1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở việt nam

121 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Diệu
Người hướng dẫn TS. Trần Ngọc Thiện Thủy
Trường học Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Trường Đại Học Ngân Hàng TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài khoá luận tốt nghiệp “ Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu ri

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH DIỆU

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP

MÔ HÌNH DOANH NGHIỆP XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN Ở VIỆT NAM

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 7 34 01 01

Trang 2

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ THANH DIỆU MSSV: 050607190080

Lớp sinh hoạt: HQ7 – GE13

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP

MÔ HÌNH DOANH NGHIỆP XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN Ở VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 7 34 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN NGỌC THIỆN THY

Trang 4

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023

Trang 5

a questionnaire The methods used in the study include: descriptive statistics, Cronbach's Alpha, EFA factor analysis, regression model analysis and testing the difference between groups The results show that there are 4 groups of factors affecting students' intention to start a social enterprise model in Vietnam, respectively: (1) Subjective standards, (2) Perceived feasibility, (3) Education of social entrepreneurship, (4) Moral obligations In addition, the study also tested the intention to start a social enterprise model of students in Vietnam through characteristics such as: gender, school year, place of living and working

Keywords: Intent to start a business, Students, Social Enterprise, Social

Entrepreneurship Intention

Trang 6

TÓM TẮT

Khởi nghiệp luôn có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển kinh tế của một quốc gia Sự gia tăng các doanh nghiệp mới là một trong những động lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm (Davidsson, 1995) Bài nghiên cứu này được thực hiện trong phạm vi ở Việt Nam, một thị trường được đánh giá là tiềm năng và đã có sự phát triển mạnh về khởi nghiệp trong nhiều năm liền, tuy nhiên, trong số đó, tỷ lệ khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội là rất thấp Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 254 sinh viên có ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội thông qua khảo sát trực tuyến bằng bảng câu hỏi Các phương pháp được sử dụng trong đề tài bao gồm: phương pháp thống kê mô tả, Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố EFA, phân tích mô hình hồi quy và kiểm định

sự khác biệt giữa các nhóm Kết quả cho thấy có 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam, lần lượt là: (1) Chuẩn chủ quan, (2) Nhận thức tính khả thi, (3) Giáo dục khởi nghiệp xã hội, (4) Nghĩa vụ đạo đức Ngoài ra, nghiên cứu còn kiểm định ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam qua các đặc điểm như là: giới tính, năm học, nơi sinh sống và làm việc

Từ khóa: Ý định khởi nghiệp, Sinh viên, Doanh nghiệp xã hội, Ý định khởi nghiệp

xã hội

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài khoá luận tốt nghiệp “ Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam” là công

trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không

có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong khóa luận

Nhân đây, tác giả xin cảm ơn quý thầy cô khoa Quản trị Kinh doanh trường Đại học Ngân hàng TP.HCM đã hết lòng truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Trần Ngọc Thiện Thy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tác giả có thể hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này tốt nhất

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bạn bè, luôn ủng hộ và động viên Cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các bạn sinh viên đã tham gia khảo sát

để giúp tác giả hoàn thành tốt bài khóa luận này

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2023

Tác giả khoá luận

Trang 8

MỤC LỤC

ASTRACT i

TÓM TẮT ii

LỜI CAM ĐOAN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG x

DANH MỤC CÁC HÌNH xii

CHƯƠNG I 1

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng và khách thể của nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu 5

1.6.1 Ý nghĩa về mặt học thuật 5

1.6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 5

Tóm tắt chương I 6

Trang 9

CHƯƠNG II 7

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1 Các khái niệm 7

2.1.1 Khởi nghiệp 7

2.1.2 Ý định khởi nghiệp 7

2.1.3 Doanh nghiệp xã hội 8

2.1.4 Sinh viên 9

2.2 Mô hình lý thuyết của khóa luận 10

2.2.1 Lược khảo các nghiên cứu trước 10

2.2.2 Nền tảng lý thuyết của nghiên cứu 11

2.2.3 Đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu 13

Tóm tắt chương II 19

CHƯƠNG III 20

PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 20

3.1 Quy trình nghiên cứu 20

3.1.1 Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ 21

3.1.2 Giai đoạn nghiên cứu chính thức 22

3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 22

3.2.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu 22

3.2.2 Đối tượng nghiên cứu 22

3.2.3 Phương pháp chọn mẫu 23

3.2.4 Xây dựng thang đo, bảng khảo sát 23

3.2.5 Cách thức thu thập dữ liệu 30

3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu 30

Trang 10

3.3.1 Phương pháp thống kê mô tả 30

3.3.2 Phương pháp kiểm định độ tin cậy – Cronbach’s Alpha 30

3.3.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 31

3.3.4 Phân tích hồi quy đa biến 32

Tóm tắt chương III 36

CHƯƠNG IV 37

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ 37

4.1 Thống kê mô tả 37

4.1.1 Thống kê mô tả biến định tính 37

4.1.2 Thống kê mô tả biến định lượng 38

4.2 Kiểm định độ tin cậy thang đo – Cronbach’s Alpha 39

4.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo Chuẩn chủ quan 39

4.2.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo Nhận thức tính khả thi 40

4.2.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo Giáo dục khởi nghiệp xã hội 41

4.2.4 Kiểm định độ tin cậy của thang đo Nghĩa vụ đạo đức 42

4.2.5 Kiểm định độ tin cậy của thang đo Ý định khởi nghiệp xã hội 43

4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 44

4.3.1 Phân tích nhân tố khám phá với biến độc lập 44

4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá với biến phụ thuộc 48

4.4 Phân tích tương quan, hồi quy 49

4.4.1 Phân tích tương quan Pearson 49

4.4.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 51

4.4.3 Kiểm tra sự vi phạm các giả định của mô hình 52

Trang 11

4.5 Kiểm định sự khác biệt trung bình giữa các biến kiểm soát với ý định khởi

nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam 58

4.5.1 Kiểm định khác biệt trung bình theo giới tính 58

4.5.2 Kiểm định khác biệt theo số năm học của sinh viên 59

4.5.3 Kiểm định khác biệt theo nơi sống và học tập 60

4.6 Giải thích kết quả nghiên cứu 61

Tóm tắt chương IV 63

CHƯƠNG V 64

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64

5.1 Kết luận Error! Bookmark not defined. 5.2 Thảo luận về kết quả nghiên cứu 64

5.2.1 Ý nghĩa về mặt lý thuyết 65

5.2.2 Hàm ý về mặt thực tiễn đối với quản trị 65

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 68

Tóm tắt chương V 69

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH 76

PHỤ LỤC 88

PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 88

PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ CHẠY SPSS 94

Trang 12

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Sciences (Phần mềm xử lý thống kê dùng trong các ngành khoa học xã hội)

nhân tố khám phá)

sai)

tích hợp của phân tích nhân tốt)

nhỏ nhất)

thuyết hành vi có kế hoạch)

kiện khởi nghiệp)

số kinh doanh toàn cầu)

Trang 14

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3 1 Thang đo nháp 24

Bảng 3 2 Thang đo chính thức 28

Bảng 4 1 Thống kê mô tả biến định tính 37

Bảng 4 2 Thống kê mô tả biến định lượng 38

Bảng 4 3 Kết quả kiểm định Cronbach's Alpha Chuẩn chủ quan 40

Bảng 4 4 Kết quả kiểm định Cronbach's Alpha Nhận thức tính khả thi (1) 40

Bảng 4 5 Kết quả kiểm định Cronbach's Alpha Nhận thức tính khả thi (2) 41

Bảng 4 6 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha Giáo dục khởi nghiệp xã hội 42

Bảng 4 7 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha Nghĩa vụ đạo đức 42

Bảng 4 8 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha Ý định khởi nghiệp xã hội (1) 43

Bảng 4 9 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha Ý định khởi nghiệp xã hội (2) 43

Bảng 4 10 KMO and Bartlett's Test (1) 44

Bảng 4 11 Hệ số Eigenvalues và tổng % giải thích (1) 45

Bảng 4 12 Bảng Xoay nhân tố (1) 45

Bảng 4 13 KMO and Bartlett's Test (2) 46

Bảng 4 14 Hệ số Eigenvalues và tổng % giải thích (2) 47

Bảng 4 15 Bảng Xoay nhân tố (2) 47

Bảng 4 16 Bảng tổng hợp kiểm định biến Ý định khởi nghiệp xã hội 48

Bảng 4 17 Kết quả phân tích tương quan Pearson giữa các biến 50

Bảng 4 18 Hệ số xác định mô hình 51

Bảng 4 19 Kết quả kiểm định ANOVA 51

Bảng 4 20 Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến 54

Bảng 4 21 Hệ số hồi quy giữa các biến 54

Bảng 4 22 Tóm tắt kiểm định các Giả thuyết nghiên cứu 55

Bảng 4 23 Thống kê mô tả theo giới tính 58

Bảng 4 24 Kiểm định T-Test mẫu độc lập với giới tính 58

Bảng 4 25 Sự khác biệt về ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam theo số năm học 59

Trang 15

Bảng 4 26 Sự khác biệt về ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam theo nơi sống và học tập 60

Trang 16

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2 1 Mô hình đề xuất của nghiên cứu 18

Hình 3 1 Mô hình đề xuất của nghiên cứu 21

Hình 4 1 Biểu đồ Histogram 52

Hình 4 2 Biểu đồ phân tán Scatter Plot 53

Hình 4 3 Mô hình kết quả nghiên cứu 57

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trong Chương 1, tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, đồng thời trình bày lý do nghiên cứu và mục tiêu mà đề tài hướng đến, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và ý nghĩa của nghiên cứu

1.1 Lý do chọn đề tài

Tinh thần khởi nghiệp là một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế và giải quyết tình trạng việc làm cho nhân dân lao động đặc biệt là sinh viên khi ra trường

Trên thực tế đó, tinh thần khởi nghiệp từ trước đến nay luôn được coi là một trong những chiến lược hiệu quả nhất để kinh tế của một quốc gia đạt được sự thịnh vượng và duy trì khả năng cạnh tranh khi đối mặt với toàn cầu hóa (Keat, Selvarajah

& Meyer, 2011) Cũng vì thế, điều này đã khiến khởi nghiệp trở thành một trong những đề tài được nghiên cứu phổ biến nhất trong giới học thuật (Lee, Chang & Lim, 2005) Trong số các nhóm doanh nhân tiềm năng, sinh viên đóng vai trò nòng cốt vì họ sẽ vừa trở thành các doanh nhân và vừa tạo ra nhiều cơ hội việc làm trong tương lai, đặc biệt là đối với các ngành công nghệ cao ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam (Rasli và cộng sự, 2013) Họ là những người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết,

có mục tiêu, có sự nhạy bén với kinh doanh và khả năng nắm bắt, vận dụng kiến thức vào các công nghệ mới Tuổi trẻ đem lại cho họ lòng dũng cảm xông pha và hoài bão khẳng định bản thân hơn những tiền bối đi trước

Việt Nam là một thị trường được đánh giá là tiềm năng và đã có sự phát triển mạnh về khởi nghiệp trong nhiều năm liền Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ 2016 –

2019, mỗi năm Việt Nam có trên 126.000 doanh nghiệp mới thành lập, tuy nhiên, theo báo cáo Chỉ số kinh doanh toàn GEM (2015), Việt Nam có rất ít người trưởng thành bắt đầu tham gia vào khởi nghiệp liên quan đến các hoạt động xã hội, trong đó

tỷ lệ khởi nghiệp chuyên về doanh nghiệp xã hội chỉ đạt 0,45% Vậy đâu là lí do khiến cho khởi nghiệp xã hội chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam?

Trang 18

Nhận thấy sự mâu thuẫn nêu trên, tác giả thấy được tính cấp thiết của đề tài này khi nó góp phần giải quyết những lỗ hổng của vấn đề trên bằng cách kiểm tra định lượng những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định thành lập doanh nghiệp xã hội

mà các sinh viên ở Việt Nam lựa chọn cho dự án kinh doanh trong tương lai của họ

Từ đó, câu hỏi đặt ra ở đây là liệu rằng Nhà nước, gia đình, nhà trường và xã hội cần làm gì để khuyến khích đẩy mạnh tinh thần khởi nghiệp xã hội ở sinh viên? Xuất phát từ câu hỏi này, tác giả nhận thấy nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội của sinh viên là vấn đề rất cần thiết Từ đó bài nghiên cứu này cũng đề xuất các hàm ý về mặt quản trị nhằm đẩy mạnh tinh thần khởi nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp

xã hội của sinh viên ở Việt Nam

Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đó đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam

Đề xuất một số kiến nghị để có thể đẩy mạnh tinh thần khởi nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau:

Các yếu tố nào tác động đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam?

Mức độ mà các yếu tố đó tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở Việt Nam?

Trang 19

Các đề xuất, phương án nào đóng góp vào việc nâng cao ý định khởi nghiệp

xã hội của sinh viên ở Việt Nam?

1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tƣợng và khách thể của nghiên cứu

Ngày nay, các chương trình về "khởi nghiệp" đang được hưởng ứng rất tích cực và có số lượng nhiều các bạn trẻ tham gia, ở Việt Nam thì phải nhắc đến

"Thương vụ bạc tỷ" - chương trình về kêu gọi vốn cho "start-up" đã và đang được hưởng ứng tích cực bởi các bạn trẻ nói chung, đặc biệt là đối tượng sinh viên (SV)

Từ đó, có thể cho thấy đa số các ý tưởng khởi nghiệp phần lớn đều chủ yếu được hình thành thông qua các bạn trẻ có niềm say mê sáng tạo và làm giàu, đặc biệt là các bạn SV đang vừa ra trường hay còn đang đi học Họ là những người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết, có mục tiêu, có sự nhạy bén trong kinh doanh và có thể nắm bắt tốt, vận dụng được những kiến thức vào các nền tảng công nghệ mới Tuổi trẻ đem lại cho họ

sự nhiệt huyết, sự sẵn sàng để xông pha và mong muốn khẳng định bản thân hơn những người đi trước Thêm vào đó, SV là thế hệ "tương lai" của mỗi quốc gia, việc

họ nhận thức sự trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với xã hội, cộng đồng là rất quan trọng

Do vậy ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của SV ở Việt Nam

là đối tượng mà tác giả quyết định lựa chọn để hướng đến trong bài nghiên cứu này,

và khách thể của nghiên cứu là sinh viên

Bài khóa luận này tập trung nghiên cứu đối tượng SV ở bậc đại học, cao đẳng

và trung cấp trong độ tuổi từ 18-23 hiện đang theo đuổi bằng cử nhân hoặc tương đương, do chương trình học của đa số các ngành được đào tạo tại Việt Nam trung bình kéo dài từ 2 – 4 năm (ngoại trừ các ngành đặc thù khác như ngành y, ngành dược… có thể kéo dài đến 5, 6 năm)

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Bài nghiên cứu này được thực hiện trong phạm vi ở Việt Nam, đây là một thị trường được đánh giá là tiềm năng và đã có sự phát triển mạnh về khởi nghiệp trong nhiều năm liền Theo Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư),

Trang 20

trong giai đoạn 2016 – 2019, mỗi năm Việt Nam có trên 126.000 doanh nghiệp thành lập mới, tăng gấp 1,6 lần so với giai đoạn 2011- 2015 (từ giai đoạn 2019 đến 2021 -

tỉ lệ khởi nghiệp giảm nhẹ do ảnh hưởng của đại dịch covid-19)

Tuy nhiên, theo báo cáo được cập nhật từ Chỉ số kinh doanh toàn cầu (Global Entrepreneurship Monitor – GEM), ở Việt Nam có rất ít người trưởng thành bắt đầu tham gia vào khởi nghiệp liên quan đến các hoạt động xã hội, trong đó tỷ lệ khởi nghiệp chuyên trong lĩnh vực doanh nghiệp xã hội chỉ đạt 0,45% (2015)

Do đó, tác giả tin rằng nghiên cứu này sẽ đóng góp vào những bài nghiên cứu sau này về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của SV tại nhiều khu vực khác nhau trên đất nước Việt Nam, với cái nhìn tổng quan hơn

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào mục tiêu của nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu (PPNC) định lượng, thực hiện khảo sát trên đối tượng là sinh viên ở Việt Nam

PPNC định lượng trong bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu sơ cấp được thực hiện thông qua 2 bước là phỏng vấn sơ bộ và nghiên cứu chính thức Bước đầu tiên

là phỏng vấn sơ bộ thông qua cuộc thảo luận nhóm với mẫu nghiên cứu là n = 5 gồm

5 SV: 3 nam, 2 nữ, toàn bộ là SV ngành Quản trị kinh doanh, khóa 7, Đại học Ngân hàng TP.HCM với mục đích là để đánh giá các thuật ngữ được sử dụng trong thang

đo và thực hiện hiện điều chỉnh thang đo phù hợp trước khi thực hiện khảo sát Bước thứ hai là nghiên cứu định lượng chính thức cùng với hỗ trợ từ phần mềm IBM SPSS nhằm kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua Cronbach's Alpha và mối tương quan giữa biến đang xét và tổng các biến còn lại trong thang đo Giá trị tương quan mục, tổng phải lớn hơn 0,3; Giá trị Cronbach's Alpha từ 0,6 trở lên

Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 Dữ liệu được phân tích chủ yếu bằng cách sử dụng thống kê mô tả và suy luận Thống kê mô

tả gồm có giá trị trung bình và độ lệch chuẩn Các kỹ thuật thống kê suy diễn như hệ

số tương quan và hệ số hồi quy được dùng cho việc rút ra mối quan hệ nhân quả giữa

Trang 21

các yếu tố quyết định và ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam Dữ liệu được trình bày bằng cách sử dụng đồ thị, biểu đồ và bảng

1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu

1.6.1 Ý nghĩa về mặt học thuật

Nghiên cứu này góp phần làm rõ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của doanh nhân nói chung và SV ở Việt Nam nói riêng Một trong số những vấn đề đáng quan tâm của nền kinh tế Các yếu tố được xác định trong mô hình có thể được các cơ quan Chính phủ, Nhà trường,

xã hội và phụ huynh sử dụng sao cho phù hợp với bối cảnh xã hội hiện nay Bên cạnh đó, kết quả tìm được từ bài nghiên cứu này cũng là cơ sở tài liệu để cho các công trình nghiên cứu tiếp theo trong tương lai tham khảo khi tiếp tục nghiên cứu về

ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên

1.6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Kết quả của bài nghiên cứu này góp phần giúp cho Nhà trường và những nhà hoạch định chính sách đánh giá được sự tác động của các yếu tố trong mô hình đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên Hơn thế nữa, đề tài còn giúp Nhà trường có thêm góc nhìn về ý định khởi nghiệp xã hội hiện nay, nhất là đối với SV từ đó có thể điều chỉnh chương trình giảng dạy cho phù hợp và cùng với nhà hoạch định chính sách có những kế hoạch giúp đỡ, hỗ trợ cho SV khi họ có ý định khởi nghiệp nói chung và ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội nói riêng

Trang 22

Tóm tắt chương 1

Trong chương I, tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, đồng thời trình bày lý do nghiên cứu và mục tiêu mà đề tài hướng đến, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài sử dụng PPNC định lượng, đồng thời Chương 1 cũng nêu lên ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Trang 23

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT CỦA NGHIÊN CỨU

Trong Chương 2, tác giả trình bày về cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu gồm có nội dung về các khái niệm, đưa ra giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

2.1 Các khái niệm

2.1.1 Khởi nghiệp

Các quan điểm về khởi nghiệp luôn được thay đổi và không có định nghĩa nào

về khởi nghiệp là duy nhất Theo MacMillan (1993), "Khởi nghiệp là việc cá nhân chấp nhận mọi rủi ro để tạo lập doanh nghiệp mới hoặc mở cửa hàng kinh doanh vì mục đích lợi nhuận và làm giàu" Theo Hisrich và Drovensek (2002), "Khởi nghiệp

là quá trình tạo ra một cái gì đó mới mẻ, có giá trị bằng cách dành thời gian và nỗ lực cần thiết để đạt được sự độc lập về tiền tệ, trong đó có những rủi ro về tài chính, tâm linh và xã hội kèm theo" Theo Nga và Shamuganathan (2010), "Khởi nghiệp là sự theo đuổi các cơ hội làm giàu về mặt kinh tế thông qua các sáng kiến hay các ý tưởng mới của cá nhân trong môi trường hoạt động không chắc chắn với các nguồn lực hữu hình giới hạn" Trong nghiên cứu này, định nghĩa khởi nghiệp sẽ được hiểu theo Koe, Sa’ari, Majid và Ismail (2012), "Khởi nghiệp là sự thành lập một công việc kinh doanh mới hay tạo dựng một doanh nghiệp mới thông qua những ý tưởng kinh doanh sáng tạo, nhận diện được cơ hội và nắm bắt, tận dụng được chúng để đạt được sự hài lòng trong việc kinh doanh của chính mình" Quan điểm này dễ hiểu và

có sự tương đồng với các quan điểm về khởi nghiệp trước đó

Theo Willis (2011), "Tạo việc làm, phát triển kinh tế và giảm nghèo thường là những lợi ích chính trong khởi nghiệp" Do đó, để đảm bảo nguồn doanh nhân mới liên tục cho nền kinh tế, các học giả và nhà hoạch định chính sách cần nhận thức được ý định kinh doanh của các doanh nhân tiềm năng cũng như các yếu tố khuyến khích tinh thần kinh doanh của họ

2.1.2 Ý định khởi nghiệp

Ý định khởi nghiệp (YDKN) được định nghĩa là kế hoạch hoặc mong muốn thành lập doanh nghiệp hay hoạt động kinh doanh mới (Krueger và cộng sự 2000a,

Trang 24

Krueger và cộng sự, 2000b) hoặc thành lập một tổ chức (Popescu và cộng sự, 2016 )

Ý định và quyết định khởi nghiệp có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau (Kautonen và cộng sự, 2015; Esfandiar và cộng sự, 2019; Neneh, 2019) Cụ thể hơn, ý định khởi nghiệp là bước đầu tiên và rất quan trọng của toàn bộ quá trình thực hiện quyết định khởi nghiệp

2.1.3 Doanh nghiệp xã hội

2.1.3.1 Định nghĩa

Định nghĩa phổ biến nhất về doanh nghiệp xã hội theo Dees (2007) là "DNXH tập trung chủ yếu vào sứ mệnh xã hội của mình trong khi việc tạo ra của cải không phải là mục tiêu chính, vì nó chỉ được coi là phương tiện hoặc công cụ để hoàn thành

sứ mệnh xã hội" Các DNXH có những khả năng đặc biệt trong việc nhận ra các vấn

đề xã hội phức tạp và giải quyết vấn đề đó theo một cách mới giúp nâng cao nhận thức của công chúng về vấn đề thông qua tầm nhìn, công việc và hoạt động của họ

Họ tìm kiếm những cơ hội mới và tạo ra tác động tích cực bằng cách sử dụng các phương pháp lãnh đạo và quản lý (Dees, 2009) Các DNXH hướng tới việc thu được lợi nhuận đồng thời tạo ra sự thay đổi bằng cách cung cấp giá trị cho cộng đồng (Ashoka, 2014; Dees, 1998; Johnson, 2000; Johnson, 2001)

DNXH được thành lập và hoạt động không phải chỉ vì mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận mà được thành lập vì mục tiêu chính là để giải quyết một/các vấn đề xã hội nhất định mà doanh nghiệp này theo đuổi, bên cạnh mục tiêu kinh tế

Phần lớn lợi nhuận thu được của doanh nghiệp dùng để phục vụ mục tiêu xã hội như giải quyết việc làm cho người tàn tật, người gặp hoàn cảnh khó khăn, người lao động thất nghiệp hay giải quyết các vấn đề môi trường, tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm của người nông dân v.v , ngoài ra, DNXH có thể cung cấp các dịch vụ phục

vụ cộng đồng như: giáo dục, văn hóa, môi trường, đào tạo nghề, v.v

Bygrave và Minniti (2000) nhận thấy rằng "Mọi hoạt động kinh doanh đều có chức năng xã hội"; tuy nhiên, DNXH khác với tinh thần kinh doanh truyền thống ở

sứ mệnh chính là tạo ra giá trị xã hội hơn là tạo ra lợi ích kinh tế tư nhân (Bedi và

Trang 25

Yadav 2019; Pless, 2012; Santos, 2012; Mair và cộng sự, 2012) Schramm (2010) cho rằng không thể dễ dàng tách rời giá trị kinh tế do kinh doanh tạo ra khỏi lợi ích

xã hội, vì các hoạt động xã hội và thương mại kết hợp và trở nên gắn bó với nhau Hơn nữa, như được định nghĩa trong hệ thống lớn hơn, ý định kinh doanh, cơ hội và hoạt động từ thiện tạo ra một chu kỳ bền vững cho sự phát triển xã hội cũng như kinh tế, chính trị

Tóm lại, YDKN mô hình DNXH (YDKN xã hội) theo Mair, Robinson, và Hockerts (2006) "là sự mong muốn thành lập một doanh nghiệp xã hội (Mair và

Noboa 2006) và được coi là một trạng thái tâm lý khuyến khích một cá nhân cảm thấy tự tin, muốn tiếp thu kiến thức, khơi dậy những ý tưởng mới và các kế hoạch kinh doanh xã hội để cuối cùng trở thành một doanh nhân xã hội"

2.1.3.2 Vai trò của doanh nghiệp xã hội

Đóng góp của DNXH tập trung vào ba lĩnh vực Thứ nhất, các sản phẩm và dịch vụ của DNXH mang tính sáng tạo có khả năng đáp ứng nhu cầu của cộng đồng

có hoàn cảnh đặc biệt, như người khuyết tật hay những người mắc các bệnh hiểm nghèo như HIV/AIDS Thứ hai, DNXH thúc đẩy tích cực việc hòa nhập xã hội cho các cá nhân và cộng đồng yếu thế thông qua các chương trình đào tạo phù hợp, tạo

cơ hội việc làm Cuối cùng, DNXH cũng đóng góp một phần trong việc tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề xã hội chưa được đầu tư rộng rãi, bao gồm biến đổi khí hậu,

sử dụng năng lượng thay thế và tái chế…

Điểm khác biệt của DNXH đối với các doanh nghiệp khác là ở chỗ mục tiêu thành lập chính của DNXH là để giải quyết các vấn đề tồn tại của xã hội như ô nhiễm môi trường, bảo vệ trẻ em, đói nghèo, …

2.1.4 Sinh viên

Theo "Từ điển Tiếng Việt" (Hoàng Long chủ biên), sinh viên được hiểu là

"Người học ở bậc đại học, cao đẳng, trung cấp" Sinh viên là tầng lớp quan trọng trong mỗi chính thể, là đội ngũ chuyển tiếp, chuẩn bị cho nguồn lực lao động xã hội

có trình độ cao của đất nước

Trang 26

Sinh viên trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác là "tổng hòa của các quan hệ xã hội" Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng: Tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 23 dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa thích các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn

2.2 Mô hình lý thuyết của khóa luận

2.2.1 Lược khảo các nghiên cứu trước

Tác giả tiến hành lược khảo các nghiên cứu trước của nhiều tác giả ở nhiều nước trên thế giới và được trình bày ở phần "Danh mục công trình khoa học liên quan đã công bố"

Trong số các yếu tố được thể hiện ở bảng lược khảo trên, có thể thấy có nhiều yếu tố có tác động đến YDKN nói chung và YDKH xã hội nói riêng của sinh viên Trong đó, tác giả nhận thấy có 2 yếu tố nhận được nhiều sự đồng thuận nhất từ nhiều nghiên cứu trước là yếu tố Chuẩn chủ quan và Nhận thức tính khả thi, 2 yếu tố trên

có ảnh hưởng đáng kể đến ý định khởi nghiệp của sinh viên (Tan và cộng sự 2020; Solesvík và cộng sự 2014; Zhang và cộng sự 2014)

Một yếu tố quan trọng khác có tác động mạnh mẽ YDKN xã hội của SV là Nghĩa vụ đạo đức đối (Tiwari và cộng sự 2017), hầu hết các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp xã hội đều có sự tác động của yếu tố này (Hockerts, K và cộng sự 2018; Gupta, P và cộng sự 2020) Sinh viên ngày nay có mong muốn tìm ra giải pháp cho các vấn đề xã hội và ảnh hưởng đến sự thay đổi tích cực, hoặc tác động xã hội, thông qua các dự án kinh doanh của họ Việc nhận thức nghĩa vụ đạo đức đã được Kaiser

và Rivis (2006), Sheeran và Armitage (2009) phát hiện đóng vai trò là yếu tố quan trọng quyết định đến ý định Nhận thức cho rằng các chuẩn mực xã hội ngụ ý nghĩa

vụ đạo đức phải giúp đỡ những người bị thiệt thòi có liên quan tích cực đến ý định kinh doanh xã hội Điều này sẽ tiếp tục thúc đẩy SV hướng tới tinh thần kinh doanh

xã hội, giúp cải thiện tinh thần kinh doanh và dẫn đến thành công trong kinh doanh

Trang 27

Ngoài ra, YDKN còn chịu sự tác động của yếu tố bên ngoài là Giáo dục khởi nghiệp xã hội (GDKNXH), đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến YDKN mô hình DNXH của SV (Hockerts và cộng sự 2018; Nguyễn và cộng sự 2019; Howorth, C

và cộng sự 2012; Wang, Y và cộng sự 2020) Tác động của GDKNXH đối với ý định khởi nghiệp xã hội của SV đã được nghiên cứu nhiều trên khắp thế giới, tuy nhiên yếu tố này vẫn chưa được nghiên cứu phổ biến ở Việt Nam Đối với yếu tố GDKNXH ở trường học, theo Arenius và Minniti (2005), các cá nhân được đào tạo bài bản sẽ có nhiều khả năng để theo đuổi các cơ hội kinh doanh Từ các chương trình đào tạo, các hoạt động giáo dục tại trường học, có tác động tích cực tới khả năng khởi nghiệp xã hội của sinh viên Trong môi trường này, SV được thỏa sức sáng tạo, đưa ra các ý tưởng khởi nghiệp xã hội và thực hiện các ý tưởng đó mà không ngại rủi ro, thất bại Những gì họ tiếp nhận được trong quá trình học tập tại trường có tác động lớn tới việc hình thành nhận thức, quan điểm sống của họ sau này

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mô hình DNXH là một đề tài mới và đã được nghiên cứu khá nhiều, trong đó các yếu tố Chuẩn chủ quan, Nhận thức tính khả thi, Giáo dục khởi nghiệp xã hội và Nghĩa vụ đạo đức hầu hết đều đạt được sự đồng thuận rằng chúng có tác động tích cực đến YDKN xã hội của SV, nhưng chưa có nghiên cứu nào tích hợp cả 04 yếu tố này trong cùng 1 nghiên cứu để xem xét sự ảnh hưởng của chúng đến YDKN của sinh viên Vì thế đây có thể coi là khoảng trống nghiên cứu để tác giả có thể dựa vào làm rõ vấn đề về các nhân tố ảnh hưởng đến YDKN mô hình DNXH của sinh viên ở Việt Nam

Do đó, tác giả lựa chọn 04 yếu tố trên để tiến hành thực hiện bài nghiên cứu này

2.2.2 Nền tảng lý thuyết của nghiên cứu

Hai mô hình ý định kinh doanh thường được sử dụng là mô hình lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (SEE) của Shapero & Sokol (1982) và mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Azjen Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) của Azjen (1987, 1991) cho rằng "Ý định khởi nghiệp chịu tác động ba yếu tố: thái độ của chủ thể đối

Trang 28

với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi" Khoảng 3 năm sau,

mô hình ý định kinh doanh của Boyd và Vozikis (1994), một phần mở rộng của mô hình Bird (1988), lập luận rằng "Chính trị, môi trường kinh tế, khả năng và đặc điểm tính cách có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ của một người về việc thành lập doanh nghiệp, do đó tạo ra ý định kinh doanh" Mô hình TPB, đã trở thành lý thuyết nền tảng của nhiều nghiên cứu về YDKN, được các học giả trên toàn thế giới áp dụng rộng rãi với những sửa đổi nhỏ khác nhau (Krueger và cộng sự, 2000a, Krueger và cộng sự, 2000b; Liñán và Chen, 2009; Urbano và cộng sự, 2017; Maresch và cộng

sự, 2016; Esfadinar và cộng sự, 2019; Nguyễn và cộng sự, 2019) Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (SEE) đề xuất rằng quyết định bắt đầu sự nghiệp bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố xã hội bao gồm cả việc tiếp xúc với các trải nghiệm giáo dục (Dyer, 1994) Các chương trình GDKNXH cung cấp các trải nghiệm xã hội, chẳng hạn như cơ hội thực hiện các trách nhiệm quan trọng, bắt đầu công việc kinh doanh của riêng mình

và quan sát các hình mẫu Những trải nghiệm này có thể ảnh hưởng đến mong muốn theo đuổi sự nghiệp phù hợp với kinh nghiệm học tập của một người (Kram, 1983; Shapero & Sokol, 1982) Do đó, kinh nghiệm giáo dục khởi nghiệp có thể được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng đến YDKN Mô hình của Mair và Noboa (2006) đã đề xuất mô hình ý định khởi nghiệp xã hội dựa trên TPB ban đầu (Ajzen, 1991) và SEE (Shapero & Sokol, 1982), họ lập luận rằng "ý định khởi nghiệp xã hội được hình thành bởi mong muốn nhận thức tính khả thi"

Từ các lý thuyết nền nêu trên, tác giả quyết định đề xuất mô hình có kế thừa

04 biến độc lập như sau: Chuẩn chủ quan, Nhận thức tính khả thi, Giáo dục khởi nghiệp xã hội và Nghĩa vụ đạo đức Trong đó, 2 yếu tố Chuẩn chủ quan và Nhận thức tính khả thi có tác động đến YDKN xã hội dựa vào Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB); 2 yếu tố Giáo dục khởi nghiệp xã hội và Nghĩa vụ đạo đức có tác động đến YDKN xã hội dựa vào Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (SEE) Lý do tác giả lựa chọn tích hợp 2 mô hình là vì ở TPB có 2 yếu tố là Chuẩn chủ quan và Nhận thức tính khả thi là 2 yếu tố bên trong và có tác động đến YDKN của con người, còn trong khi đó ở SEE có 2 yếu tố Giáo dục khởi nghiệp xã hội và Nghĩa vụ đạo đức là

Trang 29

2 yếu tố tác động từ bên ngoài nhưng cũng có phần tác động bên trong đến YDKN

xã hội của con người, và các nghiên cứu trước chưa tích hợp 2 mô hình lý thuyết SEE và TPB lại với nhau, do đó ở nghiên cứu này tác giả đã tích hợp 2 mô hình lý thuyết trên và đề xuất mô hình nghiên cứu (mục 2.2.3.2)

2.2.3 Đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu

2.2.3.1 Giả thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp xã hội của sinh viên

a Chuẩn chủ quan

Theo Ajzen (1991), cho rằng "Các chuẩn chủ quan có thể được hiểu là ảnh hưởng của việc nhận thức được tác động của xã hội đối với việc thực hiện một hành động" Chuẩn chủ quan (CCQ) là nhận thức về những áp lực từ phía xã hội thể hiện sự ủng

hộ, hay phản đối người có ý định thực hiện hành vi Nó bao gồm các ảnh hưởng bên trong (đề cập đến ý kiến hoặc niềm tin của những người thân thiết của một người như thành viên gia đình, bạn thân hoặc của những người có thể ảnh hưởng đến quyết định thực hiện hoặc không thực hiện một hành động) và các ảnh hưởng bên ngoài là các trào lưu xã hội Ảnh hưởng của những người này có thể tác động đến ý định trở thành doanh nhân hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh có thể mang lại lợi ích cho xã hội (Armitage và Conner, 2001) Theo Bird (1988) đã kết luận "Một cá nhân

sẽ lựa chọn thực hiện hành vi theo cách mà họ cảm nhận rằng những người khác trong xã hội mong chờ họ" Nghiên cứu của Autio và cộng sự (2001) hay Gird và Bagraim (2008) đã chứng minh rằng "Có sự tác động tích cực của chuẩn chủ quan đến ý định khởi nghiệp", mặc dù mức độ tác động không là lớn nhất trong các yếu tố được đề cập chung

Ở Việt Nam, hiện nay các trào lưu xã hội bao gồm những chương trình về khởi nghiệp, tinh thần "Quốc gia khởi nghiệp",… đang ngày càng được đẩy mạnh, điều đó cũng ít nhiều tác động lên YDKN nói chung, và YDKN xã hội nói riêng của

SV nước ta Ngoài ra, người Việt Nam có lòng yêu nước và tinh thần dân tộc cao kế thừa từ ông cha ta đến nay, nên hầu hết họ đều có ý kiến tích cực và niềm tin đối với những hoạt động mang tính xã hội, giúp đỡ những người thiệt thòi, bằng chứng là

Trang 30

những hoạt động quyên góp từ thiện được kêu gọi trên mạng xã hội nhận được số tiền quyên góp lên đến vài tỷ đến hàng chục tỷ đồng, có khi người kêu gọi còn là những người nổi tiếng có sức ảnh hưởng nhất định và có lượng người hâm mộ đông đảo (NS Hoài Linh, NS Trần Thành…) Do đó, tác giả dự đoán, YDKN xã hội của

SV ở Việt Nam sẽ được tác động tích cực bởi sự nhận thức tích cực từ các trào lưu

xã hội, bởi những ý kiến và niềm tin của mọi người xung quanh, nhất là những người thân trong gia đình và bạn bè

Theo Ajzen (1991), cho rằng "Một số nghiên cứu đã xem xét tác động của các chuẩn chủ quan đối với ý định của các cá nhân" Trong đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ

ra rằng các chuẩn chủ quan có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành động (Krueger

và cộng sự, 2000a , Krueger và cộng sự, 2000b ; Autio và cộng sự, 2001; Zhang và cộng sự, 2015; Usman và Yenita , 2019; Maresch và cộng sự, 2016) Các nghiên cứu của Lĩnán và cộng sự (2011); Karali (2013; Ambad và Damit (2016) đã chứng minh rằng "Chuẩn chủ quan là yếu tố có ảnh tích cực trực tiếp đến ý định tham gia khởi nghiệp kinh doanh xã hội" Do đó, giả thuyết sau được hình thành:

H1: Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam

Đối với những người trẻ Việt Nam đặc biệt là SV, hầu hết họ đều được học những kiến thức liên quan đến khởi nghiệp và nhận thức được tinh thần xã hội, về

Trang 31

Luật Doanh nghiệp…từ đó, họ biết được những khó khăn hay rủi ro mà khi khởi nghiệp mình sẽ gặp phải, từ giảng đường, những điều này làm tăng thêm sự khả thi trong nhận thức, tăng thêm sự tự tin cho SV đối với ý định khởi nghiệp của mình Do

đó, tác giả dự đoán rằng, yếu tố Nhận thức tính khả thi sẽ có tác động tích cực đến YDKN xã hội SV Việt Nam

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng Nhận thức TKT là yếu tố giải thích cho YDKN (Autio và cộng sự, 2001; Dissanayake, 2013; Kedmenec và cộng sự, 2016; Kolvereid & Moen, 1997; Saeed và cộng sự, 2014 ; Vuorio và cộng sự, 2018) Theo

đó, các nghiên cứu này lập luận rằng "Nhận thức tính khả thi đóng vai trò là các yếu

tố quyết định trong việc hình thành ý định khởi nghiệp xã hội" Do đó, giả thuyết sau được hình thành trên cơ sở giải thích trên:

H2: Nhận thức tính khả thi có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam

c Giáo dục khởi nghiệp xã hội

Theo Fayolle và Gailly (2015), "Giáo dục khởi nghiệp xã hội là các chương trình đào tạo liên quan đến kỹ năng, kiến thức và phẩm chất đạo đức cần có của doanh nhân đối với xã hội".Việc tiếp thu các kiến thức và kỹ năng liên quan đến quá trình khởi nghiệp xã là điều kiện tiên quyết để SV khởi nghiệp thành công Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng định nghĩa toàn diện nhất về giáo dục khởi nghiệp xã hội

là sự kết hợp giữa giao tiếp, kỹ năng, nhận thức đạo đức và năng lực trong toàn bộ quá trình giáo dục khởi nghiệp xã hội (Gibb & Hannon, 2006; Ogundele và cộng sự, 2012; Bluedorn & Martin, 2008) Giáo dục khởi nghiệp xã hội cung cấp kiến thức trong việc phát triển các chương trình dành cho doanh nhân xã hội, cũng như cung cấp các công cụ để phân tích trong quá trình khởi nghiệp và kinh doanh, đóng góp vào lợi ích xã hội

Ngày nay, những vấn đề liên quan đến DNXH đang được đặc biệt quan tâm ở nhiều nước trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam Các khóa học, hội thảo… về khởi nghiệp ở trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp sẽ tạo cơ hội cho SV tiếp cận gần hơn với những bài học, ý tưởng khởi nghiệp hay từ chuyên gia, từ đó giúp SV có

Trang 32

thêm cơ hội tiếp cận với nguồn vốn,… giúp SV có thể thực hiện YDKN của mình trong tương lai Các SV được rèn luyện tinh thần kinh doanh từ giảng đường có thể

dễ dàng thực hiện YDKN của mình hơn GDKNXH đề cập đến các vấn đề như khóa học bồi dưỡng kiến thức, tầm nhìn xã hội và kỹ năng lãnh đạo, các môn học, tinh thần xã hội và sự hỗ trợ của trường trong việc hình thành YDKN xã hội Tác giả dự đoán rằng việc được tiếp cận GDKNXH làm tăng mong muốn của SV về việc được tham gia thành lập một tổ chức nhằm giải quyết các vấn đề xã hội vào một thời điểm nào đó trong tương lai

Các nghiên cứu của Gibb & Hannon (2006); Ogundele và cộng sự (2012); Bluedorn & Martin (2008) đã kiểm chứng "Giáo dục khởi nghiệp xã hội có mối liên

hệ tích cực đến ý định kinh doanh xã hội, giáo dục khởi nghiệp xã hội là một phương tiện hiệu quả trong việc gây cảm hứng sinh viên có ý định khởi nghiệp xã hội" Do

đó, giả thuyết sau được hình thành:

H3: Giáo dục khởi nghiệp xã hội có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam

d Nghĩa vụ đạo đức

Theo Bryant (2009) cho rằng "Nghĩa vụ đạo đức được định nghĩa là xu hướng giúp đỡ người khác trong giới hạn khả năng của bản thân" Ban đầu, Fishbein sử dụng yếu tố đạo đức cùng với thái độ đối với hành vi và CCQ để dự đoán ý định (Fishbein 1967) NVDD liên quan đến các doanh nhân xã hội, liên quan đến mức độ

mà các doanh nhân xã hội cam kết hoàn toàn với ý định của họ và cảm thấy có NVDD để theo đuổi chúng (Beugré 2016)

Hiện nay, phần lớn trong thế hệ thanh niên SV Việt nam đã ý thức rất rõ việc

kế thừa, phát huy giá trị đạo đức, nghĩa vụ đối với xã hội do được thừa hưởng từ tinh thần trách nhiệm, tinh thần yêu nước từ xưa đến nay Do đó, tác giả dự đoán rằng khi những cá nhân ý thức được nghĩa vụ đối với xã hội, có mong muốn giúp đỡ những người bị thiệt thòi trong xã hội… thì họ có khả năng có YDKN mô hình DNXH cao hơn

Trang 33

Trong số những nghiên cứu về nghĩa vụ đạo đức đối với xã hội của doanh nhân, Hemingway (2005) cho rằng "Các giá trị đạo đức cá nhân là động lực chính cho ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội" Theo Koe Hwee Nga và Shamuganathan (2010) lập luận rằng "Các doanh nhân xã hội được thúc đẩy bởi ý thức mạnh mẽ về nghĩa vụ đối với việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người và thường có ý thức phê bình đạo đức" Việc nhận thức nghĩa vụ đạo đức đã được Kaiser (2006) và Rivis, Sheeran và Armitage (2009) phát hiện đóng vai trò là yếu tố quyết định quan trọng của ý định Nhận thức cho rằng các chuẩn mực xã hội ngụ ý NVDD phải giúp đỡ những người bị thiệt thòi có liên quan tích cực đến YDKN xã hội Điều này sẽ tiếp tục thúc đẩy SV hướng tới tinh thần kinh doanh xã hội, giúp cải thiện tinh thần kinh doanh và dẫn đến thành công trong kinh doanh Do đó, giả thuyết sau được hình thành:

H4: Nghĩa vụ đạo đức có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội của sinh viên ở Việt Nam

2.2.3.2 Mô hình nghiên cứu của đề tài

Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây, dựa vào lý thuyết nền và các giả thuyết đã nêu trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu (MHNC) sau đây cho khóa luận này Mô hình bao gồm 4 biến độc lập, gồm (1) Chuẩn chủ quan; (2) Nhận thức tính khả thi; (3) Giáo dục khởi nghiệp xã hội; (4) Nghĩa vụ đạo đức và 01 biến phụ

thuộc là biến Ý định khởi nghiệp xã hội

Trang 34

Hình 2 1 Mô hình đề xuất của nghiên cứu

Trang 35

Tóm tắt chương 2

Thông qua chương 2, tác giả đã trình bày các vấn đề có liên quan cũng như MHNC chính thức Khung nghiên cứu thể hiện mối quan hệ giữa chuẩn chủ quan, nhận thức tính khả thi, giáo dục khởi nghiệp xã hội, nghĩa vụ đạo đức đối với YDKN xã hội của SV ở Việt Nam, trong đó ý định khởi nghiệp xã hội là yếu tố phụ thuộc, chịu sự tác động của chuẩn chủ quan, nhận thức tính khả thi, giáo dục khởi nghiệp xã hội và nghĩa vụ đạo đức

Trang 36

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong Chương 3, tác giả trình bày về PPNC tổng quan và chi tiết xuyên suốt bài nghiên cứu này

3.1 Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu này được tiến hành qua hai giai đoạn: phỏng vấn sơ bộ và nghiên cứu chính thức Tổng thể nghiên cứu là Việt Nam Đối tượng nghiên cứu là các yếu

tố ảnh hưởng đến YDKN mô hình DNXH của SV ở Việt Nam

Từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 2 năm 2023 thực hiện phỏng vấn sơ bộ bằng phương pháp thảo luận nhóm với mẫu là 5 SV (3 năm, 2 nữ) đang học năm 4, khoa Quản trị kinh doanh, trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, nhằm mục đích đánh giá khách quan cách sử dụng thuật ngữ và điều chỉnh thuật ngữ trong bảng câu hỏi

Từ đầu tháng 3 năm 2023 đến đầu tháng 4 năm 2023, nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng thông qua việc phát bảng hỏi trực tuyến đến SV ở 3 miền khác nhau của Việt Nam Sau khi phát bảng hỏi thu được 254 phiếu phản hồi hợp lệ của SV Tiếp theo, thang đo được đánh giá sơ bộ thông qua hệ

số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Mục đích của nghiên cứu này dùng để kiểm định lại mô hình đo lường cũng như mô hình lý thuyết

và các giả thuyết trong mô hình Quy trình nghiên cứu trong đề tài này được biểu diễn theo hình bên dưới:

Trang 37

Hình 3 1 Mô hình đề xuất của nghiên cứu (Nguồn: Dựa trên quy trình Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang 2012)

3.1.1 Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ

Để nghiên cứu về "Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mô hình DNXH của sinh viên ở Việt Nam", tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sơ bộ để xây dựng và điều chỉnh các biến quan sát và đo lường các khái niệm liên quan đến nghiên cứu Bảng câu hỏi cho nhóm thảo luận được thiết kế dựa trên cơ sở lý thuyết

và kết quả của các nghiên cứu trước đó, bao gồm các khái niệm như chuẩn chủ quan, nhận thức tính khả thi, giáo dục khởi nghiệp xã hội và nghĩa vụ đạo đức Sử dụng phương pháp định lượng sơ bộ, các khái niệm được đánh giá thông qua các hệ số tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả nghiên cứu định

Trang 38

lượng sơ bộ được sử dụng để hiệu chỉnh MHNC và các giả thuyết nghiên cứu cũng như xây dựng bảng câu hỏi khảo sát cho nghiên cứu định lượng chính thức

3.1.2 Giai đoạn nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu định lượng được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu chính thức thông qua bảng câu hỏi khảo sát Dựa trên kích thước mẫu cần thiết cho nghiên cứu, bảng câu hỏi khảo sát chính thức được tạo bằng bảng câu hỏi thông qua Google Docs rồi gửi qua email, tin nhắn đến các bạn SV có thể có ý định khởi nghiệp xã hội

và đang sinh sống, học tập tại Việt Nam Sau khi thu thập được các kết quả khảo sát, chúng được tổng hợp và lọc sạch, sau đó được mã hóa và nhập liệu vào phần mềm

xử lý dữ liệu thống kê SPSS 20.0 để phân tích và đánh giá thang đo, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu cũng như mô hình lý thuyết

3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu

3.2.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA Theo Hair và cộng sự (2006) đã chứng minh rằng "Kích thước mẫu tối thiểu cần thiết tốt nhất là 50, tốt hơn là 100 và tỷ lệ giữa BQS với biến đo lường

là 5:1, nghĩa là 1 biến đo lường cần tối thiểu là 5 BQS, tốt nhất là 10:1 trở lên" Trong nghiên cứu này có 25 BQS chính do đó kích thước mẫu tối thiểu là 25*5= 125 (25*10 = 250 là tốt nhất) Ngoài ra, theo Nguyễn (2011), "Để tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính, quy mô của mẫu phải đáp ứng công thức n ≥ 50 + 8p (trong đó: n là kích thước mẫu tối thiểu cần thiết, p là số biến độc lập trong mô hình)" MHNC của tác giả gồm có 4 biến độc lập nên kết luận mẫu tối thiểu cần thiết là 50+8*4=82

Từ hai điều kiện trên, có thể kết luận kích thước mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu này là 125 (250 là tốt nhất)

3.2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu là "Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp mô hình DNXH của sinh viên ở Việt Nam" Do vậy, đối tượng khảo sát hướng đến của

Trang 39

nghiên cứu này chính là những SV đang học đại học, cao đẳng, trung cấp ở Việt Nam

3.2.3 Phương pháp chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp chọn mẫu thuận tiện, còn được gọi là phương pháp chọn mẫu phi xác suất Theo phương pháp này, tác giả tiếp cận phần tử mẫu một cách thuận tiện, điều đó có nghĩa

là tác giả có thể tiếp cận bất kỳ SV nào mà không phân biệt giới tính, nơi sinh sống

và học tập…

3.2.4 Xây dựng thang đo, bảng khảo sát

3.2.4.1 Lựa chọn thang đo sử dụng

Có 05 khái niệm nghiên cứu đơn hướng (unidimensional constructs) được sử dụng trong nghiên cứu này gồm có "ý định khởi nghiệp mô hình doanh nghiệp xã hội", "chuẩn chủ quan", "nhận thức tính khả thi", "giáo dục khởi nghiệp xã hội" và

"nghĩa vụ đạo đức" Các thang đo trong nghiên cứu này dựa vào lý thuyết và các thang đo đã có trên thế giới Tất cả các thang đo được đo lường bằng thang đo Likert

5 điểm, trong đó (1) hoàn toàn không đồng ý, (2) không đồng ý, (3) trung lập, (4) đồng ý và (5) hoàn toàn đồng ý Các thang đo gốc được trình bày bằng tiếng anh (Phụ lục), nghiên cứu này tiến hành dịch, sau đó đối chiếu lại bản gốc, hiệu chỉnh để đảm bảo tính chính xác của thang đo nguyên thủy

3.2.4.2 Thang đo nháp

Các thang đo được xây dựng, bổ sung và hiệu chỉnh sau giai đoạn nghiên cứu định tính cho phù hợp với đối tượng, lĩnh vực nghiên cứu cũng như phù hợp với đối tượng SV ở Việt Nam Các thang đo mà nghiên cứu này sử dụng là thang đo Likert 5 điểm Theo Antonucci và Goeke (2011), "Thang đo Likert đòi hỏi người khảo sát phải xác định mức độ mà họ đồng ý hoặc không đồng ý với các cấu trúc được đưa ra bằng một loại những tuyên bố Mỗi thang đo bao gồm năm loại phản ứng khác nhau, từ 1 = hoàn toàn không đồng ý, đến 5 = hoàn toàn đồng ý"

Trang 40

Bảng 3 1 Thang đo nháp

Chuẩn chủ quan CCQ1 Những người xung quanh tôi quan tâm đến khởi

nghiệp xã hội CCQ2 Tôi biết nhiều ý tưởng khởi nghiệp hay từ những

người xung quanh của mình

CCQ3 Những người nổi tiếng mà tôi hâm mộ có quan tâm

đến việc giải quyết các vấn đề xã hội CCQ4 Tôi biết nhiều sinh viên/cựu sinh viên ở trường của

tôi đã khởi nghiệp xã hội thành công CCQ5 Người thân của tôi thể hiện rõ sự ủng hộ của họ đối

với những hoạt động hướng đến lợi ích xã hội Nhận thức tính

khả thi

TKT1 Việc thành lập một doanh nghiệp xã hội không quá

khó khăn đối với tôi TKT2 Tôi nghĩ khởi nghiệp xã hội của tôi sẽ dễ dàng

thành công TKT3 Tôi hiểu rõ những khó khăn mình có thể sẽ gặp

phải khi khởi nghiệp xã hội TKT4 Tôi sẵn sàng đối mặt với những khó khăn, rủi ro

khi thành lập doanh nghiệp TKT5 Tôi cho rằng ý định khởi nghiệp xã hội của mình

không bị kiểm soát bởi tác nhân nào Giáo dục khởi

nghiệp xã hội

GD1 Giáo dục trong trường khuyến khích tôi sáng tạo

những ý tưởng để khởi nghiệp GD2 Giáo dục trong trường cung cấp những kỹ năng và

năng lực cần thiết để tôi khởi nghiệp xã hội

Ngày đăng: 08/08/2023, 13:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w