1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình tự chủ tài chính của cơ quan báo đảng đồng bằng sông cửu long

71 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Mô Hình Tự Chủ Tài Chính Của Cơ Quan Báo Đảng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 168,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, vấn đề tự chủ tài chính hay làm kinh tế báo chí là đòi hỏi khách quan, xu thế tất yếu, là nhu cầu cần thiết trong thời kỳ đất nước đổi mới, hội nhập, trong thời kỳ công nghệ số phát triển như vũ bão. Nhận định, nắm bắt được xu thế phát triển của báo chí, ngày 25 tháng 4 năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số: 432006NĐCP, quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bất kỳ một quốc gia, dân tộc, cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cánhân,… muốn tồn tại và phát triển phải gắn liền với hoạt động tài chính Hoạtđộng tài chính được hiểu theo nghĩa đơn giải nhất là hoạt động thu chi của mộtquốc gia, dân tộc, cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân,… Hoạt độngnày thể hiện dưới hai dạng: Tự chủ (tự tạo nguồn thu để đảm bảo chi); đảm bảochi (do Nhà nước cung cấp nguồn để đảm bảo chi) Đến đây vấn đề đặt ra làmuốn tự chủ tài chính thì phải tự tạo được nguồn thu, có nghĩa là chúng ta tiếnhành các hoạt động mang tính chất làm kinh tế để tạo ra nguồn thu

Do điều kiện lịch sử ở Việt Nam từ năm 1986 trở về trước, báo chí nóichung, báo in nói riêng hoạt động theo cơ chế tập trung, bao cấp, là công cụtuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước, phục vụ trực tiếp nhiệm vụ chính trị, nên không xem nặng về vấn

đề tài chính Như vậy, vấn đề về tài chính báo chí đã được đề cập rất sớm, tuynhiên ở thời kỳ từ năm 1986 trở về trước còn mờ nhạt

Từ năm 1986 đến nay, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhậpsâu rộng với quốc tế Do vậy, báo chí phải chủ động từ một nền báo chí bao cấp,chủ yếu làm nhiệm vụ tuyên truyền buộc phải chuyển sang nền báo chí vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước Từ đó, chứcnăng, nhiệm vụ của báo chí, đặc biệt là báo in cũng khác trước Trong đó, vấn đềquản lý tài chính của báo chí được xem là nhiệm vụ quan trọng tạo động lực chobáo chí phát triển, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

Trang 2

Mặt khác, từ khi internet ra đời đã tạo môi trường và tiền đề cho báo mạngđiện tử ra đời Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dướihình thức của một trang web, phát hành trên mạng internet, có ưu thế trongchuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương táccao Đây là loại hình của sự tích hợp giữa công nghệ và truyền thông, dựa trênnền của internet và sự tích hợp ưu thế của các loại hình báo chí truyền thống, đãđem lại những giá trị rất lớn cho xã hội, cho người dân Báo mạng điện tử đã tạo

ra bước ngoặc, làm thay đổi cách truyền tin và tiếp nhận thông tin Chính vì lợithế của báo mạng điện tử mà nhiều học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoàinước đã đặt vấn đề báo in “chết hay sống” khi báo mạng điện tử ra đời Bởi vì,khi báo mạng điện tử ra đời và phát triển đã làm suy giảm số lượng phát hànhcủa báo in, kéo theo nguồn thu từ phát hành, quảng cáo, nguồn thu được xemnhư huyết mạch của báo in đã giảm xuống đến mức báo động Đứng trước tháchthức, khó khăn to lớn này buộc báo in phải “tự thay đổi” để tồn tại, phát triển

Như vậy, vấn đề tự chủ tài chính hay làm kinh tế báo chí là đòi hỏi kháchquan, xu thế tất yếu, là nhu cầu cần thiết trong thời kỳ đất nước đổi mới, hộinhập, trong thời kỳ công nghệ số phát triển như vũ bão Nhận định, nắm bắtđược xu thế phát triển của báo chí, ngày 25 tháng 4 năm 2006, Chính phủ đãban hành Nghị định số: 43/2006/NĐ-CP, quy định quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với đơn

vị sự nghiệp công lập Từ đó, có khá nhiều cơ quan báo chí thực hiện theo cơchế này, không chỉ tự đảm bảo nguồn lực kinh tế mà còn mở rộng quy môhoạt động Thực tế này cũng đòi hỏi các cơ quan báo chí phải được tổ chức vàquản lý chuyên nghiệp, bài bản hơn Tiếp đến, Luật Báo chí năm 2016, Điều 21

đã mở ra hướng hoạt động kinh tế trong báo chí đó là: “Cơ quan báo chí hoạt

Trang 3

động theo loại hình đơn vị sự nghiệp có thu” Còn trong Quyết định số:

362/QĐ-TTg ngày 03/4/2019 của Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản

lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, có đề cập đến nội dung: “Các cơ quan báo chí được giao quyền tự chủ tài chính”.

Như vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là các cơ quan báo chí, đặc biệt là báoĐảng địa phương lấy nguồn thu từ đâu? Tự chủ tài chính bằng cách nào? Và khibước vào làm kinh tế để tạo nguồn thu, báo chí có còn giữ vững được nhiệm vụchính trị của mình? Để giải quyết được các vấn đề này không hề đơn gian giản

Do vậy, làm thế nào để báo chí nói chung, báo Đảng địa phương nói riêng luônlàm tốt vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng, tiếng nói của chính quyền và diễnđàn của Nhân dân, tồn tại và phát triển vững chắc trong cơ chế thị trường là vấn

đề cần phải nghiên cứu bài bản, thấu đáo, để rút ra được lý luận chung mang tínhthực tiễn cao Từ đó gợi mở ra khuôn mẫu về các hình thức làm kinh tế báo chí

để tự tạo nguồn thu đảm bảo tự chủ tài chính hợp pháp để các báo Đảng địaphương áp dụng được vào thực tiễn là vấn đề cấp thiết hiện nay

Xuất phát từ nhu cầu về lý luận, thực tiễn, nhiệm vụ phát triển báo chí nóichung và báo Đảng địa phương nói riêng trong điều kiện nước ta hiện nay, tác

giả chọn đề tài:“Xây dựng mô hình tự chủ tài chính của cơ quan báo Đảng

Đồng bằng Sông Cửu Long – Trường hợp nghiên cứu tại cơ quan báo Đảng:

Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ” làm luận văn thạc sĩ – chuyên ngành Báo chí

học định hướng của mình với mong muốn sẽ đúc kết được những nội dung cơbản về lý luận và thực tiễn trong hoạt động tự chủ tài chính của các báo Đảng địaphương, đặc biệt là các báo Đảng ở Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long trongthời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề

Trang 4

Tình hình báo chí làm kinh tế hay xây dựng mô hình tự chủ tài chính chocác cơ quan báo Đảng là một vấn đề thu hút nhiều tác giả, nhà khoa học trong vàngoài nước tham gia nghiên cứu, tìm hiểu Đến nay, có rất nhiều công trìnhnghiên cứu liên quan đến vấn đề báo chí làm kinh tế hay xây dựng mô hình tựchủ tài chính cho các cơ quan báo Đảng Những công trình nghiên cứu này vớicách tiếp cận nhiều góc độ khác nhau đã mang lại những cống hiến khoa học vàthực tiễn cho vấn đề báo chí làm kinh tế hay xây dựng mô hình tự chủ tài chínhcho các cơ quan báo Đảng Cụ thể:

2.1 Nhóm thứ nhất: Sách, báo nước ngoài do các tác giả trong nước dịch thuật

Đối với báo chí Trung Quốc theo Tiến sĩ Đinh Thị Thu Hằng, trong

cuốn“Báo chí thế giới xu hướng phát triển”, Nxb Thông tấn, năm (2008) khẳng

định: ““Sự đa dạng hóa về vấn đề tư tưởng”, hay còn gọi là cuộc cải tổ báo chí ởTrung Quốc được bắt đầu vào thời kỳ cải cách kinh tế do Đặng Tiểu Bình khởixướng ở nước này cuối năm 1970 Báo in được điều hành áp dụng theo kiểudoanh nghiệp và cơ chế thị trường đầu tiên và sau đó có các đài phát thành,truyền hình làm theo”

Trong cuốn sách“Truyền thông đại chúng – những kiến thức cơ bản” của

tác giả người Đức Claudia Mast, do Trần Thái Hậu biên dịch, Nxb Thông tấnnăm (2003) đã đề cập đến vấn đề kinh tế báo Cuốn sách nhấn mạnh các nộidung: Công tác quản lý tòa soạn, cơ cấu giá thành của tờ báo, cơ sở kinh tế củamột tờ báo, doanh thu bán báo và doanh thu quản cáo, …

E.P Prôkhôrốp trong cuốn“Cơ sở lý luận của báo chí”, Đào Tấn Anh,

Đới Thị Kim Thoa biên dịch, Nxb Thông tấn, năm (2004, tập 1), đề cập đến chứcnăng trau dồi văn hóa, hướng dẫn – quảng cáo, giải trí Tác giả khẳng định quảng

Trang 5

cáo đóng vai trò cơ bản trong việc tạo nguồn thu của các cơ quan truyền thông

và dự báo tiềm năng to lớn của quảng cáo:“Quảng cáo là thông tin về các hàng hóa và dịch vụ, giúp cho việc tạo nên hình ảnh có sức lôi cuốn công chúng Trong báo chí, truyền hình, phát thanh hiện nay, chương trình quảng cáo chiếm

vị trí hàng đầu Báo chí, phát thanh, truyền hình dành cho quảng cáo rất nhiều chỗ Hơn nữa, quảng cáo lại là nguồn thu rất lớn cho báo chí (nếu thiếu thu nhập từ quảng cáo thì các phương tiện thông tin đại chúng khó có thể tồn tại)”.

Trong cuốn sách “Báo chí trong kinh tế thị trường” của tác giả người Nga

Grabennhicốp, do Lê Tâm Hằng, Ngữ Phan, Đới Thị Kim Thoa biên dịch, Nxb

Thông tấn, năm (2003), tác giả nhận định: “Do thiếu khoảng tài chính cho các phương tiện thông tin đại chúng từ phía nhà nước nên các nhà báo và cơ quan xuất bản buộc phải tìm con đường riêng để thoát khỏi khủng hoảng tài chính, áp dụng marketing, nghiên cứu sâu sắc mối quan tâm của khách hàng – bạn đọc, đăng quảng cáo, ra vặt” Từ nhận định này, tác giả quyển sách đưa ra kết luận:

“Trong cơ cấu của các tòa soạn, ngoài bộ phận hành chính, sáng tạo và kỹ thuật còn xuất hiện cả bộ phận kinh doanh Trong điều kiện thị trường, công việc hàng đầu không chỉ là thu thập và xử lý thông tin mà còn cả phát hành quảng bá

nó Trong tòa soạn các báo lớn, thì bộ phận kinh doanh chiếm vị trí đáng kể Tại đây có thể có ban quảng cáo (sản xuất ra sản phẩm quảng cáo, liên hệ với các hãng quảng cáo); ban thông tin tòa soạn (tìm kiếm, xử lý và bán thông tin thương mại); ban marketing (nghiên cứu thị trường thông tin, tiến hành các chiến dịch đặt báo, quảng bá sản phẩm báo chí)”.

Như vậy, vấn đề nghiên cứu tài chính báo chí hay tự chủ tài chính cho báochí của các nước trên thế giới đã được các học giả trong và ngoài nước nghiêncứu Tuy nhiên, do sự khác biệt về kinh tế, chính trị, xã hội nên chúng ta không

Trang 6

thể áp dụng một cách khuôn mẫu các lý thuyết của thế giới để vận dụng vào việcđiều hành, tổ chức hoạt động tài chính báo chí ở Việt Nam, mà chỉ tham khảo,nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc về mặt phương pháp khi phân tích các hệ thống

lý thuyết

2.2 Nhóm thứ hai: Sách, báo, luận văn, báo cáo trong nước.

So với các nước trên thế giới, vấn đề tài chính báo chí ở nước ta được đềcập muộn hơn Kể từ khi đất nước đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, tài chính báo chí mới được đề cập, rõ nét nhất vàonhững năm 1990 của thế kỷ trước trở về sau này khi Chính phủ ban hành NghịĐịnh 43/2006/NĐ-CP, ngày 25/4/2006 cho phép các cơ quan báo chí chủ độngthực hiện hoạt động kinh tế báo chí Song đây là vấn đề còn mới mẻ nên nhiều

cơ quan báo chí vẫn còn lúng túng trong quá trình thực hiện, do cách vận dụng

cơ chế tự chủ tài chính và việc nắm bắt, vận dụng xu thế phát triển kinh tế báochí thế giới và Việt Nam để tạo nguồn thu vẫn chưa được thực hiện một cách bàibản, phần lớn vẫn là hoạt động mang tính tự phát, hiệu quả chưa cao Trong khi

đó, hiện nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách hệ thống về mặt

lý luận và thực tiễn về tài chính báo chí Tác giả xin lược khảo một số bài báo,công trình nghiên cứu trong nước tiêu biểu liên quan đến tài chính báo chí Cụthể:

Đinh Văn Dũng (2017), “Làm kinh tế báo chí, khó trăm bề” đăng trên trang Quảng Ninh online ngày 20/6/2017 của tác giả Tác giả cho rằng “Chúng

ta điều biết, Luật Báo chí 1999 và nay là Luật Báo chí 2016 đều cho phép làm kinh tế báo chí Thậm chí điều 21 – Luật Báo chí 2016 còn “mở hơn” về hoạt động kinh tế trong báo chí, đó là cơ quan báo chí hoạt đọng theo loại hình đợn

vị sự nghiệp có thu Thu từ cơ quan chủ quan cấp, thu từ bán báo, bán các bản

Trang 7

quyền xem các sản phẩm báo chí, quảng cáo, trao đổi, mua các bản quyền nội dung; thu từ hoạt dộng kinh doanh dịch vụ của cơ quan báo chí và các đơn vi trực thuộc cơ quan báo chí; nguồn thu từ nhà tài trợ hợp pháp của các tổ chức trong nước và nước ngoài…”.

Tuyết Mai (2019),“Báo chí trước bài toán tự chủ” đăng trên cổng thông

tin điện tử của Hội Nhà báo Việt Nam, đăng ngày 16/2/2019 của tác giả Tuyết

Mai cho rằng“Việc đi tìm lời giải cho vấn đề tự chủ đã nảy sinh nhiều xu hướng phát triển của từng tòa soạn, tờ báo Một điều tòa soạn nào cũng nhìn thấy ngay

đó là cần nâng cao chất lượng thông tin, nâng cấp hình thức truyền tải nhằm thu hút đông đảo độc giả, từ đó phát triển phần giá trị tăng bù đắp lại nguồn thu xưa nay vẫn được bao cấp Nhưng đã đề cập ở trên, báo chí không giống hẳn một doanh nghiệp và một nguyên tắc bất di bất dịch là tại Việt Nam không có báo chí tư nhân, vì thế cho dù thế nào thông tin đúng chủ trương, đường lối dẫn phải đặt lên hằng đầu rồi mới tính đến vấn đề tài chính Tuy nhiên, đã phát triển theo quy luật, chịu sự chi phối của thị trường, nghĩa là các cơ quan báo chí, mỗi nhà báo phải thừa nhận và chấp nhận tham gia quy luật đó Nhìn ở góc độ tích cực khi cơ quan báo chí hoạt động hoàn toàn tự chủ, cũng đồng nghĩa với việc các toàn soạn đã giảm được gánh năng cho ngân sách Nhà nước, tự tạo ra cơ sở vật chất đáp ứng, tốt nhu cầu hoạt động đặc thù của công việc; các ấn phẩm của tòa soạn được độc giả ưa thích, thị trường đón nhận”

Đỗ Quý Doãn (2014),“Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam”, Nxb Thông tin và truyền thông, tác giả Đỗ Quý Doãn đưa ra nhận định:

“Kinh tế báo chí là một xu hướng đang hình thành và từng bước phát triển trong hoạt động báo chí ở nước ta Đây là một xu hướng có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của báo chí Quản lý và định hướng tốt vấn đề kinh tế báo chí sẽ tạo

Trang 8

điều kiện cho việc từng bước thực hiện tự chủ về mặt tài chính, đồng thời tăng nguồn thu cho cơ quan báo chí để đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị, nâng cao chất lượng nội dung, hình thức của báo chí, đáp ứng ngày càng tốt hơn vai trò, chức năng của cơ quan ngôn luận, đồng thời là diễn dàn của các tâng lớp nhân dân”.

Tác giả Nguyễn Văn Dững (2012), trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, Nxb.

Lao động đã đề cập đến chức năng kinh tế - dịch vụ của báo chí Chức năng kinh tế

- dịch vụ của báo chí đã và đang trở thành một vấn đề được các cơ quan báo chíquan tâm

Tác giả Đinh Thị Thúy Hằng (2008), Báo chí thế giới xu hướng phát triển Tác giả phân tích các xu hướng phát triển của báo chí hiện đại trên thế giới

- trong đó xu hướng hội tụ truyền thông đang ngày một phát triển Sức ép kinh tế

- tài chính và đặc biệt là vấn đề tự chủ tài chính đang là vấn đề đặt ra đối với các

cơ quan báo chí hiện nay

Bùi Chí Trung (2017),“Kinh tế báo chí” Cuốn sách do Nxb Chính trị

Quốc gia sự thật Hà Nội Đây là cuốn sách chuyên khảo tập trung trình bày các

vấn đề chính như: “Những khái niệm cơ bản về kinh tế báo chí; các mô hình kinh doanh, kinh tế báo chí trên nền tảng kỹ thuật số, hội tụ đa phương tiện; kỹ năng phân tích thị trường và xây dựng chiến lược kinh doanh, cùng những vấn

đề cư bản trong kinh doanh báo chí, v.v…Bên cạnh khung lý thuyết cơ bản nội dung cuốn sách đồng thời đề cập cả những vấn đề thực tiễn trong hoạt động kinh tế báo chí hiện nay ở Việt Nam và thế giới”.

Đinh Văn Hường và Bùi Chí Trung (2015), “Một số vến đề về kinh tế báo in”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Cuốn sách tập trung vào xác lập một cách cơ

bản, hệ thống các học thuyết về kinh tế truyền thông đang phổ cập trên thế giới

Trang 9

hiện nay Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động kinh tế chủ yếucủa báo in Việt Nam những năm vừa qua, đồng thời hệ thống hóa bước đầu cáchoạt động đó từ góc nhìn kinh tế báo chí Hệ thống hóa quan điểm, định hướngcủa Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về hoạt động kinh tế báo chí truyềnthông thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Tìm hiểu những kinh nghiệm chủ yếucủa kinh tế báo chí truyền thông thế giới nhằm tham khảo, vận dụng phù hợp vàođiều kiện cụ thể của báo chí truyền thông Việt Nam, trong đó có báo in Đề xuấtcác giải pháp, kiến nghị để báo in nước ta hoạt động kinh tế năng động, hiệu quảtrong bối cảnh mới.

Trương Văn Chuyển (2014), “Vấn đề kinh tế Báo chí của Báo Đảng địa phương ở Đồng bằng Sông Cửu Long”, Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành báo chí

học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn khẳng định tầm quan trọngcủa hoạt động kinh tế báo chí của báo Đảng địa phương, qua đó phát huy tối đavai trò, vị trí, nhiệm vụ của báo Đảng địa phương trong sự nghiệp công nghiệphóa – hiện đại hóa đất nước, vùng đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và từngđịa phương nói riêng

Qua lược khảo một số bài báo, công trình nêu trên, tác giả nhận thấy:

Thứ nhất, bước đầu các tác giả, nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề tự

chủ tài chính của cơ quan báo chí Tuy nhiên, đó chỉ là những nhận định, đánhgiá còn manh tính chất chung của nhà quản lý, chưa đưa ra được cơ sở lý luận vàgiải pháp thực tiễn một cách khoa học

Thứ hai, về địa điểm, hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu nàođược thực tại các cơ báo Đảng: Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ

Cuối cùng, về mặt thời gian, các công trình nghiên cứu trên đã được thựchiện trong khoảng thời gian trước Chính vì vậy, các đề xuất, giải pháp có thể sẽ

Trang 10

không còn phù hợp cho giai đoạn hiện nay bởi sự thay đổi và xu hướng hội nhậpngày càng sâu rộng của nền kinh tế.

Chính vì vậy, đề tài: “Xây dựng mô hình tự chủ tài chính của cơ quan báo Đảng Đồng bằng Sông Cửu Long – Trường hợp nghiên cứu tại cơ quan báo

Đảng: Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ” không trùng lặp với các các nội dung đã

nghiên cứu nêu trên Đây là một nghiên cứu mới, độc lập, trên cơ sở kế thừakhung lý thuyết của các công trình nghiên cứu trước

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động tự chủ tàichính của cơ quan báo Đảng địa phương Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ, luận văn

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự chủ tài chính củacác cơ quan báo Đảng địa phương Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ nói riêng và báoĐảng địa phương nói chung trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, người nghiên cứu thực hiện những nộidung cơ bản như sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về tự chủ tài chính củacác cơ quan báo Đảng địa phương

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tự chủ tài chính của cơ quanbáo Đảng Đồng bằng Sông Cửu Long – Trường hợp nghiên cứu tại cơ quan báoĐảng: Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ giai đoạn 2018 – 2020

Trang 11

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự chủ tàichính của cơ quan báo Đảng Đồng bằng Sông Cửu Long – Trường hợp nghiêncứu tại cơ quan báo Đảng: Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luạn văn là hoạt động tự chủ tài chính của cơquan báo Đảng Đồng bằng Sông Cửu Long – Trường hợp nghiên cứu tại cơ quanbáo Đảng: Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: tại các cơ quan báo Đảng: Cà Mau, Sóc Trăng và

Cần Thơ

Phạm vi về thời gian: nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến tự chủ tài

chính của các cơ quan báo Đảng: Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ trong giaiđoạn 2018 – 2020

Đối tượng khảo sát: các cán bộ, công nhân viên làm công tác quản lý tài

chính tại các cơ quan báo Đảng: Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng và Nhànước về tự chủ tài chính của cơ quan báo Đảng địa phương Trong đó, tập trunglàm rõ những vấn đề về vai trò của báo chí trong hoạt động tự chủ tài chính hiệnnay

Kế thừa và tham khảo các kết quả nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực báochí liên quan đến đề tài của các tác giả đi trước

Trang 12

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng nhữngphương pháp nghiên cứu như sau:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả sẽ khảo sát, tập hợp, phân tích

các loại tài liệu nhằm hệ thống hóa các vấn đề lý luận, xây dựng khung lý thuyếtlàm cơ sở lý luận phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài

Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả xây dựng bảng câu hỏi khảo sát

với 150 mẫu gửi đến công chúng bằng hình thức trực tiếp Từ kết quả điều tra xãhội học tác giả thu nhận các ý kiến, nhận xét, đánh giá của công chúng, qua đóthu nhận những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả thực hiện 8 cuộc phỏng vấn gồm

lãnh đạo tòa soạn báo Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ; kế toán, lãnh đạo phòngphụ trách mảng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ và góp phần bổ sungnhững luận cứ khoa học trong các hoạt động nghiên cứu sau này về tự chủ tàichính của các cơ quan báo Đảng địa phương

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tự chủ tài chính của các cơquan báo Đảng: Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ giai đoạn 2018 – 2020 sẽ giúpcác nhà quản lý nắm bắt được những tồn tại, hạn chế trong hoạt động tự chủ tàichính của cơ quan mình Từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn chếnày và nâng cao hiệu quả hoạt động tự chủ tài chính của cơ quan báo Đảng: Cà

Trang 13

của luận văn có thể được các các cơ quan báo Đảng địa phương khác nghiên cứu

và xem xét ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự chủ tài chính của cơquan báo Đảng địa phương mình

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn còn có

3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng mô hình tự chủ tàichính của các cơ quan báo Đảng

Chương 2: Thực trạng xây dựng mô hình tự chủ tài chính của cơ quan báoĐảng Đồng bằng sông Cửu Long - Trường hợp nghiên cứu tại cơ quan báoĐảng: Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ

Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả về tự chủtài chính của các cơ quan báo Đảng Đồng bằng sông Cửu Long - Trường hợpnghiên cứu tại cơ quan báo Đảng: Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG

MÔ HÌNH TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CƠ QUAN BÁO ĐẢNG

1.1 Cơ quan báo Đảng

1.1.1 Khái niệm cơ quan báo Đảng

Theo Luật Báo chí năm 2016 quy định, cơ quan báo Đảng là “cơquan ngôn luận của Ðảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổchức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghềnghiệp, tổ chức tôn giáo từ cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên, hoạt độnghợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động dưới sự chỉ đạo,định hướng và quản lý trực tiếp của Ban Tuyên giáo Trung ương” (khoản 1Ðiều 14)

Như vậy, có thể thấy, cơ quan báo Đảng là tiếng nói của Đảng,

Nhà nước và Nhân dân Việt Nam; là cơ quan báo chí truyền thông đaphương tiện, hệ thống tư liệu, văn kiện điện tử của Trung ương Đảng Cộngsản Việt Nam; là trung tâm khai thác và tích hợp thông tin từ trang thông tinđiện tử của các Ban Đảng Trung ương, Văn phòng Trung ương các tỉnh ủy,thành ủy, đảng ủy thực thuộc trong cả nước; là cổng thông tin, giao tiếpgiữa Đảng với Nhân dân Hoạt động dưới sự chỉ đạo, định hướng và quản lýtrực tiếp của Ban Tuyên giáo Trung ương

1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của cơ quan báo Đảng

1.1.2.1 Chức năng

Theo Luật Báo chí năm 2016 quy định, cơ quan báo của đảng bộ tỉnh,thành phố trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ có chức năng là cơ quan ngôn luận của

Trang 15

chính quyền với nhân dân địa phương; là đơn vị sự nghiệp có thu, hoạt động báochí theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

1.1.2.2 Nhiệm vụ

Theo Luật Báo chí năm 2016 quy định, cơ quan báo Đảng có chứcnăng và nhiệm vụ:

a Thông tin, tuyên truyền, giáo dục

Thông tin, tuyên truyền sâu rộng nhằm nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vaitrò, tầm quan trọng, sự cần thiết học tập nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và pháttriển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương củaĐảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước

Phản ánh toàn diện các hoạt động của Đảng, trước hết là Ban Chấp hànhTrung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp; hoạt động của bộ máyNhà nước và hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương

Tham gia nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; tuyên truyền các kinhnghiệm, sáng kiến, thành tựu phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội, tăng cườngquốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh

Nhận định, bình luận sắc bén, kịp thời theo quan điểm chính thống củaĐảng, Nhà nước đối với những sự kiện, vấn đề trong nước và thế giới được bạnđọc quan tâm

Đáp ứng nhu cầu thông tin, học tập, nghiên cứu, sinh hoạt văn hóa tinhthần của của Nhân dân

b Diễn đàn của Nhân dân

Tổ chức trao đổi những vấn đề về Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được bạn đọc và Nhân dân quan tâm

Trang 16

Phản ánh trung thực, đầy đủ tâm tư, nguyện vọng, ý kiến chính đáng củacán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Là nơi giao tiếp, tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, phản hồi giữaĐảng, Nhà nước với Nhân dân; giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước

c Cổ vũ, động viên phong trào thi đua yêu nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

Phát hiện, cổ vũ, góp phần nhân rộng các nhân tố mới, điển hình tiên tiếntrong phong trào thi đua yêu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa

d Tham gia tuyên truyền về đối ngoại

Thực hiện tuyên truyền đối ngoại bằng nhiều thứ tiếng Thông tin, tuyêntruyền về quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước, những thành tựu trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đường lối đối ngoại của Đảng

Tuyên truyền lịch sử truyền thống dân tộc, quảng bá hình ảnh Việt Namyêu chuộng hòa bình, ổn định, dân chủ và phát triển, giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ,hợp tác, ủng hộ Việt Nam

e Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các thông tin, luận điệu sai trái, thù địch; chống tham nhũng, tiêu cực

Chủ động, tích cực đấu tranh phản bác thông tin, luận điệu, quan điểm saitrái, thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; đấu tranh với các luận điểm saitrái xuyên tạc trên cả ba lĩnh vực: lý luận chính trị, tư tưởng - văn hóa và văn họcnghệ thuật

Đấu tranh phòng, chống nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực

về tệ nạn xã hội

Trang 17

Đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống, những biểu hiện "tự diễn biến" "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

f Xây dựng, vận hành và quản lý "Hệ thống tư liệu, văn kiện Đảng"

Xây dựng, bổ sung, cập nhật thường xuyên hệ thống thông tin dữ liệunhằm giới thiệu các tác phẩm kinh điển C.Mác, F.ăng ghen, V.I.Lênin, Hồ ChíMinh; các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam; sách chính trị; các văn bảnquy phạm pháp luật của Nhà nước; những nghiên cứu mới về Mác - Ăngghen,Lênin, Hồ Chí Minh và các lãnh tụ

g Khai thác, tích hợp thông tin

Khai thác và tích hợp thông tin từ các trang thông tin điện tử của các BanĐảng, Văn phòng Trung ương, các ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy, tỉnh

ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương

h Vận hành và quản lý "Trang thông tin điện tử Hồ Chí Minh”

Xây dựng, bổ sung, cập nhật thường xuyên thông tin cơ sở dữ liệu về thânthế, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhằmtuyên truyền, giáo dục, xây dựng nhân cách, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên

và xây dựng văn hóa con người Việt Nam Đồng thời tiếp tục quảng bá giá trị tưtưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tới cộng đồng quốc tế

Tuyên truyền về các điển hình tiên tiến, gương người tốt, những cách làmsáng tạo trong học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

i Xây dựng cơ quan báo chí truyền thông đa phương tiện

Xây dựng cơ quan báo chí truyền thông đa phương tiện, đáp ứng yêu cầuthông tin, tuyên truyền và hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ của các ban đảng;đẩy mạnh xây dựng kênh truyền hình internet theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu

Trang 18

cầu xem truyền hình internet; xây dựng cổng giao tiếp điện tử giữa Đảng vàNhân dân trên mạng internet.

j Tổ chức hoạt động kinh tế của Báo

Thực hiện các dịch vụ điện tử trên Báo theo đúng quy định của pháp luật.Thực hiện các hoạt động truyền thông - quảng cáo nhằm quảng bá hìnhảnh đất nước, con người và thành tựu phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội củađất nước

1.1.3 Bộ máy tổ chức của cơ quan báo Đảng

Cơ quan báo Đảng là đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc Ban Tuyên giáoTrung ương (cấp Tổng cục), có trụ sở riêng, có con dấu và tài khoản cấp 2, hoạtđộng trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và quy định của Đảng

Lãnh đạo cơ quan báo

Trang 19

Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ và khả năng tài chính, được cấp uỷ tỉnh, thànhphố và các cơ quan có thẩm quyền đồng ý thì có thể lập thêm một số bộ phậncông tác hoặc phòng chuyên đề.

Biên chế

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, số kỳ phát hành trong tuần (không tính các

ấn phẩm khác), cơ quan báo của đảng bộ tỉnh, thành phố được giao biên chế theođịnh hướng:

- Các báo phát hành dưới 5 kỳ/tuần: biên chế từ 30 - 40 công chức, viênchức

- Các báo phát hành 5 - 6 kỳ/tuần: biên chế từ 41 - 45 công chức, viênchức

- Các báo phát hành hằng ngày: biên chế từ 46 - 50 công chức, viên chức.Lãnh đạo cơ quan báo căn cứ nhiệm vụ được giao và khả năng tự chủ vềkinh phí hoạt động để thực hiện hợp đồng lao động, cộng tác viên theo quy định

1.2 Mô hình tự chủ tài chính trong cơ quan báo Đảng

1.2.1 Khái niệm mô hình tự chủ tài chính

Theo Ngân hàng thế giới, mục tiêu “tự chủ”, trong đó có tự chủ về tàichính là những cải cách đem lại cho các cơ quan cung ứng dịch vụ công cóquyền tự chủ nhiều hơn và dựa vào những khuyến khích của thị trường hoặc

“tương tự thị trường” để thúc đẩy cải thiện hiệu quả hoạt động của mình Nhữngcải cách này cũng tạo nên các quy tắc trách nhiệm gián tiếp, cho phép nhà quản

lý ngày càng có nhiều tự do trong hoạt động điều hành hàng ngày Trách nhiệm

Trang 20

liên quan đến các dịch vụ bị thua lỗ và các chức năng xã hội khác cũng được làm

rỏ hơn, và thường có nguồn vốn để đảm bảo cung ứng dịch vụ liên tục

Theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP nghị định của Chính phủ ban hành ngày

14 tháng 02 năm 2015 quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập

quy định, mô hình tự chủ tài chính được hiểu là “cơ chế theo đó các đơn vị sự

nghiệp công được trao quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về các khoản thu, khoản chi của đơn vị mình, nhưng không vượt quá mức khung do Nhà nước quy định”.

Đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập, thuộc sở hữu của Nhà nước, là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán Có thể kể đến các đơn vị sự nghiệp công lập, như: trường học, bệnh viện, cơ sở y tế, văn hóa, sở khoa học công nghệ, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam…

Như vậy, có thể hiểu, mô hình tự chủ tài chính trong cơ quan báo Đảng là

sự thể hiện rõ nét về các quy định xoay quanh quyền tự chủ, việc các đơn vị này

tự mình đứng ra chịu trách nhiệm đối với những nhiệm vụ mang tính chất thuộcvào trong phạm vi cũng như quyền hạn của các đơn vị sự nghiệp công này Việc

tổ chức bộ máy cũng như về khía cạnh nhân sự và nguồn tài chính của đơn vị

1.2.2 Mô hình tự chủ tài chính trong cơ quan báo Đảng

Trao quyền tự chủ để các cơ quan báo Đảng nói riêng và các đơn vị sựnghiệp nói chung thực hiện xã hội hoá, cung cấp dịch vụ với chất lượng ngàycàng cao cho xã hội, tăng nguồn thu, đảm bảo công khai, dân chủ, hài hoà lợi íchtheo quy định của pháp luật Tự chủ tài chính của các cơ quan báo Đảng nóiriêng và các đơn vị sự nghiệp nói chung được quy định theo bốn mức độ cụ thể

Trang 21

đó là: Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầutư; Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; Tự chủ tàichính đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ

sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụcung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá chưa tính đủ chi phí) và Tự chủ tàichính đối với đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng,nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thuthấp)

1.2.2.1 Nguồn tài chính của đơn vị

Để thực hiện được các chức năng nhiệm vụ theo quy định của Nhà nướcthì nguồn tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư vàđơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên gồm:

- Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn ngânsách nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chiphí

- Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định(phần được để lại chi thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị,tài sản phục vụ công tác thu phí)

- Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có)

- Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên(nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn

vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mụctiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự

án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí muasắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm

Trang 22

quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩmquyền giao.

- Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật

Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, nguồn tài chínhcủa đơn vị này cũng được thực hiện giống như đối với đơn vị tự bảo đảm chithường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên Ngoài ra dođơn vị chỉ đảm bảo một phần chi thường xuyên nên nguồn tài chính còn có thêmnguồn NSNN hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệpcông

Khác với 3 loại hình đơn vị sự nghiệp trên, loại hình đơn vị sự nghiệpcông do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ đượccấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp), nguồn tàichính của đơn vị này không có nguồn từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công,Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại mà chỉ có nguồn ngânsách nhà nước cấp chi thường xuyên trên cơ sở số lượng người làm việc và địnhmức phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Nguồn thu khác (nếucó), Ngân sách nhà nước cấp kinh phí thực hiện các nhiệm vụ không thườngxuyên và nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật

Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu cho hoạt động, các đơn vị sự nghiệp cônglập được khuyến khích tạo lập thêm các nguồn tài chính đáp ứng cho hoạt độngđơn vị theo quy định của Pháp luật

Các đơn vị sự nghiệp công lập được chủ động mở rộng các hoạt độngcung cấp dịch vụ phù hợp với chức năng nhiệm vụ của đơn vị; đơn vị được sửdụng tài sản Nhà nước cho các hoạt động dịch vụ nhưng phải thực hiện tríchkhấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước

Trang 23

1.2.2.2 Tự chủ trong việc tạo lập các khoản thu và quy định mức thu

Theo quy định đơn vị được tự xác định giá dịch vụ theo nguyên tắc thịtrường đối với loại dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sáchNhà nước (NSNN) Đối với loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phíNSNN, đơn vị được quyết định mức thu theo lộ trình tính giá do Nhà nước côngbố

Thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao, đơn vị sự nghiệp công lập đượcphép thu các khoản phí, lệ phí Một phần phí, lệ phí nộp vào ngân sách nhà nướctheo đúng nhiệm vụ thu được giao đầu năm, phần còn lại được để lại đơn vị Vìvậy các đơn vị sự nghiệp cần có trách nhiệm xây dựng kế hoạch thu đúng, thu đủnhưng theo mức thu và đối tượng thu do nhà nước quy định

Đối với những nhiệm vụ do cơ quan nhà nước đặt hàng thì các nội dungthu và mức thu phải theo đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.Trường hợp các khoản thu chưa có quy định định mức cụ thể thì phải được cơquan tài chính cùng cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán thực hiện nhiệm vụ

1.2.2.3 Tự chủ về nội dung chi

Các nội dung chi phải được dựa trên tiêu chuẩn, định mức khoa học, đảmbảo tiết kiệm, chính xác, đúng số phát sinh, đúng mục đích, phạm vi chi tiêu;chấp hành chế độ tài chính của Nhà nước, đơn vị quy định

- Tự chủ trong chi đầu tư và chi thường xuyên

Các đơn vị sự nghiệp được chủ động sử dụng các nguồn tài chính đượcgiao tự chủ, bao gồm nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công (kể cảnguồn ngân sách nhà nước đấu thầu, đặt hàng), nguồn thu phí theo quy địnhđược để lại chi và nguồn thu hợp pháp khác, để chi thường xuyên

Trang 24

Đối với các nội dung chi đã có định mức chi theo quy định của cơ quannhà nước có thẩm quyền thì phải căn cứ vào khả năng tài chính, đơn vị đượcquyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền ban hành và quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

Tuy nhiên, đối với một số định mức, tiêu chuẩn quy định mang tính chấtchung cho khối cơ quan nhà nước, thì các đơn vị sự nghiệp công cũng phải tuânthủ, như tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô; nhà làm việc; trang bị điện thoại;chế độ công tác phí nước ngoài; tiếp khách nước ngoài, hội thảo quốc tế

Đối với các nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ quannhà nước có thẩm quyền, căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi chophù hợp theo Quy chế chi tiêu nội bộ

Để tạo điều kiện khuyến khích các đơn vị tự chủ toàn diện về chi thườngxuyên và chi đầu tư, Chính phủ quy định các đơn vị này được chủ động xâydựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; saukhi danh mục dự án đầu tư được phê duyệt, đơn vị được quyết định dự án đầu tư;được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự

án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định Căn cứ vàoyêu cầu phát triển của đơn vị, Nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự án đầu tưđang thực hiện, các dự án đầu tư khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền

- Về chi tiền lương và thu nhập tăng thêm

Về chi tiền lương, Chính phủ quy định các đơn vị sự nghiệp chi trả tiềnlương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quyđịnh đối với đơn vị sự nghiệp công Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương cơ sở,đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo đảm chithường xuyên phải tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị;

Trang 25

NSNN không cấp bổ sung; đối với đơn vị chưa tự bảo đảm chi thường xuyên vàđơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, chi tiền lương tăng thêm từcác nguồn theo quy định, bao gồm cả nguồn NSNN cấp bổ sung (nếu thiếu).

Đối với phần thu nhập tăng thêm, các đơn vị được chủ động sử dụng Quỹ

bổ sung thu nhập để thực hiện phân chia cho người lao động trên cơ sở Quy chếchi tiêu nội bộ của đơn vị, theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệuquả công tác của người lao động Và theo quy định mới, khi phân bổ thu nhậptăng thêm, thì hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệpcông tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện củangười lao động trong đơn vị

- Tự chủ trong giao dịch tài chính

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sự nghiệp trong giao dịch vớibên ngoài, đặc biệt là trong các hoạt động liên doanh, liên kết, đồng thời tạothêm nguồn thu cho đơn vị; Căn cứ theo quy định của Pháp luật Đơn vị sựnghiệp công được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng thương mại hoặc Kho bạcNhà nước để phản ánh các khoản thu, chi hoạt động dịch vụ sự nghiệp côngkhông sử dụng ngân sách nhà nước Lãi tiền gửi đơn vị được bổ sung vào Quỹphát triển hoạt động sự nghiệp hoặc bổ sung vào Quỹ khác theo quy định củapháp luật chuyên ngành (nếu có), không được bổ sung vào Quỹ bổ sung thunhập

Riêng các khoản kinh phí thuộc NSNN, các khoản thu dịch vụ sự nghiệpcông sử dụng NSNN, các khoản thu phí theo pháp lệnh phí, lệ phí, thì đơn vị sựnghiệp công vẫn phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánh

Quy định mới cũng quy định, đơn vị sự nghiệp công lập được huy độngvốn, vay vốn để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất theo quy định của pháp luật và

Trang 26

phải có phương án tài chính khả thi để hoàn trả vốn vay; chịu trách nhiệm vềhiệu quả của việc huy động vốn, vay vốn.

- Vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp

Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chếtài chính như doanh nghiệp (công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhànước nắm giữ 100% vốn điều lệ), khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: Hoạt độngdịch vụ sự nghiệp công có điều kiện xã hội hóa cao, Nhà nước không cần baocấp; giá dịch vụ sự nghiệp công tính đủ chi phí (bao gồm cả trích khấu hao tàisản cố định); được Nhà nước xác định giá trị tài sản và giao vốn cho đơn vị quản

lý theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; hạch toán

kế toán để phản ánh các hoạt động theo quy định của các chuẩn mực kế toán cóliên quan áp dụng cho doanh nghiệp

1.2.2.4 Tự chủ về trích lập và sử dụng các quỹ

Hàng năm sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và cáckhoản nộp NSNN khác (nếu có) theo quy định; phần chênh lệch thu lớn hơn chi,đơn vị được sử dụng để trích lập các quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; quỹ bổsung thu nhập; quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi Ngoài ra, đơn vị cũng đượctrích lập các quỹ khác theo quy định của pháp luật sao cho phù hợp với thực tế

Đối với Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Đơn vị tự bảo đảm chi

thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên: Trích tốithiểu 25% chênh lệch thu lớn hơn chi; đơn vị chưa tự bảo đảm một phần chithường xuyên trích tối thiểu 15%; đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thườngxuyên, nếu có kinh phí tiết kiệm chi và số tiết kiệm chi lớn hơn một lần quỹ tiềnlương thực hiện, thì trích tối thiểu 5%

Trang 27

Ngoài ra, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tựbảo đảm chi thường xuyên thực hiện trích khấu hao tài sản cố định theo quyđịnh Tiền trích khấu hao tài sản hình thành từ nguồn vốn ngân sách nhà nướchoặc có nguồn gốc từ ngân sách được hạch toán vào Quỹ phát triển hoạt động sựnghiệp.

Đối với Quỹ bổ sung thu nhập: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và

chi đầu tư được quyết định mức trích Quỹ bổ sung thu nhập (không khống chếmức trích); đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên trích tối đa không quá 3 lần quỹtiền lương; đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên trích tối đa không quá

2 lần quỹ tiền lương và đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên tríchtối đa không quá 01 lần quỹ tiền lương

Việc xác định mức trích Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 3 lần quỹtiền lương đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; trên cơ sở có so sánh vớimức trần lương của các doanh nghiệp nhà nước; đồng thời, cũng phù hợp vớithực tế chi trả thu nhập tăng thêm của các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay

Đối với Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi: Đơn vị tự bảo đảm chi thường

xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên: trích tối đa khôngquá 3 tháng tiền lương, tiền công trong năm của đơn vị; đơn vị tự bảo đảm mộtphần chi thường xuyên trích tối đa không quá 2 tháng tiền lương, tiền công vàđơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên trích tối đa không quá 01tháng tiền lương, tiền công

Về sử dụng các quỹ

Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: dùng để đầu tư xây dựng cơ sở vật

chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động

sự nghiệp; chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; đào tạo nâng cao

Trang 28

nghiệp vụ chuyên môn cho người lao động trong đơn vị; góp vốn liên doanh,liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (đối với đơn vị được giaovốn theo quy định) để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm

vụ được giao và các khoản chi khác (nếu có)

Quỹ bổ sung thu nhập: Dùng để chi bổ sung thu nhập cho người lao động

trong năm và dự phòng chi bổ sung thu nhập cho người lao động năm sau trongtrường hợp nguồn thu nhập bị giảm Việc chi bổ sung thu nhập cho người laođộng trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng

và hiệu quả công tác Hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị

sự nghiệp công tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thựchiện của người lao động trong đơn vị

Quỹ khen thưởng: dùng để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân

trong và ngoài đơn vị (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đuakhen thưởng) theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động củađơn vị Mức thưởng do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo Quy chế chi tiêu nội

bộ của đơn vị

Quỹ phúc lợi: Dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi; chi

cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khókhăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chithêm cho người lao động thực hiện tinh giản biên chế

Việc sử dụng các quỹ này do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo Quy chếchi tiêu nội bộ và phải công khai trong đơn vị

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính trong cơ

quan báo Đảng

1.3.1 Các chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước

Trang 29

Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô, chonên mọi đường lối chính sách của Nhà nước điều ảnh hưởng tới các cơ quanbáo Đảng nói riêng và các đơn vị sự nghiệp nói chung, bời vì:

- Nhà nước là người xây dựng hệ thống pháp luật, định hướng chocác đơn vị sự nghiệp phát triển, kiểm tra giám sát những việc gì được làmtrong khuôn khổ pháp luật

- Hệ thống chính sách và công cụ như chính sách tài chính, đầu tư,tiền lương, thu nhập, chi tiêu của nhà nước có tác động rất lớn đến cơ chếtài chính của các đơn vị Hệ thống chính sách này phải phù hợp với cơ chếthị trường, có tính cạnh tranh thì mới tăng cường sự chủ động cho các đơn

vị Nói cách khác cơ chế tự chủ tài chính mới phát huy tác dụng, góp phầnthúc đẩy các đơn vị phát triển

1.3.2 Năng lực quản lý của các cơ quan chủ quản

Là nhân tố thúc đẩy sự chuyển biến về hoạt động dịch vụ của các đơn

vị sự nghiệp Bởi vì: Nó vừa là cơ sở để hiện thực hóa, vừa là rào cản chomọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực sự nghiệp

Năng lực quản lý của cơ quan chủ quản gồm hai vấn đề cơ bản:

- Tổ chức bộ máy phải gọn nhẹ, linh hoạt, hiệu quả Có nghĩa là trong

cơ cấu tổ chức bộ máy cần làm việc theo một đầu mói (một cửa), phải loại

bỏ những bộ phận hành chính trung gian Ở bất kỳ cấp bậc nào đều phải xácđịnh rỏ trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức nhằm phát huy tính tráchnhiệm, sự đóng góp, sự sáng tạo của cá nhân và tập thể

Trang 30

- Tư duy quản lý phải theo nền kinh tế thị trường: Đảm bảo tính năngđộng, sáng tạo.

1.3.3 Nguồn nhân lực

Đội ngũ viên chức - người lao động là nhân tố then chốt tạo nên sựphát triển cho đơn vị Vì vậy các đơn vị cần có đủ số lượng, chất lượng độingũ nhân lực

Đội ngũ cán bộ quản lý, phục vụ thực hiện hoạt động dịch vụ có chấtlượng để đơn vị vận hành tốt Về số lượng đội ngũ này cần gọn nhẹ, nhưng

am hiểu nghiệp vụ quản lý, phục vụ công tác chuyên môn Trong đó độingũ làm công tác quản lý tài chính có ảnh hưởng trực tiếp, đội ngũ này cần

có khả năng xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính, huy động vốn,kiểm tra, giám sát thực hiện

Kết luận chương 1

Trong chương 1 của luận văn, tác giả đề cập đến khái quát chung về cơquan báo Đảng với các nội dung cơ bản: Khái niệm, chức năng, nhiệm vụ của cơquan báo Đảng; Bộ máy tổ chức của cơ quan báo Đảng; Mô hình tự chủ tài chínhtrong cơ quan báo Đảng Đặc biệt là các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài

chính trong cơ quan báo Đảng Với các sở lý luận trên làm cơ sở để tác giả luận

văn đi sâu phân tích thực trạng xây dựng mô hình tự chủ tài chính của cơ quanbáo Đảng tại Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ trong chương 2

Trang 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CƠ QUAN BÁO ĐẢNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI CƠ QUAN BÁO ĐẢNG: CÀ MAU,

SÓC TRĂNG VÀ CẦN THƠ

2.1 Tổng quan về cơ quan báo Đảng: Cà Mau, Sóc Trăng Và Cần Thơ

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của báo Cà Mau

Báo Cà Mau được hình thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Tiềnthân là tờ báo Chiến, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đấtnước 30/04/1975, sáp nhập 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu thành tỉnh Minh Hải Đếntháng 12/1996, sau khi có chủ trương chia tách 2 tỉnh Cà Mau- Bạc Liêu, từ đóbáo đổi tên lại thành Báo Cà Mau

Báo Cà Mau là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, tiếng nói của Đảng bộ,chính quyền và nhân dân tỉnh Cà Mau, Trong những năm qua, Báo Cà Maukhông ngừng phát triển, trở thành cầu nối thông tin giữa Đảng, chính quyền vớinhân dân địa phương Thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích của tờ báo Đảng địaphương, khẳng định được vị thế của mình trong công tác thông tin, tuyên truyền,góp phần đắc lực vào nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng– an ninh, xây dựng hệ thống chính trị của địa phương

Để đáp ứng với yêu cầu phát triển của báo chí trong xu thế mới, trongnhững năm qua Báo Cà Mau đã không ngừng đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng độingũ hoạt động báo chí, xuất bản vững vàng về chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ và

có năng lực chuyên môn đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ mới Bên cạnh đó, Báo

Trang 32

Cà Mau mạnh dạn đầu tư đổi mới mô hình, cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất – kỹthuật theo hướng hiện đại.

Ngày 13/12/2008, nhân ngày truyền thống cách mạng của Đảng bộ quân và dântỉnh Cà Mau, Báo Cà Mau chính thức ra mắt trang thông tin điện tửhttp://baocamau.com.vn nhằm mở rộng phạm vi thông tin, đáp ứng nhu cầuhưởng thụ thông tin trong tình hình mới Đến ngày 1/4/2016, từ trang thông tinđiện tử Báo Cà Mau được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép chính thứcnâng cấp lên tờ Báo điện tử Hình ảnh giao diện Báo Cà Mau điện tử

Báo Cà Mau điện tử là kênh thông tin đa chiều, cập nhật thông tin nhanh,nhiều vấn đề nóng xảy ra trong xã hội Đặc biệt là các bản tin Video trên Báo CàMau điện tử đã sản xuất 16 bản tin chuyên đề/tháng với nội dung phong phú, hấpdẫn cho công chúng Từ đó, lượng truy cập khá cao so với các báo điện tử trongkhu vực ĐBSCL, đến hiện tại Báo Cà Mau điện tử có trên 116 triệu lượt truycập Ngoài ra, Báo Cà Mau điện tử cho đăng phát các video clip, chuyển tải trênnền tảng fanpage, zalo, facebook, youtube để mở rộng, tương tác thông tinnhiều đối tượng công chúng

Năm 2019, Đảng uỷ Ban Biên tập báo Cà Mau tiếp tục củng cố, kiện toàn

về công tác tổ chức, cán bộ; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ,đảng viên và nhân viên; phát huy tinh thần đoàn kết nội bộ thực hiện theonguyên tắc tập trung dân chủ Từ đó, các hoạt động của tòa soạn ngày càng đivào nền nếp, phát huy hiệu lực hiệu quả Trong công tác tuyên truyền, thực hiệnnghiêm túc sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và sựphối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và các huyện, thành phố

Cà Mau Năm qua, báo Cà Mau đã chủ động đăng tải kịp thời các chủ trương,

Trang 33

đường lối, Nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, các sựkiện diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội đến với công chúng

Năm 2019, Báo Cà Mau phản ánh kịp thời, sâu rộng các sự kiện trọng đại, cácngày lễ lớn của đất nước và tỉnh Cà Mau; chủ động đưa tin kịp thời, sâu rộng cácchuyến thăm và làm việc tại tỉnh Cà Mau của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chínhphủ, bộ, ngành Trung ương; tập trung tuyên truyền những thành tựu trên các lĩnhvực xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội,giữ vững quốc phòng - an ninh Báo đã kịp thời mở các cao điểm tuyên truyềnđậm nét các sự kiện như: Tuần lễ Văn hóa Du lịch Mũi Cà Mau, chương trìnhquốc gia xây dựng nông thôn mới,…Trong công tác tuyên truyền chủ độnghướng mạnh về cơ sở, bám sát hơi thở cuộc sống và những vấn đề bức xúc liênquan đến đời sống dân sinh Đặc biệt trong công tác tuyên truyền năm qua báo

Cà Mau có nhiều cải tiến về nội dung, hình thức được công chúng đánh giá cao Báo Cà Mau luôn quan tâm tuyên truyền cổ vũ những điển hình tập thể, cá nhântiêu biểu trên các lĩnh vực như: phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thônmới, giảm nghèo bền vững, tuyên truyền về công tác cải cách hành chính, Thuế

và cuộc sống, ATGT, chính sách BHXH; tuyên truyền về việc học tập và làmtheo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh lan toả rộng khắp

2.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của báo Sóc Trăng

Báo Sóc Trăng là cơ quan ngôn luận, là tiếng nói của Đảng bộ, chínhquyền và nhân dân tỉnh Sóc Trăng Trong quá trình tổ chức hoạt động, Báo SócTrăng luôn quan tâm nâng cao chất lượng, nội dung, hình thức, đáp ứng yêu cầuthông tin thời sự, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và hoàn thành theotôn chỉ, mục đích của tờ báo Đảng địa phương

Trang 34

Được thành lập từ khi tái lập tỉnh (tháng 3/1992) đến nay, ban đầu chỉ có 1

kỳ báo (12 trang) ra hàng tuần vào thứ tư, sau đó phát hành 2 kỳ/tuần, từ tháng9/2009 đã tăng lên 3 kỳ/tuần và phát hành vào thứ hai, thứ tư, thứ sáu hàng tuần

Và đây cũng là thời điểm Báo Sóc Trăng đạt mức phát hành khá cao, với sốlượng trên 8.000 tờ/kỳ Tuy nhiên, số lượng phát hành ngày càng giảm dần trongnhững năm gần đây Ngày 3/2/2017, tòa soạn ra mắt ấn phẩm Báo Sóc Trăngđiện tử.

2.1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của báo Cần Thơ

Qua quá trình lịch sử hình thành và phát triển của báo cần thơ trải quanhiều giai đoạn, trải qua nhiều tờ báo tiền thân, gồm:

- Báo Lao động là tờ báo đầu tiên của Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên tỉnh Cần Thơ, ra đời vào năm 1928, chỉ 3 năm sau khi đồng chíNguyễn Ái Quốc xuất bản báo Thanh Niên , khởi xướng nền báo chí cách mạngnước ta Báo lao động do đồng chí Hà Huy Giáp phụ trách

-Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào ngày 3-2-1930,đồng chí Hà Huy Giáp được cử làm Bí thư Đặc ủy Hậu Giang Trong những năm1930-1936, Đặc ủy Hậu Giang xuất bản báo Cùng khổ

-Năm 1938, Đặc ủy Hậu Giang được chuyển thành Liên Tỉnh ủy HậuGiang Liên Tỉnh ủy Hậu Giang xuất bản tờ báo Tiến Lên do đồng chí QuảnTrọng Hoàng, Phó bí thư Liên Tỉnh ủy phụ trách Cũng trong năm 1938, Tỉnh ủylâm thời Cần Thơ được thành lập, đồng chí Quản Trọng Hoàng được cử làm Bíthư, kiêm phụ trách tờ báo Tiến Lên của liên Tỉnh ủy

-Đầu năm 1941, Tỉnh ủy lâm thời Cần Thơ xây dựng nhà in và cho ra tờbáo Tiến lên của tỉnh

-Tháng 3-1945, Đảng bộ Cần Thơ ra báo Dân Chúng

Trang 35

-Tháng 8-1945, báo Việt Minh- Tiếng nói của chính quyền cách mạng-được pháthành đến các cơ sở cách mạng và nhân dân trong tỉnh.

- Năm 1946, báo Giết giặc của tỉnh được phát hành trong vùng giải phóng

- Năm 1947, Mặt trận Liên Việt tỉnh Cần Thơ được thành lập Cùng với việc lưuhành báo Hiệp Nhất của Khu 9, Cần Thơ được phép xuất bản báo Hiệp Nhất cơ–cơquan của Đảng bộ và Mặt trận Liên Việt tỉnh, do đồng chí Đặng Văn Quang, Phó

bí thư Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo

-Cuối năm 1949, Tỉnh ủy, Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh quyết định hợpnhất tờ báo Hiệp Nhất với tờ tin Cần Thơ Quân Dân Chánh thành báo Cần ThơThông Tin Quân Dân Chánh, do đồng chí Trần Ngọc Diệp, Trưởng Ty Thông tinchủ biên, sau đó là đồng chí Bùi Văn Huệ và đồng chí Trần Văn Sao nối tiếp làmTrưởng Ty Thông tin phụ trách Báo Cần Thơ Thông Tin Quân Dân Chánh tồntại và phục vụ công cuộc kháng chiến kiến quốc của tỉnh cho đến ngày thắng lợicủa cuộc kháng chiến chống Pháp

- Cuối năm 1954, Tỉnh ủy phân công đồng chí Trần Văn Sao, Phó trưởngban Tuyên huấn Tỉnh ủy, cùng một số cán bộ thành lập Ban biên tập cho ra tờHòa Bình Thống Nhất Từ năm 1959, Mỹ-Diệm dùng Luật 10/59 đàn áp phongtrào cách mạng Để bảo toàn lực lượng, Tỉnh ủy chủ trương thu gọn báo HòaBình Thống Nhất, phân tán cán bộ, chỉ làm những tờ tin nhỏ và truyền đơn Đầunăm 1960, Tỉnh ủy tập hợp lực lượng báo chí cho ra lại tờ Hòa Bình Thống Nhấtxuân Canh Tý, do đồng chí Đỗ Thanh Sơn, Phó trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủytrực tiếp chủ biên

-Tháng 2-1960, theo tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, Tỉnh

ủy Cần Thơ quyết định đổi tên báo Hòa Bình Thống Nhất thành báo Tranh Đấu,

Ngày đăng: 08/08/2023, 16:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Kết quả thực hiện nguồn thu của cơ quan báo Đảng Cà Mau, giai đoạn 2018-2020 - Xây dựng mô hình tự chủ tài chính của cơ quan báo đảng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2.1. Kết quả thực hiện nguồn thu của cơ quan báo Đảng Cà Mau, giai đoạn 2018-2020 (Trang 43)
Bảng 2.5. Kết quả công tác chi của cơ quan báo Đảng Sóc Trăng giai đoạn 2018-2020 - Xây dựng mô hình tự chủ tài chính của cơ quan báo đảng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2.5. Kết quả công tác chi của cơ quan báo Đảng Sóc Trăng giai đoạn 2018-2020 (Trang 48)
Bảng 2.6. Kết quả công tác chi của cơ quan báo Đảng Cần Thơ giai đoạn 2018-2020 - Xây dựng mô hình tự chủ tài chính của cơ quan báo đảng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2.6. Kết quả công tác chi của cơ quan báo Đảng Cần Thơ giai đoạn 2018-2020 (Trang 49)
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát xây dựng mô hình tự chủ tài chính của cơ quan báo Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ - Xây dựng mô hình tự chủ tài chính của cơ quan báo đảng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát xây dựng mô hình tự chủ tài chính của cơ quan báo Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ (Trang 51)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w