1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015

94 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015
Tác giả Hồ Kim Tiền
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Minh Hùng
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua việc đánh giá cách vận dụng quy định pháp luật vào thực tiễn đời sống, lí giải nguyên nhân của những hạn chế từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HỒ KIM TIỀN

QUYỀN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH THEO

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

GVHD: PGS.TS LÊ MINH HÙNG

TP HỒ CHÍ MINH - 6 - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua 4 năm được học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, được sự chỉ bảo và giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô, đặc biệt là các thầy cô Khoa Luật Dân sự đã truyền đạt cho em những kiến thức vô cùng quý báu Những kiến thức được tiếp thu tại trường sẽ là hành trang quý giá để em bước vào đời

Đề tài “Quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015” là đề tài mà em đã chọn để nghiên cứu và làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân sau 4 năm học tập tại trường Để hoàn thành khóa luận, em đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ, chỉ bảo của gia đình, nhà trường, thầy cô và đặc biệt là PGS.TS Lê Minh Hùng, người đã trực tiếp hướng dẫn em thực hiện khóa luận Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin được gửi lời tri ân đến thầy, chúc thầy luôn dồi dào sức khỏe và thành công hơn trong sự nghiệp của mình

Tuy nhiên, vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những thiết sót, em rất mong nhận được sự góp ý chỉ bảo thêm của các thầy cô để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Hồ Kim Tiền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trong khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Minh Hùng Mọi thông tin tham khảo được sử dụng trong khóa luận đều đảm bảo tính trung thực và tuân thủ quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

TP Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 6 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Hồ Kim Tiền

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 6 1.1 Khái quát về quyền của cá nhân đối với hình ảnh 6

1.1.1 Khái niệm về quyền của cá nhân đối với hình ảnh 6

1.1.2 Đặc điểm quyền của cá nhân đối với hình ảnh 10

1.2 Nội dung quyền của cá nhân đối với hình ảnh 15

1.2.1 Quyền được tôn trọng và bảo vệ hình ảnh 16

1.2.2 Quyền khai thác, sử dụng hoặc cho hay không cho người khác khai thác, sử dụng 16

1.2.3 Quyền được bảo vệ khi hình ảnh bị xâm phạm 20

1.3 Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh 21

1.3.1 Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong mối quan hệ với quyền tiếp cận thông tin 21

1.3.2 Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong trường hợp xung đột với lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của cộng đồng 23

1.3.3 Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong trường hợp xung đột lợi ích với người thứ ba 24

1.3.4 Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong trường hợp cá nhân từ bỏ quyền của mình 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 27

2.1 Xác định các hành vi xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh 27

2.1.1 Hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân với mục đích thương mại mà không được sự đồng ý 27

Trang 7

2.1.2 Hành vi sử dụng hình ảnh gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân

phẩm 31

2.1.3 Hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư cá nhân 34

2.1.4 Hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân không gây hại nhưng không được sự cho phép của cá nhân 38

2.1.5 Hoạt động báo chí xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân 40

2.2 Phương thức bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh bằng biện pháp dân sự 42

2.2.1 Tự mình bảo vệ 44

2.2.2 Thông qua cơ quan có thẩm quyền 45

2.3 Các biện pháp bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh bằng biện pháp dân sự 46

2.3.1 Yêu cầu bồi thường thiệt hại 46

2.3.2 Yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm 51

2.3.3 Yêu cầu cải chính, xin lỗi công khai 52

2.3.4 Yêu cầu thu hồi, hủy bỏ các ấn phẩm, phim ảnh, phương tiện lưu trữ hình ảnh bị vi phạm 55

2.4 Bất cập của quy định về việc bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo pháp luật hiện hành và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật 56

2.4.1 Bất cập của quy định về việc bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo pháp luật hiện hành 56

2.4.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền của cá nhân có hình ảnh bị xâm phạm bằng biện pháp dân sự 63

KẾT LUẬN 67

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là một giá trị vĩ đại của nhân loại, dù ở nơi đâu, ở thời đại nào vẫn luôn được đặc biệt quan tâm Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính

trị năm 1966 ghi nhận: “Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống Quyền này được pháp luật bảo vệ Không ai có thể bị cướp mạng sống một cách tùy tiện”1

Ngoài ra, Công ước còn khẳng định: “Không ai bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy” Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc cũng khẳng định: “Ai cũng có quyền được sống, được tự do và an toàn thân thể” 2 , “Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh Ai cũng có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy” 3 Từ những quy định trên cho thấy các quyền cơ bản của con người được thừa nhận và được pháp luật bảo vệ

Xã hội ngày càng phát triển, các quyền con người ngày càng được nâng cao

ở hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Trong những năm qua, pháp luật Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc đề cao và ngày càng hoàn thiện cơ chế đảm bảo quyền con người Kế thừa và phát triển các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận các quyền cơ bản của công dân, trong

đó không thể không nhắc đến quyền của cá nhân đối với hình ảnh Trong cuộc sống, chúng ta thường có thói quen ghi lại những hình ảnh, những khoảnh khắc đẹp của mình Tuy nhiên, dù đó là hình ảnh đẹp hay chưa đẹp thì cũng đều có nguy cơ bị xâm hại từ người khác Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ, các thiết

bị ghi hình, chụp ảnh càng trở nên hiện đại thì vấn đề bảo vệ hình ảnh cá nhân cũng ngày càng trở nên khó khăn Chúng ta hẳn chưa quên những dư luận trong những năm gần đây về một học sinh bị chụp ảnh và bêu xấu vì trộm đồ ở siêu thị, những

1 Khoản 1 Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966.

2 Điều 3 Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc.

3 Điều 12 Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc.

Trang 9

ồn ào về việc nữ sinh sư phạm bị lộ hình ảnh nhạy cảm với bạn trai… Vấn đề đáng quan tâm là hậu quả kéo theo hết sức khủng khiếp và khó có thể lường trước được Đối với cơ chế pháp lí bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh thì pháp luật hành chính và pháp luật hình sự cũng đã có những quy định cụ thể Tuy nhiên, bên cạnh

sự thay đổi của xã hội là một trong những điều kiện khiến khả năng bị xâm phạm hình ảnh cá nhân ngày càng có nguy cơ cao thì dường như các chế tài hành chính và chế tài hình sự chưa đủ sức “răn đe” các hành vi xâm phạm Đứng trước thực trạng

trên, tác giả xin chọn đề tài “Quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015” để nghiên cứu, tìm hiểu với mục tiêu đưa ra một số

kiến nghị nhằm bảo vệ hữu hiệu quyền của cá nhân của cá nhân đối với hình ảnh cũng như ngăn ngừa và hạn chế sự xâm phạm đối với hình ảnh cá nhân

2 Tình hình nghiên cứu

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh không phải là một vấn đề quá mới mẻ trong thời đại hội nhập hiện nay Tuy nhiên, chưa có nhiều các công trình nghiên cứu chuyên sâu về quyền này trong pháp luật dân sự hiện hành Một số công trình nghiên cứu liên quan đến việc bảo vệ quyền của người có hình ảnh bị xâm phạm bằng biện pháp dân sự có thể kể đến:

- Michael Jeansch (2014), “Bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của pháp luật Cộng hòa liên bang Đức - so sánh với quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học, 2014, số 1(164), tr.64-76 Trong bài viết này, tác giả tập trung

phân tích và làm rõ các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân nói chung, trong đó có quyền đối với hình ảnh cá nhân Ngoài ra, tác giả còn so sánh, đối chiếu giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật của Cộng hòa liên bang Đức về cơ chế bảo vệ quyền nhân thân;

- Lê Hà Huy Phát (2010), “Quyền về hình ảnh cá nhân trong pháp luật dân

sự”, trích tài liệu hội thảo khoa học Quyền con người trong pháp luật dân sự, Khoa

Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức tại Thành phố

Hồ Chí Minh ngày 06 tháng 10 năm 2010, tr.10-25 Trong phạm vi bài viết của mình, tác giả phân tích quyền của cá nhân đối với hình ảnh và các biện pháp bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của Bộ luật Dân Sự (viết tắt là BLDS) năm 2005;

Trang 10

- Lê Văn Sua (2017), “Quyền của cá nhân đối với hình ảnh”, Tạp chí Luật

sư Việt Nam, số 10(43), tr.18-22 Trong bài viết của mình, tác giả phân tích, đánh

giá những điểm tiến bộ trong quy định của BLDS năm 2015, chỉ ra các quy định

xử lí hành vi xâm phạm hình ảnh cá nhân trong pháp luật hành chính và pháp luật hình sự Đồng thời, tác giả cũng làm rõ giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh, chỉ ra như thế nào được xem là xâm phạm hình ảnh của cá nhân;

- Trịnh Thị Huỳnh Nga (2017), Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành

vi xâm phạm bí mật đời tư trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội,

Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Trong khóa luận của mình, tác giả đi sâu vào phân tích, làm rõ các biện pháp xử phạt hành chính đối với hành vi xâm phạm bí mật đời tư trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền bí mật đời tư

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã có những đóng góp to lớn về vấn đề bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh, góp phần làm rõ các khái niệm, giới hạn quyền đối với hình ảnh cá nhân Tuy nhiên, theo quy định của BLDS hiện hành, nội dung quyền của cá nhân đối với hình ảnh vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện Chính vì vậy, tác giả hi vọng những tìm hiểu, nghiên cứu trong khóa luận của mình sẽ có giá trị về mặt lí luận

và thực tiễn đối với việc bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh, góp phần bảo vệ tốt hơn cũng như ngăn ngừa, hạn chế hành vi xâm phạm đối với hình ảnh

cá nhân

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích tổng quát: Thông qua việc phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, thực trạng quyền của cá nhân đối với hình ảnh, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền hình ảnh của

Trang 11

hành chính, những trường hợp mà các biện pháp hình sự và hành chính chưa thể bảo vệ hiệu quả quyền hình ảnh của cá nhân, từ đó chỉ ra những điểm tiến bộ và hạn

chế trong quy định của pháp luật hiện hành

Phân tích thực trạng bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh, chỉ ra những vấn đề còn thiếu sót trong cơ chế bảo vệ quyền hình ảnh của cá nhân trên thực tế, từ

đó có những giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả, bảo vệ tốt hơn quyền của cá nhân đối với hình ảnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định của BLDS năm 2015 về quyền của cá nhân đối với hình ảnh Đồng thời, nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật qua các vụ việc tiêu biểu và cách thức cá nhân áp dụng các biện pháp để bảo vệ quyền lợi của mình Qua việc đánh giá cách vận dụng quy định pháp luật vào thực tiễn đời sống, lí giải nguyên nhân của những hạn chế từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh bằng các biện pháp dân sự

Về phạm vi nghiên cứu, tác giả nghiên cứu quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong quy định của pháp luật dân sự, cụ thể là BLDS năm 2015, trong mối liên hệ với các quy định trong luật chuyên ngành có liên quan

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật Dân sự nói riêng, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, về chính sách bảo vệ quyền con người, quyền tự do cá nhân

Việc nghiên cứu đề tài có sự kết hợp giữa lí luận và thực tiễn nhằm làm rõ các vấn đề liên quan Khóa luận cũng vận dụng các phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp, phương pháp logic, phương pháp so sánh… để thực hiện việc nghiên cứu

Trang 12

6 Bố cục của khóa luận

Với phạm vi nội dung cần nghiên cứu, kết cấu khóa luận bao gồm: Mục lục, lời cảm ơn, lời mở đầu, hai chương nội dung, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Chương 1: Những vấn đề chung về quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo

quy định của BLDS năm 2015

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh

bằng biện pháp dân sự và kiến nghị hoàn thiện

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

NĂM 2015 1.1 Khái quát về quyền của cá nhân đối với hình ảnh

1.1.1 Khái niệm về quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (2000), hình ảnh được

định nghĩa là “hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học như máy ảnh hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong diễn đạt”

Trong thực tế, “hình ảnh” được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau

Trong lĩnh vực truyền hình, hình ảnh được hiểu là “những gì mà con người thấy được thông qua thị giác rồi sau đó chuyển về não, giúp con người cảm nhận hình ảnh đó một cách thực chất, từ đó đưa ra những phản xạ, cảm nhận những hình ảnh

mà con người vừa tiếp nhận được” Trong triết học, hình ảnh được định nghĩa “là kết quả của sự phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức con người Ở trình độ cảm tính, hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tượng Ở trình độ tư duy, đó là những khái niệm, phán đoán và suy luận Về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan Về cách nhận thức tồn tại, hình ảnh là chủ quan Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình kí hiệu khác nhau” Trong lĩnh vực mỹ thuật, hình ảnh được hiểu là “sự diễn tả hay tái hiện một vật, một người trong nghệ thuật tạo hình (hội họa, đồ họa, điêu khắc)” Trong nghệ thuật, hình ảnh “không chỉ là sự sao chụp thụ động vẻ bên ngoài của mẫu thuật mà còn nhằm lột tả tinh thần của mẫu”, người ta có thể thấy trong hình ảnh cá tính nghệ thuật của người nghệ sĩ và dấu ấn thời đại Còn trong nhiếp ảnh, “Hình ảnh là những gì chúng ta thấy được thông qua thị giác rồi sau đó chuyển về não giúp ta cảm nhận hình ảnh đó một cách chân thực nhất từ đó đưa ra những phản xạ, cảm nhận về hình ảnh mà ta vừa thu nhận”4

Như vậy, có thể thấy, cách hiểu về “hình ảnh” phụ thuộc vào từng lĩnh vực, từng góc nhìn, từng hoàn cảnh cụ thể Nếu trong truyền hình coi hình ảnh là những

4

https://nhiepanhvietnam.vn/hinh-anh-la-gi-b3.php, truy cập 02/4/2018.

Trang 14

gì chúng ta thấy được qua thị giác, phản chiếu lên bộ não của chúng ta thì đối với các nhiếp ảnh gia hình ảnh lại bao gồm hình dáng, màu sắc của vật thể Nếu theo cách hiểu thông thường hình ảnh là sự sao chép biểu tượng mà tư duy chúng ta có thể nhận biết được thì trong mỹ thuật lại coi hình ảnh là sự diễn tả một vật thể, một con người trong nghệ thuật tạo ra hình ảnh, có yếu tố tinh thần gắn liền với hình ảnh

đó Nhìn chung, có thể khái quát, hình ảnh chính là sự sao chép lại những vật, biểu tượng được nhận thức bằng tư duy của con người hoặc bằng cách thức sao chụp nguyên mẫu vật, biểu tượng đó Tuy nhiên, hình ảnh không tồn tại một cách độc lập đối với đối tượng phản ánh mà phải đảm bảo được nội dung của đối tượng phản ánh

Hình ảnh cá nhân là một trong những nội dung của quyền nhân thân theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, cụ thể Điều 32 BLDS năm 2015 ghi nhận cho phép cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình Khái niệm hình ảnh cá nhân

có thể được hiểu là bao gồm mọi hình thức nghệ thuật ghi lại hình dáng của con người như ảnh chụp, ảnh vẽ, ảnh chép và suy rộng ra có thể bao gồm cả bức tượng của cá nhân đó hoặc hình ảnh có được do ghi hình (quay video) Đối với mỗi loại hình nghệ thuật cũng bao gồm nhiều loại khác nhau Chẳng hạn, ảnh chụp có thể bao gồm ảnh chụp chân dung, ảnh chụp phóng sự, ảnh chụp tư liệu, ảnh chụp nghệ thuật … đều có thể ghi lại hình ảnh của con người; ảnh vẽ có thể bao gồm vẽ ký họa,

vẽ truyền thần … Cần phân biệt “hình ảnh cá nhân” dưới góc độ là một nội dung của quyền nhân thân với “hình ảnh cá nhân” với góc độ đó là nét riêng đặc trưng làm nên bản sắc của một cá nhân, một cá thể trong một cộng đồng Với ý nghĩa là nét đặc trưng của một cá nhân nhất định, “hình ảnh cá nhân” được định nghĩa là tất

cả những gì một cá nhân nói và làm, tạo nên hình ảnh của họ trong tâm trí của những người xung quanh, là những điều người khác nói về họ khi họ vắng mặt Hình ảnh cá nhân dưới khía cạnh này được cấu thành từ nhiều yếu tố, thể hiện thông qua cách ăn mặc, màu sắc cá nhân lựa chọn, cách nói chuyện và cách quan tâm đến người khác… là một trong những yếu tố xác định thành công trong cuộc sống và trong sự nghiệp của họ Hay có thể hiểu đơn giản, hình ảnh cá nhân trong trường hợp này là cách mà mỗi người tạo nên cái riêng cho chính mình, tạo nên thương hiệu cá nhân mình như hình ảnh “người đàn bà đẹp” gắn liền với nữ diễn viên Julia Robert, hay ở Việt Nam, “Họa mi tóc nâu” gắn liền với hình ảnh của Mỹ Tâm Cũng cần phân biệt hình ảnh cá nhân và hình ảnh của riêng cá nhân Hình ảnh cá

Trang 15

nhân mà tác giả đề cập đến trong nội dung khóa luận này là hình ảnh có chứa cá nhân, có thể là chỉ chứa một mình cá nhân hoặc cũng có thể là ảnh tập thể có cá nhân đó; còn hình ảnh của riêng cá nhân chỉ là hình ảnh có một mình cá nhân trong bức ảnh trong một khung cảnh nhất định, là một phần trong hình ảnh cá nhân

Tóm lại, hình ảnh cá nhân được hiểu là mọi hình thức nghệ thuật ghi lại hình dáng con người, có thể biểu hiện qua sản phẩm là ảnh, hình vẽ, video, tượng tạc… hay bất cứ dạng biểu hiện nào khác mà thông qua đó người ta nhận dạng được cá nhân đó

Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình5, quyền này được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Tuy nhiên, trên thực tế chưa có quy định nào ghi nhận khái niệm quyền của cá nhân đối với hình ảnh cũng như nội hàm của quyền cá nhân đối với hình ảnh bao gồm những quyền gì Đối với giới luật học thì khái niệm này cũng chưa được đề cập một cách khái quát nên việc hiểu quyền nhân thân đối với hình ảnh còn rất mơ hồ và không ai nhận thấy giá trị thật của quyền này đem lại6 Điều này dẫn đến một thực trạng đó là các chủ thể liên quan không xác định được hành vi nào là hành vi xâm phạm đến hình ảnh cá nhân cũng như gây khó khăn cho việc bảo

Quyền đối với hình ảnh cá nhân trước tiên đó là quyền nhân thân, rộng hơn

là quyền trong lĩnh vực dân sự và rộng hơn nữa đó là quyền con người Nếu ví các quyền này như các hình tròn đồng tâm thì trong cùng là quyền đối với hình ảnh cá nhân, lớn hơn là quyền nhân thân, lớn hơn nữa là quyền trong lĩnh vực dân sự và hình tròn lớn nhất là quyền con người

5 Khoản 1 Điều 32 BLDS năm 2015.

6 Phùng Bích Ngọc (2012), “Luận bàn về quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân theo quy định của

Bộ luật dân sự 2005”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, 2012, số 22(230), tr.37-42.

Trang 16

Khoản 1 Điều 32 BLDS năm 2015 quy định: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình” Từ quy định này cho phép chúng ta hiểu cá nhân có quyền quyết định đối với hình ảnh của chính cá nhân, biểu hiện qua việc lưu giữ hình ảnh của mình, sử dụng nó vì những mục đích khác nhau, phục vụ nhu cầu cá nhân hay

để được lợi về tài sản nhưng phải đúng quy định của pháp luật và không gây ảnh hưởng, thiệt hại đến lợi ích của người khác Bên cạnh đó, cá nhân có quyền được pháp luật bảo hộ về lợi ích liên quan đến hình ảnh của mình nếu bị người khác xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm7

Quy định tại khoản 2 Điều 32 BLDS năm 20158 cũng cho ta hiểu thêm một khía cạnh khác của quyền đối với hình ảnh cá nhân Bên cạnh việc cá nhân hoàn toàn có quyền quyết định đối với việc sử dụng hình ảnh của mình, cá nhân còn có quyền quyết định đối với việc cho hoặc không cho phép người khác sử dụng hình ảnh của mình vì bất kì lí do gì Hình ảnh cá nhân là một khía cạnh thuộc về quyền riêng tư của con người, có thể có hoặc không chứa bí mật của cá nhân đó, nhưng một khi muốn sử dụng phải được sự đồng ý của người đó Nguyên tắc này bắt nguồn từ việc quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền xuất phát từ khái niệm

“đời tư” Trước khi sử dụng hình ảnh liên quan phải đảm bảo rằng người được ghi hình không bị tổn hại đến đời sống cá nhân, hình tượng riêng và bản thân họ không phản đối việc sử dụng hình ảnh đó9

Như đã trình bày ở phần khái niệm hình ảnh cá nhân, hình ảnh cá nhân có thể bao gồm ảnh chụp, ảnh vẽ, ảnh do quay phim về một người cụ thể Ngoài ra có

7

Lê Hà Huy Phát (2010), “Quyền về hình ảnh cá nhân trong pháp luật dân sự”, trích tài liệu hội thảo khoa

học Quyền con người trong pháp luật dân sự, Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí

Minh, tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 06 tháng 10 năm 2010, tr.10-25

8 Khoản 2 Điều 32 BLDS năm 2015 quy định “Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần

có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:

a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.”

9

Chế Mỹ Phương Đài (chủ nhiệm) (2011), Trách nhiệm bồi thương thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân theo quy định tại Bộ luật dân sự 2005, Đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến nhân quyền,

tr.21.

Trang 17

thể suy luận tương tự rằng tượng của cá nhân cũng thuộc đối tượng của quyền nhân thân như hình ảnh vậy10 Xét dưới góc độ quyền sở hữu trí tuệ thì bức ảnh, tấm hình hay pho tượng đều là loại hình tác phẩm, người sử dụng tác phẩm trước hết phải xin phép người chủ bản quyền và trả cho họ một lợi ích vật chất nhất định, đồng thời phải trả thù lao, nhuận bút cho người sáng tác (nhiếp ảnh gia, họa sĩ …) nếu có thỏa thuận Đứng ở góc độ quyền đối với hình ảnh là quyền nhân thân của con người thì muốn sử dụng hình ảnh của người nào phải được sự cho phép của người đó Nếu chưa được sự đồng ý của người đó mà đã sử dụng hình ảnh của họ tức là đã vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là một trong những quyền nhân thân của cá nhân Hình ảnh cá nhân thể hiện rõ nét riêng, đặc điểm riêng của từng người, giúp nhận dạng, phân biệt người này với người khác nên quyền đối với hình ảnh cá nhân là quyền nhân thân liên quan đến cá biệt hóa cá nhân Chính đặc điểm cá biệt hóa cá nhân là cơ sở để khi nhìn vào bức ảnh, một hình vẽ, một pho tượng, bằng mắt thường chúng ta vẫn có thể nhận dạng được danh tính của người có hình ảnh đó Tính cá biệt hóa của hình ảnh cá nhân cũng là cơ sở để xác định quyền lợi và nghĩa

vụ khi có một vấn đề phát sinh liên quan đến hình ảnh cá nhân

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân, gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân, liên quan và ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của chính cá nhân đó Đây là một trong những quyền nhân thân không gắn với tài sản nên không thể định giá được bằng một giá trị nhất định và cũng không thể chuyển giao

Từ những phân tích trên có thể hiểu một cách chung nhất về quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân không gắn với tài sản của cá nhân, mang tính cá biệt hóa, không định đoạt được bằng giá trị vật chất, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, cho phép cá nhân tự do ý chí trong việc tạo dựng, sử dụng và cho phép người khác sử dụng hình ảnh của chính mình

1.1.2 Đặc điểm quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là một trong những quyền nhân thân của cá nhân Ngoài việc mang đầy đủ các đặc điểm của quyền nhân thân nói chung, quyền của cá nhân đối với hình ảnh còn có một số đặc điểm riêng

10 Bộ Tư pháp (2001), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.76.

Trang 18

Thứ nhất, quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân không

gắn với tài sản

Đặc tính không gắn với tài sản là đặc tính cơ bản để phân biệt với các quyền nhân thân gắn với tài sản (cũng là nhóm quyền thuộc quyền nhân thân được quy định trong BLDS) Quyền của cá nhân đối với hình ảnh gắn liền với những đặc điểm nhân thân của chính người đó, tạo nên điểm khác biệt giữa họ và những người xung quanh Mỗi chủ thể có một hình ảnh riêng biệt và được công nhận vô điều kiện đối với hình ảnh của chính mình Hình ảnh của cá nhân là yếu tố để nhận dạng

cá nhân, cá biệt hóa cá nhân, không phải là tài sản để đem ra giao dịch Do đó, quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân phi tài sản

Cần phân biệt giữa quyền của cá nhân đối với hình ảnh và quyền tài sản đối với hình ảnh Trong xã hội hiện đại, khi phương tiện truyền thông ngày càng trở nên phổ biến cũng như dần trở thành kênh chính thống để người ta thực hiện các cuộc giao dịch, thực hiện chiến lược quảng cáo… thì việc sử dụng hình ảnh để quảng bá cho một thương hiệu, một mặt hàng, một sản phẩm cũng dần trở nên quen thuộc Cá nhân có hình ảnh hoàn toàn có quyền đem hình ảnh đó để thực hiện các cuộc giao dịch hoặc để phục vụ cho nhu cầu của bản thân nhằm thu lại những lợi ích vật chất nhất định Hay nói cách khác, quyền tài sản đối với hình ảnh nghĩa là hình ảnh được phép mang ra kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cho chính cá nhân có hình ảnh đó Do

đó, một chủ thể khác muốn sử dụng hình ảnh cá nhân vào mục đích kinh doanh cần

có sự đồng ý của người có hình ảnh Khi được sự đồng ý của chủ thể đó thì sẽ phát sinh quan hệ trao đổi, thỏa thuận giữa các bên, bên sử dụng hình ảnh phải xin phép

và có thể phải trả một khoản tiền, từ đó phát sinh quyền tài sản11 Quyền của cá nhân đối với hình ảnh được công nhận một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào Cho dù đó là một người bình thường hay một người nổi tiếng, là một nhà chính trị gia hay một người dân thì pháp luật cũng thừa nhận và bảo vệ quyền đối với hình ảnh của họ một cách như nhau

Thứ hai, quyền của cá nhân đối với hình ảnh thuộc nhóm quyền nhân thân

mang tính cá biệt hóa

11

https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Tieu-luan-luat-Hien-phap Quyen-cua-ca-nhan-doi-voi-hinh-anh-925 7/, truy cập: 07/4/2018.

Trang 19

Cùng với quyền của cá nhân đối với họ tên, quyền xác định dân tộc thì quyền cá nhân đối với hình ảnh là một trong những quyền thuộc nhóm quyền nhân thân mang tính cá biệt hóa, tập hợp những công cụ cá biệt hóa (họ tên, hình ảnh, lí lịch…) Ở đó, mỗi chủ thể sẽ cho ta hình dung ra hình dáng, đặc điểm bên ngoài của chủ thể đó, phân biệt với chủ thể khác Trong số đó, quyền của cá nhân đối với hình ảnh thể hiện sự cá biệt hóa rõ nét nhất Thông qua hình ảnh, chúng ta ngoài việc hình dung ra được đặc điểm bên ngoài của chủ thể mà còn giúp chúng ta nhận dạng được chủ thể nếu đặt trong một tập thể người Mỗi cá nhân vừa là một tế bào của xã hội nhưng đồng thời cũng là một chỉnh thể riêng biệt, không ai giống ai Từ hình dạng, đặc điểm, cho đến hình ảnh bên ngoài, nếu có sự giống nhau thì cũng là sự tương đồng nhỏ, trong các trường hợp sinh đôi chúng ta vẫn nhận thấy sự khác biệt giữa họ

Một ví dụ điển hình để chúng ta có thể nhận định rằng hình ảnh cá nhân được nhắc đến là một trong những đặc điểm cá biệt hóa rõ nhất là trong chứng minh nhân dân, hộ chiếu, sơ yếu lí lịch, thẻ nhân viên… đều có hình ảnh cá nhân trên đó bên cạnh tên của cá nhân Bởi lẽ, nếu chỉ thông qua tên họ thì rất có thể xảy ra trường hợp nhầm lẫn với nhau vì việc hai người trùng tên nhau trên thực tế xảy ra rất phổ biến Khi đó, hình ảnh mới là yếu tố nhận dạng rõ nhất Thông qua ví dụ trên cho thấy, quyền của cá nhân đối với hình ảnh là một đặc tính không thể tách rời

và là quyền nhân thân tuyệt đối, gắn liền với mỗi cá nhân Khi tham gia vào một mối quan hệ pháp luật, mỗi cá nhân độc lập với nhau và độc lập với các chủ thể khác Việc phân biệt cá nhân này với cá nhân khác và phân biệt cá nhân với chủ thể khác của quan hệ pháp luật không những có ý nghĩa trong việc xác định rõ quyền, nghĩa vụ của chủ thể mà còn có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dânsự nói riêng12

Thứ ba, quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân được bảo

hộ vô thời hạn

12 Nguyễn Minh Oanh, “Quyền nhân thân liên quan đến cá biệt hóa cá nhân: Quyền của cá nhân đối với họ tên, dân tộc, hình ảnh”, Link nguồn: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/03/26/07854/, truy cập: 07/04/2018.

Trang 20

Hình ảnh của cá nhân thuộc về cá nhân, gắn liền với cá nhân không chỉ khi người đó còn sống mà ngay cả khi đã chết Dù cá nhân đó chết, thì hình ảnh của cá nhân đó, nếu bị sử dụng một cách tùy tiện cũng gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của cá nhân người đã chết Do đó, quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân không gắn với tài sản, được pháp luật bảo hộ vĩnh viễn, không có thời hạn Khi cá nhân còn sống, việc sử dụng hình ảnh cá nhân phải được sự đồng ý của

cá nhân Khi cá nhân chết, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được “sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người đã chết”13 Nếu việc sử dụng hình ảnh một cá nhân khi còn sống có thể gây ảnh hưởng đến cuộc sống của họ thì khi cá nhân chết, việc sử dụng hình ảnh có thể gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người thân thích (cụ thể là vợ, chồng, con thành niên, cha, mẹ…) của họ Do đó, trong trường hợp hình ảnh của người đã chết bị sử dụng mà không được sự cho phép từ những người thân theo quy định của pháp luật thì vẫn coi như đã vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh và pháp luật vẫn bảo vệ quyền này của cá nhân

Thứ tư, quyền của cá nhân đối với hình ảnh được bảo vệ khi có yêu cầu

Theo nghĩa rộng, bảo vệ là quyền của cá nhân đối với hình ảnh Cá nhân đương nhiên được pháp luật bảo vệ quyền của mình

Theo nghĩa hẹp, bảo vệ được hiểu là khi quyền đối với hình ảnh bị xâm phạm, người có quyền bị xâm phạm có quyền được yêu cầu bảo vệ bằng các biện pháp dân sự khi đó cơ quan có thẩm quyền mới can thiệp

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân của cá nhân, là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, chỉ cá nhân mới xác định hành vi của chủ thể khác có hay không xâm phạm đến quyền của mình Đồng thời, cũng chỉ duy nhất cá nhân có hình ảnh có quyền quyết định đối với việc có yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi của mình hay không khi có hành vi xâm phạm

Về nguyên tắc, khi quyền lợi của cá nhân bị xâm phạm, pháp luật sẽ bảo vệ Tuy nhiên trên thực tế, xảy ra rất nhiều trường hợp hình ảnh cá nhân bị phát tán rộng trên Internet, trên các trang mạng xã hội khác nhau mà không có sự đồng ý của

13 Khoản 2 Điều 25 BLDS năm 2015.

Trang 21

cá nhân có hình ảnh Trong một số trường hợp, cá nhân cũng không biết về việc hình ảnh của mình bị phát tán và mục đích của việc làm đó Điều này dẫn đến nhiều trường hợp xâm phạm hình ảnh cá nhân gây hậu quả nghiêm trọng do không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời Tuy nhiên, cũng có rất nhiều trường hợp cá nhân

dù biết hình ảnh của mình bị xâm phạm một cách nghiêm trọng nhưng chủ nhân của những bức ảnh không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Điển hình là hàng hoạt sao Việt như Tăng Thanh Hà, Thủy Top, Minh Hằng, Hoa hậu Mai Phương Thúy… bị rao bán những hình ảnh “sexy” vào năm

2009 Dù bị ảnh hưởng nhưng phía các cá nhân bị xâm phạm không yêu cầu nên quyền lợi của họ vẫn không được bảo vệ và đương nhiên chủ thể thực hiện hành vi trên không phải gánh chịu bất kỳ chế tài nào

Bản án số 22/2017/HSST ngày 25 tháng 7 năm 2017 của TAND thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình về hành vi làm nhục người khác là một ví dụ cụ thể cho nội dung quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền được bảo vệ bằng biện pháp dân

sự khi có yêu cầu Theo bản án, đầu năm 2016, Hoàng H (tỉnh Quảng Bình) và Mai Thị N (tỉnh Quảng Bình) quen biết nhau qua mạng xã hội Facebook và có quan hệ tình cảm với nhau Trong một lần hai người quan hệ thì Hoàng H có dùng điện thoại quay lại hai đoạn video cảnh quan hệ giữa H và N Sau đó, vì phát sinh ghen tuông nên H đã phát tán hai đoạn video qua các tài khoản khác trên Facebook Sự việc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của N Chính việc bị phát tán hình ảnh, N xấu hổ, không dám đến trường và phải bỏ học Tuy nhiên, khi

vụ án được đưa ra xét xử, N không có các yêu cầu bảo vệ bằng biện pháp dân sự nên dù thiệt hại trên thực tế về tinh thần của N rất lớn nhưng vẫn không được bồi thường14

họ hay không phụ thuộc vào bản thân họ Và nguyên tắc trong quan hệ dân sự, Tòa

14 Xem bản án tại phụ lục

Trang 22

án chỉ giải quyết khi có yêu cầu Do đó, quyền của cá nhân đối với hình ảnh chỉ được pháp luật dân sự bảo vệ khi có yêu cầu từ chính chủ thể bị xâm phạm

1.2 Nội dung quyền của cá nhân đối với hình ảnh

BLDS năm 1995 đã ghi nhận một cách chung nhất về quyền của cá nhân đối với hình ảnh Tuy nhiên, BLDS năm 1995 lại không có cơ chế bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh khi có hành vi xâm phạm Kế thừa và phát triển những quy định của BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 đã có một số sửa đổi bổ sung đáng kể, khắc phục được nhược điểm trong quy định về quyền đối với hình ảnh cá nhân ở BLDS năm 1995, cụ thể tại Điều 31: (1) Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình; (2) Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người

đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật

có quy định khác; (3) Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh BLDS năm 2005 đã bổ sung và khắc phục một số yếu kém trong quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh của BLDS năm 1995, tuy nhiên, sau quá trình áp dụng đã bộc lộ một số bất cập, pháp luật chưa thật sự chặt chẽ vì không phân biệt được mục đích, tính chất của việc sử dụng hình ảnh cá nhân Đứng trước tình hình đó, BLDS năm 2015 được ban hành, bổ sung những khiếm khuyết, đồng thời khắc phục được những hạn chế của BLDS năm 2005 Điều 32 BLDS 2015 quy định:

(1) Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình Việc sử dụng hình ảnh của

cá nhân phải được người đó đồng ý Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên

có thỏa thuận khác;

(2) Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ: (a) Hình ảnh được

sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; (b) Hình ảnh được sử dụng

từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh

dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh;

Trang 23

(3) Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật

“Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình”15

là sự khẳng định của pháp luật về quyền đối với hình ảnh cá nhân, ghi nhận đó là một quyền của cá nhân trong việc sử dụng, định đoạt hình ảnh của bản thân Quy định tại Điều 32 BLDS năm

2015 cũng cụ thể hóa quyền của cá nhân đối với hình ảnh, bao gồm:

1.2.1 Quyền được tôn trọng và bảo vệ hình ảnh

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là một trong những quyền nhân thân

cơ bản của công dân, quyền này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Hiến pháp 2013 ghi nhận “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”16 Quyền được tôn trọng và bảo vệ hình ảnh của cá nhân cũng đồng thời là nghĩa vụ của cá nhân, chủ thể khác Hiến pháp 2013 cũng khẳng định “mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác”17 Như vậy, cá nhân có quyền được tôn trọng và bảo vệ đối với hình ảnh của mình Không ai được phép xâm phạm làm ảnh hưởng đến quyền đối với hình ảnh của cá nhân Việc tôn trọng đối với hình ảnh cá nhân thể hiện qua việc không được tự ý in, chụp, nhân bản, phát tán, chia sẻ… hình ảnh gây ảnh hưởng đến

cá nhân khác Việc bảo vệ hình ảnh cá nhân không chỉ thể hiện qua các hành động ngăn ngừa hành vi xâm phạm mà còn thể hiện ở việc bảo vệ các quyền lợi của cá nhân khi cóh ành vi xâm phạm, ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục hậu quả (nếu có) xảy ra

1.2.2 Quyền khai thác, sử dụng hoặc cho hay không cho người khác khai thác,

sử dụng

15 Khoản 1 Điều 32 BLDS năm 2015.

16 Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

17 Khoản 2 Điều 15 Hiến pháp năm 2013.

Trang 24

(i) Quyền khai thác, sử dụng hình ảnh

Hình ảnh là yếu tố gắn liền với mỗi cá nhân, liên quan đến đời sống tinh thần của cá nhân và thuộc về cá nhân nên trước tiên chính cá nhân có hình ảnh đương nhiên có quyền sử dụng Đó có thể là việc cá nhân tặng cho một bức ảnh của mình, sử dụng hình ảnh của mình vào mục đích quảng cáo cho công việc, cho thương hiệu của cá nhân mình hoặc đem bán một bức ảnh để thu lợi nhuận Ví dụ: một cô ca sĩ nổi tiếng có thể kí hợp đồng với công ty mỹ phẫm và công ty mỹ phẩm phải trả tiền để được lấy hình ảnh của cô ca sĩ quảng cáo cho sản phẩm của công ty mình Hay một người có quyền chụp ảnh và mang bức ảnh đó dự thi một cuộc thi ảnh

(ii) Quyền cho hay không cho người khác khai thác, sử dụng hình ảnh

Cá nhân có quyền cho hoặc không cho phép người khác khai thác, sử dụng hình ảnh của mình Khoản 1 Điều 32 BLDS năm 2015 quy định: “Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khá”18 Đây là một quy định có tính mới, được ban hành

đúng thời điểm giúp tránh được những tranh chấp liên quan đến thù lao giữa các bên khi sử dụng hình ảnh của người khác Mục đích thương mại là cơ sở để yêu cầu được trả thù lao trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về vấn đề này19

Như vậy, quyền định đoạt cho chủ thể khác sử dụng hình ảnh của cá nhân được thể hiện qua việc cá nhân “đồng ý” cho sử dụng bức ảnh đó Quy định này thể hiện sự bảo vệ quyền một cách khá tuyệt đối đối với hình ảnh cá nhân Không ai có quyền ép buộc cá nhân có hình ảnh về việc phải đồng ý cho cá nhân, chủ thể nào khác được sử dụng hình ảnh của mình Ví dụ: một cô sinh viên sau khi đoạt giải nhất ở một cuộc thi sắc đep có rất nhiều người muốn sử dụng hình ảnh của cô để quảng bá cho việc kinh doanh của họ Trong trường hợp này, cô sinh viên hoàn toàn

có quyền quyết định đối với việc cho hay không cho người khác khai thác, sử dụng hình ảnh của mình, không ai có quyền ép buộc cô trong việc cho hoặc không cho

18 Khoản 1 Điều 32 BLDS năm 2015.

19 Đỗ Văn Đại (Chủ biên) (2015), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự 2015, Nxb.Hồng

Đức, Hội luật gia Việt Nam, tr.66.

Trang 25

phép chủ thể khác sử dụng hình ảnh Tuy nhiên, quyền của cá nhân vẫn bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định Trong những trường hợp này, chủ thể khác có quyền sử dụng hình ảnh cá nhân mà không cần có sự đồng ý của cá nhân đó hoặc người đại diện theo pháp luật của cá nhân đó20 Như vậy, một vấn đề được đặt ra là mức độ bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh ở Việt Nam đến đâu?

Hiện nay, trên thế giới có bốn cấp độ bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh, cụ thể:

Cấp độ thứ nhất, cứ chụp ảnh cá nhân khác là vi phạm

Đây là cấp độ bảo hộ hình ảnh cá nhân ở mức cao nhất và tuyệt đối nhất Thổ Nhĩ Kỳ được xem là quốc gia điển hình cho việc bảo vệ hình ảnh cá nhân ở mức độ này.21 Xuất phát từ điều kiện chính trị - xã hội, nỗi lo từ sự chống phá của phe đối lập thông qua mạng xã hội nên việc chụp ảnh ở quốc gia này là hết sức khó khăn Mọi hành vi chụp ảnh ở quốc gia này đều bị xem là vi phạm dù xuất phát từ mục đích gì

Cấp độ thứ hai, được chụp nhưng không được công bố

Đây là cấp độ bảo hộ ở mức tương đối, tuy không hoàn toàn cấm việc chụp hình nhưng chỉ cho phép được chụp hình, không cho phép công bố bức hình dưới bất kì hình thức nào, sự công bố chỉ được phép khi có sự đồng ý từ cá nhân hiện diện trong bức hình đó Vấn đề chụp nhưng không được công bố cũng đồng nghĩa với việc chụp mà công bố là vi phạm Cấp độ bảo vệ này phổ biến ở các quốc gia như: Pháp, Việt Nam

BLDS Pháp không quy định chi tiết về từng quyền nhân thân cụ thể mà khái quát thành một điều luật chung quy định về quyền con người Điều 9 BLDS Pháp quy định: Mỗi người có quyền được tôn trọng đời tư của mình22 Đời tư được đề cập đến ở đây bao gồm cả hình ảnh cá nhân Và khi xét xử, trong trường hợp xâm phạm quyền có hình ảnh, thông thường sẽ có những câu chữ thống nhất ghi lại trong phần

20

Khoản 2 Điều 32 BLDS năm 2015.

21 Trần Thị Thu Hằng (2014), Quyền cá nhân đối với hình ảnh theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ,

Khoa Luật Trường Đại học quốc gia Hà Nội, tr.23.

22 Điều 9 BLDS của nước Cộng hòa Pháp.

Trang 26

đầu bản án là: Xét rằng mỗi cá nhân đều có quyền được tôn trọng đời tư và có quyền hoàn toàn định đoạt đối với hình ảnh, một yếu tố nhân thân trong việc sử dụng hình ảnh đó, có quyền phản đối việc phát hành hình ảnh đó mà không có sự đồng ý rõ ràng và đặc biệt của mình23 Như vậy, thực tiễn xét xử của Pháp đã bổ sung cho việc không quy định cụ thể quyền của cá nhân đối với hình ảnh như một quy định về quyền nhân thân cụ thể trong BLDS Pháp

Cùng chung cấp độ bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh, pháp luật Việt Nam cũng có một số điểm tương đồng và khác biệt:

Giống nhau: đều cho phép chủ thể chỉ được chụp hình nhưng không được phép sử dụng hình ảnh cá nhân khác nếu chưa được sự đồng ý từ cá nhân đó

Khác nhau: Pháp không quy định cụ thể quyền của cá nhân đối với hình ảnh

là một quyền nhân thân cụ thể trong BLDS, việc thực hiện quyền này được ghi nhận trong thực tiễn xét xử Pháp thì ở Việt Nam, BLDS cụ thể hóa quyền của cá nhân đối với hình ảnh tại Điều 32 BLDS năm 2015 Ngoài ra, trong từng lĩnh vực riêng cũng

có quy định riêng để điều chỉnh như: pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về báo chí…

Cấp độ thứ ba, sử dụng ảnh cá nhân không xem là vi phạm, chỉ khi nào sử

dụng vì mục đích thương mại mới bị coi là vi phạm

Điển hình cho cấp độ này là Australia Tại quốc gia này, việc chụp hình một người mà chưa được sự chấp nhận của người đó không bị coi là bất hợp pháp Điều này được các nhà làm luật lí giải rằng việc người này nhìn thấy một người khác thì

có quyền chụp ảnh và cách tốt nhất nếu người có hình ảnh không muốn bị làm phiền là che mặt lại chứ không được tịch thu Tuy nhiên, pháp luật Australia cũng quy định ngoại lệ là việc sử dụng các bức ảnh này vì mục đích thương mại được xem là hành vi vi phạm và phải chịu hình phạt Như vậy, nếu đăng ảnh không vì mục đích thương mại thì pháp luật Australia cho phép việc chụp hình, đăng hình mà không cần có sự đồng ý của chủ thể hình ảnh24

23 Trần Thị Thu Hằng (2014), tlđd (21), tr.24.

24 Trần Thị Thu Hằng, tlđd (21), tr.25.

Trang 27

Cấp độ thứ tư, được tự do chụp ảnh, được đăng hình, sử dụng hình ảnh với

mục đích thương mại mà không cần xin phép Điển hình cho cấp độ này là ở Mỹ Trong đạo luật chung của Mỹ thì ai cũng được phép chụp những gì họ muốn ở nơi công cộng hoặc nơi họ được phép chụp và không phải xin phép đối với việc chụp hay đăng tải các hình ảnh trừ một số trường hợp ngoại lệ đó là: xung quanh ngôi nhà cá nhân thì cần sự đồng ý của cá nhân đó; khu vực vũ khí quân sự hoặc kho quân sự thì cần sự đồng ý của chỉ huy khu vực25

1.2.3 Quyền được bảo vệ khi hình ảnh bị xâm phạm

Quyền nhân thân nói chung trong đó có quyền của cá nhân đối với hình ảnh được nhà nước bảo vệ, thể hiện sự ghi nhận của nhà nước đối với các giá trị tinh thần của cá nhân, bất kì hành vi xâm phạm nào dù gây thiệt hại hay không đều phải chịu trách nhiệm pháp lí Khoản 3 Điều 32 BLDS năm 2015 quy định: Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật26

Hành vi xâm phạm đối với hình ảnh cá nhân không nhất thiết phải gây ra thiệt hại Một hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân có thể gây hại cho cá nhân đó hoặc cũng có thể làm lợi cho cá nhân đó Ví dụ, một nhiếp ảnh gia, vô tình chụp được tấm ảnh của một nữ sinh và đem bức ảnh tham gia một cuộc thi Nếu bức ảnh đó được giải thì hình ảnh nữ sinh càng nổi tiếng và trở nên đẹp hơn trong mắt mọi người Tuy nhiên, việc nhiếp ảnh sử dụng bức hình của nữ sinh mà chưa được sự đồng ý thì đã được xem là vi phạm và nữ sinh đó hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa

án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Như vậy có thể thấy, ở Việt Nam, quyền của cá nhân đối với hình ảnh được bảo vệ khá tuyệt đối và có xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn Nếu trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 các quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh còn khá đơn giản thì BLDS năm 2015 đã cụ thể và rõ ràng hơn, bảo vệ tốt hơn quyền của cá nhân đối với hình ảnh

25 Trần Thị Thu Hằng, tlđd (21), tr.26.

26 Khoản 3 Điều 32 BLDS năm 2015.

Trang 28

1.3 Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh

1.3.1 Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong mối quan hệ với quyền

tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân Cũng như quyền nhân thân, quyền tiếp cận thông tin được nhiều văn bản ghi nhận

Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin”27 Hiến pháp năm 2013 lại một lần nữa khẳng định quyền

tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin”28

Xét một cách tổng quát, quyền tiếp cận thông tin của công dân là khái niệm được sử dụng để nói đến khả năng của công dân được tìm kiếm thông tin, tiếp nhận thông tin do nhà nước đang quản lí, theo các cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thỏa mãn các nhu cầu cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận29

Như vậy, vấn đề được đặt ra là cả quyền của cá nhân đối với hình ảnh và quyền tiếp cận thông tin đều là quyền cơ bản của công dân, vậy trong trường hợp nào là quyền của công dân đối với hình ảnh, trong trường hợp nào là quyền tiếp cận thông tin? Quyền nào sẽ được ưu tiên khi có xung đột?

Nghị định 51/2002/NĐ-CP quy định: Không được đăng, phát ảnh của cá nhân mà không có chú thích rõ ràng hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cá nhân đó (trừ ảnh thông tin các buổi họp công khai, sinh hoạt tập thể, các buổi lao động, biểu diễn nghệ thuật, thể dục thể thao, những người có lệnh truy nã, các cuộc xét xử công khai của Tòa án, những người phạm tội trong các vụ trọng án đã bị tuyên án)30 Theo quy định này, báo chí có quyền đăng hình ảnh cá nhân mà không

27 Điều 69 Hiếp pháp năm 1992.

28

Điều 25 Hiến pháp năm 2013.

29 Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Kỷ yếu đề tài Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng luật tiếp cận thông tin , Đề tài nghiên cứu khoa học, Cấp Bộ,

tr.34.

30 Khoản 3 Điều 5 Nghị định 51/2002/NĐ-CPcủa Chính phủ ngày 26/04/2002 hướng dẫn Luật báo chí và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật báo chí

Trang 29

cần xin phép nếu có chú thích và không làm ảnh hưởng đến uy tín danh dự của cá nhân đó Như vậy, quyền đối với hình ảnh cá nhân trong trường hợp này đã bị giới hạn, cá nhân không có toàn quyền quyết định đối với hình ảnh của mình Tuy nhiên, xét thấy việc giới hạn này là hợp lí nhằm đảm bảo cân bằng giữa quyền tiếp cận thông tin của cá nhân khác trong xã hội trên phương diện không gây phương hại đến chủ thể có hình ảnh

Nhưng trên thực tế, việc xảy ra xung đột giữa quyền của cá nhân đối với hình ảnh và quyền tiếp cận thông tin là một điều khó tránh khỏi Một ví dụ điển hình cho trường hợp này đó là hình ảnh các nghi phạm, bị can, bị cáo bị đăng tràn lan trên Internet, trên các trang mạng xã hội Xét về mặt nguyên tắc, một người chỉ được coi là có tội khi có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật31 Như vậy, một người, dù là đối tượng tình nghi thì họ vẫn chưa phải là tội phạm và vẫn có đầy đủ quyền, trong đó có quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Một cá nhân trong xã hội có quyền được tiếp cận với các thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước và được pháp luật cho phép Theo quy định của Luật báo chí năm 2016, nhà báo có quyền “Được hoạt động nghiệp vụ báo chí tại các phiên tòa xét xử công khai; được bố trí khu vực riêng để tác nghiệp; được liên lạc trực tiếp với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để lấy tin, phỏng vấn theo quy định của pháp luật”32 Điều này cho chúng ta hiểu nhà báo được phép tác nghiệp và đăng tin liên quan đến vụ án, cũng như cá nhân được phép tiếp cận những thông tin liên quan đến tình tiết vụ án Như vậy, liệu rằng có sự chồng chéo trong quy định của pháp luật giữa quyền được thông tin và quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Một vấn đề đáng bàn luận trong quy định tại Nghị định 51/2002 NĐ - CP khi ghi nhận hình ảnh của người đã bị tuyên án trong các vụ trọng án là trường hợp ngoại lệ đăng không cần chú thích, hoặc có thể làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của cá nhân đó Vậy thế nào là trọng án? Pháp luật hình sự Việt Nam không quy định thế nào là trọng án mà chỉ quy định các trường hợp phạm tội nghiêm trọng và

31 Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

32 Điểm d khoản 2 Điều 25 Luật báo chí năm 2016.

Trang 30

phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Vậy trọng án là tội phạm nghiêm trọng hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, hay cả hai đều được xem là trọng án?

Tóm lại, quyền của cá nhân đối với hình ảnh phần nào bị giới hạn bởi quyền tiếp cận thông tin Tuy nhiên, những quy định của pháp luật liên quan còn chưa được rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu có thể gây ảnh hưởng đến quyền của cá nhân đối với hình ảnh, gây những hậu quả nghiêm trọng Thực trạng này yêu cầu các nhà lập pháp cần có những quy định rõ ràng và cụ thể, tránh sự chồng chéo trong quy định của pháp luật giữa quyền của cá nhân đối với hình ảnh và quyền tiếp cận thông tin của cá nhân

1.3.2 Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong trường hợp xung đột với lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của cộng đồng

Pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh, đồng thời cũng ghi nhận các trường hợp ngoại lệ nhằm đảm bảo cân bằng giữa lợi ích cá nhân

và lợi ích tập thể, lợi ích riêng với lợi ích chung của Nhà nước, cộng đồng, xã hội

BLDS năm 2015 quy định: “Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ: a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”33

Như vậy, quyền của cá nhân đối với hình ảnh không phải là quyền hoàn toàn, tuyệt đối mà trong một số trường hợp, vì những lợi ích lớn hơn (lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng), nhằm đảm bảo cân bằng giữa lợi ích cá thể và lợi ích nhóm thì việc giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh là hoàn toàn phù hợp Tuy nhiên, như thế nào là lợi ích công cộng?

Phục vụ lợi ích công cộng luôn được xem là cơ sở hợp lí để các chủ thể, các

cơ quan báo chí thực hiện quyền tiếp cận thông tin và đưa ra để bảo vệ mình trong những vụ việc khiếu kiện có liên quan đến hình ảnh cá nhân hay rộng hơn là đời tư, danh dự Khái niệm này còn khá mới mẻ đối với Việt Nam Sử dụng hình ảnh cá nhân vì lợi ích công cộng có thể hiểu là việc sử dụng hình ảnh đó nhằm thông tin

33 Khoản 2 Điều 32 BLDS năm 2015.

Trang 31

đến công chúng nhằm bảo vệ sức khỏe, sự an toàn cho cộng đồng Ví dụ như để bảo

vệ lợi ích công cộng, người dân có thể thông tin về một cá nhân bị nghi tham nhũng, trốn thuế… Và tất nhiên, điều kiện sống còn phải thỏa mãn là: Thông tin đó đúng sự thật34

Vậy vấn đề đặt ra, nếu thông tin không đúng sự thật thì như thế nào? Rõ ràng trong trường hợp này, nếu thông tin không đúng sự thật thì việc đăng hình ảnh

cá nhân mà không được phép của cá nhân đó không thuộc trường hợp ngoại lệ vì lợi ích quốc gia, dân tộc, công cộng và đã vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh,

và một điều chắc chắn là gây ảnh hưởng đến người có hình ảnh Như vậy, những quy định rõ ràng là điều hết sức cần thiết nhằm ngăn ngừa và hạn chế việc vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh Dù vô tình hay cố ý vi phạm đi chăng nữa, chúng ta đều phải thừa nhận hành vi vi phạm đối với hình ảnh cá nhân đều có thể để lại hậu quả vô cùng lớn lao

1.3.3 Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong trường hợp xung đột lợi ích với người thứ ba

Trường hợp xung đột với lợi ích của người thứ ba mà tác giả muốn đề cập đến là hình ảnh chụp tập thể, hình ảnh chụp chung với nhiều người như chụp cùng bạn bè, người thân, chụp cùng thần tượng… Như vậy, nếu theo quy định của pháp luật, cần phải xin phép và được sự đồng ý của tất cả những người có mặt trong ảnh thì mới được công khai bức ảnh Tuy nhiên, nếu hiểu theo góc độ đó thì dẫn đến nhiều khó khăn Ví dụ, muốn đăng một bức ảnh chụp tập thể lớp 100 người thì cần xin phép và được sự đồng ý của 100 người đó Nếu 99 người đồng ý riêng có một người không đồng ý cũng không được phép đăng Theo tác giả, cách hiểu như vậy

là chưa phù hợp với tinh thần của điều luật Pháp luật quy định cá nhân chỉ được phép đăng hình của người khác khi có sự đồng ý của người đó nhằm bảo vệ quyền của người có hình ảnh Trong trường hợp đó là ảnh tập thể, ảnh nhóm, khi chúng ta đồng ý chụp hình chung với mọi người mặc nhiên chúng ta thừa nhận để người khác được phép đăng ảnh của mình Việc này không gây hại gì tới lợi ích của người

có mặt trong bức ảnh vì nếu gây hại, họ đã không đồng ý chụp cùng Tuy nhiên, loại trừ trường hợp người có mặt trong bức ảnh không biết về sự tồn tại của mình

34 Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc gia,

Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.195.

Trang 32

trong bức ảnh Ví dụ, một cá nhân khi đi chơi với nhóm bạn của mình thì vô tình có mặt trong một bức ảnh của người bạn mà cá nhân đó không hề biết Như vậy, bức ảnh có chứa hình ảnh cá nhân đó sẽ không được đăng lên nếu không được sự cho phép của cá nhân Đối với trường hợp ảnh có được do chụp lén cũng tương tự

Tóm lại, trong mối tương quan với người thứ ba, nếu cá nhân biết và đồng ý

để mình có mặt trong bức ảnh thì đương nhiên cho phép người khác sử dụng bức ảnh của mình với mục tiêu không gây hại, tức là đã giới hạn một phần quyền của cá nhân đối với hình ảnh

1.3.4 Giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong trường hợp cá nhân từ

độ lan truyền cực nhanh và không thể kiểm soát thì việc tìm ra thủ phạm cũng trở nên khó khăn Pháp luật bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh nhưng đối với những vụ việc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, chỉ dừng lại ở quan hệ pháp luật dân sự mà cá nhân không yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình thì cũng đồng nghĩa cá nhân đã từ bỏ quyền của mình Trong trường hợp này, không thể nói pháp luật không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân mà chính cá nhân đã từ bỏ quyền của mình Quyền nhân thân đối với hình ảnh là

Trang 33

một quyền cơ bản của con người nên cá nhân có toàn quyền xử sự đối với hành vi xâm phạm tới hình ảnh của mình Nhưng một khi đương sự từ bỏ thì mặc nhiên quyền nhân thân đối với hình ảnh đó của họ cũng bị từ bỏ35

Như vậy, pháp luật đã có những quy định cụ thể bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân Tuy nhiên việc bảo vệ quyền của một cá nhân phải đảm bảo cân bằng với lợi ích chung của cộng đồng, tập thể Việc bảo vệ quyền của cá nhân trong quan hệ dân

sự còn phải thể hiện được mong muốn của cá nhân, cho phép cá nhân lựa chọn giải pháp

mà bản thân cá nhân cho rằng tốt nhất

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là một trong những quyền nhân thân quan trọng của cá nhân Để bảo vệ một cách tốt nhất quyền của cá nhân đối với hình ảnh bằng các biện pháp dân sự, bước đầu tác giả tìm hiểu nội hàm của hình ảnh cá nhân, quy định của pháp luật dân sự về bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh cũng như giới hạn quyền trong một số trường hợp luật định Chương 1 ngoài việc đưa ra khái niệm, làm rõ nội hàm hình ảnh cá nhân, tác giả cũng phân tích đặc điểm của quyền của cá nhân đối với hình ảnh; giới hạn quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong một số trường hợp cụ thể Thông qua những nội dung về mặt lí luận ở Chương

1, tác giả mong muốn tạo nền tảng cho việc phân tích và làm rõ quyền của cá nhân đối với hình ảnh cũng như các biện pháp bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của BLDS năm 2015, từ đó đánh giá những bất cập khi áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn và đưa ra kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật

35 Phùng Bích Ngọc (2012), “Luận bàn về quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân theo quy định của

BLDS 2005”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22(230), tr.37-42.

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ

HOÀN THIỆN 2.1 Xác định các hành vi xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Quyền đối với hình ảnh cá nhân là một trong những quyền nhân thân quan trọng Không giống với các quyền dân sự khác, quyền của cá nhân đối với hình ảnh là một quyền nhân thân gắn liền với nhiều lĩnh vực trong đời sống của cá nhân, có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống tinh thần của cá nhân Mỗi hành vi xâm phạm đến hình ảnh

cá nhân đều ít nhiều ảnh hưởng đến đời sống tin thần của cá nhân đó Do vậy, việc bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh là điều hết sức cần thiết trong xã hội hiện đại Tuy nhiên, với trình độ phát triển của xã hội như hiện nay, các hành vi xâm phạm đối với hình ảnh cá nhân ngày càng trở nên phổ biến Tuy chưa có một con số cụ thể về số vụ việc xâm phạm từ cơ quan có thẩm quyền nhưng nhìn chung

từ thực tế các vụ việc xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh có chiều hướng đa dạng và phức tạp với trình độ ngày càng tinh vi Chính vì vậy, để hiểu rõ nội dung và có các biện pháp bảo vệ hiệu quả quyền của cá nhân đối với hình ảnh thì trước tiên chúng ta cần tìm hiểu các dạng hành vi xâm phạm điển hình quyền

của cá nhân đối với hình ảnh

2.1.1 Hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân với mục đích thương mại mà không được sự đồng ý

Với sự phát triển toàn diện của xã hội, đặc biệt là là trong lĩnh vực thương mại thì việc “thương mại hóa hình ảnh cá nhân” không còn xa lạ Các hoạt động thương mại sử dụng hình ảnh cá nhân thường là các hoạt động quảng cáo cho sản phẩm, nhãn hiệu, hay sử dụng hình ảnh cá nhân để quảng bá cho một dịch vụ làm đẹp… Chủ thể hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương mại có thể là các

ca sĩ, người mẫu, diễn viên, người nổi tiếng khác và cũng có thể là hình ảnh của một

cá nhân bất kì Chúng ta không còn lạ gì với những biển quảng cáo của các cửa hàng áo cưới, chăm sóc da hay thậm chí là cắt tóc, gội đầu với hình ảnh của các hoa hậu, diễn viên nổi tiếng tràn lan trên các con phố Thực tế, không phải trường hợp nào, người sử dụng hình ảnh cũng xin phép chủ nhân, người hiện diện trong bức ảnh đó Và hành vi sử dụng hình ảnh với mục đích thương mại mà không có sự đồng ý của chủ thể có hình ảnh được xem là đã vi phạm quyền của cá nhân đối với

Trang 35

hình ảnh theo quy định của Điều 32 BLDS 2015 Tuy nhiên, không phải lúc nào chủ thể có hình ảnh cũng phát hiện và các vụ việc xâm phạm cũng được xử lí Nói đến dạng hành vi xâm phạm này, không thể không kể đến một số trường hợp điển hình như:

Sau khi đội tuyển U23 Việt Nam giành ngôi vị Á quân tại giải U23 Châu Á

2018 thì cái tên Bùi Tiến Dũng nổi lên như một “cơn sốt” Để kịp thời khai thác hình ảnh và sử dụng trang cá nhân của thủ môn Bùi Tiến Dũng, một bảng báo giá của công ty truyền thông Orion Football Total (OFT) được lan truyền trên mạng xã hội Chúng ta không đề cập đến tính hợp lí của bảng báo giá này mà chỉ xét ở góc

độ pháp lí, liệu công ty truyền thông này có quyền đưa ra thông tin báo giá đối với hình ảnh của Thủ môn Bùi Tiến Dũng hay không? Trong khi đó, cơ quan chủ quản của Thủ môn Bùi Tiến Dũng, CLB FLC Thanh Hóa đã có khẳng định chính thức rằng: “Mọi hoạt động liên quan đến việc khai thác và sử dụng hình ảnh của các cầu

thủ CLB FLC Thanh Hóa - trong đó có thủ môn Bùi Tiến Dũng - đều do câu lạc bộ

quản lý Tất cả các cầu thủ của CLB FLC Thanh Hóa chỉ được cấp quyền khai thác hình ảnh cho những đối tác khi có được sự đồng ý bằng văn bản của CLB”36 Như vậy, hành vi sử dụng hình ảnh của thủ môn Bùi Tiến Dũng của công ty truyền thông OFT mà chưa có sự đồng ý của Bùi Tiến Dũng (hay cơ quan chủ quản của Bùi Tiến Dũng) là đã vi phạm quyền đối với hình ảnh của cá nhân khi sử dụng hình ảnh cá nhân vào mục đích thương mại mà không có sự đồng ý của cá nhân đó

Trào lưu bán hàng online dường như đang dần trở thành một kênh buôn bán

có hiệu quả và chiếm lĩnh ưu thế hơn các kênh buôn bán truyền thống bởi sự tiện lợi, linh động của nó Kênh buôn bán này phù hợp với mọi người, mọi lứa tuổi và hầu hết các mặt hàng đều có thể bán qua mạng Trước tình hình đó, nhiều người lợi dụng hình ảnh của các tài khoản đã nổi tiếng, đã có nhiều khách hàng nhằm chuộc lợi, mang khách hàng về cho mình hoặc nghiêm trọng hơn là bán các mặt hàng giả mạo, kém chất lượng Đây là một trong những hành vi vi phạm quy định về sử dụng hình ảnh cá nhân, thương hiệu cá nhân vào mục đích thương mại

36

https://baomoi.com/xung-quanh-vu-on-ao-ve-bang-gia-quang-cao-cua-thu-thanh-bui-tien-dung-co-nhung-thu -phai-ro-rang/c/24825178.epi , truy cập: 26/04/2018.

Trang 36

Năm 2010, sau khi đạt giải nhất cuộc thi Việt Nam Idol, Nguyễn Trần Uyên Linh nổi lên như một hiện tượng hiếm có trong làng giải trí Việt Nam Uyên Linh lúc đó chỉ mới 22 tuổi, không được đào tạo bài bản về kỹ thuật thanh nhạc nhưng đã chinh phục được đông đảo khán giả và Ban Giám Khảo cuộc thi Việt Nam Idol để giành vị trí cao nhất Tiếng hát của Uyên Linh dường như trở thành một hiệu ứng, được lan truyền với tốc độ rất cao trong cộng đồng mạng Trong khi cơn sốt Uyên Linh chưa hạ nhiệt thì Công ty cổ phần dịch vụ phần mềm Trò chơi Việt đã tung ra một game online với cái tên câu khách: “Em muốn làm Uyên Linh” để thu lợi nhuận Theo thể lệ trò chơi, người chơi sẽ chọn ra 5 đối thủ bao gồm Uyên Linh và các thành viên của cuộc thi Việt Nam Idol như nhạc sĩ Quốc Trung, đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, Nhà báo Diễm Quỳnh, ca sĩ Siu Black, Mc Phan Anh, Văn Mai Hương, Lều Phương Anh… để thực hiện việc ném trứng Và những đối thủ này

sẽ thay nhau bị “ăn” trứng thối tùy vào cảm xúc và sự lựa chọn của người chơi Chúng ta khoan bàn đến vấn đề có hay không việc bôi nhọ hình ảnh của Uyên Linh trong game ném trứng trên (nội dung này sẽ được tác giả trình bày ở phần sau), mà vấn đề chúng ta đề cập đến là nếu muốn sử dụng, khai thác hình ảnh của Uyên Linh cho mục đích thương mại, thì Công ty cổ phần dịch vụ phần mềm Trò chơi Việt phải thực hiện việc thỏa thuận, kí kết hợp đồng với Uyên Linh Sau khi đã kí hợp đồng thì mới được sử dụng hình ảnh của Uyên Linh để kinh doanh Việc sử dụng hình ảnh của Uyên Linh để kinh doanh game mà chưa có sự đồng ý của nữ ca sĩ là

vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định tại Khoản 1 Điều 32 BLDS năm 2015

Cũng là một vụ việc điển hình sử dụng hình ảnh cá nhân vì mục đích thương mại nhưng không có sự đồng ý của cá nhân có hình ảnh, công ty N.V Organon đã bị người mẫu Kim Tiên khởi kiện vào năm 2008 vì lí do sử dụng hình ảnh của cô để quảng cáo cho thuốc ngừa thai mà không được cô đồng ý Theo trình bày của người mẫu, thì vào tháng 10 năm 2007, cô được bạn bè cho biết hình ảnh của cô được dùng để quảng cáo cho sản phẩm thuốc tránh thai Mercilon Đây là bức ảnh mà nữ người mẫu chụp cùng một bạn trai theo lời mời của nhiếp ảnh gia Pier Laurenza (với tư cách bạn bè) Lần chụp này, nhiếp ảnh gia không hề đề cập đến chuyện sử dụng hình ảnh cho quảng cáo Sau nhiều lần đề nghị hòa giải không thành với phía công ty Organon, Kim Tiên quyết định khởi kiện lên tòa Trong đơn, Kim Tiên yêu cầu công ty Organon phải ngưng ngay việc sử dụng hình của cô để kinh doanh,

Trang 37

đăng lời xin lỗi trên những tờ báo đã quảng cáo và bồi thường thiệt hại 30.000 USD Theo người mẫu này, lý do cô phải nhờ tòa án can thiệp là "muốn mọi người có cái nhìn trân trọng đối với giới người mẫu, đặc biệt trong việc sử dụng hình ảnh để kinh doanh, kiếm lợi"37

Một trường hợp khác đó là vụ kiện của gia đình bé Minh Khôi và công ty Biti’s Theo đó, đầu năm 2004, gia đình bé Minh Khôi kiện Công ty Biti’s, đòi bồi thường thiệt hại 154 triệu đồng vì Biti’s xài trái phép ảnh của bé Minh Khôi in trên bìa lịch, tập quảng cáo Tháng 9 năm 2004, TAND quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh buộc Biti’s phải xin lỗi công khai gia đình bé Khôi, chấm dứt vô điều kiện việc sử dụng trái phép hình ảnh của bé và bồi thường gần ba triệu đồng38

Hay một vụ việc khác vào tháng 2 năm 2004, Công ty Điện toán và Truyền

số liệu VDC (Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam) đã sử dụng nhưng không xin phép ảnh “Hai bà cháu” trên thẻ gọi điện thoại 1717 Đây là bức ảnh được nghệ sĩ Mạnh Đan chụp năm 1982 Sau đó, VDC phối hợp với đơn vị thiết kế mẫu đến gặp gia đình thân nhân người được chụp ảnh để nhận lỗi, thoả thuận bồi thường Rõ ràng trong trường hợp này, hành vi sử dụng hình ảnh “Hai bà cháu” vào mục đích thương mại mà không có sự đồng ý là vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh theo quy định của pháp luật

Nếu những vụ việc nêu trên hành vi tuy xâm phạm hình ảnh cá nhân nhưng các bức ảnh đều chính chủ, tức là danh tính chủ thể trong bức ảnh không bị làm sai lệch thì vụ việc sau đây cũng là một biểu hiện của dạng hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân vì mục đích thương mại mà không có sự đồng ý tuy nhiên nó lại khiến cho người

bị xâm phạm rơi vào tính huống oái ăm, đó là hiện tượng “râu ông nọ cắm cằm bà kia” Một hãng Mỹ phẩm, SPA đã ngang nhiên dùng ảnh chị K.V (một chuyên gia truyền thông) để gắn vào những cái tên, địa chỉ lạ hoắc để "minh chứng" về kết quả dùng sản phẩm của hãng này Rõ ràng đó là hình ảnh của mình và quyền lợi của mình

37 K.Huy, “Người mẫu kiện vì bị lợi dụng quảng cáo… thuốc ngừa thai”, Link nguồn:

https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/gioi-sao/trong-nuoc/nguoi-mau-kien-vi-bi-loi-dung-quang-cao thuoc-ngu a-thai-1895366.html, truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2018.

38

http://www.vietnamese-law-consultancy.com/vietnamese/content/browse.php?action=shownews&id=38&top icid=1175, truy cập: 27/4/2018.

Trang 38

bị ảnh hưởng nhưng bức ảnh lại được chú thích bởi cái tên xa lạ mình không hề quen biết

Từ những vụ việc trên cho thấy, hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân vì mục đích thương mại mà không có sự đồng ý của cá nhân ngày càng trở nên phổ biến và

đa dạng Chủ thể bị vi phạm không chỉ là những người nổi tiếng mà còn có thể là bất kì một cá nhân nào Dù chủ thể là ai thì mục đích mà người vi phạm hướng đến đều nhằm thu lợi nhuận từ việc khai thác hình ảnh của các cá nhân

2.1.2 Hành vi sử dụng hình ảnh gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm

Kể từ khi Internet được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam, dù mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng không thể phủ nhận những tác hại vô cùng to lớn khi nó được sử dụng cho mục đích xấu Với sức lan tỏa trên phạm vi rộng, khả năng truyền tải thông tin, hình ảnh tối ưu nhất từ trước đến nay thì Internet là một môi trường thuận lợi để đưa những thông tin, hình ảnh đến với cộng đồng một cách nhanh chóng nhờ tính năng chia sẻ không giới hạn Vì lẽ đó, những vụ phát tán hình ảnh vì mục đích xấu thường xuyên xảy ra hơn và không có dấu hiệu giảm

Thời gian gần đây, hàng loạt các vụ việc xâm phạm hình ảnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của cá nhân xảy ra Với nhiều cách thức vi phạm như đăng tải và phát tán hình ảnh nhạy cảm, ảnh riêng tư, tung các đoạn video, các clip (có thể có thật hoặc là hình ảnh cắt ghép)… với nhiều mục đích khác nhau như: tung tin đồn thất thiệt để câu lượt xem, lượt thích trên các trang mạng xã hội, trả thù cá nhân, tống tiền, hay đơn giản chỉ để thỏa mãn thú vui của người thực hiện hành vi Điển hình không thể không kể đến hàng loạt các vụ việc: Mới đây, trong chương trình Cà-phê sáng với VTV3, một nhà báo kiêm dẫn chương trình truyền hình đã bức xúc cho biết, gần đây phát hiện một website tự tiện lấy tên tuổi, hình ảnh, thậm chí tự bịa ra bài phỏng vấn về ông để bán thuốc trị ngáy, gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của ông khi không ít người tưởng thật Nhà báo này khẳng định, đây không phải lần đầu ông bị lợi dụng để bán hàng qua mạng, mặc dù đã nhiều lần nhờ tới các phương tiện thông tin đại chúng xác nhận ông không dùng Facebook, cũng không bao giờ dùng hình ảnh, tên tuổi của mình quảng cáo cho bất kỳ loại hàng hóa nào, nhưng vẫn bị nhiều trang facebook mạo danh Hàng loạt nghệ sĩ, diễn viên nổi tiếng vừa qua cũng chung cảnh ngộ, là nạn nhân của thói “xài chùa” hình ảnh Sau thành công từ bộ phim Người phán xử, sức nóng

Trang 39

của nhân vật chính Phan Quân đã khiến nhiều kẻ xấu liên tiếp lợi dụng hình ảnh của diễn viên đóng vai này để quảng cáo cho đủ các thể loại sản phẩm thuốc, từ trị ngáy ngủ tới trị hôi nách Một số ca sĩ, người mẫu thời trang được nhiều người biết tới cũng không ít lần vướng vào những câu chuyện dở khóc dở cười Thực trạng trên, một mặt báo động mức độ “loạn” quảng cáo kinh doanh trên mạng xã hội, mặt khác, cũng cho thấy nhiều nguy hại tiềm tàng Nguy hiểm hơn, khi nạn hàng giả, hàng nhái đang được giới thiệu tràn lan trên mạng thì những quảng cáo kiểu “đánh lận con đen” này rất dễ khiến người xem tin thật và trở thành nạn nhân của việc tiêu thụ các sản phẩm kém chất lượng39

Vụ việc xảy ra vào tháng cuối năm 2017 khi hình ảnh cá nhân của một viên chức thuộc Sở Thông tin và Truyền thông Quảng Nam bất ngờ bị nhiều trang mạng

sử dụng làm ảnh minh họa cho người chồng trong vụ giết người tại tỉnh Bình Dương đã khiến nạn nhân hết sức bức xúc Hành vi đưa hình ảnh cá nhân rồi chú thích sai sự thật theo chiều hướng xuyên tạc, bịa đặt của các trang mạng, báo điện tử, một kiểu xâm phạm hình ảnh điển hình “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, không chỉ gây ảnh hưởng cho cá nhân này mà còn gây ảnh hưởng xấu đến cả một tập thể Bởi ở trường hợp này, sự việc không chỉ dừng lại ở người đăng tải thông tin mà còn được cộng đồng mạng xã hội sử dụng để chia sẻ, phát tán, dẫn đến những hiệu ứng xấu không thể lường trước đến cơ quan, tổ chức và công việc của cá nhân đó40

Vào tháng 3 năm 2017, một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng khi một nữ sinh lớp 11 ở Quãng Bình tự tử vì lí do bị lộ ảnh nhạy cảm trên các trang mạng xã hội và người đăng tải các hình ảnh đó không ai khác chính là người yêu của nạn nhân Sự việc xuất phát từ nguyên nhân do nảy sinh ghen tuông với nữ sinh mà anh người yêu đã gửi clip sex của mình và nữ sinh cho một số bạn bè thông qua tài khoản Facebook cá nhân Có thể thấy, hành vi đăng hình ảnh nhạy cảm này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của cô nữ sinh

Trang 40

Cũng vào tháng 5 năm 2017, một đoạn clip ân ái được cho là của người đẹp

Võ Hồng Ngọc Huệ, top 10 Hoa hậu Việt Nam 2014 cùng một người đàn ông lạ mặt bị phát tán rộng rãi trên mạng xã hội Sau khi hình ảnh nhạy cảm bị lan truyền, cộng đồng mạng thay nhau chỉ trích và có những bình luận mang tính công kích trên trang cá nhân của người đẹp này, gây ảnh hưởng đến hình tượng trong mắt mọi người

Một vụ việc gây chấn động đối với sinh viên trường Đại học Cần Thơ nói riêng và mọi người nói chung vào năm 2016 khi một nam sinh chụp ảnh, quay clip

và tống tiền đối với 17 nữ sinh của trường Vụ việc xảy ra vào đầu năm 2016, khi tham gia khóa học quốc phòng chung với nhiều sinh viên khác do trường Đại học Cần Thơ tổ chức tại tỉnh Hậu Giang thì nam sinh Dương Hồ Vũ đã quay lén 17 nữ sinh tắm để thỏa mãn nhu cầu cá nhân Tuy nhiên, sau đó vì túng tiền nên nam sinh

đã dùng tài khoản ảo để kết bạn với các nữ sinh bị quay clip rồi gửi các hình ảnh nhạy cảm của các nữ sinh, đồng thời yêu cầu phải chuyển tiền vào tài khoản cho Vũ nếu không Vũ sẽ tung các hình ảnh nhạy cảm đó lên mạng xã hội Nếu những bức ảnh nhạy cảm này được tung lên mạng xã hội thì hậu quả không ai có thể lường trước được

Quay lại vụ việc hình ảnh ca sĩ Uyên Linh bị dùng làm trò chơi “Em muốn làm Uyên Linh” được trình bày ở nội dung trước, ngoài vấn đề Công ty cổ phần dịch vụ phần mềm Trò chơi Việt vi phạm quyền của nữ ca sĩ đối với hình ảnh ở khía cạnh sử dụng hình ảnh của nữ ca sĩ vì mục đích thương mại mà không được sự đồng ý thì trò chơi này cũng đã gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của

nữ ca sĩ và các thành viên khác của chương trình Việc công ty sản xuất game online đưa hình ảnh méo mó của ca sĩ và các thành viên khác để người chơi ném trứng vào mặt là không thể chấp nhận và ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của nữ ca sĩ và các thành viên khác

Một vụ việc khác điển hình cho hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm cá nhân là trường hợp của nữ diễn viên, MC Đan Lê vào năm 2008 khi bị phát tán hình ảnh được cho là của nữ diễn viên Báo điện tử Tiền Phong đã cố tình khai thác tin đồn thất thiệt để đưa tin một cách chính thức trên thông tin điện tử của họ Dù sau đó cơ quan chức năng đã vào cuộc và xác minh hình ảnh đó không phải của nữ diễn viên, tuy nhiên sự nghiệp

Ngày đăng: 08/08/2023, 06:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Việt Anh, “Ngăn chặn hành vi sử dụng trái phép hình ảnh cá nhân để quảng cáo”, Link nguồn:vanhoa/dien-dan/item/36245202-ngan-chan-hanh-vi-su-dung-trai-phep-hinh-anh-ca-nhan-de-quang-cao.html, truy cập: 24/5/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngăn chặn hành vi sử dụng trái phép hình ảnh cá nhân để quảng cáo
2. Bộ Tư pháp (2001), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
3. Thái Thị Tuyết Dung (2012), Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc gia, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc g
Tác giả: Thái Thị Tuyết Dung
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
4. Chế Mỹ Phương Đài (chủ nhiệm) (2011), Trách nhiệm bồi thương thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân theo quy định tại Bộ luật dân sự 2005, Đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến nhân quyền, tr.21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thương thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân theo quy định tại Bộ luật dân sự 2005
Tác giả: Chế Mỹ Phương Đài (chủ nhiệm)
Năm: 2011
5. Đỗ Văn Đại (Chủ biên) (2015), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân Sự 2015, Nxb.Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam, tr.66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân Sự 2015
Tác giả: Đỗ Văn Đại (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb.Hồng Đức
Năm: 2015
6. Đỗ Văn Đại(2016), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng - Bản án và bình luận bản án, Nxb.Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr.594 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng - Bản án và bình luận bản án
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb.Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2016
7. Trần Thị Thu Hằng (2014), Quyền cá nhân đối với hình ảnh theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Trường Đại học quốc gia Hà Nội, tr.23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền cá nhân đối với hình ảnh theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Thu Hằng
Năm: 2014
8. K. Huy. “Người mẫu kiện vì bị lợi dụng quảng cáo… thuốc ngừa thai”, Link nguồn:https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/gioi-sao/trong-nuoc/nguoi-mau-kien-vi-bi-loi-dung-quang-cao--thuoc-ngua-thai-1895366.html, truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người mẫu kiện vì bị lợi dụng quảng cáo… thuốc ngừa thai
Tác giả: K. Huy
Nhà XB: VnExpress
Năm: 2018
9. Minh Khôi, “Bồi thường 70 triệu đồng vì đăng ảnh không xin phép - Quyền hình ảnh, từ quy định đến thực tế”, Link nguồn:http://www.fdvn.vn/tai-lieu-phap-luat/boi-thuong-70-trieu-dong-vi-dang-anh-khong-xin-phep-quyen-hinh-anh-tu-quy-dinh-den-thuc-te/, truy cập: 28/5/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi thường 70 triệu đồng vì đăng ảnh không xin phép - Quyền hình ảnh, từ quy định đến thực tế
Tác giả: Minh Khôi
Nhà XB: Luật sư FDVN
Năm: 2019
3. Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc. II. CÁC TÀI LIỆU KHÁC CÓ LIÊN QUAN Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w