triệt tiêu sáng tạo của thầy và trò, có khá nhiều ý kiến xoay quanh vấn đềnày.Vậy dạy văn lớp Hai có cần làm mẫu không?

Phương pháp làm mẫu là phương pháp truyền thống được vận dụng linh hoạtcùng với phương pháp hiện đại khác Cũng cần phải hiểu rằng mẫu ở đây là mộthay vài ví dụ minh hoạ Học sinh đọc và phân tích mẫu để hiểu rõ hơn và biết đượccách làm GV chỉ là người khơi gợi, nêu các câu hỏi tình huống, câu hỏi có vấn đề

để HS tự khai thác và nắm bắt

Rèn luyện theo mẫu trong dạy học Tiếng Việt là phương pháp giáo viên hướng

dẫn cho học sinh dựa theo mẫu lời nói đã được sách giáo khoa xây dựng hoặc mẫucủa giáo viên để giải quyết các bài tập, rèn kĩ năng hoặc tạo ra mẫu lời nói củachính mình Thực hành theo mẫu cũng chính là lượt tập dượt để các em chắc chắchơn khi làm bài Sau khi các em có “hành trang” rồi thì không cần dựa vào mẫunữa GV có thể giúp các em tạm quên nó đi để “năng lực, cảm hứng” của chính cácem

2.“Vật liệu” là các mạng từ then chốt thông qua dạy học các hoạt động theo chủ đề, chủ điểm

Chúng ta biết rằng tư duy trừu tượng của học sinh lớp 2 còn rất hạn chế Việc

yêu cầu học sinh kể ngay một sự việc nào đó dù là ngắn cũng rất khó khăn với các

em Bởi vì vốn từ của các em còn hạn chế và nhất là việc sắp xếp các ý

Đôi khi “ vật liệu” với các em đơn giản là các mạng từ GV và HS đã tìm hiểu được qua hoạt động Chia sẻ và đọc, Tự đọc sách báo, Nói và nghe

Khi dạy các hoạt động Chia sẻ và đọc, trong khâu khám phá, tìm hiểu bài và

Trang 18

củng cố, liên hệ giáo dục, GV xoáy sâu vào một số kiến thức nhằm phục vụ tốt choviệc học văn viết Để học sinh làm tốt dạng bài viết đoạn văn, GV cần tổng hợpnhững bài đọc có cùng chủ điểm lại với nhau Sau đó, sẽ định hướng cho các em họcsinh tìm ý và khắc sâu những chi tiết miêu tả qua các bài đọc đó theo gợi ý của GV.

Ví dụ: Bài viết ở tuần 8 có yêu cầu: “ Kể về thầy cô giáo của em”.

GV cần đã tổng hợp những bài đọc có cùng chủ điểm lại với nhau như cácchủ điểm: “ Cô giáo lớp em”, “ Một tiết học vui”, “ Bức tranh bàn tay”, “Những câysen đá”

Cuối tiết đọc cuối cùng của chủ điểm là “ Những cây sen đá”, GV định hướngcho các em cái nhìn tổng thể về người thầy, người cô tận tụy, yêu trẻ, kiên trì, cósáng tạo trong giảng dạy, có cách làm rất hay để khích lệ học sinh cố gắng trong họctập (thầy Huy) Từ đó các em nảy từ hoặc giáo viên cung cấp từ cho các em Giáoviên có thể cung cấp mạng từ then chốt cho học sinh: 10 từ chỉ đặc điểm, tính tình,

hoạt động của người thầy (cô) như: đen nhánh, uyển chuyển, trầm ấm, truyền cảm, yêu thương, dìu dắt, trìu mến, tận tụy, thong thả, cân đối GV yêu cầu HS về

tập đặt câu với các từ này để chuẩn bị cho tiết Bài viết 2: Viết về thầy cô Nhờ biết

từ, các em sẽ được tự tập đặt câu với từ phù hợp Tiết học sau các em đã nói đượcnhiều câu chứa từ khác nhau, nhiều em viết sáng tạo, bộc lộ cái riêng của mình GV

sẽ khen ngợi và chấp nhận câu hay, đúng văn cảnh, sửa câu chưa hay để HS nắmvững cách dùng từ, đặt câu

Ví dụ: Bài viết ở tuần 7 có yêu cầu:

Bài tập 1: Kể với các bạn về một tiết học vui ở lớp em

Khi dạy Dạy bài “Kể với các bạn về một tiết học vui ở lớp em” thì cuối tiết

Viết trước, GV dặn dò học sinh về nhà dựa vào câu hỏi gợi ý lập mạng từ chốt(khoảng 4 – 5 từ hoặc cụm từ) Ngoài việc tổ chức học sinh lập mạng từ chốt, GVcũng lập một mạng từ chốt và ghi vào bảng phụ để chuẩn bị cho tiết dạy Mạng từ

chốt dạy bài “Kể với các bạn về một tiết học vui ở lớp em”: Góc sáng tạo, vẽ ngôi trường, thảo luận, triển lãm, sung sướng Đến giờ Viết, GV cho các em

cầm mạng từ chốt để kể Đối với học sinh năng khiếu, GV khuyến khích các emthoát ly mạng từ chốt để kể tự nhiên hơn Đối với học sinh tiếp thu chậm,không lập được mạng từ, GV cho các em nhìn vào mạng từ chốt của giáo viên để

kể

Ví dụ:

Chủ đề Em ở nhà

Chủ điểm 1: Ông bà

Trang 19

- Bài 12: Vòng tay yêu thương

- Bài 13: Yêu kính ông bà

Chủ điểm 2: Cha mẹ

- Bài 14: Công cha nghĩa mẹ

- Bài 15: Con cái thảo hiền

thương yêu trong gia đình, cùng với những tiết Chia sẻ và đọc cung cấp, mở rộng

vốn từ ngữ cho HS, ngoài việc giúp HS hiểu rõ và nắm chắc người thân của mình lànhững ai, ngoài việc khai thác và giáo dục tình cảm cho HS thông qua các nhân vậttrong bài đọc, nhấn mạnh cái hay, cái đẹp của nội dung bài, hướng cho HS liên hệđến bản thân, gia đình, người thân của mình, GV còn cung cấp thêm từ ngữ, hướngdẫn các em hệ thống lại, lựa chọn, ghi nhớ các từ ngữ phù hợp với đề tài (ông bà,cha mẹ, anh chị em) Để chuẩn bị cho bài văn sắp tới, GV yêu cầu HS lựa chọnnhững từ ngữ đã học để các em vận dụng vào bài viết, khơi gợi và kích thích tinhthần học tập của các em

Ngoài ra, để có “vật liệu” phong phú, GV cần tăng cường mở rộng vốn từ, hoàn thiện dần khả năng diễn đạt bằng việc phát triển văn hoá đọc

Sách Tiếng Việt lớp 2 luôn dành 1 tiết/ 2 tuần hoạt động Tự đọc sách báo.Các em sẽ mang đến lớp một quyển sách, truyện theo chủ đề mà cô giáo và sáchgiáo khoa yêu cầu, cùng đọc, chia sẻ và nói về cuốn sách đó cho các bạn nghe Đây

là điểm mới và ý tưởng rất độc đáo của nhóm tác giả nhằm khơi gợi tình yêu sáchvới các em ngay từ nhỏ Để làm tốt điều này, giáo viên cần gieo vấn đề về vai tròcủa việc đọc với phụ huynh ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm học Cần giúp

PH hiểu rằng việc đọc tốt, hiểu được văn bản không những giúp các em học đượccách diễn đạt, dùng từ viết câu tốt mà nó còn giúp các con học tốt hơn ở nhữngmôn khác như Toán, Tự nhiên xã hội, Đạo đức, Từ đó thống nhất với phụhuynh học sinh để có được sự hỗ trợ từ họ trong việc khuyến khích học sinh đọcsách, trang bị sách theo chủ đề phù hợp cho con em mình đọc ở nhà

Ngoài ra, mỗi thầy cô giáo cần hình thành cho các em thói quen và văn hoáđọc bằng nhiều cách:

+ Luôn khuyến khích, tuyên dương học sinh chăm đọc sách, giúp các em

Trang 20

thấy được ích lợi của việc đọc sách để học sinh tự giác và hứng thú với việc đọcsách một cách tự nguyện nhất.

+ Xây dựng tủ sách dùng chung trên lớp, giúp các em biết nâng niu bảoquản, biết quý trọng từng trang sách

+ Hướng dẫn các em chọn sách phù hợp với lứa tuổi của mình để vận dụngvào bài văn tốt hơn

+ Dạy các em cách rút ra bài học cho bản thân qua mỗi câu chuyện, mỗiquyển sách Học những cái hay trong cách diễn đạt, dùng từ của tác giả, từ đó “bắtchước” theo khi làm bài

3 “Vật liệu” là các câu hỏi gợi ý trong SGK

Các câu hỏi gợi ý trong SGK thường ở bài tập 1 (hoạt động kể) giúp các em định hình mình sẽ làm gì, viết gì, viết sao cho đúng trọng tâm đề bài yêu cầu ở hoạt động viết

Để tránh tình trạng học sinh không làm được bài hoặc viết lan man quá nhiều câudẫn đến lạc đề, giáo viên giúp học sinh cần biết làm như thế nào để viết được mộtđoạn văn và cần phải viết những gì trong đoạn văn ấy

a) Giúp HS có một hệ thống câu hỏi gợi ý rõ ràng

Trang 21

Trong chương trình, hầu hết các bài văn đều có câu hỏi gợi ý rõ, đầy đủ Giáoviên có thể tranh thủ thời gian cuối tiết học hướng dẫn học sinh chuẩn bị, đọc câu hỏi gợi ý, suy nghĩ bài viết cho tiết sau Hoặc chuẩn bị phần tự học khi ở nhà, trướckhi lên lớp Đối với những bài không có câu hỏi gợi ý, giáo viên có thể soạn, cung cấp cho các em.

b) Giúp học sinh nắm được trình tự các bước khi viết một đoạn văn

– Viết câu mở đầu: Giới thiệu đối tượng cần viết (Có thể diễn đạt bằng một câu).– Phát triển đoạn văn: Kể về đối tượng: Có thể dựa theo gợi ý, mỗi gợi ý có thể diễn đạt 2, 3 câu tùy theo năng lực học sinh

– Câu kết thúc: Có thể viết một câu thường là nói về tình cảm, suy nghĩ , mong ướccủa em về đối tượng được nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi của đối tượng đó đối với cuộc sống, với mọi người

Ví dụ: Tuần 19: Dựa vào kết quả quan sát và trao đổi ở tiết học trước, hãy viết 4-5

câu về tranh (ảnh) vật nuôi em yêu thích Trang trí đoạn viết bằng tranh (ảnh) vật nuôi em sưu tầm, vẽ hoặc cắt dán.

Ở tuần 19, trong tiết Viết không có nội dung gợi ý các câu hỏi Vì vậy, để cho

HS nhớ lại trước khi viết, GV cần cho HS đọc lại gợi ý trong tiết Trao đổi

Tuy nhiên, GV có thể bổ sung thêm gợi ý để giúp các em kể được chi tiết hơn Cụ thể:

- Đó là tranh (ảnh) con vật gì? Nó sống ở đâu?

- Hình dáng nó như thế nào? Trong tranh (ảnh) con vật đang làm gì?

- Nó đem lại lợi ích gì?

Ngày đăng: 08/08/2023, 22:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w