SỞ GD&ĐT LẠNG SƠN TRƯỜNG CAO ĐẰNG SƯ PHẠM LẠNG SƠN BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI SAI TRONG SỬ DỤNG ĐỘNG TỪ TÂM LÝ CHO SINH VIÊN NĂM HAI CHUYÊN NGÀNH TIẾNG TRUNG QUỐC Ở TRƯỜNG CĐSP LẠNG S[.]
Trang 1SỞ GD&ĐT LẠNG SƠN
TRƯỜNG CAO ĐẰNG SƯ PHẠM LẠNG SƠN
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI SAI TRONG SỬ DỤNG ĐỘNG TỪ TÂM LÝ CHO SINH VIÊN NĂM HAI CHUYÊN NGÀNH TIẾNG TRUNG QUỐC Ở TRƯỜNG CĐSP LẠNG SƠN
Lĩnh vực sáng kiến: Khoa học giáo dục
Tác giả: Phùng Kim Thúy Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ tiếng Trung Quốc Chức vụ: Giảng viên
Nơi công tác: Khoa Ngoại ngữ - CĐSP Lạng Sơn Điện thoại liên hệ: 0383992104
Địa chỉ thư điện tử: Phungkimthuyls@gmail.com
Đề nghị công nhận sáng kiến cấp: Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở
Lạng Sơn, năm 2021
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu1 of 98.
Trang 2MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU……….1
1 Lí do chọn sáng kiến……… 1
2 Mục tiêu của sáng kiến………1
3 Phạm vi của sáng kiến……… 2
II CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN……… ……… 3
1 Cơ sở lý luận……… ………3
1.1 Khái niệm lỗi sai và nguyên nhân của lỗi sai trong ngoại ngữ……….3
1.2 Khái niệm, phân loại và các đặc trưng của động từ tâm lý tiếng Hán …3
1.3 Các phương pháp giảng dạy động từ trong tiếng Hán….………4
2 Cơ sở thực tiễn……… ……….5
2.1 Thuận lợi và khó khăn trong giảng dạy từ vựng tiếng Hán tại trường CĐSP Lạng Sơn 5
2.2 Thực trạng sử dụng động từ tâm lý tiếng Hán của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc trường CĐSP Lạng Sơn 6
2.2.1 Các lỗi sai trong sử dụng động từ tâm lý của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc trường CĐSP Lạng Sơn 6
2.2.2 Nguyên nhân của các lỗi sai trong sử dụng động từ tâm lý của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc trường CĐSP Lạng Sơn 9
a Ảnh hưởng bởi tiếng mẹ đẻ 9
b Tính phức tạp của từ vựng tiếng Hán 10
c Hạn chế trong dạy và học từ vựng tiếng Hán 10
III NỘI DUNG SÁNG KIẾN……… ……….13
1 Các biện pháp đề xuất để khắc phục lỗi sai trong sử dụng động từ tâm lý tiếng Hán của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc CĐSP Lạng Sơn 13
1.1 Hình thành cho sinh viên khái niệm “biểu đạt chuẩn về ngữ nghĩa” 13
1.2 Kết hợp giảng dạy động từ tâm lý với các cụm từ và các phương thức kết hợp từ thường gặp của chúng 13
1.3 Chú trọng việc phân biệt các động từ tâm lý gần nghĩa 14
1.4 Tích cực bồi dưỡng ngữ cảm cho sinh viên 15
1.4.1 Khuyến khích sinh viên tăng cường tiếp xúc trực tiếp với tiếng Hán, hạn chế dần ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ trong quá trình học tập 15
1.4.2 Tăng cường sử dụng tiếng Hán trong giảng dạy, đặc biệt là giảng giải ngữ nghĩa của từ vựng 16
1.4.3 Kết hợp giảng dạy động từ tâm lý với ứng dụng công nghệ thông tin 16
2 Kết quả ứng dụng các biện pháp đề xuất 18
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu2 of 98.
Trang 33 Đánh giá kết quả thu được 20
3.1 Tính mới, tính sáng tạo 20
3.2 Khả năng áp dụng và mang lại lợi ích thiết thực của sáng kiến 21
3.2.1 Khả năng áp dụng hoặc áp dụng thử, nhân rộng……… ……… 21
3.2.2 Khả năng mang lại lợi ích thiết thực……… ……….21
IV KẾT LUẬN………23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …24
PHỤ LỤC……… 25
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu3 of 98.
Trang 4TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Sáng kiến này đưa ra các giải pháp để khắc phục lỗi sai của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc trường CĐSP Lạng Sơn trong quá trình sử
dụng động từ tâm lý tiếng Hán - một loại động từ đặc biệt, liên quan mật thiết đến
việc biểu đạt tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của người nói và được sử dụng rất thường
xuyên trong khẩu ngữ tiếng Trung Các giải pháp này được đưa ra dựa trên cơ sở
phân tích tìm kiếm những lỗi sai có tính phổ biến ở sinh viên năm thứ hai chuyên
ngành tiếng Trung Quốc khi sử dụng động từ tâm lý tiếng Hán và những nguyên
nhân gây nên các lỗi sai này, nhằm mục đích cải thiện tính chuẩn xác trong diễn đạt
tiếng Hán của sinh viên, bồi dưỡng nâng cao trình độ tiếng Hán cho người học,
nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Hán của giáo viên trường CĐSP Lạng Sơn,
đóng góp thêm một tài liệu mới cho việc nghiên cứu các phương pháp giảng dạy
tiếng Hán với vai trò là ngoại ngữ tại các nước bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc
Từ khóa: Động từ tâm lý tiếng Hán, lỗi sai
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu4 of 98.
Trang 5Bảng 1: Kết quả điều tra lỗi sai khi sử dụng ĐTTL của sinh viên lần 1……….7
Bảng 2: Kết quả điều tra lỗi sai khi sử dụng ĐTTL của sinh viên lần 2…………18
Bảng 3: So sánh tỷ lệ sai bình quân trong 2 lần điều tra về ĐTTL 19
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu5 of 98.
Trang 6I – MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn sáng kiến
Động từ là một trong những vấn đề trọng tâm trong giảng dạy và học tập tiếng Hán Động từ trong tiếng Hán được phân làm nhiều loại, trong đó động từ tâm lý
(ĐTTL) là một trong những loại động từ đặc biệt nhất, bởi nó có tần suất sử dụng
rất cao trong tiếng Hán, bất kể là người học tiếng Hán ở trình độ sơ, trung hay cao
cấp đều được học và sử dụng đến ĐTTL Việc lý giải đúng ý nghĩa và sử dụng
chuẩn xác ĐTTL có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng biểu đạt câu từ, đoạn văn
Tuy nhiên, do sự khác biệt trong tư duy biểu đạt, kết cấu ngữ pháp và trong cả văn
hóa của hai quốc gia mà việc sử dụng sai ĐTTL trong tiếng Hán vẫn thường xuyên
xảy ra Sử dụng đúng và thích hợp ĐTTL trở thành một vấn đề khó trong việc học
tập tiếng Hán của rất nhiều người học Việt Nam
Sinh viên năm thứ hai trường CĐSP Lạng Sơn có trình độ tiếng Hán ở mức sơ cấp, việc sử dụng từ ngữ tiếng Hán và biểu đạt còn tồn tại nhiều hạn chế, các động
từ tâm lý quan trọng xuất hiện trong quá trình học cũng chưa được sinh viên nắm
chắc và sử dụng chính xác Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng biểu đạt
trong cả khẩu ngữ và văn viết của sinh viên, dẫn đến việc biểu đạt của sinh viên trở
nên gượng gạo, không đúng văn phong tiếng Hán hoặc không giống với cách nói
theo thói quen thông thường của người Trung Quốc, từ đó làm giảm không ít chất
lượng học tiếng Hán của sinh viên
Do vậy, việc tìm ra các lỗi sai thường gặp của sinh viên trong sử dụng ĐTTL tiếng Hán và biện pháp khắc phục các lỗi này là rất cần thiết
2 Mục tiêu của sáng kiến
Thứ nhất, tìm hiểu về lỗi sai và các nguyên nhân gây ra lỗi sai ở người học ngoại ngữ, các phương pháp phổ biến trong giảng dạy động từ tiếng Hán
Thứ hai, chỉ ra được các lỗi sai thường gặp của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc trường CĐSP Lạng Sơn trong sử dụng ĐTTL tiếng Hán
Thứ ba, đề xuất một số biện pháp khắc phục các lỗi sai của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc trường CĐSP Lạng Sơn trong sử dụng động từ
tâm lý tiếng Hán, giúp nâng cao năng lực biểu đạt chuẩn xác tiếng Hán đối với sinh
viên trình độ sơ cấp và chất lượng giảng dạy tiếng Trung của giáo viên trường
CĐSP Lạng Sơn
Thứ tư, thực nghiệm, đánh giá hiệu quả các biện pháp khắc phục lỗi sai trong
sử dụng ĐTTL của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc trường
CĐSP Lạng Sơn
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu6 of 98.
Trang 73 Phạm vi của sáng kiến
Đối tượng nghiên cứu của sáng kiến này là những lỗi sai trong sử dụng ĐTTL của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc trường CĐSP Lạng Sơn
và biện pháp khắc khục những lỗi này ĐTTL được chọn để nghiên cứu là những
động từ sinh viên đã được học trong chương trình Hán ngữ cơ sở năm nhất và hai
tại trường CĐSP Lạng Sơn (thuộc giáo trình Hán ngữ quyển 1, 2, 3, 4, 5 do Dương
Ký Châu chủ biên, NXB Đại học Ngôn ngữ Bắc Kinh phát hành)
Khách thể nghiên cứu là 60 sinh viên lớp K22D và K16TV2 (sinh viên năm thứ hai đã tham gia học phần HNCS4) trường CĐSP Lạng Sơn
Thời gian nghiên cứu từ tháng 09/2020 - 04/2021
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu7 of 98.
Trang 8II – CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lý luận 1.1 Khái niệm lỗi sai và nguyên nhân của lỗi sai trong ngoại ngữ
Theo Corder (1967), lỗi nảy sinh ở người nói tiếng nước ngoài được hiểu là việc một người làm sai lệch các dữ kiện ngoại ngữ so với chuẩn của nó Lỗi ngoại
ngữ là sự vi phạm các quy tắc của hệ thống ký mã ngoại ngữ Do vậy, thông tin
không được hiểu và truyển đạt chính xác Lỗi như là một sản phẩm của mối quan hệ
tương phản trong việc truyền đạt thông tin, từ việc phân tích lỗi có thể thấy được
nguyên nhân hình thành nên nó
Nguyên nhân của các lỗi sai trong ngoại ngữ thông thường bao gồm các yếu tố:
Thứ nhất, do người học chịu ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ Khi người học không quen thuộc với các quy tắc của ngôn ngữ đích, họ chỉ có thể dựa vào kiến thức về
tiếng mẹ đẻ của mình để biểu đạt, vì vậy những người học có cùng nền tảng tiếng
mẹ đẻ thường mắc các lỗi tương tự
Thứ 2, do người học áp dụng kiến thức ngôn ngữ đích hạn chế và không đầy
đủ đã học vào hầu hết các hiện tượng ngôn ngữ của ngôn ngữ đích một cách không
thích hợp bằng phép loại suy (analogy), còn được gọi là khái quát hóa quy tắc hoặc
khái quát hóa quá mức
Thứ 3, do ảnh hưởng của yếu tố văn hóa Một số lỗi không hoàn toàn là vấn đề của bản thân ngôn ngữ, mà là do sự khác biệt về văn hóa trong các hình thức ngôn
ngữ
Thứ 4, do phương pháp học tập của người học
Thứ 5, do ảnh hưởng của môi trường học tập, chỉ những sai sót do một số yếu
tố bên ngoài gây ra, chẳng hạn như giáo viên giảng giải và hướng dẫn chưa chặt
chẽ, sự hạn chế trong tài liệu giảng dạy và các yếu tố bên ngoài khác
1.2 Khái niệm, phân loại và các đặc trưng của ĐTTL tiếng Hán
Theo nghiên cứu của Văn Nhã Lệ (2007), ĐTTL là một phân loại nhỏ trong hệ thống động từ của tiếng Trung, dùng để chỉ những động từ liên quan đến các hoạt
động tâm lý và trạng thái tinh thần của con người ĐTTL có tần suất sử dụng cao,
có tác dụng to lớn trong việc truyền tải, biểu đạt ý muốn, dự định, suy nghĩ của
người nói Do đó, nó là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống động từ của tiếng
Trung Quốc
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu8 of 98.
Trang 9Những người từng nghiên cứu về ĐTTL tiếng Hán như Văn Nhã Lệ(2007) , Chu Tân Linh (2007), Hảo Vi (2011), Phùng Lộ Lộ (2015), Hoa Hâm(2015) , Lý
Tình (2016) đều cho rằng:
ĐTTL tiếng Hán có thể chia làm hai loại lớn: Động từ chỉ hoạt động tâm lý(
còn có thể được chia làm nhiều loại nhỏ hơn nữa như ĐTTL chỉ cảm giác (感觉类),
ĐTTL chỉ nhận thức (认知类), ĐTTL chỉ phán đoán (判断类), ĐTTL chỉ tư duy
(思考类), ĐTTL chỉ tình cảm (情感类) v.v…
Về đặc trưng ngữ nghĩa, động từ chỉ hoạt động tâm lý là những động từ có liên quan đến cảm nhận, quá trình nhận thức hoặc hoạt động trí não của con người, như
感觉 (cảm giác), 觉得 (cảm thấy), 打算 (dự định), 知道 (biết), 记得 (ghi nhớ)
v.v…; động từ chỉ trạng thái tâm lý là những động từ có liên quan đến xúc cảm, thái
độ của con người, như 喜欢 (thích), 爱 (yêu), 满足 (làm hài lòng), 希望 (hy
vọng),愿意(bằng lòng) v.v…
Về đặc trưng ngữ pháp, rất nhiều ĐTTL đều có thể được bổ nghĩa bởi các phó
từ chỉ mức độ như 很,非常,特别…và có thể mang tân ngữ theo sau, hình thành
nên kết cấu “很+V+O”, đồng thời kết cấu này cũng có thể chuyển đổi sang dạng
“S+对/对于+O+很+V”, ví dụ: “我很满意你的表现” có thể chuyển đổi thành “我
đều có thể đóng vai trò làm chủ ngữ (“理解比什么都重要”, “他的关心打动了我”),
tân ngữ (“我们对他的见解表示理解”, “我觉得害怕”), định ngữ (“这是我记得的
1.3 Các phương pháp giảng dạy động từ trong tiếng Hán
ĐTTL là một mảng nhỏ trong hệ thống động từ tiếng Hán, quá trình giảng dạy ĐTTL có thể áp dụng các phương pháp giảng dạy động từ nói chung Trong “Giảng
dạy từ vựng Hán ngữ” (汉语词汇教学, 2010), Vạn Nghệ Linh đã nêu ra một số
phương pháp có thể áp dụng cho giảng dạy động từ Hán ngữ bao gồm:
Thứ nhất, phương pháp sử dụng thẻ từ vựng, tranh ảnh Phương pháp này sẽ khiến SV không cảm thấy khô khan, nhàm chán khi học từ, đồng thời cũng dễ ghi
Trang 10suy nghĩ của con người Chỉ một số rất ít ĐTTL có thể dùng biện pháp này, như 生
气(tức giận),害怕(sợ hãi)
Thứ ba, giải thích động từ gắn với ngữ cảnh Từ ngữ nên được giải thích trong một ngữ cảnh nhất định càng nhiều càng tốt, và ý nghĩa của từ ngữ trong một ngữ
cảnh nhất định là duy nhất Khi người học đã nắm vững ngữ nghĩa của động từ
trong các ngữ cảnh cụ thể, sẽ không chỉ cảm thấy dễ nhớ mà còn có thể thành thạo
cách sử dụng của chúng Giáo viên có thể chọn những ví dụ quen thuộc, gần gũi với
cuộc sống của học sinh để thiết lập một môi trường ngôn ngữ cụ thể, giúp học sinh
trải nghiệm và hiểu nghĩa của từ từ ứng dụng thực tế
Thứ tư, gắn động từ đang học với các động từ tương quan, như khi dạy một động từ, có thể cho người học liên hệ đến từ gần nghĩa, trái nghĩa của nó
Thứ năm, chú trọng giảng dạy kết hợp từ của các động từ cụ thể Thông qua giảng dạy các cụm kết hợp từ, làm rõ cách dùng của từ, từ đang giảng dạy thường
kết hợp với những từ như thế nào, có những điểm gì khác so với cụm kết hợp từ của
những từ khác
Thứ sáu, luyện tập đặt câu Học sinh sử dụng các động từ do giáo viên chỉ định để làm các bài tập đặt câu Các vấn đề chính mà giáo viên cần chú ý khi thực
hiện phương pháp này bao gồm: Thiết lập ngữ cảnh, đưa ra các từ khóa, sửa câu
Thứ bảy, hỏi hoặc trả lời câu hỏi bằng các từ được chỉ định Yêu cầu một học sinh sử dụng các động từ do giáo viên chỉ định để đặt câu hỏi và học sinh kia trả lời
Câu hỏi được đặt dựa trên tình huống giả định hoặc tình huống thực tế của học sinh,
sau đó yêu cầu học sinh trả lời bằng miệng sử dụng động từ cố định do giáo viên
quy định Đây là bài tập rèn luyện kỹ năng đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi, giúp học
sinh nắm vững hơn cách dùng từ
Thứ tám, sử dụng các động từ được chỉ định để tạo đối thoại hoặc kể lại câu chuyện Giáo viên chỉ định một số động từ chính và cấu trúc câu liên quan đến động
từ đó và thiết kế ngữ cảnh cụ thể mà các từ đó sẽ được sử dụng Học sinh được yêu
cầu đối thoại hoặc kể lại câu chuyện với các từ được chỉ định tùy theo ngữ cảnh giới
hạn
2 Cơ sở thực tiễn 2.1 Thuận lợi và khó khăn trong giảng dạy từ vựng tiếng Hán tại trường CĐSP Lạng Sơn
Trong quá trình dạy và học từ vựng Hán ngữ, giáo viên và sinh viên trường CĐSP Lạng Sơn có những thuận lợi và khó khăn nhất định
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu10 of 98.
Trang 112.1.1 Thuận lợi:
Sinh viên có đầy đủ giáo trình, các giáo trình Hán ngữ tương đối mới, có tính cập nhật kiến thức, tài liệu học tập phong phú, không chỉ học được qua sách vở trên
lớp mà còn có thể học tập qua các tài liệu internet, báo chí, phim ảnh; Cơ sở vật
chất của nhà trường tương đối đầy đủ cho việc dạy và học ngoại ngữ, tiện lợi cho
việc học tập giảng dạy từ vựng nói chung, các ĐTTL nói riêng
2.1.2 Khó khăn:
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, cũng tồn tại những khó khăn nhất định
Thứ nhất, thời lượng giảng dạy trên lớp có hạn Sinh viên lớp K22D và K16TV2 đều là sinh viên năm thứ hai trường CĐSP Lạng Sơn, có trình độ Hán ngữ
ở mức sơ cấp Riêng ở môn Hán ngữ cơ sở 4 do tôi giảng dạy, toàn bộ học phần bao
gồm 11 bài, thời lượng cho mỗi bài là 6-7 tiết, thời lượng dành cho giảng dạy từ
mới là từ 1,5 đến 2 tiết/1 bài (68-90 phút), lượng từ mới bình quân mỗi bài là 44 từ,
tức bình quân chỉ có 1,5 đến 2 phút để giảng dạy 1 từ đơn Thời gian gấp gáp ảnh
hưởng tương đối lớn đến việc giảng giải, phân tích cách dùng từ
Thứ hai, phương pháp giảng dạy từ vựng của giáo viên đôi khi còn khô khan, chưa khơi gợi được hứng thú học tập từ vựng cho SV
Thứ ba, bài tập bổ sung cho sinh viên về động từ và ĐTTL tiếng Hán còn hạn chế
Thứ tư, thiếu môi trường tiếng để sinh viên rèn luyện, bồi dưỡng ngữ cảm, do
đó khó có thể vận dụng được chính xác từ vựng để biểu đạt ý kiến, tư tưởng, sắc
thái tình cảm của bản thân
Thứ năm, một bộ phận sinh viên chưa có ý thức tự giác học tập tiếng Hán, việc học còn bị động, lệ thuộc vào giáo viên
2.2 Thực trạng sử dụng ĐTTL tiếng Hán của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc trường CĐSP Lạng Sơn
2.2.1 Các lỗi sai trong sử dụng ĐTTL của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc trường CĐSP Lạng Sơn
Do sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc khi học đến học phần HNCS 4, lượng từ vựng đã học chủ yếu giới hạn trong 5 tập giáo trình Hán
ngữ (Dương Ký Châu biên soạn, NXB Đại học Ngôn ngữ Bắc Kinh phát hành), tôi
đã tiến hành thống kê các ĐTTL xuất hiện trong 5 tập giáo trình Hán ngữ này và
phân loại chúng (bảng thống kê ở phần phụ lục 1), tổng số ĐTTL thống kê được là
84, chia làm 7 loại, trong đó trường hợp của từ 想 tương đối đặc biệt, do 想 có
nhiều nghĩa tương ứng với nhiều loại ĐTTL khác nhau, nên 想 sẽ được kí hiệu 想1,
想2… và xuất hiện nhiều lần trong bảng thống kê, nhưng vẫn chỉ tính là 1 từ
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu11 of 98.
Trang 12Đồng thời, trong quá trình giảng dạy học phần HNCS4 ở hai lớp K22D và K16TV2, tôi đã tiến hành tìm kiếm, sàng lọc các câu có chứa ĐTTL thuộc bảng
thống kê (phụ lục 1) từ các câu được đặt trên lớp, các bài tập, bài viết, bài kiểm tra
của sinh viên, từ đó đã tìm ra được 136 câu có sử dụng sai động từ tâm lý, số ĐTTL
xuất hiện trong các câu sai là 30, đồng thời bước đầu nhận định lỗi sai của sinh viên
khi sử dụng động từ tâm lý chia làm ba dạng chính:
Thứ nhất, nhầm lẫn giữa động từ tâm lý song âm tiết và động từ tâm lý đơn âm tiết (20/136);
Thứ hai, sử dụng sai các động từ tâm lý gần nghĩa (81/136);
Thứ ba, sử dụng nhầm lẫn giữa động từ thường và động từ tâm lý (35/136)
Tham khảo phân loại ĐTTL trong bảng thống kê ĐTTL trong 5 tập giáo trình Hán ngữ (phụ lục 1), tôi đã chọn ra 24/30 ĐTTL trên để thiết kế bài điều tra, bao
gồm 忘、忘记、懂、懂得、信、相信、认为、以为、想、希望、考虑、满
足、满意、决定、觉得、感到、感觉、了解、理解、明白、记、记得、爱、
热爱, mỗi loại ĐTTL đều chọn ra ít nhất 1 từ đại diện Sau khi khoanh vùng được
các ĐTTL chính phục vụ cho việc điều tra, tôi đã dùng 24 ĐTTL này thiết kế phiếu
điều tra số 1 xoay quanh ba loại lỗi đã xác định bên trên và tiến hành khảo sát với
60 sinh viên thuộc hai lớp K22D và K16TV2
Bảng 1: Kết quả điều tra lỗi sai khi sử dụng ĐTTL của sinh viên lần 1
(2) 我 不 想 信 他 说 的 话 。 (Phán đoán đúng sai)
(12) 从这件事我 _ 了三点。( 懂/ 懂得)
(16) 我永远都不会 _ 这一刻。(忘/ 忘记)
(6)要是你不满足,可以随时退货。(Phán đoán đúng sai)
(4)妈妈想我早点儿结婚。(Phán đoán đúng sai)
Trang 13(10) 服 务 员 似 乎 想 人 人 都 喝 咖
啡 , 不 过 有 的 人 想 喝 别 的 饮料。(Phán đoán đúng sai)
(9) 有 他 的 鼓 励 , 我 看 并 不 孤单。(Phán đoán đúng sai)
a Nhầm lẫn giữa ĐTTL song âm tiết và ĐTTL đơn âm tiết
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu13 of 98.
Trang 14Trong trường hợp này, tỷ lệ sai bình quân là rất cao, đạt đến 53.78% Tiếng Trung có một số ĐTTL đơn âm tiết và song âm tiết có ý nghĩa giống nhau như 忘/
忘记、懂/懂得、信/相信 Việc lựa chọn sử dụng ĐTTL đơn âm tiết hay song âm
tiết chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, như âm tiết của từ kết hợp, ngữ khí ngữ
điệu của câu, hay việc nhấn mạnh hành động trong câu… Các câu sai này tuy không
làm người nghe hiểu sai ý của câu, nhưng cho người nghe cảm giác không trôi chảy
mạch lạc, thiếu sự vần điệu cần có trong câu, khiến câu trở nên gượng ép, không
giống với văn phong biểu đạt thường thấy của tiếng Hán Muốn sử dụng chuẩn xác
động từ tâm lý đơn hoặc song âm tiết, cần có kinh nghiệm đọc và giao tiếp phong
phú, có ngữ cảm tốt
b Sử dụng sai các ĐTTL gần nghĩa Trong trường hợp sử dụng sai các ĐTTL gần nghĩa, tỷ lệ sai bình quân cũng tương đối cao, đạt 46.67% Đây là lỗi sai về ngữ nghĩa của từ vựng Nhiều ĐTTL
gần nghĩa trong tiếng Hán có ý nghĩa gần giống nhau, nếu không để ý sẽ rất khó
phân biệt, thậm chí khi dịch sang tiếng Việt những ĐTTL gần nghĩa này đều có thể
dịch chung thành 1 từ, do đó, sinh viên khi sử dụng càng dễ dùng nhầm, dùng sai,
dẫn đến biểu đạt sai ý của câu Các ĐTTL gần nghĩa này đòi hỏi sinh viên phải hiểu
rõ nghĩa gốc của từ trong tiếng Hán, đồng thời nắm chắc các cụm kết hợp từ thường
gặp của từ mới tránh gây ra nhầm lẫn
c Sử dụng nhầm lẫn giữa động từ thường và ĐTTL Trong trường hợp sử dụng nhầm lẫn giữa động từ thường và ĐTTL, tỷ lệ sai bình quân là 40.03% Trong tiếng Trung, 1 số động từ thường có nghĩa biểu đạt gần
giống với 1 số ĐTTL, hoặc bản thân những động từ thường đó có chứa từ tố giống
với từ tố trong ĐTTL, dễ gây ra nhầm lẫn, nhưng sự kết hợp từ của chúng không
giống nhau, từ vựng hoặc kết cấu đi kèm cũng có sự khác biệt, không thể sử dụng
lẫn lộn các động từ thường này với các ĐTTL
2.2.2 Nguyên nhân của các lỗi sai trong sử dụng ĐTTL của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung Quốc trường CĐSP Lạng Sơn
a Ảnh hưởng bởi tiếng mẹ đẻ Người học tiếng Hán ở giai đoạn sơ cấp và trung cấp có lối tư duy tương đối máy móc, chịu ảnh hưởng nhiều từ tiếng mẹ đẻ Khi học từ vựng tiếng Hán, các em
dễ liên tưởng, áp dụng cách dùng và cách lý giải từ vựng tiếng Việt để đặt nên các
câu tiếng Hán một cách vô thức Các câu (4), (6), (9), (10), (13), (15), (19) trong bài
điều tra số 1 đều phản ánh nguyên nhân này Tất cả những câu này sinh viên đều áp
dụng cách sử dụng và nghĩa của từ tiếng Việt vào câu tiếng Trung Lối tư duy theo
tiếng mẹ đẻ gây nên tình trạng câu tiếng Trung biểu đạt trở nên “nửa Việt, nửa
Trung”, tuy viết bằng tiếng Hán, nhưng câu không logic, không giống với tư duy
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu14 of 98.
Trang 15biểu đạt Hán ngữ, khiến người Trung Quốc khi đọc những câu này hiểu sai hoặc
không hiểu được ý biểu đạt của người nói, hoặc có thể đoán được nghĩa của câu
nhưng cảm thấy cách diễn đạt của câu rất kỳ lạ, không hợp lý
b Tính phức tạp của từ vựng tiếng Hán Tiếng Hán là một ngôn ngữ khó, không chỉ khó ở ngữ pháp mà cả ở cách dùng
từ Từ vựng tiếng Hán tồn tại rất nhiều từ gần nghĩa, ĐTTL cũng không ngoại lệ
Trong bộ giáo trình Hán ngữ được sử dụng để giảng dạy tại CĐSP Lạng Sơn, từ
quyển 1 đến quyển 5, chỉ tính riêng trong phạm vi 24 từ được điều tra của nghiên
cứu này, những cặp hoặc nhóm ĐTTL gần nghĩa có tần suất sử dụng lớn được
tiếng Hán một thời gian và có những kiến thức cơ bản nhất định, sinh viên năm thứ
hai sẽ có những phán đoán, suy luận nhất định trong quá trình vận dụng Nhưng
những phán đoán, suy luận này đôi khi trở thành lạm dụng, cho từ vựng những ý
nghĩa và cách dùng mà bản thân nó không có, như khi học một loạt các từ cùng
mang nghĩa “hiểu” như 理解,了解,明白,懂, sinh viên sẽ quy chụp cách dùng
của 1 từ mang nghĩa “hiểu” cho tất cả các từ cùng mang nghĩa “hiểu” còn lại, gây ra
lỗi sai ở các câu (5), (8), (12), (17), (18) Muốn sử dụng đúng được những ĐTTL
gần nghĩa này, khi học từ cần đặt từ trong từng câu, từng ngữ cảnh cụ thể, chú ý quy
tắc kết hợp từ của từng từ, nghĩa gốc của từ trong tiếng Hán, và hiểu được sự khác
biệt dù nhỏ nhất về ngữ nghĩa giữa các từ Để làm được điều này sinh viên cần bồi
dưỡng ngữ cảm lâu dài và cẩn thận, đồng thời cũng rất cần sự tự giác rèn luyện
trong học tập của người học và sự giúp đỡ hướng dẫn của giáo viên giảng dạy
c Hạn chế trong dạy và học từ vựng tiếng Hán Trong quá trình giảng dạy, đặc biệt là giảng dạy từ vựng, do thời lượng giảng dạy các bài đều có hạn, lượng thời gian giảng dạy từ vựng trên lớp phải phân bổ cho
không chỉ riêng động từ hoặc ĐTTL, các ĐTTL gần nghĩa hoặc có cách dùng tương
đối đặc biệt chưa thể giảng giải thực sự kỹ lưỡng cho sinh viên Sự kết hợp giữa từ
với từ cũng cần được nhấn mạnh nhiều hơn, vì theo kết quả phiếu điều tra số 2 được
tiến hành vào lúc bắt đầu học phần HNCS4, có 88.3% (53/60) sinh viên của 2 lớp
K22D và K16TV2 đều biết khái niệm “động từ tâm lý”, 75% (45/60) sinh viên biết
khái niệm “kết hợp từ”, nhưng khi học từ vựng, lại chỉ có 43.3% (26/60) sinh viên
sử dụng phương pháp ghi nhớ các cụm kết hợp từ thường gặp của từ đang học, điều
này cho thấy giáo viên đã có giảng dạy về động từ tâm lý và các cụm kết hợp từ,
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu15 of 98.
Trang 16nhưng chưa nhiều sinh viên lưu ý đến vấn đề này, do đó “kết hợp từ” trong sử dụng
ĐTTL cần sự định hướng nhiều hơn nữa của giáo viên
Trong quá trình học tập, phương pháp học của sinh viên cũng còn tồn tại một
số vấn đề
Thứ nhất, rất nhiều sinh viên chưa chú ý đến việc “tiếp thu tiếng Hán bằng tiếng Hán” hoặc tiếp xúc trực tiếp với tiếng Hán không qua tiếng mẹ đẻ Theo kết
quả của phiếu điều tra số 2, 83.3% (50/60) sinh viên chưa có thói quen tra nghĩa gốc
của từ tiếng Hán bằng từ điển Hán-Hán; số sinh viên học tiếng Hán thông qua phim
ảnh hoặc âm nhạc Trung Quốc lần lượt là 85.0% (51/60) và 76.67% (46/60), 75%
(45/60) sinh viên cho biết xem cả phụ đề tiếng Hán lẫn tiếng Việt khi xem phim,
nhưng có tới 63.33% (38/60) sinh viên chỉ thỉnh thoảng mới tra cứu từ mới xuất
hiện trong phụ đề, 13.33% (8/60) sinh viên không tra từ mới xuất hiện trong phụ đề,
số sinh viên thường xuyên tra và “gặp từ mới đều tra” chỉ chiếm 23.34% (14/60)
Hiểu từ cụ thể trong từng ngữ cảnh rất quan trọng, nó giúp người học hiểu cặn kẽ
nghĩa gốc của từ, cảm nhận được sắc thái ý nghĩa và nội hàm của bản thân từ, bồi
dưỡng ngữ cảm tiếng Hán ĐTTL liên quan mật thiết đến cảm xúc, đánh giá của con
người, do đó, tiếp xúc trực tiếp để cảm nhận ý nghĩa nội hàm và cách dùng của
ĐTTL có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Thứ hai, rất nhiều sinh viên có thói quen tư duy quá xem trọng ngữ pháp, khi biểu đạt một câu tiếng Hán, các em đặc biệt xem trọng việc liệu câu đã đúng ngữ
pháp hay chưa, trong khi đó tính chính xác về ngữ nghĩa chưa được quan tâm đúng
mức Với câu “他不理解我的性格。” trong phiếu điều tra số 2, tỷ lệ sinh viên lựa
chọn các phương án lần lượt như sau:
A Xem xét ngữ pháp, trật tự của câu có đúng hay không (58/60 SV, 96.66%)
B Dịch sang tiếng Việt xem có đúng hay không (10/60 SV, 16.66%)
C Xem xét ngữ nghĩa của từ và câu trong tiếng Trung có chính xác hay không (26/60, 43.33%)
D Xem xét cách kết hợp từ của các từ trong câu có chính xác hay không (28
SV, 46.66%)
Xét về mặt ngữ pháp, câu điều tra bên trên hoàn toàn không có vấn đề, cũng
có thể dựa vào nghĩa mặt chữ của các từ trong câu để dịch sang tiếng Việt, nhưng
trong tiếng Hán, câu này là câu sai, do ngữ nghĩa của ĐTTL 理解 trong tiếng Hán
không thể dùng để biểu đạt ý nghĩa “hiểu tính cách” Từ ví dụ này ta có thể thấy,
ngữ pháp và ngữ nghĩa là hai phương diện cực kì quan trọng trong biểu đạt câu,
không thể quá xem trọng hoặc xem nhẹ một phương diện nào, nếu không câu biểu
đạt hoặc sẽ sai, hoặc không chuẩn văn phong và lối diễn đạt thường thấy trong tiếng
Hán
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu16 of 98.
Trang 17Thứ ba, như bên trên vừa phân tích, nhiều sinh viên cũng chỉ chú trọng học nhận mặt chữ Hán mà chưa chú trọng học sự kết hợp từ của các ĐTTL Kết hợp từ
là một trong những cách hữu hiệu nhất để phân biệt các ĐTTL gần nghĩa Việc nắm
chắc được các cụm kết hợp từ hay không có ảnh hưởng tương đối lớn đến mức độ
tiếp thu của sinh viên đối với cách sử dụng các ĐTTL nói riêng, động từ nói chung
Hiểu được quy luật kết hợp giữa động từ tâm lý và các danh từ, phó từ hoặc các
thành phần khác cũng giúp người học nắm bắt rõ hơn nghĩa gốc và sắc thái của bản
thân động từ
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123doc, Tai lieu17 of 98.