1 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LẠNG SƠN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LẠNG SƠN BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN Giảng dạy yếu tố văn hóa cho sinh viên khối không chuyên năm thứ nhất tại trường CĐSP Lạng Sơn Lĩnh vực sáng kiến[.]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LẠNG SƠN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LẠNG SƠN
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN Giảng dạy yếu tố văn hóa cho sinh viên khối không chuyên
năm thứ nhất tại trường CĐSP Lạng Sơn
Lĩnh vực sáng kiến: Khoa học xã hội
Tác giả:.Lê Thị Thanh Hương Trình độ chuyên môn:Thạc sĩ tiếng Anh Chức vụ:Trưởng khoa
Nơi công tác:Khoa Ngoại ngữ, trường CĐSP Lạng Sơn Điện thoại liên hệ: 0936777586
Địa chỉ thư điện tử:lehuongcdspls@gmail.com
Đề nghị công nhận sáng kiến cấp: LĐTT
Lạng Sơn,tháng 4 năm 2021
1 of 98.
Trang 2I – MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn sáng kiến
Trong nhiều năm gần đây nhu cầu học ngoại ngữ nói chung và giao tiếp với người nước ngoài bằng tiếng Anh nói riêng đang ngày càng gia tăng, Khi xu hướng
giao tiếp và hội nhập quốc tế ngày càng trở nên cần thiết thì kĩ năng giao tiếp càng
được chú trọng Quan niệm cho rằng dạy ngoại ngữ chỉ đơn thuần là cung cấp cho
người học một vốn từ vựng hay một vốn ngữ pháp đủ để diễn đạt ý nghĩ của mình
đã trở nên hạn hẹp Mục tiêu dạy học ngoại ngữ ngày nay là hướng đến rèn luyện
năng lực giao tiếp một cách hiệu quả Tuy nhiên, học ngoại ngữ mà không hiểu và
nắm được văn hóa bản ngữ thì khó có thể hiểu vấn đề sâu sắc để giao tiếp thành
công Để bắt kịp với sự phát triển của việc giảng dạy tiếng Anh trên thế giới đồng
thời giúp người học vượt qua rào cản về văn hóa, việc lồng ghép các yếu tố văn
hóa vào dạy học các kĩ năng tiếng Anh là cần thiết Thông qua các hoạt động này
giáo viên sẽ giúp người học phần nào nhận thức được những tương đồng và khác
biệt giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa các nước nói tiếng Anh (đặc biệt là 3 nước
Anh, Mỹ, Úc) Hơn nữa việc lồng ghép các yếu tố văn hóa vào dạy – học tiếng
Anh sẽ không thể có hiệu quả nếu thiếu việc lựa chọn phương pháp phù hợp khi
thực hiện vì vậy tôi đưa ra sáng kiến “Giảng dạy yếu tố văn hóa cho sinh viên khối
không chuyên tại trường CĐSP Lạng Sơn”
Mục tiêu của sáng kiến
Nghiên cứu cơ sở lý luận về khái niệm về văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và
ngôn ngữ; thực tiễn dạy và học tiếng Anh của sinh viên không chuyên năm thứ
nhất với tiết học yếu tố văn hóa, từ đó đưa ra những biện pháp giúp việc dạy và
học yếu tố văn hóa cho sinh viên đạt hiệu quả hơn
2 Phạm vi của sáng kiến
Dạy học yếu tố văn hóa cho sinh viên khối không chuyên năm thứ nhất, học kì 1
năm học 2021- 2022 tại trường CĐSP Lạng Sơn
2 of 98.
Trang 3II – CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lý luận 1.1 Khái niệm về văn hóa
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Theo UNESCO “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua
các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các
truyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức pháp luật, khoa
học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn,
ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hóa.”
Các nhà nghiên cứu khác Gallois C, Callan V,J 1997 cũng cho rằng văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự
nhiên Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau,
liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần của con người Văn hóa bao
gồm tất cả những sản phẩm của con người và như vậy văn hóa bao gồm cả hai
khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các
khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện v.v…Cả hai khía cạnh
cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa Trong cuộc sống hàng
ngày văn hóa thường được hiểu là những tác phẩm văn học, nghệ thuật như thơ ca,
mỹ thuật, sân khấu điện ảnh Các trung tâm văn hóa có ở khắp nơi chính là cách
hiểu này Một cách hiểu thông thường khác: Văn hóa là cách sống bao gồm phong
cách ẩm thực, trang phục, cách cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ
Qua các khái niệm về văn hóa chúng ta có thể thấy ngôn ngữ là một phần của văn hóa và có mối liên hệ mật thiết với văn hóa Tác giả Nguyễn Quang đã viết
về mối liên hệ giữa văn hóa, ngôn ngữ và giao tiếp như sau: “Quan hệ tương tác
giữa các yếu tố văn hóa, ngôn ngữ và ngữ năng giao tiếp là một thực tế hiển nhiên
và nó đòi hỏi phải có một sự quan tâm thỏa đáng.” Với phương pháp chức năng và
thực hành giao tiếp, vai trò công cụ giao tiếp của ngôn ngữ đã được nhấn mạnh và
3 of 98.
Trang 4vị trí của lời nói đã được đề cao Người ta cũng dần nhận thức được rằng không thể
làm chủ được một ngôn ngữ nếu không nắm bắt được tấm phông văn hóa của nó,
rằng trong mỗi hành vi giao tiếp cả hành vi ngôn từ và hành vi phi ngôn từ(verbal
and non-verbal) đều có dấu ấn mạnh mẽ của văn hóa Ngôn ngữ và văn hóa có
quan hệ vô cùng chặt chẽ tới mức ta không thể hiểu và đánh giá đúng được cái này
nếu không có kiến thức về cái kia Những người thuộc các nền văn hóa khác nhau
hiện đang học các ngôn ngữ thuộc các nền văn hóa khác thậm chí rất khác với văn
hóa nguồn của họ Họ có cơ hội gặp gỡ trò chuyện với người bản ngữ và họ dần
nhận ra rằng họ có thể nắm bắt được các từ ngữ nhưng không dễ dàng nắm bắt
được các thông điệp truyền tải Trong nhiều trường hợp họ và người bản ngữ hiểu
lầm nhau và do đó gây phật ý và khó chịu cho nhau mặc dù cả hai đều có thiện chí
Họ thấy ở đối tác giao tiếp của họ một cái gì đó “bất bình thường” Nói tóm lại là
họ không thể hoặc chí ít chưa thể tìm thấy một “ngôn ngữ chung”, thứ ngôn ngữ
nằm phía sau và bên ngoài cái ngôn ngữ mà họ đang sử dụng và đó là văn hóa của
đất nước, con người của ngôn ngữ đó
Qúa trình giao tiếp gồm 2 yếu tố: truyền thông và phân tích thông tin Để truyền thông tin con người sử dụng ngôn ngữ với nhiều kí hiệu khác nhau: có thể
bằng lời (verbal) hoặc không dùng lời(non- verbal) Tuy nhiên để phân tích thông
tin ta cần giải mã các kí hiệu đó để đạt mục đích cuối cùng là lưu thông tin theo
đúng nghĩa nó được truyền tải Cả hai quá trình này đều liên quan đến văn hóa Khi
người nghe không hiểu về văn hóa của người nói thì người nghe sẽ giải mã thông
tin theo văn hóa của chính anh ta và gây ra sự hiểu lầm và còn được hiểu như “sốc
văn hóa”
Ngôn ngữ không chỉ là âm thanh hay chữ viết Ngôn ngữ là những âm thanh
và chữ viết có ý nghĩa Nhưng ý nghĩa không phải là những gì chung chung và bất
biến tồn tại giữa hư không hoặc trong các cuốn từ điển cứng nhắc Ý nghĩa bao giờ
cũng gắn liền với ngữ cảnh trong đó có một người nói/ viết, một hoặc nhiều người
nghe/ đọc,trong một không khí nhất định và những quan hệ xã hội, tình cảm và
mục đích giao tiếp nhất định Nếu ý nghĩa bao giờ cũng gắn liền với ngữ cảnh thì
theo Dell H 1972 “Chìa khóa để hiểu ngôn ngữ trong ngữ cảnh là phải bắt đầu
không phải với ngôn ngữ mà là với ngữ cảnh” Ngữ cảnh, hiểu theo nghĩa rộng,
chính là văn hóa
4 of 98.
Trang 5Tóm lại văn hóa- ngôn ngữ- giao tiếp có mối quan hệ mật thiết với nhau và văn hóa đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học ngoại ngữ nói
chung trong đó có tiếng Anh Trong xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ các giáo viên
dạy ngoại ngữ cần tìm ra các phương pháp và nội dung lồng ghép các yếu tố văn
hóa và giao thoa văn hóa phù hợp vì đó vừa là yếu tố kích thích sự hứng khởi trong
quá trình học ngoại ngữ vừa là tạo cơ hội cho sinh viên hiểu biết về văn hóa các
nước trên thế giới
2 Cơ sở thực tiễn 2.1 Thực trạng về việc dạy và học tiếng Anh của sinh viên khối không
chuyên tại trường CĐSP Lạng Sơn
Sinh viên khối không chuyên năm thứ nhất học tiếng Anh theo 2 giáo trình
chính: Giáo trình New English File dành cho sinh viên khối không chuyên ngành
đào tạo giáo viên và giáo trình Solutions Elementary dành cho sinh viên khối giáo
dục nghề nghiệp Trong sáng kiến này tác giả tập trung vào thực trạng dạy và học
tiếng Anh cho sinh viên khối giáo dục nghề nghiệp, cụ thể là sinh viên chuyên
ngành tiếng Trung Sinh viên khối không chuyên năm thứ nhất học tiếng Anh 1 và
tiếng Anh 2 với thời lượng 120 tiết (kì 1: 60 tiết, kì 2: 60 tiết), giáo trình Solutions
là cuốn giáo trình mới được Bộ Lao động Thương binh xã hội đưa vào làm giáo
trình chính trong giảng dạy cho sinh viên khối giáo dục nghề nghiệp từ năm học
2019 - 2020 Là một người trực tiếp giảng dạy bản thân tôi và đồng nghiệp nhận
thấy giáo trình Solutions là một cuốn tài liệu cập nhật đa dạng kiến thức: chủ đề
các bài học đa dạng, kiến thức văn hóa trong các bài học cập nhật với cuộc sống
đương đại, bố cục chặt chẽ khoa học Một đơn vị bài học được dạy trong 9 tiết:
- Tiết 1 Từ vựng: Sinh viên được học và làm bài tập (Vocabulary builder)
liên quan đến chủ đề bài học
- Tiết 2 Ngữ pháp: Sinh viên học về cấu trúc ngữ pháp và làm bài tập
(Grammar builder)
- Tiết 3,4 Kỹ năng nghe, tiết học mang nhiều kiến thức văn hóa của các nước
nói tiếng Anh trên thế giới (Sinh viên nghe và đọc, làm bài tập về kiến thức văn hóa của các đất nước nói tiếng Anh trên thế giới)
- Tiết 5 Tiết ngữ pháp: Sinh viên học về cấu trúc ngữ pháp và làm bài tập
(Grammar builder)
5 of 98.
Trang 6- Tiết 6,7 Đọc hiểu: (Phát triển kỹ năng đọc hiểu cho sinh viên)
- Tiết 8 Kỹ năng nói: (Phát triển kỹ năng nói cho sinh viên qua các hội thoại
hàng ngày)
- Tiết 9 Kỹ năng viết: (Sinh viên viết một đoạn theo chủ đề của bài)
2.2 Thuận lợi, khó khăn trong dạy và học yếu tố văn hóa trong bộ môn tiếng
Anh đối với sinh viên không chuyên
- Thuân lợi
+ Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc học ngoại ngữ của sinh
viên thuận lới hơn nhiều so với các thế hệ trước Sinh viên có đầy đủ giáo trình,
giáo trình mới, cập nhật kiến thức, tài liệu phong phú Sinh viên phần lớn có điện
thoại thông minh, thuận lợi trong tìm kiếm thông tin và kết nối, chia sẻ nguồn liệu
học tập
+ Cơ sở vật chất của nhà trường tương đối đủ cho việc dạy và học ngoại ngữ.Nhà
trường đã cố gắng trang bị máy chiếu cho phần lớn các phòng học, có kết nối mạng
internet, thư viện của nhà trường khá nhiều tài liệu tham khảo cho bộ môn tiếng
Anh
- Khó khăn
Thứ nhất, trình độ sinh viên không đồng đều và thấp hơn trình độ chuẩn
Theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam học sinh khi kết thúc chương
trình tiếng Anh ở phổ thông phải đạt trình độ bậc 2 (A2) Tuy nhiên, khi vào
trường CĐSP Lạng Sơn trình độ tiếng Anh của sinh viên rất khác nhau, rất ít sinh
viên đạt trình độ bậc 2 vì nhiều lí do: một số sinh viên đến từ các trung tâm giáo
dục thường xuyên các em không học tiếng Anh ở bậc trung học phổ thông, một
phần sinh viên tập trung vào các môn thi đại học và ít quan tâm đến học môn tiếng
Anh nên hổng kiến thức
Thứ hai, sinh viên thiếu kiến thức nền, kiến thức về văn hóa, xã hội còn hạn
chế
90 % sinh viên năm thứ nhất và sinh viên khối tiếng Trung cũng vậy là người dân tộc thiểu số ở những vùng xa xôi còn nhiều khó khăn về cuộc sống cũng
như các điều kiện học tập và phát triển văn hóa xã hội khác Do đó sinh viên
6 of 98.
Trang 7không biết hoặc biết rất ít về văn hóa, xã hội của các nước nói tiếng Anh.Một khía
cạnh khác tuy với sự phát triển của khoa học công nghệ sinh viên ngày nay có thể
tiếp cận với nhiều phương tiên truyền thông và văn hóa nhưng do đặc điểm vùng
miền gần biên giới Trung Quốc nên sinh viên quan tâm đến văn hóa chủ yếu là về
giải trí của Trung Quốc nhiều hơn còn các kiến thức về văn hóa xã hội, âm nhạc,
giải trí thể thao của các nước nói tiếng Anh sinh viên hiểu biết còn khiêm tốn
Thứ ba là thời gian dành cho môn học tiếng Anh của sinh viên còn hạn chế
Sinh viên chỉ tập trung học môn chuyên ngành cụ thể là môn tiếng Trung Sinh
viên năm thứ nhất khối không chuyên chủ yếu là sinh viên ngành cao đẳng tiếng
Trung Quốc, sinh viên cần nhiều thời gian tập trung học chuyên ngành đào tạo, đó
ít thời gian cho ngoại ngữ 2 - tiếng Anh Một bộ phận sinh viên còn lười, không
xác định được mục tiêu học tập đúng đắn, không tự giác học tập Do vậy dù kiến
thức của bộ môn tiếng Anh đối với sinh viên không phải là khó tuy nhiên kết quả
học tập, khả năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp vẫn còn hạn chế
Về phía giáo viên: Giáo viên tiếng Anh đã cố gắng đổi mới phương pháp giảng
dạy, ứng dụng CNTT trong giảng dạy, sử dụng các bài giảng điện tử, các trò chơi,
các phần mềm thiết kế các bài test để giúp sinh viên hứng thú với giờ học tiếng
Anh hơn nhưng chủ yếu giáo viên vẫn tập trung vào giảng dạy kiến thức ngôn ngữ
mà chưa khai thác yếu tố văn hóa trong giảng dạy do đó hiệu quả của mục đích dạy
học ngoại ngữ và ở đây là bộ môn tiếng Anh chưa được như kì vọng
7 of 98.
Trang 8III – NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1 Nội dung và những kết quả nghiên cứu của sáng khiến
1.1.Lựa chọn, lồng ghép các yếu tố ngôn ngữ văn hóa trong giảng dạy ngôn
ngữ cho sinh viên, so sánh đối chiếu giữa nền văn hóa Việt Nam và các nền
văn hóa của các nước nói tiếng Anh trên thế giới
Mục đích: Giúp sinh viên hiểu rõ hơn văn hóa giao tiếp nằm bên trong
ngôn ngữ từ đó sinh viên có thể sử dụng ngôn ngữ chính xác hơn trong giao tiếp
Quy trình: Ở mỗi bài học trong các đơn vị chức năng ngôn ngữ giáo viên
cần tìm hiểu rõ hơn về yếu tố văn hóa nằm bên trong yếu tố ngôn ngữ để so sánh
đối chiếu với ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ Khi giảng dạy giáo viên giải thích thêm hoặc
kể những câu chuyện nhỏ về văn hóa ẩn bên trong ngôn ngữ, như vậy sẽ tăng thêm
sự hấp dẫn của ngôn ngữ với người học và sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp đúng
hơn cho sinh viên
Ví dụ: trong cách chào hỏi (a greeting routine) kiểu “Anh ăn cơm chưa?”
hay “ Bác đang làm gì thế?” trong tiếng Việt thì không được dùng trong văn hóa
phương Tây vì có thể bị coi là tò mò, thay vào đó họ thường hỏi thăm về sức khỏe
(How are you?) hay về công việc, cuộc sống (How are the things?)
Giáo viên có thể kể cho sinh viên thêm về giao tiếp phi ngôn từ trong giao thoa văn hóa trong cách đón chào của các cộng đồng văn hóa Khi người Châu Âu
gặp gỡ họ thường giơ tay ra và bắt tay nhau Tại sao lại như vậy? Họ bắt tay nhau
nhằm thể hiện cái gì? Ta biết người Châu Âu xưa vốn thường dùng kiếm trong
chinh chiến Chuôi kiếm được nắm chặt bằng một tay Vì vậy, khi bắt tay họ mở
rộng lòng bàn tay và chìa tay về phía đối tác giao tiếp với hàm ý: “ Đây nhé tay tôi
không có vũ khí Ta hãy nắm tay nhau và chúng ta là bạn” Khi bắt tay , họ thường
nhìn thẳng vào đối tác giao tiếp với thông điệp bất thành ngôn là bày tỏ sự bình
đẳng, tình bằng hữu và tính chân thật, những giá trị được coi là rất tích cực trong
văn hóa Âu châu
Vậy con người Việt nói riêng và người phương Đông nói chung thì sao? Họ vốn thường sử dụng cung nỏ hay đao chùy khi chiến đấu, và do đó họ thường dùng
đến cả hai tay để nắm giữ vũ khí Ngay cả khi sử dụng đến kiếm (như người Nhật),
họ vẫn nắm chuôi kiếm bằng hai tay Khi gặp gỡ và muốn bày tỏ thiện chí hữu hảo,
8 of 98.
Trang 9họ đưa hai tay ra trước ngực, hai lòng bàn tay để mở nhưng hướng vào nhau với ý
tứ: “Tay tôi không có vũ khí Đối tác giao tiếp có thể tin cậy tôi” Sau đó họ úp
lòng bàn tay vào nhau, đồng thời cúi thấp đầu, lưng hơi cong xuống nhằm tỏ ý
thuần phục, biểu thị sự khiêm nhường, hoặc tỏ lòng tôn trọng hay sự tôn vinh đối
với đối tác giao tiếp Đây là những giá trị tích cực trong giá trị Đông phương
Nam giới trong một bộ tộc của thổ dân Úc có cách chào đón thật đặc biệt
Lãnh thổ của họ là vùng đất quanh năm nóng bức Hơn nữa họ là những người ưa
hoạt động nên khắp cơ thể nhớp nháp mồ hôi Khi gặp bạn họ dùng lòng bàn tay
phải vét vào nách bên trái, bàn tay trái vét nách bên phải Sau đó họ đặt hai lòng
bàn tay vào ngực ta và mỉm cười Theo suy nghĩ của ta có thể dẫn đến những nhận
xét hoặc phản ứng tiêu cực nhưng khi chúng ta cùng chia sẻ và hiểu được văn hóa
của họ thì thấy đó là một hành vi đáng yêu Ta biết rằng mồ hôi toát ra từ thân thể,
khi làm như vậy người thổ dân muốn nói rằng” Đây là một phần của thân thể tôi,
tôi trao nó cho bạn, chúng ta là bạn bè” Ở một bộ tộc người Eskimô sống tại vùng
băng giá cực bắc khi gặp ta, họ sẽ tiến lại gần, lấy tay phải rồi tay trái phẩy ngang
mũi, sau đó thở hắt mạnh ra Cách diễn giải dựa trên văn hóa Việt và Mỹ sẽ gây ra
sự hiểu lầm là họ phẩy tay, xì mũi nhằm tỏ thái độ khinh bỉ, nhưng theo cách diễn
giải của người Eskimô, hành vi này được hiểu như sau: Vùng cực Bắc xa xôi vốn
rất gió và lạnh Khi gặp bạn, người Eskimô dùng tay phải và tay trái để xua đi khí
lạnh và thở hắt mạnh ra để truyền hơi ấm sang cho bạn, Người Mô-ri cũng chào
hỏi bằng cách chạm mũi như vậy Những câu chuyện về sự khác nhau giữa các nền
văn hóa gây sự tò mò hứng thú đối với người học, mở rộng sự hiểu biết của sinh
viên về con người và văn hóa xung quanh, biết tôn trọng sự khác biệt của các nền
văn hóa khác nhau
Giáo viên cũng nên so sánh đối chiếu ngôn ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Việt, ví dụ trong quan hệ gia đình của Việt Nam từ cháu dùng cho tất cả các mối
quan hệ trong gia đình: ông , bà, chú, bác, cô dì… nhưng trong tiếng Anh lại dùng
từ khác: với ông bà là: grandson, granddaughter, cháu gọi là cô, chú, bác lại là
nephew hoặc là niece
Về họ tên người Mỹ và cách xưng hô: tên người Mỹ được viết theo thứ tự tên riêng trước, sau đó đến tên đệm và cuối cùng là họ (tiếng Việt của chúng ta là
Họ, đệm và tên) Người Mỹ lấy theo họ bố, không dùng họ mẹ
9 of 98.
Trang 10Ví dụ: Bill William Clinton (Bill là tên riêng, William là tên đệm, Clinton là
họ Tên đệm thường được viết tắt thậm chí không viết Ví dụ Bill William Clinton
viết là Bill W Clinton hoặc Bill Clinton
Phụ nữ phương Tây khi lấy chồng đổi họ theo chồng Có một số người dùng
cả họ mình và chồng Ví dụ Angelina Jolie- Pit.(Jolie là họ của cô ấy, Pit là họ
chồng)
Cách xưng hô: Đối với lần tiếp xúc trực tiếp hoặc qua thư từ đầu tiên nên gọi nhau bằng Mr, Mrs, Miss hoặc Dr tiếp theo là họ Ví dụ Mrs Hillary Có thể gọi tên
riêng khi được mời hoặc sau khi đã có quan hệ thân mật Không gọi tên riêng (trừ
khi được mời) với những người hơn nhiều tuổi hoặc có địa vị hoặc cấp cao hơn
mình hoặc đối với những người bạn muốn thể hiện sự tôn trọng
+ Đối với trẻ em thì luôn có thể gọi tên riêng
+ Đối với quân nhân hoặc cảnh sát thì gọi bằng cấp bậc (nếu biết) hoặc gọi chung
là officer và tiếp theo là họ Ví dụ General Clark (tướng Clark)
+ Đối với người gặp lần đầu và không biết tên như nhân viên bán hàng, thư kí, lái
xe, nhân viên khách sạn có thể gọi là Sir, Mr, M’am hoặc Miss
1.2 Yêu cầu sinh viên tìm hiểu về yếu tố văn hóa trước khi tới lớp
Mục tiêu:Tăng cường tính chủ động, năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên
đối với nội dung bài học, giúp sinh viên hiểu về yếu tố văn hóa được sâu và đa
chiều hơn
Quy trình: Trong giờ học trước giáo viên yêu cầu sinh viên tìm hiểu yếu tố văn
hóa của bài qua các nguồn học liệu đa dạng trên Internet, sách báo… để trả lời các
câu hỏi:
1.What is it about?/ Who is it about?
2 Where does it take place?
3 What are you most interested in?
Trên lớp giáo viên sẽ dành 5 – 7 phút để sinh viên trao đổi ý kiến của mình trước
khi vào bài Giáo viên yêu cầu sinh viên viết vào hồ sơ học tập và tích điểm
chuyên cần khi sinh viên trao đổi ý kiến, kết hợp đánh giá quá trình cho sinh viên
1.3 Sử dụng hồ sơ học tập (Portfolio) giúp sinh viên khắc sâu kiến thức về
văn hóa
10 of 98.