MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 Chương I: TỔNG QUAN 4 1.Khái quát chung 4 2.Tần suất bệnh 5 3.Vị trí của sỏi 7 4.Biến chứng 8 5.Chẩn đoán 10 6.Mức độ nguy hiểm 10 7.Điều trị 11 8.Các dạng bệnh 11 9. Phòng ngừa 12 Chương II: ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT BẰNG ĐÔNG Y 14 1.Khái quát chung 14 2.Chữa trị cổ phương 16 2.1. Bài thuốc chung 16 2.2. Các bài thuốc cụ thể 18 KẾT LUẬN 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO 22 PHỤ LỤC: THÀNH PHẦN, CÔNG DỤNG CỦA CÁC VỊ THUỐC CHÍNH 23 MỞ ĐẦU Ở nước ta, khí hậu nhiệt đới, bệnh sỏi đường mật vừa phổ biến vừa đặc thù. Đặc thù ở chỗ nó liên quan sâu sắc đến ký sinh trùng đường ruột và các thức ăn người Việt thích dùng rau sống, các loại mắm sống, gỏi sống, thức ăn tái chưa chín ... giun đũa là bệnh có tỷ lệ cao trong cộng đồng, giun đi từ ruột non chui lên ống mật chủ gây đau bụng quằn quại, xác giun đũa chết cũng gây ra sỏi ống mật chủ. Các loại sán lá gan cũng là tác nhân phổ biến. Sỏi đường tiết niệu nói chung, sỏi thận nói riêng là một bệnh phổ biến ở nước ta. Các điều kiện thuận lợi cho việc hình thành sỏi tiết niệu là uống ít nước, ứ trệ nước tiểu, nhiễm khuẩn tiết niệu, thay đổi độ pH nước tiểu. Những viên sỏi nhỏ có thể tự ra ngoài theo nước tiểu. Những viên sỏi to nằm lại trong đài bể thận hoặc trong bể thận rồi phát triển to dần chiếm hết đài bể thận, gây ra những tai biến nghiêm trọng làm hủy hoại thận và các chức năng của cơ quan này. Bệnh có đặc điểm chung là thường có biến chứng nhiễm khuẩn, dẫn đến suy thận mãn tính rất nguy hiểm. Tây y điều trị sỏi mật bằng nội khoa, hoặc ngoại khoa (phẫu thuật) - nếu đau dữ dội hoặc tái phát nhiều lần thì phẫu thuật cắt bỏ túi mật hoặc mổ ống mật chủ yếu lấy hết sỏi và sau đó dẫn lưu. Ngoài ra, sỏi mật có thể điều trị bằng y học cổ truyền phương Đông. Tùy theo thể bệnh mà có những bài thuốc trị khác nhau. Do vậy, tôi tiến hành tìm hiểu tiểu luận: “Tìm hiểu các bệnh sỏi đường mật và phương pháp điều trị bằng đông y”.
Trang 1PHỤ LỤC: THÀNH PHẦN, CÔNG DỤNG CỦA CÁC VỊ THUỐC
Trang 2non chui lên ống mật chủ gây đau bụng quằn quại, xác giun đũa chết cũng gây
ra sỏi ống mật chủ Các loại sán lá gan cũng là tác nhân phổ biến Sỏi đườngtiết niệu nói chung, sỏi thận nói riêng là một bệnh phổ biến ở nước ta Cácđiều kiện thuận lợi cho việc hình thành sỏi tiết niệu là uống ít nước, ứ trệ nướctiểu, nhiễm khuẩn tiết niệu, thay đổi độ pH nước tiểu
Những viên sỏi nhỏ có thể tự ra ngoài theo nước tiểu Những viên sỏi tonằm lại trong đài bể thận hoặc trong bể thận rồi phát triển to dần chiếm hết đài
bể thận, gây ra những tai biến nghiêm trọng làm hủy hoại thận và các chứcnăng của cơ quan này Bệnh có đặc điểm chung là thường có biến chứngnhiễm khuẩn, dẫn đến suy thận mãn tính rất nguy hiểm
Tây y điều trị sỏi mật bằng nội khoa, hoặc ngoại khoa (phẫu thuật) - nếuđau dữ dội hoặc tái phát nhiều lần thì phẫu thuật cắt bỏ túi mật hoặc mổ ốngmật chủ yếu lấy hết sỏi và sau đó dẫn lưu
Ngoài ra, sỏi mật có thể điều trị bằng y học cổ truyền phương Đông Tùytheo thể bệnh mà có những bài thuốc trị khác nhau Do vậy, tôi tiến hành tìm
hiểu tiểu luận: “Tìm hiểu các bệnh sỏi đường mật và phương pháp điều trị bằng đông y”.
Để hoàn thành tiểu luận tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của hộiĐông Y tỉnh Thái Nguyên đã cung cấp tài liệu trao đổi ý kiến, thảo luận cùngtôi về vấn đề trong bài này Do thời gian có hạn nên còn nhiều thiếu sót, tôi rấtmong nhận được các ý kiến đóng góp Tôi xin chân thành cảm ơn
Thái nguyên, ngày 25 tháng 7 năm 2009
Tác giả
Trang 3Nguyễn Quốc Ân
Chương I: TỔNG QUAN
1. Khái quát chung
Dịch mật được sản xuất ra ở gan và được dẫn xuống ruột bằng hệ thốngđường mật Hệ đường mật gồm có đường mật chính và túi mật Đường mật
Trang 4chính gồm nhiều nhánh nhỏ nằm trong gan đổ vào một ống ở ngoài gan gọi
là ống mật chủ để dẫn xuống ruột Túi mật là một túi chứa bên cạnh ốngmật chủ, nối thông với ống mật chủ bởi một ống nhỏ Túi mật có nhiệm vụ
dự trữ dịch mật để tống xuất từng đợt qua ống mật chủ xuống ruột khi cóthức ăn vào đường tiêu hoá (giúp tiêu hoá thức ăn) Sỏi mật có thể ở túimật hoặc đường mật chính trong gan đến ngoài gan Sỏi túi mật khác vớisỏi đường mật chính về bệnh lý cũng như cách điều trị
Sỏi đường mật là bệnh của mọi xứ sở Tỉ lệ mắc bệnh của mỗi nước mộtkhác, nhưng thướng là rất cao Ở Việt Nam, tuy chưa có công trình nghiêncứu dịch tễ học nào cho biết tỉ lệ mắc bệnh trong dân số, nhưng số bệnh nhânđược điều trị ờ bệnh viện rất nhiều và vì vậy các công trình về bệnh nàykhông ít
Ở Hà Nội, trong một bài báo của tờ Revue Médico- Chirurgicale năm
1934 và trong một thông báo của tờ socíeté Medico- Chirurgicale delindochine năm 1935, Massisas đã nói: phải chú ý tím sỏi đường mật, mộtbệnh gặp ở nhiều người bản sứ, những người mà nồng độ cholesterol trongmáu thấp Rotton sau khi thông báo những bệnh án lâm sàng, đề nghị cần phảinghiên cứu bệnh sỏi đường mật ở Nam kỳ Năm 1937, tại bệnh biện Phủ Doãn
Trang 5Hà Nội (nay là bệnh viện Việt Ðức) có công trình của Huard P., Autret, TônThất Tùng(18) "Nghiên cứu về sỏi gan mật ở vùng viễn đông" đăng trongBulletin Médico-Chirurgical de lIndochine
Các công trình dài hơi có số liệu lớn thực sự bắt đầu từ sau ngày hòabình lập lại, năm 1954 Từ đó đến nay, trong hơn 40 năm qua có rất nhiều tàiliệu, rất nhiều hội nghị chuyên đề bàn về vấn đề này, với số lượng bệnh nhânkhá lớn Trong hai ngày 21-22 tháng 1/1988 bệnh viện Việt Ðức đã tổ chứchội thảo về bệnh lý đường mật nhiệt đới Trong ba ngày 6-7-8 tháng 6/1991tại Hậu Giang, các phẫu thuẩn viên phía nam đã tổ chức hội thảo bản về bệnhnày Trong hai ngày 24-25 tháng 4/1997 tại Ðồng Tháp, trường đại học YDược TP.HCM cùng với bệnh viện đa khoa Ðồng Tháp tổ chức hội thảochuyên đề Bệnh sỏi đường mật Phần lớn các công trình nghiên cứu là nhữngthống kê trong một thời gian ngắn hay dài, mang tính chất hồi cứu, ít côngtrình tiền cứu đề ra mục tiêu nghiên cứu để giải quyết một hay nhiều vấn đềvướng mắc nào đó
2 Tần suất bệnh
Ở phía Bắc, các bệnh viện Việt Ðức, Bạch Mai, Saint Paul và các bệnhviện tỉnh có nhiều bệnh nhân sỏi đường mật Tại bệnh viện Việt Ðức, TônThất Tùng, Nguyễn Dương Quang có nhiều công trình về nhiều khía cạnh củabệnh này Các công trình này đã được công bố trong và ngoài nước Một trongnhững công trình được công bố sớm năm 1961 là của Phạm Văn Phúc, TônÐức Lang và Hoàng Tích Lộ(36), trên 273 trường hợp Tiếp sau là nhữngcông trình của Nguyễn Văn Thái, Phạm Hoàng Phiệt, Ngô Ðình Mạc, VươngHùng, Nguyễn Ðức Ninh, Nguyễn Thuyên, Năm 1980 Nguyễn DươngQuang(38) với kinh nghiệm củabệnh viện Việt Ðức đã viết sách chuyên đề
Trang 6"Bệnh lý ngoại khoa gan mật thường gặp ở Việt Nam" Các công trình củabệnh viện quân đội 108 cũng được bắt đầu khá sớm, năm 1958, sau đó là cáccông trình của bệnh viện 103 và các công trình của các bệnh viện quân khu.
Ở phía Nam, các công trình thực sự bắt đầu từ sau ngày giải phóng,năm 1975 Các bệnh viện có số liệu lớn là Bình Dân, Chợ Rẫy rối đến cácbệnh viện khác như Nhân Dân Gia Ðịnh, Trưng Vương, Nguyễn Trãi, NguyễnTri Phương, Thống Nhất, Các bệnh viện của các tỉnh Ðồng bằng sông CửuLong cũng có khá nhiều bệnh nhân sỏi mật
Như vậy chỉ kể các bệnh viện nói trên, mỗi năm có gần 2184 trườnghợp Nếu như tất cả các cơ sở phẫu thuật trong toàn quốc có thống kê đầy đủthì số liệu sẽ rất lớn
Những năm gần đây kết quả của các công trình về siêu âm cũng chonhững con số về bệnh gan mật khá lớn Tại khoa siêu âm bệnh viện Hai BàTrưng - Hà Nội, trong 5 năm 1989-93, trên 5723 siêu âm bụng có 1711 người
có bệnh gan mật, tỉ lệ 29,9% Tại bệnh viện Việt Ðức trong 2 năm 1990-1991
có 1086 bệnh nhân gan mật thì có 214 bệnh nhân giun chui ống mật, tỉ lệ19,75 và trong 214 giun chui ống mật thì 108 trường hợp có sỏi kèm theo(29).Tại Bệnh viện Khán Hòa trong 6 năm 1987-92 qua siêu âm phát hiện 672bệnh nhân sỏi túi đường mật(11)
Các con số bệnh nhân phẫu thuật và bệnh nhân siêu âm nói trên chứng
tỏ sỏi đường mật là bệnh rất phổ biến ở nước ta
3. Vị trí của sỏi
Trang 7Tỉ lệ vị trí sỏi của các tác giả rất khác nhau vì nó phụ thuộc vào phươngtiện chẩn đoán : x quang, siêu âm hay phẫu thuật Nếu là phẫu thuật thì phụthuộc vào trang bị dụng cụ và vào trình độ phẫu thuật viên.
Trong những năm trước, tất cả các thống kê cho thấy :
+ Sỏi túi mật: Có tỉ lệ rất thấp, chỉ khoảng 10%, trong khi đó các tác giả
phương tây cho tỉ lệ khá cao, khoảng 60%
+ Sỏi ống mật chủ: Có tỉ lệ rất cao, 80%-90%, tỉ lệ này cao hơn nhiều so với
tài liệu của các nước phương tây Người ta cho rằng sở dĩ cao như vậy là vìtrong đa số các trường hợp nguyên nhân tạo sỏi ở các nước vùng nhiệt đới là
ký sinh trùng đường ruột, thành phần chính của sỏi là sắc tố mật và muối mật
+ Sỏi trong gan: Ở nước ta có tỉ lệ khá cao, đặc biệt là ở những bệnh viện có
nhiều kinh nghiệm mổ đường mật vì nhận định sỏi trong gan trong khi mổthường rất khó phải những phẫu thuật viên kinh nghiệm mới có kết luận gầnchắc chắn Các số liệu lớn hàng ngàn bệnh nhân của bệnh viện Việt Ðức cho tỉ
lệ 30-36% Ở vị trí này của sỏi, các tác giả phương tây cho con số thấp hơnnhiều, chỉ 5-20% Về bệnh sinh, sỏi ở vị trí này cũng giống như ở đường mậtngoài gan
Những năm gần đây, người ta thấy tỉ lệ các vị trí của sỏi thay đổi đáng
kể Tỉ lệ sỏi túi mật tăng lên rất nhiều và dĩ nhiên là tỉ lệ sỏi ống mật chủ giảmxuống Siêu âm đã trở thành phương tiện chẩn đoán bệnh lý gan mật bắt buộc.Siêu âm đã phát hiện không biết bao nhiêu sỏi túi mật không triệu chứng Rấtnhiều sỏi túi mật được phát hiện nhờ khám sức khỏe định kỳ hay nhờ siêu âmnhân dịp ghé qua bệnh viện Nhiều thống kê siêu âm cho thấy tỉ lệ sỏi túi mật
Trang 8cao hơn sỏi ống mật chủ Nguyễn Ngọc Hiền với 423 bệnh nhân thấy sỏi túimật nhiều gấp hơn hai lần sỏi ống mật chủ (58% và 27%) Lương Linh Hà với
672 bệnh nhân thấy sỏi túi mật nhiều gấp ba lần sỏi ống mật chủ (71% và28%)
Theo kinh điển, sỏi xuất hiện nhiều hơn ở những người có nồng độcholesterol trong máu cao Mức sống của nhân dân ta trong những năm gầnđây tốt hơn, trong khẩu phần ăn nhiều protid và lipid hơn Nhưng chúng tachưa có đủ dữ kiện để kết luận
4 Biến chứng
+ Sốc nhiễm trùng: Năm 1976, trên tổng số gần 1500 sỏi đường mật trong
gần 6 năm từ tháng 1.1990 đến tháng 9.1975, Nguyễn Thụ(50) gặp 46 bệnhnhân sốc nhiễm trùng, tỉ lệ 3,1%, tử vong 54,3% Trong phần kết luận tác giảnêu ba điểm : trong sốc nhiễm trùng đường mật, tỉ lệ tử vong rất cao, công táchồi sức rất quan trọng nhất là khi có suy thận, phải dùng kháng sinh có tácdụng đối với vi khuẩn Gram âm Văn Tần(45) trên 463 bệnh nhân nghẹt đườngmật trong 10 năm 1975-1984 thấy 95 trường hợp có sốc nhiễm trùng, tỉ lệ20% tử vong 42% Năm 1990 Hoàng Tiến(52) trên 107 trường hợp sốc nhiễmtrùng đường mật đã làm luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú "Tình hình điều trịsỏi mật có biến chứng sốc tại bệnh viện Chợ Rẫy 1986-1990", tử vong chung
là 41%, tử vong của nhóm có mổ là 27,6%, của nhóm không mổ là 100%.Năm 1992 trên 174 bệnh nhân sốc nhiễm trùng đường mật, Ðỗ Kim Sơn(43) cókết quả như sau : Không mổ chết 94% (33/35), mổ cấp cứu ngay chết 805(29/36), mổ cấp cứu muộn chết 43% (45/103)
Trang 9+ Chảy máu đường mật: Chảy máu đường mật là biến chứng không hiếm.
Nguyên nhân chảy máu đường mật của Việt Nam khác hẳn với các nướcphương tây Chảy máu đường mật ở các nước phương tây là do những dị dạngcác mạch máu trong gan Ở Việt Nam hầu hết là vì nhiễm trùng đường mật dosỏi Tôn Thất Tùng(53) dùng từ chảy máu đường mật nhiệt đới (hémobiliestropicales) Với số lượng khá lớn 114 bệnh nhân trong 15 năm 1957-1971 tácgiả có nhiều đóng góp về lý luận và thực tiễn trong điều trị chảy máu đườngmật nhiệt đới : 62 bệnh nhân chỉ dẫn lưu đường mật không kèm thắt độngmạch gan, tử vong 26, tỷ lệ 42%, 40 bệnh nhân dẫn lưu đường mật kèm thắtđộng mạch gan, tử vong 7, tỷ lệ 17,5% Vũ Duy Thanh(48) trong 10 năm 1967-
1976 có 46 trường hợp, do giun và sỏi to 43, tỉ lệ tử vong 41,5% Ðỗ KimSơn(42) trong 9 năm 1979-1987 có 77 trường hợp, 72 có mổ chết 26, tỉ lệ tửvong 34,7%, 5 không mổ chết cả 5, tỉ lệ tử vong 100%
+ Các biến chứng hiếm gặp:
Biến chứng màng tim : ở bệnh viện Việt Ðức trong 8 năm 1970-1977, Tôn
Thất Bác(4) gặp 7 trường hợp bệnh gan mật có biến chứng màng tim : 1 do áp
xe gan amip và do 6 áp xe gan đường mật
Biến chứng vỡ lên ngực : cũng ở bệnh viện này, trong 19 năm 1969-1987
Nguyễn Thấu(49) có 55 trường hợp áp xe gan vỡ lên ngực thì 34 do ám xe ganamip, 15 do áp xe gan đừơng mật, 6 không xác định nguyên nhân
Vỡ vào phế quản : Ðỗ Kim Sơn(39) gặp 2 trừơng hợp
Rò tiêu hóa : Trần Gia Khánh(27) báo cáo 10 trường hợp rò dạ dày hoặc tátràng sau mổ sỏi mật
Trang 105 Chẩn đoán
Lâm sàng chẩn đoán một viêm túi mật cấp tính không khó bằng dấu hiệu
co cứng hoặc phản ứng mạnh vùng dưới sườn trái kèm theo là tình trạngnhiễm trùng toàn thân Viêm túi mật mãn tính có thể chẩn đoán được bằnglâm sàng với nghiệm pháp murphy dương tính Nhiều bệnh nhân sỏi túi mậthoàn toàn không có triệu chứng
Lâm sàng có thể chẩn đoán được sỏi ống mật chủ với tam chứng charcotđiển hình Bệnh nhân đến khám bệnh vì những cơn đau lăn lộn vùng dướisườn phải kèm theo sốt và vàng da
Triệu chứng của sỏi đường mật trong gan rất thất thường và không rỏ rệt
6 Mức độ nguy hiểm
Tử vong của sỏi túi mật tuy thấp nhưng không phải là hiếm, hầu như chỉxảy ra ở những bệnh nhân đến trong tình trạng cấp cứu vì viêm túi mật cấptính do sỏi mà không được chẩn đoán kịp thời và xử trí thích hợp
Tử vong của sỏi đường mật chính: Tử vong của sỏi đường mật chính là con
số đáng kể Tử vong tập trung chủ yếu vào nhóm nhiễm trùng nặng, có sốc, cósuy thận cấp, nhóm chảy máu đường mật
Sỏi mật thường có các triệu chứng: đau bụng vùng hạ sườn phải, đau lênvai phải; sốt cao liên tục có rét run; vàng da, có thể có ngứa; có thể có gan to,túi mật to Sỏi mật có thể gây ra các biến chứng như: viêm túi mật cấp, viêmmàng bụng mật, viêm đường mật, túi mật tích nước, xơ gan ứ mật
7 Điều trị
Trang 11Tây y điều trị sỏi mật bằng nội khoa, hoặc ngoại khoa (phẫu thuật) - nếuđau dữ dội hoặc tái phát nhiều lần thì phẫu thuật cắt bỏ túi mật hoặc mổ ốngmật chủ yếu lấy hết sỏi và sau đó dẫn lưu.
Ngoài ra, sỏi mật có thể điều trị bằng y học cổ truyền Tùy theo thể bệnh
mà có những bài thuốc trị khác nhau
8 Các dạng bệnh
8 1 Bệnh sỏi ống mật chủ:
Phương Tây ít có bệnh sỏi ống mật chủ còn ở nước ta thì khá cao Sỏithường mềm do mật kết thành, người ta nghĩ đến sự ứ trệ của đuờng mật phốihợp với nhiễm trùng mật có khuynh hướng hình thành sỏi ống mật chủ Khởiđầu có thể thấy đau bụng vùng dưới gan hay trên rốn, sốt nhẹ hay không bịtriệu chứng gi rõ rệt Có người nhờ siêu âm định kỳ mới phát hiện ra mìnhmắc bệnh Triệu chứng chỉ rõ ràng khi viên sỏi làm nghẽn hoàn toàn lưu thôngmật xuống ruột qua cơ vòng odd, làm ống mật chủ dãn ra, đường mật tronggan dãn lớn Bệnh nhân thấy đau nhiều, liên tục vùng dưới gan hay vùng dướixương ức, hoặc đau lưng , lên vai Có thể bị sốt do đường mật bị nhiễmtrùng Vàng da, vàng mắt do mật bị nhgẽn, bilirumbine tan vào máu gây ra.Phải mổ sớm, không thể chần chừ hoặc dùng kháng sinh, giảm đau Biếnchứng nhiễm trùng huyết ơa đến bệnh nặng, tử vong là do mổ trễ Siêu âm rất
có ích để chẩn đoán sớm và mổ sớm khi chưa có biến chứng
8.2 Bệnh sỏi đường mật trong gan:
Sỏi hình thành trong các ống mật trong gan Nếu sỏi lớn dần, gây nghẽn lưuthông mật khu trú và gây áp xe trong gan Có thể may mắn sỏi rớt xuống ống
Trang 12mật chủ, tuy cũng gây nghẽn mật nhưng mổ lấy sỏi dễ hơn Sơi trong gancũng gây triệu chứng ít ỏi, chi trầm rộ khi nghẹt mật
8.3 Bệnh sỏi túi mật:
Khi viên sỏi chưa làm nghẽn lưu thông mật qua cổ túi mật, bệnh nhânchỉ đau, tức, nặng vùng dướii gan hay hoàn toàn không bị gì cả Phụ nữ tiềnmãn kinh dễ bị sỏi túi mật hơn nam giới Có thể để bình thường không cần mổhay uống htuốc tan sỏi kê trên vì vô ích Khi thấy đau nhiều, vàng da vàngmắt tăng rõ hay sốt, là do túi mật bị viêm, có thể mổ cắt túi mật để tránh táiphát Mổ qua nội soi ổ bụng cũng dễ dàng và ít biến chứng, sẹo ở bụng chỉ là
3 - 4 lỗ nhỏ Phương Tây có khuynh hướng mắc bệnh sỏi túi mật, docholesterol kết thành Họ ít bị sỏi ống mật chủ do mật kết thành
9 Phòng ngừa
Không có biện pháp chắc chắn phòng ngừa mắc bệnh sỏi mật
Các biện pháp phòng ngừa gồm:
- Giảm cân
- Không sinh đẻ nhiều
- Ăn uống hợp điều độ hợp vệ sinh, khẩu phần ăn đủ dinh dưỡng ít chất béo
Trang 13đường hầm can thiệp lâu dài để khi sỏi tái phát có thể dễ dàng theo
đường hầm này lấy sỏi.
Trang 14
Chương II: ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT BẰNG
ĐÔNG Y
1 Khái quát chung
Sỏi đường mật là những bệnh lý thường gặp ở nước ta và đang có xuhướng gia tăng Với những căn bệnh này, tuỳ theo bệnh trạng cụ thể của mỗibệnh nhân, y học hiện đại có thể trị liệu bằng các biện pháp nội khoa hoặcngoại khoa Tuy nhiên, trong không ít trường hợp, điều trị nội khoa tỏ ra kémhiệu quả buộc phải thực hiện các cuộc phẫu thuật, nhưng tỷ lệ tái phát sau mổcũng không phải là thấp Bởi vậy, việc đi sâu nghiên cứu, bào chế, thử nghiệm
và ứng dụng các loại thuốc mới có khả năng làm tan sỏi và phòng ngừa táiphát là hết sức cần thiết
Trên cơ sở kế thừa và phát triển thế mạnh kho tàng kinh nghiệm của y học
cổ truyền phương Đông trong trị liệu các chứng bệnh thạch lâm, huyết lâm,
đảm chướng, hiếp thống, hoàng đản, là những bệnh tương ứng với các bệnh
danh sỏi tiết niệu, sỏi mật, viêm đường tiết niệu, viêm đường mật, của y học
hiện đại, các nhà nghiên cứu đông y và đông dược trong nước đã tiến hànhkhảo sát nhiều vị thuốc và bài thuốc, ứng dụng công nghệ hiện đại để tạo ranhững đông dược thành phẩm ngày càng tỏ ra có tính hiệu lực và tính an toàncao
Theo dược học cổ truyền, Kim tiền thảo vị ngọt, tính bình, có công dụngthanh nhiệt, lợi thấp, lợi niệu thông lâm, tiêu thũng bài thạch, thường đượcdùng để chữa các chứng bệnh như viêm đường tiết niệu, sỏi tiết niệu, sỏi mật,phù thũng do viêm thận, hoàng đản (vàng da), tích tụ, ung thũng, Về mặtdược lý, dược thảo này có tác dụng lợi niệu, bài thạch (ngăn cản quá trìnhhình thành sỏi, làm tan và bài tiết sỏi ra bên ngoài), lợi mật, kháng khuẩn, tiêuviêm, giảm đau, làm giãn niệu quản, tăng cường miễn dịch, hạ áp, cải thiện
Trang 15lưu lượng tuần hoàn nuôi dưỡng tim, não và thận, nâng cao khả năng ghi nhớ
và sức chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu ôxy Năm 1993, Hyrayma
và cộng sự đã chứng minh chất soyasaponin I có trong Kim tiền thảo có tácdụng ức chế sự hình thành sỏi Canxi Oxalat ở thận Năm 1992, nghiên cứutrên chuột cống trắng, Li Huizhi và cộng sự nhận thấy cao Kim tiền thảo cótác dụng ức chế sự hình thành sỏi Canxi Oxalat ở thận do polysaccharid, ứcchế sự tăng trưởng của Canxi Oxalat monohydrat đồng thời làm tăng lượngbài tiết nước tiểu Điều này giải thích vì sao Kim tiền thảo được người xưa coi
là một trong những vị thuốc quý có công dụng đặc trị các bệnh lý sỏi đườngmật và đường tiết niệu, được mang cái tên rất ấn tượng là “loại cỏ có lá giốngnhư đồng tiền và quý như vàng”
Thông thường, Kim tiền thảo được dùng độc vị hoặc phối hợp với các vịthuốc khác dưới dạng thuốc sắc hoặc hãm uống thay trà
Theo y học cổ truyền, sỏi mật hình thành là do dịch mật ứ trệ lâu ngày Nếu tình chí không bình thường, ăn uống không điều độ, thấp nhiệt ở trungtiêu, trùng tích là yếu tố gây nên can đởm ứ trệ, ảnh hưởng đến chức năng sơtiết của can đởm, sự bài tiết dịch mật không được thông suốt Dịch mật bị ứtrệ lâu ngày sẽ hóa nhiệt, thấp nhiệt giao tranh, làm cho dịch mật càng tồnđọng, dần dần kết lại thành sỏi Đường mật không thông suốt, dịch mật ứ rangoài gây vàng da, vàng mắt, cơ chế sinh sỏi mật chủ yếu là thấp nhiệt ứ đọngcan đởm
Trang 16Kim tiền thảo - Nhân trần - Hương phụ
2.Chữa trị cổ phương
2.1 Bài thuốc chung
Điều trị sỏi mật theo y học cổ truyền có nhiều thể khác nhau Các bài thuốc y học cổ truyền có hiệu quả rõ rệt nhất với các trường hợp viêm túi mật
và sỏi mật thông thường (khí trệ) hoặc có vàng da, sốt (thấp nhiệt) Đông y cũng có tác dụng ngăn ngừa tái phát sau khi phẫu thuật lấy sỏi
Sỏi mật, viêm đường dẫn mật là bệnh mạn tính, hay tái phát với các triệu chứng chủ yếu là: đau vùng hạ sườn phải, sốt, vàng da Trên lâm sàng, bệnh được chia làm 4 thể:
- Thể khí trệ hay khí uất tương ứng với chứng viêm túi mật và sỏi mật đơn thuần
- Thể thấp nhiệt tương ứng với chứng viêm và sỏi mật có sốt cao, vàng da nhiều
- Thể thực hỏa tương ứng với chứng viêm túi mật hóa mủ, nhiễm trùng, nhiễmđộc