- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về nền kinh tế chia sẻ xe tại Việt Nam; - Làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến nền kinh tế chia sẻ; - Đánh giá được các tác động tích cực cũng như
Trang 1TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN QUẢN TRỊ - LUẬT
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ CHIA SẺ XE ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM &
CÁC ĐỐI TƯỢNG LIÊN QUAN
Giảng viên hướng dẫn: ThS Hà Thị Thanh Mai Người thực hiện: Đỗ Hoàng Vi Sinh
MSSV: 13511010300089 Lớp: 43- QTL38
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ CHIA SẺ XE ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM &
CÁC ĐỐI TƯỢNG LIÊN QUAN
Giảng viên hướng dẫn: ThS Hà Thị Thanh Mai Người thực hiện: Đỗ Hoàng Vi Sinh
MSSV: 13511010300089 Lớp: 43- QTL38
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN QUẢN TRỊ - LUẬT
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Giảng viên hướng dẫn
Hà Thị Thanh Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Cô Hà Thị Thanh Mai đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, giải đáp những thắc mắc trong suốt quá trình em thực hiện và hoàn tất đề tài Em vô cùng biết ơn sự chỉ bảo cũng như những góp ý, nhận xét quý giá của Cô, nhờ những đóng góp ấy đã giúp em hoàn thành đề tài một cách tốt nhất
Em xin được gửi lời tri ân đến Quý Thầy Cô Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, đặc biệt là Quý Thầy Cô Khoa Quản trị, đã truyền đạt những bài học quý báu, những kinh nghiệm giá trị suốt những năm ngồi trên ghế giảng đường
Cuối lời, em xin kính chúc toàn thể Quý Thầy Cô Trường Đại học Luật TP.HCM dồi dào sức khỏe, thành công trong cuộc sống và sự nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện
Đỗ Hoàng Vi Sinh
Trang 5CÁC DANH TỪ VIẾT TẮT
GRAB Công ty trách nhiệm hữu hạn Grab Việt Nam UBER Công ty trách nhiệm hữu hạn Uber Việt Nam
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 1.1 Mô hình cơ bản mô tả quy trình vận hành của nền kinh tế chia sẻ 8
Hình 2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của CTCP Ánh Dương Việt Nam (Vinasun) 38 Hình 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của CTCP vận tải tốc hành Mai Linh 39
Hình 2.4 Quy hoạch và hiện trạng taxi, xe hợp đồng giống như taxi tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh 43
Hình 2.5 Độ tuổi của đối tượng tham gia khảo sát 54
Hình 2.6 Nghề nghiệp của đối tượng tham gia khảo sát 55
Hình 2.7 Giới tính của đối tượng tham gia khảo sát 55
Hình 2.8 Nơi sống của đối tượng tham gia khảo sát 56
Hình 2.9 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ gọi xe thông qua ứng dụng Grab, Uber 56
Hình 2.10 Khảo sát lý do người tiêu dùng lựa chọn dịch vụ vận tải trực tuyến 60
Hình 2.11 Mục đích của người tiêu dùng khi chịn dịch vụ vẩn tải trực tuyến 61
Hình 2.12 Thị phần của nền kinh tế chia tại Đông Nam Á 62
(2015-2025) 62
Hình 2.13 Ước tính số người sử dụng điện thoại thông minh tại Việt Nam 63
(2015-2022) 63
Hình 2.14 Ước tính số người sử dụng Internet di động tại Việt Nam 64
(2015-2022) 64
Hình 2.15 Ước tính Doanh thu trong phân khúc chia sẻ xe tại Việt Nam 64
(2016-2022) 65
Hình 2.16 Ước tính sự tăng trưởng doanh thu của nền kinh tế chia sẻ xe Error!
Bookmark not defined
Trang 7tại Việt Nam (2017-2022) 65 Hình 2.17 Ước tính số người sử dụng dịch vụ chia sẻ vận tải trực tuyến tại Việt Nam (2016-2022) 66 Hình 2.18 Ước tính số người mức độ thâm nhập của người dùng trong dịch vụ chia sẻ
xe trực tuyến (2016-2022) 66 Hình 2.19 Ước tính Doanh thu trung bình trên mỗi người dùng 67 (2016-2022) 67 Hình 2.20 Ước tính doanh thu được nền kinh tế chia sẻ xe tạo ra ở thị trường Việt Nam năm 2018 67
Trang 8MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ CHIA SẺ 6
1.1 Cơ sở lý luận về nền kinh tế chia sẻ 6
1.1.1 Lịch sử nền kinh tế chia sẻ 6
1.1.2 Khái niệm nền kinh tế chia sẻ 7
1.1.3 Khái niệm nền kinh tế chia sẻ xe và sơ lược về Grab, Uber 11
1.1.3.1 Khái niệm về nền kinh tế chia sẻ xe 11
1.1.3.2 Sơ lược về Công ty TNHH Grab Việt Nam 12
1.1.3.3 Sơ lược về Công ty TNHH Uber Việt Nam: 13
1.2 Cơ sở lý luận về kinh doanh vận tải và điều kiện kinh doanh của kinh doanh vận tải 14
1.2.1 Khái niệm kinh doanh vận tải bằng ô tô và kinh doanh vận tải bằng hợp đồng điện tử 14
1.2.1.1 Khái niệm kinh doanh vận tải bằng ô tô 14
1.2.1.2 Khái niệm kinh doanh vận tải bằng hợp đồng điện tử 14
1.2.2 Điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô 14
Trang 91.2.2.1 Điều kiện chung kinh doanh vận tải bằng ô tô 15
1.2.2.2 Điều kiện kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi: 16
1.2.2.3 Điều kiện kinh doanh xe hợp đồng điện tử 17
1.2.3 Hợp đồng lao động và hợp đồng dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam 18
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG CỦA NỀN KINH TẾ CHIA SẺ XE TẠI VIỆT NAM 21
MỤC I: TÁC ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ CHIA SẺ XE ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 21
2.1 Tác động tích cực 21
2.1.1 Với Đối tác 21
2.1.2 Với Người tiêu dùng (Hành khách) 23
2.1.3 Với các doanh nghiệp vận tải truyền thống 25
2.1.4 Với nền kinh tế Việt Nam 26
2.2 Tác động tiêu cực 31
2.2.1 Với Đối tác 31
2.2.2 Với Người tiêu dùng 35
2.2.3 Với các doanh nghiệp vận tải truyền thống 37
2.2.4 Với nền kinh tế Việt Nam 40
MỤC II: KHẢO SÁT HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ VẬN TẢI TRỰC TUYẾN TẠI VIỆT NAM 54
MỤC 3: DỰ BÁO SỰ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ CHIA SẺ XE TẠI VIỆT NAM TRONG VÀI NĂM TỚI 61
CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỀN KINH TẾ CHIA SẺ XE TẠI VIỆT NAM 69
Trang 103.1 Kiến nghị giải pháp 69 3.2 Kết luận 77
Trang 111
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tại Việt Nam, trong thời gian qua tần suất xuất hiện của thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” và các vấn đề liên quan đến nó ngày càng nhiều Chia sẻ nền tảng kinh tế trong thời đại kinh tế 4.01 dẫn đến việc phân phối lại tài sản (như những chiếc xe) chưa sử dụng hay sử dụng ít cho những người sẵn sàng trả tiền cho các dịch vụ đã nhận được sự chú
ý to lớn trong những năm trở lại đây Nền kinh tế chia sẻ giúp tái phân phối các nguồn lực trong xã hội một cách hiệu quả hơn Điều này làm tăng giá trị sử dụng của các tài sản và các nguồn lực nhàn rỗi đó
Trước đây, các hoạt động kinh doanh theo mô hình kinh tế chia sẻ thường chỉ phát triển giới hạn trong một khu vực nhất định do hàng loạt rào cản như địa lý, ngôn ngữ và khả năng liên lạc với nhau Tuy nhiên, kể từ cuối thập kỷ trước, cùng với sự gia tăng về số lượng người sử dụng Internet, sự xuất hiện của điện thoại thông minh (smartphone) và máy tính bảng (tablet) đã giúp những người sở hữu tài sản và các nguồn lực nhàn rỗi khác, đồng thời những người có nhu cầu sử dụng chúng dễ dàng tiếp cận nhau hơn, giao tiếp tốt hơn giữa người mua và người bán và xác định tốt hơn chất lượng hàng hóa và dịch vụ Những thay đổi này đã làm giảm triệt để mức độ thông tin bất đối xứng ở hầu hết các thị trường Qua đó tạo ra cú hích mạnh cho sự phát triển của nền kinh tế chia sẻ
Nhờ vậy, hàng loạt dịch vụ chia sẻ đã ra đời và đạt được những thành công nhất định về doanh thu, lợi nhuận và cả danh tiếng thương hiệu doanh nghiệp trong những năm qua như Airbnb, Uber, Grab, Digi, Ola cùng nhiều Start-up trong nước như
1 Theo Gartner, Cách mạng Công nghiệp 4.0 (hay Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư) xuất phát từ khái niệm
"Industrie 4.0" trong một báo cáo của chính phủ Đức năm 2013 "Industrie 4.0" kết nối các hệ thống nhúng và cơ
sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa Công nghiệp, Kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong
Theo Klaus Schwab, Cách mạng Công nghiệp 4.0 được hiểu như sau:
"Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học"
Trang 122
Ahamove, jupviec.vn, Travelmob, Triip.me… Các dịch vụ này sử dụng Internet để liên lạc và thanh toán trực tuyến khiến cho mô hình nền kinh tế chia sẻ hoạt động với hiệu suất cao, tiết kiệm chi phí, tăng lợi ích cho người cho thuê, người đi thuê và người trung gian Các mô hình kinh doanh sáng tạo của nó đã phá vỡ nhiều ngành công nghiệp truyền thống
Đáng chú ý, kể từ năm 2014, một số công ty cung cấp dịch vụ chia sẻ đa quốc gia đã thâm nhập và ngày càng khẳng định được vị thế ở thị trường Việt Nam như Uber, Grab Sự xuất hiện và phát triển mạnh của các dịch vụ này đang “tiếp lửa” cho
sự phát triển của mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam
Tuy nhiên, bên cạnh việc tạo ra những ảnh hưởng tích cực thì việc chia sẻ xe tăng lên cũng đã dẫn đến những hậu quả không mong muốn khác có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam theo nhiều hướng khác nhau Trong khi đó, các cơ quan quản
lý còn khá lúng túng trong việc xác định bản chất và cách thức quản lý mô hình này Hiện nay, hệ thống pháp luật về hoạt động kinh doanh của nước ta như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật giao dịch điện tử… và các quy định về thuế hầu như còn bỏ ngỏ đối với mô hình kinh tế chia sẻ Chúng ta chưa có được những khung khổ pháp luật chặt chẽ để quản lý các mô hình hoạt động của kinh tế chia sẻ Kinh tế chia sẻ nói chung, nền kinh tế chia sẻ xe nói riêng đã đặt ra nhiều thách thức đối với các nhà quản
lý chính sách tại Việt Nam, bao gồm môi trường kinh doanh thuận lợi, đảm bảo hài hòa lợi ích đối với các mô hình kinh doanh dịch vụ truyền thống, kiểm soát việc minh bạch
về thông tin, quản lý giao dịch điện tử, thanh toán quốc tế về thương mại bằng thẻ, quản lý chất lượng dịch vụ, sản phẩm, chống thất thoát thuế và một số vấn đề xã hội khác nảy sinh như lao động, việc làm và an sinh xã hội Sự nở rộ của dịch vụ theo mô hình kinh tế chia sẻ nói chung và nền kinh tế chia sẻ xe nói riêng tại Việt Nam cũng đang cho thấy mối lo ngại về sự cạnh tranh không bình đẳng, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời và đúng đắn
Chính vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu và hiểu rõ hơn những dịch vụ mới này, điều chỉnh và bổ sung kịp thời các văn bản pháp quy để quản lý tốt hoạt động kinh doanh theo mô hình kinh tế chia sẻ và khai thác tối đa tiềm năng của mô hình này, qua
đó giúp nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong nước
Trang 133
2 Mục tiêu của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về nền kinh tế chia sẻ xe tại Việt Nam;
- Làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến nền kinh tế chia sẻ;
- Đánh giá được các tác động tích cực cũng như tiêu cực của nền kinh tế chia sẻ
xe đến thị trường Việt Nam;
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc người tiêu dùng lựa chọn sử dụng các ứng dụng vận tải kết nối;
- Dự báo về tiềm năng phát triển của nền kinh tế chia sẻ xe tại Việt Nam trong thời gian tới;
- Từ kết quả nghiên cứu đưa ra giải pháp và đề nghị để các cơ quan tổ chức có thẩm quyền cũng như các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức có liên quan khác có cái nhìn mang chiều rộng và sâu hơn trong lĩnh vực này cũng như có cơ sở để xây dựng các văn bản hướng dẫn điều tiết thị trường này
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Thực trạng các tác động của nền kinh tế chia sẻ xe tại thị trường Việt Nam; + Giải pháp để nâng cao hoạt động chia sẻ tại thị trường Việt Nam
Trang 144
cũng sẽ nghiên cứu các quy định pháp luật có liên quan điều chỉnh các vấn đề này
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm 2 yếu tố: không gian và thời gian
- Không gian: nghiên cứu tác động của nền kinh tế chia sẻ xe đến nền kinh tế Việt Nam
- Thời gian: nghiên cứu tác động của nền kinh tế chia sẻ xe từ khoảng năm 2014 đến năm 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Bài luận được sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu: phương pháp luận và các phương pháp cụ thể
- Phương pháp luận: Phương pháp diễn dịch
- Phương pháp cụ thể:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, từ các bài nghiên cứu khoa học liên quan đến nền kinh tế chia sẻ, các ý kiến từ các chuyên gia về kinh tế chia sẻ ở trong nước cũng như các nước trên thế giới
Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề cạnh tranh, nghiên cứu về luật lao động, luật Thương mại điện tử, bảo vệ người tiêu dùng, các quy định của Luật Thương mại về điều kiện thực hiện các chương trình khuyến mãi…
Nghiên cứu Nghị định 86/2014/NĐ-CP về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô và Quyết định số 24/QĐ-BGTVT về ban hành kế hoạch thí điểm triển khai, ứng dụng khoa học công nghệ trong việc hỗ trợ quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng cùng nhiều văn bản pháp luật có liên quan khác
Trang 15Kết cấu của bài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nền kinh tế chia sẻ
Chương 2: Thực trạng và xu hướng của nền kinh tế chia sẻ xe tại Việt Nam
Chương 3: Kiến nghị giải pháp hỗ trợ việc quản lý nền kinh tế chia sẻ xe tại thị trường Việt Nam
Trang 166
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ CHIA SẺ
1.1 Cơ sở lý luận về nền kinh tế chia sẻ
1.1.1 Lịch sử nền kinh tế chia sẻ
Có một sự thật là con người đã tìm ra cách để tổ chức chia sẻ tài nguyên nói chung, chia sẻ xe nói riêng trong hàng thiên niên kỷ Việc chia sẻ xe thực sự đã được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1948 tại Zurich và rất phổ biến ở Bắc Âu vào những năm
1980 và được điều hành bởi nhiều hợp tác xã không vì lợi nhuận
Ở Mỹ, khái niệm nền kinh tế chia sẻ được bắt đầu manh nha từ năm 1995, với
mô hình ban đầu có tính chất “chia sẻ ngang hàng” nhưng không rõ rệt Mô hình kinh doanh này thực sự phát triển mạnh mẽ khi nền kinh tế Mỹ rơi vào khủng hoảng năm
2008, người dân buộc phải thay đổi cách tiêu dùng để thích ứng với bối cảnh khó khăn Việc “chia sẻ” những tài nguyên sẵn có bằng các ứng dụng công nghệ cùng những khoản lợi nhuận khổng lồ đem lại cho nhà cung ứng dịch vụ lẫn người cho thuê và sử dụng tài nguyên, đã khiến mô hình kinh doanh này nhanh chóng phát triển vượt ra khỏi biên giới Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới
Sự tôn sùng cho chủ nghĩa tiêu dùng sở hữu trước đó đang lụi tàn dần và được thay thế bằng chủ nghĩa tiêu dùng cộng tác Chia sẻ và tái phân phối tài nguyên bắt đầu
rẻ đi so với việc mua đồ mới và vứt đi đồ cũ Trong nền kinh tế chia sẻ, mọi người không chỉ là người mua mà còn có thể là người bán thông qua cơ chế thương mại ngang hàng (P2P) Việc này giúp những thứ được lãng phí do không dùng đến được tận dụng một cách hiệu quả và triệt để Sự phát triển mạnh mẽ của Internet cùng với các thiết bị công nghệ số đã giúp cho việc kết nối những người có và những người cần trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết chỉ với vài cú click chuột hay chạm nhẹ ngón tay trên màn hình Thông qua nền tảng công nghệ, con người bắt đầu thay đổi quan hệ với những thứ mình tư hữu, họ nhận ra những thứ có thể được truy cập mà không cần sở hữu, thứ đắt đỏ trong việc duy trì, thứ không thực sự cần thiết, thứ không được dùng thường xuyên…đều nên thuê chứ không nên mua Điều này thay đổi tâm lý “tư hữu” Các công ty bắt đầu phát triển mô hình tính phí theo số lần sử dụng, thay vì theo sở hữu như trước đây Bây giờ có hàng trăm công ty cung cấp nền tảng ứng dụng tạo điều kiện
Trang 177
cho việc chia sẻ tài sản như: Airbnb, Uber, Grab, Ola, Digi… ra đời và ngày càng phát triển, tạo nên một làn sóng mới_làn sóng chia sẻ Các công ty này sử dụng công nghệ điện thoại, GPS, 3G, thanh toán trực tuyến (thanh toán Online) khiến cho mô hình nền kinh tế chia sẻ hoạt động với hiệu suất cao, tiết kiệm chi phí, tăng lợi ích cho người cung ứng, người có nhu cầu và người trung gian Đồng thời việc tiết kiệm vốn của công ty (không phải mua các phương tiện vận tải hay xây khách sạn…) mà sử dụng vốn cộng đồng (phương tiện vận tải của người tham gia, nhà ở của người tham gia) giúp các công ty có thể bành trướng, nhanh chóng phổ biến mô hình này ra toàn thế giới
Các nền tảng chia sẻ tự định nghĩa ngày càng ngày càng thâm nhập vào các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế như giao thông, nhà ở và cho thuê, bán lẻ, không gian văn phòng và hậu cần, tài chính và tín dụng tiêu dùng, và thị trường lao động Chúng hoạt động trên các thị trường yếu tố (vốn, lao động) và trên thị trường sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) và do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
1.1.2 Khái niệm nền kinh tế chia sẻ
Vậy nền kinh tế chia sẻ là gì?
Kinh tế chia sẻ, người ta còn gọi phương thức này bằng rất nhiều cái tên như:
“tiêu dùng cộng tác”, “lối sống tài sản tạm thời”, “nền kinh tế hợp tác”, “nền kinh tế ngang hàng” hay “nền kinh tế tiếp cận”
- Được định nghĩa bởi Ủy ban châu Âu và Nghị viên châu Âu 3
Thuật ngữ “hợp tác kinh tế” thường được sử dụng thay thế cho nhau với thuật ngữ “chia sẻ nền kinh tế”, nhưng chưa có định nghĩa phổ biến nào được chấp nhận một cách rộng rãi và chính thức vì không có sự nhất trí về việc liệu chúng có đại diện cho cùng một khái niệm hay không Ủy ban châu Âu chủ yếu sử dụng thuật ngữ “hợp tác kinh tế” (“collaborative economy”) trong tài liệu Trong khi đó, Nghị viện châu Âu và một số cơ quan khác (ví dụ: Ủy ban của các khu vực, Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Âu) lại sử dụng thuật ngữ “chia sẻ kinh tế” (“sharing economy”)
3 , Briefing, November 2016, A European agenda for the collaborative economy
http://www.europarl.europa.eu/RegData/etudes/BRIE/2016/593510/EPRS_BRI(2016)593510_EN.pdf
Trang 188
Theo thông tin của Ủy ban châu Âu, nền “kinh tế hợp tác” đề cập đến các mô hình kinh doanh nơi các hoạt động được tạo điều kiện bởi các nền tảng cộng tác tạo ra thị trường mở cho việc sử dụng tạm thời hàng hóa hoặc dịch vụ thường được cung cấp bởi tư nhân, cá nhân “Nền kinh tế hợp tác”, theo quy định của Ủy ban, bao gồm:
1 Nhà cung cấp dịch vụ chia sẻ tài sản, tài nguyên, thời gian và/ hoặc kỹ năng;
2 Người dùng của các dịch vụ này và
3 Nền tảng cộng tác
Đại diện của Ủy ban châu Âu bổ sung lưu ý rằng các giao dịch hợp tác kinh tế thường
không bao gồm thay đổi quyền sở hữu và có thể được thực hiện vì lợi nhuận cũng như phi lợi nhuận Theo nghị quyết của Nghị viện châu Âu năm 2015: “nền kinh tế chia
sẻ”, hoặc “tiêu dùng hợp tác” là một mô hình kinh tế xã hội mới đã diễn ra nhờ cuộc cách mạng công nghệ, với internet kết nối mọi người thông qua các nền tảng trực tuyến được tiến hành một cách an toàn và minh bạch
Một số định nghĩa khác:
Hình 1.1 Mô hình cơ bản mô tả quy trình vận hành của nền kinh tế chia sẻ
Trang 199
- Sunjoo Oh và Jae Yun Moon không đưa ra một định nghĩa cụ thể mà định
nghĩa “chia sẻ kinh tế” bằng cách liệt kê các thuộc tính phổ biến của nó.4Gồm:
1 Khả năng truy cập mở dựa trên mối quan hệ xã hội;
2 Tin tưởng;
3 Tạo giá trị và
4 Giao dịch ngang hàng
- Tương tự cách định nghĩa này, một học giả khác cũng cho rằng: “tìm cách
lọc chúng theo các tiêu chí rõ ràng có thể tốt hơn so với việc đưa ra một định nghĩa cụ thể Năm thành phần chính để cho rằng đó là “nền kinh tế hợp tác”
1 Ý tưởng kinh doanh cốt lõi liên quan đến việc mở khóa giá trị của tài sản không
sử dụng hoặc chưa được sử dụng cho dù đó là lợi ích tiền tệ hoặc phi tiền tệ;
2 Công ty nên có một sứ mệnh rõ ràng về giá trị và được xây dựng dựa trên các nguyên tắc có ý nghĩa bao gồm tính minh bạch, tính nhân văn và tính xác thực nhằm đưa ra các quyết định chiến lược ngắn và dài hạn;
3 Các nhà cung cấp bên cung cấp phải được coi trọng, tôn trọng, và trao quyền và các công ty cam kết làm cho cuộc sống của những nhà cung cấp này trở nên tốt hơn về kinh tế và xã hội;
4 Các khách hàng ở phía cầu của các nền tảng sẽ được hưởng lợi từ khả năng nhận hàng hóa và dịch vụ theo những cách hiệu quả hơn có nghĩa là họ trả tiền cho quyền truy cập thay vì quyền sở hữu;
5 Kinh doanh phải được xây dựng trên các khu chợ phân tán hoặc các mạng lưới phân quyền, tạo ra cảm giác thuộc về, trách nhiệm tập thể và cùng có lợi thông qua cộng đồng mà họ xây dựng
- Năm 2015, cụm từ "chia sẻ nền kinh tế" chính thức xuất hiện trên các trang
của Từ điển Anh ngữ Oxford
4 Sunjoo Oh, Jae Yun Moon, August 17 - 19, 2016, Calling for a shared understanding of the "sharing
economy"
https://dl.acm.org/citation.cfm?id=2971638&dl=ACM&coll=DL
Trang 2010
Tuy nhiên, sự phát triển ngày càng tăng của các mô hình kinh doanh truyền thống và sự bùng nổ của các công ty khởi nghiệp cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu đã dẫn đến sự mơ hồ về thuật ngữ này Các cụm từ "chia sẻ nền kinh tế", "nền kinh tế hợp tác" và "nền kinh tế theo yêu cầu" thường được sử dụng hoán đổi cho nhau, mặc dù chúng có cùng ý nghĩa về mặt kỹ thuật
Làm rõ định nghĩa về chia sẻ kinh tế là rất quan trọng vì cả người ủng hộ và người phản đối đều đang yêu cầu các quy định được xác định và làm rõ nhằm bảo vệ doanh nghiệp và cá nhân
Theo Oxford English Dictionary, nền kinh tế chia sẻ được định nghĩa là "một hệ
thống kinh tế trong đó tài sản hoặc dịch vụ được chia sẻ giữa các cá nhân tư nhân, hoặc là miễn phí hoặc có thu phí, thường là thông qua Internet" Theo truyền thống
được mô tả như là một mạng lưới tài nguyên cùng loại, ngang hàng, mô hình này có nhiều khả năng được sử dụng khi giá của một tài sản cao và tài sản không được sử dụng đúng hoặc đang hoạt động ở trạng thái nhàn rỗi
- Theo ông Yuhei Okakita, Phó Giám đốc Bộ phận chính sách thông tin kinh tế
– Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản
"Kinh tế chia sẻ" có thể được định nghĩa là hoạt động tái thiết kinh tế, trong đó các cá nhân ẩn danh có thể sử dụng các tài sản nhàn rỗi (bao gồm cả các tài sản vô hình như kỹ năng cá nhân và thời gian rảnh rỗi), được sở hữu bởi các cá nhân khác thông qua các nền tảng kết hợp trên Internet.5
Tóm lại: có thể hiểu rằng nền kinh tế chia sẻ là một biểu hiện của việc áp dụng
công nghệ nhằm giảm sự lãng phí trong tiêu dùng, hướng tới cộng đồng, thành phố thông minh – tài nguyên được dùng một cách hiệu quả Đến nay có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau nhưng theo cách hiểu phổ biến nhất, mô hình kinh tế chia sẻ là một hệ thống kinh tế mà ở đó tài sản hoặc dịch vụ được chia sẻ dùng chung giữa các cá nhân, hoặc không phải trả tiền hoặc phải trả một khoản tiền, với tính chất điển hình là thông qua các công cụ Internet Đây là một phương thức kết nối mới giữa người mua (người dùng) và người bán (người cung cấp) đối với một hoạt động kinh tế
5 nam-135625.html
Trang 211.1.3 Khái niệm nền kinh tế chia sẻ xe và sơ lược về Grab, Uber
1.1.3.1 Khái niệm về nền kinh tế chia sẻ xe (nền kinh tế chia sẻ chuyến đi)
Có bao giờ bạn tự hỏi: “Tại sao lại phải chi ra một khoản kếch xù để mua một chiếc xe mà bạn hoàn toàn có thể thuê nó với giá rẻ hơn rất nhiều từ một người khác trên mạng?” Và đó chính là nguyên tắc căn bản các dịch vụ vận tải trực tuyến cho phép mọi người chia sẻ ô tô, xe máy bằng cách kết nối giữa các chủ sở hữu của tài sản ít được sử dụng với những người sẵn sàng trả tiền để sử dụng chúng
Nếu hoạt động theo đúng bản chất thì có thể hiểu rằng, Grab hay Uber đơn
giản chỉ là các công ty cung cấp các ứng dụng gọi xe kết nối giữa các tài xế với hành
khách, tận dụng nguồn tài nguyên là xe đang lãng phí và người lao động không kiếm được việc làm trong cộng đồng Các công ty như Grab, Uber – giúp những người sở hữu chiếc xe nhàn rỗi của họ, hoạt động như một “cò trung gian”, tìm kiếm những người có nhu cầu cho thuê và thuê, giúp họ trao đổi với nhau và hưởng một phần hoa hồng Chủ sở hữu xe sẽ đăng ký trên nền tảng, làm bài kiểm tra khả năng lái xe Người muốn đi xe sẽ lên nền tảng tìm xe gần đó, liên lạc để người lái xe đến nơi và chở mình
đi Sau sử dụng dịch vụ, người lái và người dùng dịch vụ sẽ đánh giá lẫn nhau trên nền tảng Hoạt động với nhiều loại hình đa dạng như GrabBike, GrabTaxi, GrabCar, UberBlack, UberMoto, UberX, UberSUV
Trang 2212
1.1.3.2 Sơ lược về Công ty TNHH Grab Việt Nam
Grab được đồng sáng lập bởi Anthony Tan và Hooi Ling Tan có trụ sở chính tại Singapore Ứng dụng đã được vào hoạt động với tên gọi đầu tiên là Myteksi tại Malaysia vào năm 2012 và thu hút 11,000 lượt tải về vào ngay ngày đầu tiên Sau đó đổi tên thành GrabTaxi Chỉ trong vài năm ngắn ngủi, Grab đã phát triển thành ứng dụng đặt xe được ưa chuộng nhất Đông Nam Á Tính đến tháng 6/2017, Grab có tới 2,5 triệu lượt đi mỗi ngày, trở thành nền tảng đặt xe công nghệ lớn nhất và là ứng dụng được tài xế và hành khách yêu thích sử dụng nhiều nhất tại Đông Nam Á Grab đang có mặt tại 6 quốc gia Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thailand, Myanmar, Campuchia và Việt Nam Ứng dụng Grab đã được tải xuống hơn 45 triệu thiết bị, gấp
ba lần con số tính từ tháng 6 năm trước.6 Trong thời gian qua, GrabTaxi mở rộng khá nhiều loại hình hoạt động, chứ không còn đơn thuần chỉ là ứng dụng gọi xe taxi Chính
vì vậy, việc đổi tên thành Grab đã giúp hãng thống nhất tên gọi, loại bỏ những nhầm lẫn không đáng có Grab chính thức có mặt tại Việt Nam vào khoảng đầu năm 2014 và thành lập pháp nhân tại thị trường này với ngành nghề kinh doanh chính là vận tải hành khách đường bộ trong nội thành, ngoại thành (trừ vận tải bẳng xe buýt) Hiện, 51% cổ phần Grab Việt Nam là của ông Nguyễn Tuấn Anh, 49% còn lại là của Grab có trụ sở tại Cayman Islands_một cái tên quen thuộc trong các quần đảo giấu vàng ở vùng biển Caribean huyền thoại.7
Các loại hình dịch vụ mà Grab cung cấp:
- GrabTaxi: cung cấp dịch vụ kết nối giữa hành khách và lái xe cho xe taxi; (là
ứng dụng sàn giao dịch thương mại điện tử có phạm vi hoạt động trên toàn quốc
và được vận hành hoàn toàn hợp pháp theo quy định của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thương mại điện tử.)
- GrabCar: là dịch vụ xe hơi cá nhân giữa hành khách và lái xe cho xe ô tô dưới
9 chỗ theo hợp đồng điện tử; (loại hình này được áp dụng theo QĐ số 24/2016/QĐ-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải về việc triển khai thí điểm xe hợp đồng điện tử);
6 https://www.grab.com/vn/press/business/grab-ky-niem-5-nam-thanh-lap/
7 https://tuoitre.vn/tien-cua-uber-chay-ve-dau-20180406145951929.htm
Trang 2313
- GrabShare: chia sẻ chuyến đi với hành khách khác có cùng chuyến đi;
- GrabBike: cung cấp dịch vụ kết nối và giao kết hợp đồng điện tử giữa hành
khách và lái xe cho xe máy chở khách;
- GrabExpress: dịch vụ giao hàng tiện lợi bằng xe máy;
- GrabFood: loại hình dịch vụ mới ra mắt gần đây, giúp kết nối các nhà hàng,
quán ăn với tất cả mọi người và giao nhận thức ăn tận nơi
1.1.3.3 Sơ lược về Công ty TNHH Uber Việt Nam:
Uber (tên ban đầu là UberCab) được đồng sáng lập bởi Travis Kalanick và Garrett Camp, là sản phẩm của công ty Uber Technology Inc., được thành lập vào tháng 3/2009 có trụ sở tại San Francisco, California, Hoa Kỳ Tính đến 2017, Uber có tới 15 triệu lượt đi mỗi ngày, trở thành nền tảng đặt xe công nghệ lớn nhất toàn cầu Uber đang có mặt tại 65 quốc gia, hơn 600 thành phố trên toàn thế giới.8 Uber Technologies Inc thành lập “Uber International C.V” tại Bermuda9 Uber International C.V tiếp tục thành lập “Uber B.V10” và “Uber International B.V” tại Hà Lan Cũng tại đây, “Uber International B.V” tiếp tục thành lập “Uber International Holdings B.V”
Năm 2014, “Uber International Holdings B.V” đến Việt Nam và thành lập doanh nghiệp thế hệ thứ 5 và đặt tên là Công ty TNHH Uber Việt Nam với ngành nghề đăng ký kinh doanh là hoạt động tư vấn quản lý Chính vì vậy, Uber Việt Nam không trực tiếp khai thác dịch vụ mà chỉ làm việc do Uber B.V Hà Lan uỷ quyền và tiếp thị, nghiên cứu thị trường Pháp nhân trực tiếp cung cấp dịch vụ tại Việt Nam là Uber B.V (Hà Lan), hoạt động dưới danh nghĩa nhà thầu nước ngoài
Các dịch vụ mà Uber cung ứng có thể kể đến là:
- UberMoto: tương tự GrabBike
- UberBlack: xe Uber 4 chỗ chất lượng cao và hiện đại
- Uber SUV: xe 7 chỗ cao cấp
- UberX: là dịch vụ đặt xe taxi của Uber
Trang 2414
- UberDeliver: là dịch vụ giao nhận hàng tin cậy, tiết kiệm và nhanh chóng
1.2 Cơ sở lý luận về kinh doanh vận tải và điều kiện kinh doanh của kinh doanh vận tải
1.2.1 Khái niệm kinh doanh vận tải bằng ô tô và kinh doanh vận tải bằng hợp đồng điện tử
1.2.1.1 Khái niệm kinh doanh vận tải bằng ô tô
Theo Điều 3 khoản 1, 2, 3 Nghị định 86/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 09 năm
2014 thì kinh doanh vận tải là:
1 Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô là việc sử dụng xe ô tô vận tải hàng hóa, hành khách trên đường bộ nhằm mục đích sinh lợi; bao gồm kinh doanh vận tải thu tiền trực tiếp và kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp
2 Kinh doanh vận tải thu tiền trực tiếp là hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô
tô, trong đó đơn vị kinh doanh vận tải cung cấp dịch vụ vận tải và thu cước phí vận tải trực tiếp từ khách hàng
3 Kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp là hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, trong đó đơn vị kinh doanh vừa thực hiện công đoạn vận tải, vừa thực hiện ít nhất một công đoạn khác trong quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ và thu cước phí vận tải thông qua doanh thu từ sản phẩm hoặc dịch vụ đó
4 Đơn vị kinh doanh vận tải là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh tham gia kinh doanh vận tải bằng xe ô tô
1.2.1.2 Khái niệm kinh doanh vận tải bằng hợp đồng điện tử
Hợp đồng vận tải hành khách được giao kết và thể hiện thông qua các thông điệp dữ liệu điện tử (Hợp đồng điện tử) được sử dụng thay cho hợp đồng vận tải bằng văn bản giữa người sử dụng dịch vụ vận tải và doanh nghiệp, hợp tác xã cung cấp dịch
vụ vận tải hành khách theo hợp đồng (nội dung hợp đồng điện tử phải đáp ứng như quy
định tại Điều 7 NĐ 86/2014/NĐ-CP
1.2.2 Điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô
Trang 2515
Căn cứ pháp lý:
- Luật giao thông đường bộ năm 2008;
- Nghị định số 86/2014/NĐ-CP về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải
bằng xe ô tô;
- Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải
bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ
1.2.2.1 Điều kiện chung kinh doanh vận tải bằng ô tô
Theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP thì đơn vị kinh doanh
vận tải bằng xe ô tô phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của pháp luật;
- Phương tiện phải bảo đảm số lượng, chất lượng phù hợp với hình thức kinh doanh, cụ thể:
+ Khi hoạt động kinh doanh vận tải phải có đủ số lượng phương tiện theo phương án kinh doanh đã được duyệt; phương tiện phải thuộc quyền sở hữu của đơn vị kinh doanh vận tải hoặc quyền sử dụng hợp pháp theo hợp đồng của đơn vị kinh doanh vận tải với tổ chức cho thuê tài chính hoặc tổ chức,
cá nhân có chức năng cho thuê tài sản theo quy định của pháp luật
+ Trường hợp xe đăng ký thuộc sở hữu của thành viên hợp tác xã phải có hợp đồng dịch vụ giữa thành viên với hợp tác xã, trong đó quy định hợp tác xã
có quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ quản lý, sử dụng, điều hành xe ô tô thuộc
sở hữu của thành viên hợp tác xã;
+ Xe ô tô phải bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường;
+ Xe phải được gắn thiết bị giám sát hành trình theo quy định
- Lái xe và nhân viên phục vụ trên xe:
+ Lái xe không phải là người đang trong thời gian bị cấm hành nghề theo quy định của pháp luật;
+ Lái xe và nhân viên phục vụ trên xe phải có hợp đồng lao động bằng văn bản với đơn vị kinh doanh vận tải theo mẫu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (trừ các trường hợp đồng thời là chủ hộ kinh doanh hoặc là
bố, mẹ, vợ, chồng hoặc con của chủ hộ kinh doanh)
Trang 26+ Đơn vị kinh doanh vận tải có phương tiện thuộc diện bắt buộc phải gắn thiết
bị giám sát hành trình của xe phải trang bị máy tính, đường truyền kết nối mạng và phải theo dõi, xử lý thông tin tiếp nhận từ thiết bị giám sát hành trình của xe;
+ Đơn vị kinh doanh vận tải bố trí đủ số lượng lái xe theo phương án kinh doanh, chịu trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe cho lái xe và sử dụng lái xe
đủ sức khỏe theo quy định;
+ Doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định, xe buýt, xe taxi phải đăng ký và thực hiện tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ vận tải hành khách
1.2.2.2 Điều kiện kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi:
Điều kiện kinh doanh dịch vụ taxi: doanh nghiệp muốn kinh doanh dịch vụ taxi phải đáp ứng các điều kiện chung về kinh doanh vận tải bằng xe ô tô Ngoài ra còn phải đáp ứng điều kiện riêng đối với kinh doanh dịch vụ taxi Cụ thể như sau:
- Xe taxi phải có sức chứa từ 09 chỗ ngồi trở xuống (kể cả người lái xe)
- Xe taxi có niên hạn sử dụng không quá 08 năm tại đô thị loại đặc biệt; không quá 12 năm tại các địa phương khác
- Trên xe phải gắn đồng hồ tính tiền được cơ quan có thẩm quyền về đo lường kiểm định và kẹp chì
- Doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi phải đăng
ký và thực hiện sơn biểu trưng (logo) không trùng với biểu trưng đã đăng ký của
Trang 27ký tần số liên lạc và có thiết bị liên lạc giữa trung tâm với các xe thuộc đơn vị
- Doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi phải có số
xe tối thiểu là 10 xe; riêng đối với đô thị loại đặc biệt phải có số xe tối thiểu là
lái xe dễ nhận biết khi điều khiển phương tiện khẩu hiệu: “Tính mạng con người
là trên hết” theo mẫu quy định tại Phụ lục 10 Thông tư 63/2014/TT-BGTVT
- Trên xe có trang bị bình chữa cháy còn sử dụng được và còn hạn theo quy định
1.2.2.3 Điều kiện kinh doanh xe hợp đồng điện tử
Theo đó, điều kiện kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng cũng bao gồm các điều kiện chung của kinh doanh vận tải bằng ô tô và có thêm các điều kiện riêng sau:
- Đối với lái xe: khi thực hiện vận tải hành khách theo hợp đồng, lái xe phải mang theo bản chính hoặc bản sao hợp đồng vận tải và danh sách hành khách có xác nhận của đơn vị vận tải;
- Đối với phương tiện: xe ô tô dưới 9 chỗ ngồi có lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, được cấp phù hiệu xe hợp đồng, niên hạn không quá 8 năm;
- Ngoại trừ các trường hợp đặc biệt theo luật định, xe ô tô vận chuyển hành khách không được đón, trả khách ngoài các địa điểm ghi trong hợp đồng; (iv) từ ngày 1-1-2017, xe taxi Grab, Uber vận chuyển trên 300 km thì hãng xe tại thành phố
Trang 28Khái niệm Về bản chất, hợp đồng lao động
là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động
về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ
hợp đồng” (Điều 15 Bộ luật lao động 2012)
Hợp đồng dịch vụ là “sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên
sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch
vụ cho bên cung ứng” (Điều 513
Bộ luật dân sự 2015)
Đặc điểm Hợp đồng mua bán sức lao động
Đối tượng là việc làm có trả lương;
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng thường
bị giới hạn bởi khung pháp lý nhất định,
Ấn định về chủ thể, người lao động phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng,
Công việc được thực hiện trong khoảng thời gian nhất định đã đươc xác định
2005 quy định về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ theo kết quả công việc:
Nếu tính chất của loại dịch vụ được cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải đạt được một kết quả nhất định thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với các điều khoản và mục đích của hợp đồng Trong trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể về tiêu chuẩn kết quả cần đạt được, bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ
Trang 2919
với kết quả phù hợp với tiêu chuẩn thông thường của loại dịch vụ đó (trừ trường hợp có thỏa thuận khác)
Mức độ
quản lý
Người lao động được trả lương
và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động Theo
đó, người sử dụng lao động sẽ quản lý cả về thời gian, công việc hàng ngày, có quyền điều chuyển người lao động làm công việc khác trong từng trường hợp
cụ thể… sao cho phù hợp với nhu cầu của mình trong từng giai đoạn
Đối với hợp đồng dịch vụ, người cung cấp dịch vụ không phải chịu
sự “điều hành” bởi người thuê dịch vụ Người cung cấp dịch vụ phải tự tổ chức công việc sao cho đạt được kết quả theo hợp đồng dịch vụ
Đối với hợp đồng dịch vụ, bên cung cấp dịch vụ được thay đổi người thực hiện hợp đồng nếu được sự đồng ý của bên yêu cầu dịch vụ
Trang 3020
hợp đồng thực hiện liên tục trong một
khoảng thời gian nhất định đã thỏa thuận trước, không được tự
ý ngắt quãng hợp đồng, trừ khi pháp luật lao động có quy định
cần liên tục, chỉ cần hoàn thành xong công việc, việc ngắt quãng phụ thuộc vào người thực hiện công việc
Trang 3121
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG CỦA NỀN KINH TẾ CHIA SẺ
XE TẠI VIỆT NAM MỤC I: TÁC ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ CHIA SẺ XE ĐẾN NỀN KINH TẾ
- Tăng việc làm từ ứng dụng, giảm tỷ lệ thất nghiệp:
Gần 1 triệu đối tác tài xế (hơn 930.000 người) hiện đang dựa vào nền tảng Grab
để tạo thu nhập cho gia đình Số lượng tài xế đã tăng trưởng 340% hàng năm kể từ năm
2013 Người lái xe có thể tiếp cận nhiều hành khách hơn và tốn ít thời gian hơn Một bài viết trên website chính thức của Grab vào tháng 6/ 2017 chỉ ra rằng Grab đã tăng trưởng gấp 3 lần trong năm vừa qua, đạt 45 triệu lượt tải về, và lên tới 2,5 triệu chuyến
đi mỗi ngày11
- Tăng thu nhập, nâng cao mức sống
Người lái xe có thể thu được thêm thu nhập từ khuyến khích trong mã khuyến mại thêm từ mức giá mét Các đối tác tài xế của Grab có thu nhập trung bình cao hơn một phần ba (32%) trên một giờ so với mức lương lao động trung bình tại tất cả các thị trường của Grab Thu nhập của đối tác tài xế cao nhất tại Việt Nam (cao hơn 55% so với mức lương trung bình) Chẳng hạn như: các đối tác chạy toàn thời gian cho GrabBike (trung bình 8 tiếng/ ngày, 6 ngày / tuần) có thu nhập trung bình từ 8 triệu đến
10 triệu đồng / tháng Các đối tác chạy bán thời gian trung bình khoảng 4 tiếng / ngày
có thu nhập trung bình 4 triệu / tháng, tương đương 24 nghìn đồng / giờ
11 https://www.grab.com/vn/press/business/grab-ky-niem-5-nam-thanh-lap/
Trang 3222
Ngày càng có nhiều tiện ích được tích hợp vào ứng dụng để hỗ trợ đối tác, đây
là cách mà GrabChat khiến mọi thứ trở nên an toàn hơn
GrabChat được tạo ra để giúp các đối tác bớt phân tâm khi lái xe Nó có thể giúp
họ liên lạc nhanh với khách hàng bằng những mẫu tin nhắn phổ biến đã được soạn sẵn, chỉ cần chạm nhẹ là có thể gửi ngay như: “Xin chào, 5 phút nữa tôi sẽ tới nơi.”
- Cải thiện khả năng dùng thiết bị số trong thời đại công nghệ
Với rất nhiều đối tác tài xế, ứng dụng Grab hay Uber là trải nghiệm đầu tiên của
họ với thế giới công nghệ Bằng cách hướng dẫn họ sử dụng smartphone, các công ty chia sẻ đã gián tiếp giúp họ có được những kỹ năng sử dụng thiết bị số cơ bản Đồng thời, chúng tôi tạo cho họ một sự tự tin nhất định để mạnh dạn dùng thử những ứng dụng mang tính công nghệ cao khác như e-banking, Skype…
- Xây dựng cộng đồng, quan tâm đến đói tác và cả gia đình của họ
+ Trở thành đối tác tài xế của Grab đồng nghĩa với việc bạn chính thức trở thành một phần trong cộng đồng tài xế của họ Grab thường xuyên tổ chức những buổi gặp gỡ xuyên quốc gia giữa các đối tác tài xế để họ có cơ hội chia
sẻ những kinh nghiệm với nhau cũng như nói lên những phản hồi của mình với công ty Các bác tài tiêu biểu sẽ được trao thưởng những phần thưởng khuyến khích như: Học bổng cho con cái, xe máy trợ cấp… Rất nhiều cá nhân nổi trội đã được vinh danh trong các buổi lễ trao giải dành riêng cho đối tác tài xế
+ Chương trình hỗ trợ tài chính mua xe của Grab cũng giúp rất nhiều đối tác
sở hữu được chiếc xe mơ ước với mức giá hữu nghị
+ Grab đã hợp tác với các trường dạy lái xe chuyên nghiệp để tăng cường kỹ năng cũng tăng cường như huấn luyện các đối tác những thao tác tự vệ khi lái xe
+ Khóa học kỹ năng định kỳ miễn phí
+ Hàng tháng, Grab có tổ chức những lớp học kỹ năng MIỄN PHÍ dành cho đối Tác Không chỉ để nâng cao kỹ năng, mà còn là sân chơi để Đối tác giao lưu, chia sẻ và giải trí
Trang 3323
Khoá học Sơ cấp cứu: do Hội chữ thập đỏ hướng dẫn, giúp Đối tác
có những kỹ năng cơ bản nhất để cấp cứu cho bản thân và khách hàng
Khoá học lái xe phòng vệ: giúp Đối Tác nâng cao kỹ năng lái xe, dễ dàng vượt qua những đoạn đường khó, xử lý tình huống khi xảy ra va chạm
Khoá học Vui học tiếng Anh cùng Grab: với những mẹo đơn giản để
tự tin hơn khi đón khách nước ngoài
Khoá học Kỹ năng tự vệ: do Võ sư đứng lớp, hướng dẫn cho Đối Tác những thế võ cơ bản, biết cách phòng vệ, và cảm thấy yên tâm hơn trên những chuyến hành trình
+ Hàng loạt các chương trình đãi ngộ khác dành cho đối tác như:
Bảo hiểm tai nạn Liberty cho Đối tác GrabBike
GrabBike có liên kết với các điểm ăn uống, sửa – rửa xe… để mang đến cho Đối Tác GrabBike các dịch vụ tốt nhất, tiết kiệm kinh phí cho việc bảo trì xe, mua phụ kiện điện thoại, nghỉ ngơi và dùng bữa trưa
Grab thường xuyên tổ chức các cuộc thi và giải đấu giúp cho Đối tác giải toả căng thẳng và thể hiện tài năng của mình…
Nếu thật sự Grab thật hiện đầy đủ và hiệu quả những khóa học trên cho các đối tác của họ thì đây quả thật sự là điều đáng hoan nghênh, học hỏi và mở rộng
2.1.2 Với Người tiêu dùng (Hành khách)
- Giảm giá cước, mang lại nhiều sự lựa chọn hơn cho người tiêu dùng
Sự gia nhập của các công ty cung cấp ứng dụng kết nối như Grab và Uber đã thúc đẩy tính cạnh tranh của thị trường vận tải hành khách và mang lại nhiều sự lựa chọn đa dạng cho người tiêu dùng Cạnh tranh luôn là động lực tốt nhất để thúc đẩy việc giảm giá, cuối cùng người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi Đa số người tiêu dùng lại ủng hộ Uber và Grab vì họ được hưởng lợi Nhờ có 2 dịch vụ này mà người tiêu dùng
Trang 3424
giảm được đáng kể chi phí đi lại Họ cũng có nhiều lựa chọn hơn là chỉ mỗi taxi truyền thống, vốn có giá khá cao và nhiều lúc gọi xe không có
- Không còn phải đắn đo trả giá hay lo sợ việc “hét giá trên trời”
Người dân tại các thành phố thí điểm đang dần thay thế việc sở hữu một chiếc
xe bằng việc sử dụng dịch vụ chia sẻ chuyến đi Một điểm ưu việt so với các hãng taxi thông thường đó là khi bạn nhập xong điểm đón/ điểm đến và lựa chọn hình thức dịch
vụ, những ứng dụng gọi xe sẽ ngay lập tức hiển thị số tiền mà bạn phải trả tùy theo quãng đường di chuyển ngay trên màn hình điện thoại, giá tiền của mỗi chuyến đi vẫn dựa theo hành trình di chuyển mà khách hàng đã nhập, cộng với phụ phí giá linh hoạt dựa trên nhu cầu đi lại và lượng xe hiện có trong khi vực vào thời điểm đặt xe, cũng như thời gian ước tính cho cả hành trình nhưng mặc bằng chung vẫn rẻ hơn so với các hãng taxi truyền thống hay đi xe ôm, không phải lo bị “hớ” hay phải đắn đo trả giá các kiểu…
- Được phục vụ tốt hơn
Chất lượng xe được nâng cao, mẫu mã đa dạng, hầu hết thái độ của lái xe được cải thiện đáng kể so với các hãng taxi, xe ôm truyền thống, không ít tài xế taxi truyền thống có thái độ phục vụ kém, nhiều xe cũ kỹ do hãng và tài xế không quan tâm chăm sóc
Chính nhờ có Uber và Grab mà các doanh nghiệp taxi lớn (từng làm mưa, làm gió nhờ tận dụng chính sách ưu đãi là hạn chế các hãng taxi nhỏ tham gia thị trường Các doanh nghiệp lớn về taxi gần như là độc quyền và từng rất an toàn nhờ vào rào cản gia nhập (entry barrier) khá cao này buộc phải xem lại mình Các doanh nghiệp này bắt đầu bớt cậy thế độc quyền để áp giá tùy thích Vậy nên khi có các hãng khác nhảy vào, bắt buộc họ phải phục vụ lịch sự hơn, giá rẻ hơn
Tiết kiệm thời gian chờ phương tiện vận chuyển đến vì có thể biết được xung quanh mình có bao nhiêu phương tiện đang hoạt động và phương tiện nào gần nhất Hành khách có thể đi xe của họ với tốc độ từ việc tìm phương tiện di chuyển ở vị trí gần nhất trong vòng 2 phút, tiết kiệm được thời gian trong việc tìm kiếm Trung bình, các hành khách của Grab, Uber đến nơi với thời gian ít hơn một nửa (trung bình giảm
Trang 3525
52% thời gian di chuyển) so với các lựa chọn di chuyển bằng giao thông công cộng tại các thành phố của họ.12
- Tính minh bạch về chi tiết, lý lịch của lái xe ở một mức độ nhất định
Grab, Uber cũng đã giúp việc di chuyển trở nên an toàn hơn cho hàng triệu hành khách bằng cách liên tục nâng cao tiêu chuẩn an toàn trong ngành đặt xe công nghệ Chỉ cần gọi một chiếc xe thông qua ứng dụng gọi xe, người đi có thể biết hồ sơ người chở mình là ai? Hình hài thế nào? Bởi thế nếu có vấn đề gì sẽ trực tiếp liên hệ với công
ty hay cơ quan công an
“Grab for Work”, một công cụ đắc lực hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát hoạt
động di chuyển cho công tác của nhân viên Uber cũng có chương trình tương tự như thế này dành riêng cho các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp kể trên thường có nguồn nhân lực mỏng và tài lực hạn hẹp
Họ luôn tận dụng nhiều cách khác nhau để quản lý ngân sách của mình - chi phí di chuyển cũng là một trong những hạng mục cần quản lý Một vài doanh nghiệp vẫn giữ phương thức quản lý theo kiểu truyền thống, như: Tạo thẻ taxi cho công ty, lấy hóa đơn viết tay về nộp lại… Tháng 06/2016, Grab cho ra mắt Grab for Work - một giải pháp quản lý chi phí di chuyển cho các doanh nghiệp, hỗ trợ cho các doanh nghiệp địa phương Với nền tảng hoạt động chính vẫn là ứng dụng Grab, các doanh nghiệp giờ đây có thể quản lý chi phí đi lại của mình dễ dàng hơn, cũng như tiết kiệm được nhiều ngân sách hơn Hóa đơn điện tử với thông tin chi tiết về chuyến đi sẽ được gửi trực tiếp
về hộp thư của từng nhân viên Quá trình này giúp tất cả mọi người tiết kiệm thời gian thu thập hoá đơn, giấy tờ…để quyết toán Chủ doanh nghiệp cũng thông qua Grab for Work để quản lý việc di chuyển của nhân viên Thậm chí, họ còn có thể chỉnh sửa chính sách kinh phí đi lại của doanh nghiệp mình dựa trên những số liệu được báo cáo
về
2.1.3 Với các doanh nghiệp vận tải truyền thống
- Tăng cạnh tranh, các doanh nghiệp vận tải phải không ngừng đổi mới công
nghệ, chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh
12 https://www.grab.com/vn/press/business/grab-ky-niem-5-nam-thanh-lap/
Trang 3626
Điều dễ nhận thấy hiện nay là, mô hình Uber và Grab tại Việt Nam, đã thách thức và cạnh tranh vô cùng khốc liệt với loại hình taxi truyền thống khiến dần dần các doanh nghiệp vận tải này cũng phải thay đổi để tăng sức cạnh tranh
Sự xuất hiện của hai hãng dịch vụ này cũng đã khiến cho các hãng vận tải hành khách lớn như Mai Linh hay Vinasun, Taxi Group phải lập tức thay đổi cung cách vận hành Nếu như tháng 8/2015, Mai Linh giới thiệu ứng dụng di động cho phép gọi xe taxi không cần thông qua tổng đài, thì đến cuối năm, Vinasun cũng nâng cao khả năng cạnh tranh bằng cách tung ra ứng dụng gọi xe Vinasun
- Mở rộng loại hình hoạt động:
Sự xuất hiện của Grab và Uber dẫn đến việc Bộ GTVT ban hành Quyết định số
24/ QĐ-BGTVT ngày 07 tháng 01 năm 2016 về kế hoạch thí điểm triển khai ứng dụng
khoa học công nghệ hỗ trợ quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng để góp phần điều chỉnh loại hình hoạt động mới này Đây không chỉ là các quy định áp dụng cho Grab hay Uber mà còn là cơ hội góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp vận tải truyền thống tái cấu trúc doanh nghiệp theo hướng mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh của lĩnh vực vận tải
2.1.4 Với nền kinh tế Việt Nam
Nền kinh tế chia sẻ là một lĩnh vực mới thú vị của nền kinh tế Sáng kiến kỹ thuật số đang tạo ra những cách hoàn toàn mới để kinh doanh Những dịch vụ mới này đang mở ra một thế hệ mới của các doanh nhân siêu nhỏ_những người kiếm tiền từ tài sản và kỹ năng họ đã có, các tuyến đường để tự làm việc chưa bao giờ được dễ dàng hơn Chẳng hạn như Grab: Họ đã mang lại thu nhập cao hơn cho gần 1 triệu đối tác ở Đông Nam Á nói chung và hàng chục ngàn đối tác ở Việt Nam nói riêng, có thu nhập trung bình tăng tới một phần ba kể từ khi thành lập 13
Nền kinh tế chia sẻ đã chuyển đổi nhiều lĩnh vực, trong đó có giao thông và thay đổi cách các doanh nghiệp làm việc với nhau
13 (https://www.grab.com/vn/press/business/grab-ky-niem-5-nam-thanh-lap/)
Trang 3727
Chúng ta cũng đang áp dụng các mô hình kinh doanh mới, thách thức các doanh nghiệp vận tải truyền thống làm tăng sự cạnh tranh, cung cấp các sản phẩm và kinh nghiệm mới mở rộng sự lựa chọn của người tiêu dùng và tôn trọng quyền tự do sử dụng tài sản của người dân
- Công nghệ giúp cho việc tổ chức tài nguyên dễ dàng hơn
Nền kinh tế chia sẻ cho phép mọi người chia sẻ tài sản, tài nguyên, thời gian và
kỹ năng trên các nền tảng trực tuyến Điều này có thể tạo điều kiện thuận lợi để khai thác các tài sản chưa sử dụng, những tài sản nhàn rỗi Nó cho phép mọi người đi từ sở hữu từ những chiếc xe hơi đắt tiền, để trả tiền cho họ chỉ khi họ cần chúng Các cá nhân có thể làm được nhiều hơn từ những kỹ năng của họ và thời gian làm việc trở nên linh hoạt hơn rất nhiều Người sử dụng, người tiêu dùng được cho là có lợi từ sự lựa chọn rẻ hơn và thuận tiện hơn do cạnh tranh nhiều hơn
Những phương thức thuê mướn ngang hàng vậy đã mang lại nguồn thu nhập bổ sung cho chủ sở hữu và giúp cho khách đi thuê tiết kiệm và thuận tiện hơn Thuê một thứ gì đó theo dịp chắc chắn rẻ hơn mua đứt hoàn toàn hoặc thuê nó từ một doanh nghiệp vận tải truyền thống cho thuê xe Internet giúp cho việc thuê và cho thuê rẻ và
dễ dàng hơn hơn bao giờ hết, từ đó cả cung và cầu đều tăng vọt Một chiếc smartphone
có ứng dụng bản đồ và định vị vệ tinh có thể tìm thấy một chiếc xe gần đó để thuê Mạng xã hội và hệ thống khuyến nghị bảo đảm sự tin tưởng, hệ thống thanh toán qua internet có thể xử lý các giao dịch Tất cả những tiện ích cho phép hàng triệu người xa
lạ trao đổi với nhau
Nền kinh tế chia sẻ xe đề cao chia sẻ và hợp tác hơn là tư hữu Con người thay
vì sở hữu để thỏa mãn nhu cầu của mình thì sẽ tìm những nguồn lực trong cộng đồng Nền kinh tế chia sẻ đang phát triển vì nó tái phân phối tài nguyên đang không được sử dụng hiệu quả, những chiếc xe mua rồi nhưng không dùng hay không được khai thác tối đa thời gian sử dụng sang chỗ mà nó được dùng hiệu quả hơn Trong xã hội mà các loại phương tiện giao thông chỉ được dùng trung bình 1 tiếng 1 ngày (dưới 5% thời gian) thì việc tái phân phối này là cần thiết để tiết kiệm tiền của người dùng và tài nguyên của xã hội
Trang 3828
Trước khi có mạng xã hội và cách tư duy mạng xã hội, việc tin tưởng người lạ rất khó khăn Sau khi có nó, chúng ta tin vào một người lạ thông qua hồ sơ tài khoản cá nhân của họ Chúng ta tin tưởng hơn vào dịch vụ vì có thể đánh giá người cung cấp dịch vụ sau đó Lợi thế của công nghệ đem tới cho mô hình là giảm những khó khăn khi giao dịch, tăng tốc độ trao đổi thông tin, từ đó tăng sự tin tưởng Phản hồi có thể giúp cải tiến chất lượng dịch vụ sản phẩm
Trong báo cáo “Moving SEA Together”14 (“Cùng nhau đưa Đông Nam Á tiến lên phía trước”) kỷ niệm cột mốc 5 năm thành lập Grab (6/2017) đã nêu bật sự tăng trưởng và ảnh hưởng của công ty lên đời sống người dân khắp Đông Nam Á nói chung, của Việt Nam nói riêng và đang đóng góp tích cực trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản như: ùn tắc giao thông, việc làm, niềm tin và sự tiếp cận nền kinh tế kỹ thuật số Các vấn đề này đang ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
- Kiến tạo ra một kỷ nguyên mới về phương thức thanh toán
Grab, Uber đang trong quá trình xây dựng một nền tảng người dùng tập trung vào các dịch vụ quan trọng nhất trong đời sống hàng ngày, trong đó có việc thanh toán
di động
Grab, Uber đã góp phần vào việc thay đổi phương thức thanh toán cũ kỹ, giúp những người dân Việt Nam vốn quen với hình thức chi trả bằng tiền mặt dần hội nhập nền kinh tế phi tiền mặt Phần đông người dân Việt Nam đều thích dùng tiền mặt để chi trả, đó là lý do vì sao khi khởi đầu, trên nền tảng một ứng dụng đặt xe cho phép người dùng thanh toán tiền mặt Tuy nhiên, trong 5 năm vừa qua, nền kinh tế điện tử ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ hơn nhiều, gần như làm nên một cuộc cách mạng thương mại trong khu vực Kinh tế điện tử cho phép người dùng có nhiều lựa chọn hơn, giả cả
rẻ hơn, độ phủ cũng dần rộng hơn và người dân có thể thanh toán tất cả chỉ với một cú chạm nhẹ Trên thực tế, có một báo cáo đã ước tính rằng hình thức thanh toán điện tử ở Đông Nam Á nói chung sẽ phát triển lên mức 20 tỷ đô vào năm 2025 Để giảm bớt sự chênh lệch giữa số lượng thẻ tín dụng ít ỏi người dân Việt Nam đang sở hữu và sự tăng trưởng không ngừng của phương thức thanh toán điện tử, năm 2016, Grab cho ra mắt
14 content/uploads/media/images/press/GRAB_5_YEARS_Moving_SEA_Together_Report.pdf
Trang 39https://17225-presscdn-0-73-pagely.netdna-ssl.com/sg/wp-29
GrabPay Credits Đây là một hình thức nạp và lưu trữ tiền mặt vào tài khoản Grab, thuộc hệ thống GrabPay Chọn thanh toán bằng GrabPay Credits, người dân sẽ có thể thanh toán an toàn hơn, nạp tiền cũng tiện lợi hơn GrabPay, giải pháp thanh toán di động độc quyền của Grab, thậm chí còn vượt mức tăng trưởng theo cấp số nhân của mảng dịch vụ vận chuyển của Grab Nền tảng người dùng GrabPay được tăng gấp đôi mỗi quý cho tới hết năm 2017 GrabPay Credits, một lựa chọn thanh toán trả trước không dùng tiền mặt, đã đạt mức tăng trưởng hàng tháng hơn 80% kể từ khi ra mắt vào tháng 12/2016, minh chứng cho sự tin tưởng của người tiêu dùng đối với nền tảng thanh toán di động của Grab
Cùng với đó là chương trình “Grab Rewards”, chương trình khách hàng thân
thiết đầu tiên trong ngành dịch vụ vận tải, chương trình này giúp mỗi chuyến đi của khách hàng đều có thể quy thành điểm thưởng Mọi người có thể sử dụng thẻ ngân hàng của mình để thanh toán và rồi tích điểm cho từng chuyến đi và có thể nạp thêm GrabPay Credits ở những cửa hàng tiện lợi địa phương, ngân hàng, trụ ATM
- Thúc đẩy sự phát phát triển của các ngành nghề khác
Grab, Uber không chỉ góp phần quan trọng thay đổi thói quen thanh toán bằng tiền mặt của người tiêu dùng, giúp dịch vụ thanh toán bằng thẻ có những bước tăng trưởng vượt bậc mà còn có những tác động tích cực đến sự tăng trưởng của hàng loạt các ngành nghề liên quan
+ Thúc đẩy du lịch phát triển
Grab còn hỗ trợ cả những du khách đến du lịch tại Việt Nam bằng cách cho phép người Trung Quốc thanh toán cước xe qua AliPay Tương tự, người dùng Android có thể dễ dàng thanh toán tiền xe bằng Android Pay Hình thức thanh toán thuận tiện sẽ làm tăng sự yêu thích của du khách nước ngoài khi đến Việt Nam, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch
+ Tài chính mở rộng
Các công ty trung gian này đang giúp cho hàng chục ngàn đối tác tài xế gia nhập vào hệ thống ngân hàng mỗi tháng Những ai muốn trở thành đối tác của họ đều cần có tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản tiền gửi Với những đối tác chưa có, họ sẽ
hỗ trợ họ làm thủ tục tạo một tài khoản mới Việc hướng dẫn các đối tác sử dụng các
Trang 40Sáng kiến “Telematics” của Grab được ra mắt đầu tiên ở Singapore với mục
tiêu giảm tốc độ lái xe, giúp theo dõi xem các tài xế có đi quá giới hạn tốc độ trên đường hay không Sau khi gửi nhắc nhở tới các tài xế chạy quá tốc độ Ứng dụng Grab dành cho các tài xế sẽ không chỉ giám sát tốc độ chạy xe mà còn theo dõi các chỉ báo
về hành vi lái xe an toàn như: thắng gấp, tăng tốc đột ngột và chuyển hướng một cách nguy hiểm Dựa trên sự kết hợp giữa phân tích dữ liệu và phân tích dự báo, tính năng
“Telematics” của Grab sẽ nhận diện các chuyến xe có hành vi lái xe gây nguy hiểm, và cung cấp cho các tài xế báo cáo hàng tuần về điểm số an toàn của họ Tính năng
“Telematics” tiên tiến này đã được ra mắt tại Singapore, và sẽ tiếp tục được triển khai
ở các quốc gia khác trong khu vực, điều này là một ảnh hưởng tích cực đối với tình hình giao thông ở Việt Nam hiện nay nếu nó được triển khai áp dụng một cách có hiệu quả
- Nền kinh tế chia sẻ giúp tối đa hóa lợi ích từ nguồn lực sẵn có
Tốc độ tăng trưởng của Grab, sự ra đời của hàng loạt start-up về mô hình kinh tế chia sẻ trên các lĩnh vực khác nhau hay tốc độ phủ sóng lên người tiêu dùng là những minh chứng không thể chối cãi cho những lợi ích mà mô hình kinh tế chia sẻ đem lại
Sự phát triển của nền công nghệ số đã đem đến lợi ích cho các doanh nghiệp, tác động tích cực đến đời sống từng cá nhân, giúp nhiều người tận dụng tốt hơn những thành tựu công nghệ thông tin để tối đa hoá lợi ích từ những nguồn lực có sẵn, thông qua việc chia sẻ, tận dụng các nguồn lực dư thừa của nhau Từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế cả nước
15 (https://www.grab.com/vn/press/business/grab-ky-niem-5-nam-thanh-lap/)