Bên cạnh hiệu quả kinh tế tolớn từ việc khai thác mỏ đá vôi mang lại, khu vực dự kiến khai thác đá vôi ítnhiều cũng ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, đặc biệt khu vực khai thác lạinằm
Trang 1CHƯƠNG MỘT GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trang 2CHƯƠNG MỘT GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Với công cuộc đổi mới của đất nước, nền kinh tế ngày càng phát triển thìnhu cầu ăn ở của con người cũng được nâng cao hơn Tuy nhiên trên thực tế thìhiện nay môi trường sống của con người đang bị đe dọa với nhiều thảm họa như:môi trường không khí ô nhiễm, môi trường sống của con người ngày càng kémchất lượng (đất, nước…) Để đảm bảo phát triển bền vững song song với việc pháttriển kinh tế xã hội, yêu cầu về bảo vệ môi trường ngày càng trở thành vấn đềquan tâm của toàn thế giới Ví dụ: xử lý, ngăn chặn, đề phòng những sự cố vàhiểm họa do môi trường gây ra, thực hiện công tác quản lý môi trường triệt để…Tây Ninh là tỉnh đang trong quá trình phát triển đô thị hoá, công nghiệphoá, trong đó ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọngtrong việc tạo đà phát triển của tỉnh
Đá vôi được phát hiện với trữ lượng lớn tại ấp Sroc Con Trăn thuộc xã TânHoà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh sẽ là nguồn cung cấp nhiên liệu cho nhàmáy xi măng Tây Ninh cũng là một phát hiện mới Bên cạnh hiệu quả kinh tế tolớn từ việc khai thác mỏ đá vôi mang lại, khu vực dự kiến khai thác đá vôi ítnhiều cũng ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, đặc biệt khu vực khai thác lạinằm ngay trong khu rừng phòng hộ của xã Tân Hòa, huyện Tân Châu, tỉnh TâyNinh
Thực tế cho thấy rằng rừng tự nhiên vốn là một tài sản quý báu của nước ta,nó có ý nghĩa vô cùng to lớn cả về mặt môi trường sinh thái, đa dạng sinh họccũng như về khía cạnh khoa học xã hội Tuy nhiên trong những năm gần đây dothiên tai xảy ra liên tiếp như: lũ quét, sạt lở, xói mòn, hạn hán… đã gây nên những
Trang 3hậu quả nặng nề cả về kinh tế xã hội lẫn về mặt sinh thái, mà nguyên nhân trựctiếp là do mất rừng tự nhiên ở những vùng xung yếu.
Rừng phòng hộ nói chung, rừng phòng hộ môi trường nói riêng có tác dụngbảo vệ đất đai, chống cát bay, bảo vệ đê biển, đê sông, chống ô nhiễm ở thànhphố, khu công nghiệp… do chức năng phòng hộ môi trường của rừng ngày càng trởnên quan trọng, để đảm bảo cho một môi trường bền vững nhằm phát triển kinhtế – xã hội, các hoạt động lâm nghiệp của chúng ta đặc biệt chú trọng vào rừngphòng hộ, rừng đặc dụng
Vì thế đồ án sẽ xoay quanh việc tìm hiểu, nghiên cứu về môi trường khu dựkiến khai thác đá vôi và đề ra những biện pháp bảo vệ, giảm thiểu ảnh hưởng củaviệc khai thác mỏ đá vôi tới môi trường, đặc biệt là khu rừng phòng hộ
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Khu vực dự kiến khai thác đá vôi sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến môi trường vàkhu rừng phòng hộ nên mục tiêu của đề tài sẽ tập trung vào các khả năng ảnhhưởng của việc khai thác đá vôi đến môi trường và khu rừng từ đó đề xuất cácbiện pháp bảo vệ môi trường và rừng trong suốt quá trình thực hiện khai thác mỏđá vôi
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Do khu vực mỏ Sroc Con Trăn nằm ngay trong rừng phòng hộ, nên ảnhhưởng của nó sẽ tác động trực tiếp đến môi trường sinh thái khu vực và do thờigian có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại 105ha (khu vực dự kiến khaithác) và vùng lân cận trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp tích cực bảo vệ môitrường và rừng khu vực dự kiến khai thác và vùng xung quanh
Trang 41.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Thu thập, biên hội các số liệu về điều kiện tự nhiên và môi trường vùng dựkiến khai thác và vùng lân cận tại ấp Sroc Con Trăn, xã Tân Hoà, huyện TânChâu, tỉnh Tây Ninh
- Khảo sát thực địa
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường và rừng tại vùng dự kiến khaithác mỏ
- Nghiên cứu, xác định khả năng ảnh hưởng tới môi trường và rừng của việckhai thác đá vôi
- Đề xuất biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường và bảo vệ rừngtrong suốt quá trình thực hiện khai thác đá vôi
Các phương pháp chính sau đây sẽõ được sử dụng trong nghiên cứu này
- Phỏng đoán:
Dựa vào kiến thức đã học và kinh nghiệm của các chuyên gia về phỏngđoán các tác động của khu vực dự kiến khai thác đá vôi đến môi trường và kinhtế xã hội
- Đánh giá nhanh:
Các phương pháp đánh giá nhanh các nguồn ô nhiễm nước, đất, không khídựa trên các hướng dẫn của WHO
- Tham vấn cộng đồng:
Phương pháp này sử dụng nhằm tham khảo các ý kiến của cộng đồng (ngườidân và cơ quan quản lý địa phương) về hiện trạng rừng và việc thực hiện khu vựcdự kiến khai thác đá vôi khai thác mỏ nhiên liệu Sroc Con Trăn
Trang 5- Quan sát quần thể thực vật:
Các loài thực vật được xác định bằng biện pháp quan sát tại hiện trường,tìm hiểu qua các đơn vị quản lý rừng, người dân địa phương sống trong khu vực.Sự phân bố và mật độ cây cỏ được ghi nhận, kết hợp với tài liệu khoa học doViện Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững Chi Nhánh Nam nghiên cứu, cùng vớiban Quản lý Dự án rừng phòng hộ Tây Ninh cung cấp
Trang 6CHƯƠNG HAI ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG
KHU VỰC DỰ KIẾN KHAI THÁC ĐÁ VÔI
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC DỰ KIẾN KHAI THÁC 2.1.1 Vị trí mỏ
2.1.2 Đặc điểm khí hậu
2.1.3 Đặc điểm chế độ thuỷ văn
2.1.4 Đặc điểm về địa hình
2.2 HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI (NƠI CÓ MỎ SROC CON TRĂN) 2.2.1 Tình hình dân số, dân tộc
2.2.2 Một số đặc điểm chung về phát triển kinh tế – xã hội tại xã Tân
Hoà
2.3.1 Đặc điểm chất lượng không khí và tiếng ồn
2.3.2 Đặc điểm chất lượng nứơc
2.3.3 Hiện trạng khu vực hệ thuỷ sinh
2.3.4 Kết luận chung về hiện trạng môi trường và xã hội khu vực dự
kiến khai thác
Trang 7CHƯƠNG HAI
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG
KHU VỰC DỰ KIẾN KHAI THÁC ĐÁ VÔI
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC DỰ KIẾN KHAI THÁC 2.1.1 Vị trí mỏ
Khu vực mỏ đá vôi và đá sét Sroc Con Trăn có diện tích khoảng 105 hathuộc địa phận ấp Sroc Con Trăn, xã Tân Hoà, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh
Diện tích khu vực mỏ được giới hạn bởi các điểm gốc toạ độ được nêu trong Bảng
1 và Hình 1 như sau.
Bảng 1: Tọa độ các điểm giới hạn diện tích khu vực mỏ
Hệ Toạ Độ Việt Nam
Trang 8Hình 1: sơ đồ vị trí khu vực dự kiến khai thác mỏ đá vôi Sroc Con Trăn
Trang 9- Khu vực 1: là khu chứa đất, đá, phi nguyên liệu bao gồm cát lẫn sỏilaterit, đá vôi, đolomit, sét bột kết.
- Khu vực 2: là khu vực dự trữ nguyên liệu đất sét, đá vôi cho nhà máy sảnxuất
2.1.2 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu của tỉnh Tây Ninh nói chung và khu vực xã Tân Hoà, huyện TânChâu, tỉnh Tây Ninh nói riêng mang đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa cậnxích đạo với hai mùa rõ rệt là mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, 11 vàmùa khô bắt đầu từ tháng 11, 12 đến tháng 4 năm sau
2.1.2.1 Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ tại Tây Ninh thay đổi theo mùa trong năm Nhiệt độ có xu hướngtăng cao vào cuối mùa khô (tháng 4 và tháng 5) và thấp nhất vào tháng 12
Nhiệt độ không khí trung bình tháng tại tỉnh Tây Ninh trong 20 năm qua
được trình bày trong Bảng 2
Trang 10Bảng 2: Nhiệt độ không khí trong nhiều năm tại Tây Ninh
Cực đạituyệt đối
Cực tiểutuyệt đối
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường Tây Ninh - 2005
Tây Ninh nằm ở vùng vĩ độ thấp của nội chí tuyến Bắc bán cầu Điều kiệnbức xạ quanh năm dồi dào, ít chịu ảnh hưởng của không khí lạnh cực đới phía Bắcmà chịu chi phối bởi khối không khí nóng ẩm nên chế độ nhiệt ở đây không giốngcác tỉnh phía Bắc Một số đặc điểm chính về nhiệt độ ghi nhận được ở Tây Ninhnhư sau:
- Chế độ nhiệt ít biến động qua các tháng trong năm, thường chỉ dao động0,5– 100C Tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng 4 và tháng cónhiệt độ thấp nhất là tháng 1 và tháng 12 Chênh lệch nhiệt độ trung bìnhgiữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất khoảng 3,70C
Trang 11- Nhiệt độ trung bình tại các vùng của tỉnh chênh lệch nhau không đáng kểriêng vùng cao phía Đông Bắc của tỉnh và trên núi Bà Đen, nhiệt độ thấphơn thị xã Tây Ninh khoảng 0,50C.
- Nhiệt độ trong ngày luôn thay đổi, nhiệt độ đạt giá trị cao nhất lúc 13-14giờ và thấp nhất là 4 – 5 giờ Từ 1976 đến nay, mới chỉ ghi được nhiệt độtối cao tuyệt đối là 390C (ngày 15/05/1983) và nhiệt độ tối thấp là 150C(ngày 29/12/1982)
2.1.2.2 Chế độ mưa
Tây Ninh có 2 mùa, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưachiếm 85,6 – 87,4% tổng lượng mưa của cả năm Trong mùa mưa thường xảy radạng mưa rào to, nặng hạt mau tạnh, vào những tháng đầu mùa mưa thường códông, sấm sét, trong mùa mưa có gió mùa Tây Nam, mùa khô lượng mưa ít nhưngtính chung trong lượng mưa và lượng bốc hơi gần ngang nhau nên dẫn đến hiệntượng khan hiếm nước xảy ra hạn hán vào cuối mùa khô, nhất là các vùng đất caophía Bắc và Đông Bắc tỉnh
Chế độ mưa trung bình tháng tại tỉnh Tây Ninh được trình bày trong Bảng 3
Trang 12Bảng 3: Lượng mưa trung bình tháng (mm) của tỉnh Tây Ninh
Tháng Kà Tum Thị Xã Tây Ninh Núi Bà Đen Gò Dầu
Nguồn: báo cáo hiện trạng môi trường Tây Ninh – 2005
2.1.2.3 Độ bốc hơi
Lượng bốc hơi phân bố theo mùa rõ rệt, ít biến động theo không gian.Lượng bốc hơi trong mùa khô khá lớn và ngược lại mùa mưa nhỏ Tại khu vựctỉnh Tây Ninh lượng bốc hơi trung bình như sau:
- Lượng bốc hơi trong năm: 1500mm
- Lượng bốc hơi trong mùa khô: 950mm
- Lượng bốc hơi trong mùa mưa: 540mm
Lượng bốc hơi trong những tháng mùa mưa khoảng 75 – 95 mm, còn vàomùa khô lượng bốc hơi trong tháng tương đối cao khoảng 150 – 190 mm Điềunày gây nên tình trạng hạn hán, thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất trong mùakhô Độ ẩm không khí và lượng bốc hơi trung bình tháng tại tỉnh Tây Ninh được
trình bày trong Bảng 4.
Trang 13Bảng 4: Độ ẩm không khí và lượng bốc hơi nước trung bình tháng tỉnh Tây Ninh
Tháng Độ ẩm tương đối
trung bình (%) Độ ẩm nhỏ nhất (%)
Lượng bốc hơi nước
Trang 142.1.2.4 Chế độ gió
Chế độ gió ở Tây Ninh phản ánh rõ rệt chế độ hoàn lưu gió mùa Hướng gióthịnh hành trong năm thay đổi theo mùa, khác nhau theo cường độ và phạm vihoạt động
Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 12, là thời kỳ Tây Ninh chịu ảnhhưởng của khối không khí lạnh cực đới phía Bắc, hướng gió thịnh hành trong cáctháng này chủ yếu là hướng Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc Tốc độ gió trung bình5–7 m/s, tần suất 25 – 45%
Gió mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 10, là thời kỳ chịu ảnh hưởng các khốikhông khí nóng ẩm ở phía Tây Nam Tháng 5 hướng gió thịnh hành là Đông Nam,từ tháng 6 trở đi đến cuối tháng 10 thịnh hành gió Tây Nam, tốc độ gió 3 – 5 m/s,chiếm 35 – 45%
Giữa hai mùa chính có một thời kỳ chuyển tiếp ngắn (tháng 3 và 4 xen kẽgió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Nam)
Tốc độ gió trung bình (m/s) theo các hướng gió chính trong các tháng ở Tây
Ninh được trình bày trong Bảng 5.
Trang 15Bảng 5: Tốc độ gió trung bình (m/s) theo các hướng gió chính trong các tháng tỉnh Tây
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường Tây Ninh – 2005
2.1.2.5 Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí phụ thuộc vào các mùa trong năm, tức là nó phụ thuộcvào lượng mưa và nhiệt độ không khí Tây Ninh cũng như của tỉnh khác của phíaNam Việt Nam, độ ẩm tương đối trung bình thường nhỏ hơn các tỉnh phía Bắc.Trong ngày, độ ẩm tương đối đạt giá trị cao nhất khoảng 4 - 6 giờ và thấpnhất lúc 12 - 15 giờ
Những tháng có độ ẩm thấp nhất thường là tháng 1 và tháng 2 Độ ẩm trungbình thấp nhất đạt khoảng 47%, trong đó độ ẩm thấp nhất có thể xuống tới 30%(tháng 01/1980) Trong những ngày này có mưa lớn, độ ẩm có thể lên đến 99%còn các tháng mùa khô độ ẩm đạt trung bình 75%
Trang 162.1.2.6 Độ bền vững khí quyển
Độ bền vững khí quyển được xác định theo tốc độ gió và bức xạ mặt trờivào ban ngày và độ che phủ mây vào ban đêm theo bảng phân loại của Passquill.Bảng 6: Phân loại độ bền vững khí quyển (Passquill, 1961)
Tốc độ gió
tại 10m (m/s)
Bức xạ ban ngày Độ che phủ ban đêmMạnh
(biênđộ >60)
Trung bình(biên độ 35-60)
Yếu(biên độ15-35)
A: Rất không bền vững
B: Không bền vững loại trung bình
C: Trung hòa
E: Bền vững yếu
F: Bền vững loại trung bình
Đối với khu vực tỉnh Tây Ninh thì độ bền vững vào những ngày nắng, tốcđộ gió không cao (chỉ là A, B), ngày có mây là C, D Ban đêm độ bền vững khíquyển thuộc loại E, F
2.1.2.7 Các hiện tượng thời tiết đặc biệt
2.1.2.7.1 Dông
Mùa dông ở Tây Ninh thường bắt đầu vào cuối mùa khô (tháng 3) và kếtthúc vào tháng 11 Trung bình có 110 – 125 ngày dông (trong khi thành phố HồChí Minh có 138 ngày dông)
Trang 17Trong mùa dông, mỗi tháng trung bình có từ 8 – 10 ngày dông Trong cáctháng 5, tháng 6 và tháng 7 trung bình có từ 15 – 20 ngày dông, đây là nhữngtháng có dông nhiều nhất Tuy nhiên cũng có những tháng vào cuối mùa mưa sốngày dông rất nhiều, khoảng 20 – 22 ngày dông Trong tháng 1 và tháng 2 (mùakhô) là những tháng không có dông xuất hiện, các tháng còn lại đều có rải rác 2– 3 ngày dông Dông thường xuất hiện vào chiều tối kèm theo gió mạnh và mưarào Trong những năm gần đây nhiều cơn dông xuất hiện dữ dội, gió mạnh dầnđến cấp 8, xảy ra mưa lớn đột ngột có khả năng gây lũ.
2.1.2.7.2 Mưa đá
Hiện tượng này cũng thường xuất hiện ở vùng phía Bắc đến Đông Bắc TâyNinh và các vùng phía Nam, nhưng hiện tượng này thường mang tính cục bộkhông gây ảnh hưởng nhiều lắm đến nông nghiệp của tỉnh vì ở Tây Ninh lượngmưa đá không lớn và thể tích của đá rơi xuống mặt đất có cường độ nhỏ Tuynhiên hiện tượng không được ghi nhận trong những năm gần đây
2.1.3 Đặc điểm chế độ thuỷ văn
Sông Sài Gòn có chiều dài (địa phận Tây Ninh) là 135,2 km Diện tích lưuvực 46.000 km2 (tính đến Dầu Tiếng) Độ dốc sống 0,69%, hệ số uốn khúc 2,27.Lưu lượng mùa kiệt 6 m3/s, lưu lượng trung bình 69 m3/s [6]
Đoạn thượng lưu có lòng sông hẹp, trung bình 20m, uốn khúc quanh cáctriền đồi đến vùng Dầu Tiếng tỉnh Tây Ninh, tại đây có thuỷ lợi ngăn vùng, độcao nước lên 25m, tạo nên hồ chứa nước có diện tích 270.000 ha, dung tích 1,45 tỷ
m3
2.1.4 Đặc điểm về địa hình
Khu vực thăm dò khai thác mỏ Sroc Con Trăn thuộïc dạng địa hình đồi núithấp phân cắt chủ yếu, thoải dần bề phía suối Ben nằm ở phía Bắc khu vực thămdò với độ cao thay đổi từ 30m đến 45m Bề mặt địa hình thuộc dạng địa hình xâm
Trang 18thực bóc môn Phần lớn bề mặt địa hình là rừng phòng hộ tái sinh chủ yếu là câythân gỗ họ Dầu, cây tạp xen tre, nứa Phía Tây khu vưcï mỏ có rừng thưa và ítnương rẫy của dân địa phương.
2.2 HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI (NƠI CÓ MỎ SROC CON TRĂN) 2.2.1 Tình hình dân số, dân tộc
Toàn xã Tân Hoà hiện có 1530 hộ với 4000 người Trong đó:
- Dân tộc Khmer: chiếm hơn 70% tổng số dân
- Dân tộc Kinh: chiếm gần 25% tổng số dân
- Dân tộc Stiêng: chiếm khoảng 3% tổng số dân
- Dân tộc Tày, Chăm: chiếm khoảng 2% tổng số dân
Một số đặc điểm chung vùng dân cư
- Trình độ văn hoá rất thấp (trình độ dưới tiểu học) nhiều trẻ em không đượcđến trường
- Trong gia đình thường sống giữa nhiều thế hệ điều này dẫn đến số ngườisống trong gia đình rất đông Tỷ lệ người già và trẻ em cao
- Lao động chính chủ yếu là làm thuê, mướn, mức thu nhập thấp trong khiphải nuôi sống nhiều người
- Điều kiện sống các hộ gia đình gặp nhiều khó khăn, nhà cửa được xâydựng tạm bợ
- Hiểu biết về vệ sinh môi trường còn rất thấp (ví dụ: chăn thả súc vật, chănnuôi tự nhiên, nuôi gia súc gần khu nhà ở…)
2.2.2 Một số đặc điểm chung về phát triển kinh tế – xã hội tại xã Tân Hoà
- Trồng trọt
Năm 2005 tổng diện tích đất nông nghiệp được sử dụng là 1.649,3 ha tăng28,2% so với cùng kỳ năm 2004 Trong đó cụ thể từng loài cây trồng như: cây mì:1.138,8 ha, cây cao su: 137 ha, cây điều: 22 ha, cây bắp: 6 ha, cây lúa: 10 ha, cây
Trang 19hoa màu ngắn hạn: 10,5 ha, cây ăn trái: 37 ha, cây tre lấy măng: 15 ha, các câykhác: 48 ha.
Năm 2005 tình hình sản xuất nông nghiệp xã Tân Hoà đã tăng đáng kể, đặcbiệt là các hộ trồng mì, năng xuất thu được đạt từ 25 – 35 tấn/ha, ngoài ra việctrồng tre lấy măng cũng là nguồn thu nhập chính của một số hộ dân trong vùngnăng suất có thể đạt được từ 50 tấn/ha
Một số loài cây trồng khác như lúa, xoài… do diện tích đất canh tác ít nêntrồng chủ yếu để ăn, thu nhập không đáng kể
Ngoài ra chính sách giao khoán hợp đồng với nông dân để trồng các loạicây công nghiệp lâu năm như: sao, dầu, xà cừ… cũng đã đem lại phần thu nhậplớn từ một số hộ dân, nhưng chủ yếu là người kinh
- Chăn nuôi
Chăn nuôi gia súc trên địa bàn xã chủ yếu là đồng bào dân tộc Khmer, đặcbiệt có hộ gia đình nuôi từ 10 – 20 con trâu Thu nhập chính của đồng bào dân tộctừ việc đi làm mướn, hoặc làm nông, tiền công nhận được từ 20.000 – 25.000đồng/ngày Do trình độ dân trí thấp nên nhìn chung cuộc sống của đồng bào dântộc nơi đây còn nhiều khó khăn
Chăn nuôi trong vùng chủ yếu là nuôi trâu, bò, heo, gà
Trang 20Y tế
Trong năm 2005 trạm y tế đã khám chữa bệnh cho 7666 bệnh nhân, trongđó số bệnh nhân có bảo hiểm y tế 713 người, trẻ em dưới 6 tuổi là 611 người, duytrì thường xuyên chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới 1 tuổi, phụ nữcó thai và phụ nữ từ 15 – 35 tuổi[6]
Tiếp tục trong năm 2006, phải đảm bảo công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻban đầu cho nhân dân, thực hiện tiếp về chế độ bảo hiểm y tế, thường xuyên cókế hoạch kết hợp tỉnh – huyện phun thuốc, tẩm màn cho nhân dân, tăng cườngcông tác phòng chống sốt rét, phòng chống lao, ngăn chặn kịp thời bệnh sốt xuấthuyết, hoàn thành 100% các chương trình y tế quốc gia
- Văn hoá giáo dục
Hiện tại đã xây dựng 6 cụm truyền thanh đã phát thanh 194.400 giờ, trongđó tuyên truyền các văn bản bầu cử, tuyên truyền dân số và kế hoạch hoá giađình, kế hoạch phòng chống sốt rét Hoạt động còn tổ chức xét công nhận 848 hộđạt danh hiệu gia đình văn hoá, tổ chức đăng ký nếp sống văn minh gia đình vănhoá tổng số 1293 hộ (1530 hộ đạt 85%) Kế hoạch trong năm 2006 tích cực vậnđộng toàn dân kết hợp xây dựng đời sống văn hoá ở các khu dân cư 100% số hộđược công nhận, các cụm truyền thanh duy trì công tác thông tin đại chúng, xãtăng cường công tác kiểm tra và có biện pháp ngăn chặn xử lý kịp thời các tệ nạnxã hội xảy ra hiện có trên địa bàn xã
- Chính sách xã hội
Tích cực xây dựng nhà đại đoàn kết, nhà tình nghĩa cho các hộ nghèo trongxã Điều tra hộ nghèo năm 2005 thì tổng số 10 hộ/1545 hộ chiếm tỷ lệ 6,9% trongđó hộ nghèo trung ương là 54 hộ, nghèo địa phương là 53 hộ Cấp 5816 thẻ bảohiểm y tế chữa bệnh cho dân trong xã, cho 16 hộ dân vay tiền để nuôi bò gópphần giảm tỷ lệ hộ nghèo trong địa bàn xã
Trang 21- Cơ sở hạ tầng phát triển
Trong năm 2005, tổng vốn đầu tư trong xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triểnnông thôn là 500 triệu đồng từ nguồn vốn được phân ra để xây dựng 2 công trình:đường lô con Trăn và xây dựng trường mầm non ấp Tân Thuận Theo kế hoạchtrong 2006 sẽ tiếp tục xây dựng làm đường lô dân cư ấp suối Bà Chiêm… trongnăm 2006 vận động nhân dân mắc điện thắp sáng đạt 90% trở lên, và sử dụngđến máy điện thoại 85 người dân/máy
2.3.1 Đặc điểm chất lượng không khí và tiếng ồn
Kết quả khảo sát và đo đạc chất lượng không khí tại khu vực khai thác mỏ
và vùng phụ cận được trình bày trong Bảng 7 và Hình 2
Bảng 7: Kết quả phân tích mức độ ô nhiễm không khí và độ ồn khu vực khai thác mỏ
Độ ồn(dbA)
Trang 22Ghi chú:
K-1: Tại ngã 3 đường vào vị trí khai thác mỏ
K- 2: Trong khu vực trung tâm nhà máy xi măng Tây Ninh
K-3: Ranh giới phía Đông Bắc của khu vực mỏ
k-4: Ranh giới phía Tây Nam của khu vực mỏ
k-5:Trong khu vực trung tâm mỏ đá vôi Sroc Con Trăn
Nhận xét:
Kết quả phân tích cho thấy chất lượng không khí đo được tại vùng dự kiếnkhai thác đá vôi Sroc Con Trăn so với tiêu chuẩn môi trường Việt Nam còn rấtsạch, các chất ô nhiễm và độ ồn đều có nồng độ thấp hơn rất nhiều so với tiêuchuẩn cho phép (TCVN 5937 – 1995) đối với chất lượng không khí và TCVN
5949 -1998 đối với tiếng ồn
2.3.2 Đặc điểm chất lượng nứơc
Hình 2: Cây đo mực nước tại suối Ben
Trang 23Chất lượng nước mặt: Theo nguồn tài liệu của Viện Môi Trường Và PhátTriển Bền Vững Chi Nhánh Nam đã tiến hành thu mẫu phân tích, kết quả được
trình bày trong Bảng 8.
Bảng 8: Kết quả quan trắc chất lượng nước sông suối khu vực dự kiến khai thác đá vôi
Trang 24Ghi chú:
NM-1: Suối Ben, gần khu vực khai thác mỏ
NM-2: Sông Cần Lê Chàm – cách vị trí mỏ 400m
NM-3: Sông Cần Lê Chàm – cách vị trí mỏ 800m
NM-4: Khu vực suối Ngô – phía nhà máy xi măng Tây Ninh
Nhận xét:
Từ kết quả phân tích trong Bảng 8 có thể đưa ra một số nhận xét sau:
- Hầu kết các mẫu nước phân tích nước mặt xung quanh khu vực dự kiếnkhai thác đá vôi có hàm lượng SS cao, vượt nhiều lần so với TCVN 5942 – 1995quy định nguồn loại A Đặc biệt là NM-1 tại suối Ben ngay khu vực mỏ Sroc ConTrăn có hàm lượng SS cao, nguyên nhân là do suối Ben ngay tại thời điểm thumẫu nước cạn chỉ còn là vũng nước nhỏ, nước không có dòng chảy trao đổi nước
- Ngoài ra nguồn nước mặt ở khu vực dự kiến khai thác đá vôi đã bị ô nhiễmsắt, nồng độ ô nhiễm sắt phân tích được từ các điểm thu mẫu cao hơn (1,46 – 2,93mg/l) so với TCVN 5942-1995 quy định nguồn loại A (1mg/l)
- Chất lượng nước mặt trên các sông, suối khu vực dự kiến khai thác đá vôiđã có dấu hiệu nhiễm vi sinh, tuy nhiên vẫn còn thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩncho phép (TCVN 5942-1995)
2.3.3 Hiện trạng khu hệ thuỷ sinh.
Hệ thống sông suối khu vực mỏ đá vôi và đá sét Sroc Con Trăn gồm sôngCần Lê Chàm – trục chính nằm rìa phía Đông khu mỏ, nhận nước từ các suốinhánh bắt nguồn từ các đỉnh cao 50 – 60m ở khu vực mỏ đá vôi như suối Ben,suối Xã Em, chảy vào bờ phải của nó Thượng nguồn suối Ngô – chảy qua khuvực Nhà máy bắt nguồn từ đỉnh cao 50m ở Sroc Chrum – suối Ngô và sông CầnLê Chàm chảy vào hồ Dầu Tiếng [9]
Trang 25Mùa khô, đoạn thượng nguồn suối Ngô và suối Ben có dòng chảy ngắtquãng, nước đọng tại các đoạn có địa hình thấp.
Trong đợt khảo sát tiến hành thu mẫu của Viện Môi Trường Và Phát TriểnBền Vững tại các vị trí trong khu vực dự kiến khai thác đá vôi Đặc điểm khu hệthuỷ sinh khu vực này như sau:
Loài thực vật phiêu sinh:
Bảng 9: Cấu trúc thành phần lồi thực vật phiêu sinh (Phytoplankton)
Nguồn: Viện Mơi trường và Phát triển Bền vững – Chi nhánh Nam
- Thực vật phiêu sinh: số lượng từ 27.000.000 – 939.000.000 cá thể/m3 Ởngọn suối Ngô và suối Ben có dòng ngắt quãng vào mùa khô, số lượng cao nhấttừ 357.000.000 – 939.000.000 cá thể/m3 Có thể do sự phân giải của xác bã thực
vật làm tảo mắt Trachelomonas volvocina – chỉ thị cho môi trường giàu và nhiễm
bẩn hữu cơ – phát triển mạnh và chiếm ưu thế
- Sông Cần Lê Chàm số lượng thấp hơn, từ 27.000.000 – 84.200.000 cá thể/
m3, hai loài tảo siliz Nitzchia palea và Synedra ulna – chỉ thị cho môi trường giàu
chất hữu cơ chiếm ưu thế
- Hạ nguồn suối Ngô loài tảo Silic, chỉ thị cho loại nước acid: Navicula sp.
Chiếm ưu thế, số lượng 44.200.000 cá thể/m3
Loại hình thuỷ vực nước chảy (sông, suối) chiếm vai trò chủ đạo ở khu vựcmỏ đá vôi Sroc Con Trăn Mùa khô, các ngọn suối chảy trong khu vực có dòng
Trang 26ngắt quãng, nước đọng ở từng đoạn, xác bã thực vật ở các đoạn suối đó bị phângiải mạnh tạo ra tính chất giàu và nhiễm bẩn hữu cơ, làm cho thượng nguồn sôngSài Gòn thuộc loại giàu dinh dưỡng
Loài động vật phiêu sinh
Bảng 10: Cấu trúc thành phần lồi động vật phiêu sinh
Nguồn: Viện Mơi trường và Phát triển Bền vững – Chi nhánh Nam
Các loài động vật chỉ thị cho môi trường acid: Lecane luna, Lecane
curvicornis, Platyias quadricornis, Macrothrix triserialis, Alona davidi, Alonella
Các lồi chỉ thị cho mơi trường giàu dinh dưỡng và nhiễm bẩn chất hữu cơ: số lồi động vật phiêu sinh thuộc nhĩm này chỉ cĩ hai lồi trùng bánh xe Philodina
roseola, Brachionus calyciflorus và lồi giáp xác chân chèo Mesocyclops leuckart
tập trung ở ngọn suối Ben
Trai, ốc, tôm càng nhỏ như Macrobrachium nipponense phong phú về thành
phần loài và số lượng
Bảng 11: Cấu trúc thành phần lồi động vật đáy (Benthic animals)
Trang 27Tổng cộng 14 100
Nguồn: Viện Mơi trường và Phát triển Bền vững – Chi nhánh Nam
Trong thành phần động vật đáy nhĩm lồi chỉ thị cho mơi trường giàu chất
hữu cơ chỉ gồm các lồi ốc Filopaludina doliaris, Filopaludina filna, Sermyla
tornatella phân bố nhiều ở ngọn suối Ngơ, ngọn suối Ben và sơng Cần Lê Chàm
(thượng nguồn sơng Sài Gịn)
Chỉ thị cho môi trường acid gồm các loại: tép trấu (Caridina s.p), ấu trùng muỗi đỏ (Ablabesmyia sp.).
Trong thành phần động vật đáy nhóm loài chỉ thị cho môi trường giàu chất
hữu cơ chỉ gồm các loài ốc: Filopaludina doliaris, Filopaludina filna, Sermyla
Nguồn lợi thuỷ sản
Nguồn lợi thuỷ sản gồm trai, ốc, tôm càng cỡ nhỏ và cá khá giàu Ở khuvực cầu qua sông Sài Gòn tại ấp Sroc Con Trăn có khoảng 10 hộ sống bằng nghềđánh cá, tôm Hàng ngày, mỗi hộ thu được khoảng 2 – 2,5 kg tôm và 5-7 kg cácác loại (chủ yếu là cá Mè vinh, Mè lúi…)
Do đặc tính giàu dinh dưỡng của sông suối, cần thiết phải giám sát việc xảthải trong quá trình khai thác vận hành mỏ xuống sông suối ở khu vực
Trang 282.3.4 Kết luận chung về hiện trạng môi trường và xã hội khu vực dự kiến khai thác
- Chất lượng không khí trong khu vực và vùng lân cận còn rất sạch, do chưaphát triển công nghiệp, giao thông
- Nguồn nước mặt bị ô nhiễm nhẹ tuy nhiên nguồn ô nhiễm chủ yếu do tựnhiên (rửa trôi, xói mòn)
- Khu vực khai thác đá vôi nằm trong ấp Sroc Con Trăn, xã Tân Hoà, huyệnTân Châu, tỉnh Tây Ninh Đây là xã nghèo, thu nhập bình quân đầu người thấp,trình độ văn hoá rất thấp do vùng này tập trung chủ yếu là người dân tộc (Khmer,Tày, Stiêng…)
- Từ những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội như trên có thể thấy việc xâydựng nhà máy xi măng Tây Ninh nói chung, việc khai thác đá vôi phục vụ nhàmáy nói riêng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế của xã Việc nàyđược sự ủng hộ mạnh mẽ từ lãnh đạo địa phương và người dân trong vùng Hầuhết họ đều mong muốn nhà máy sớm đi vào xây dựng và hoạt động góp phần làmthay đổi mạnh mẽ khu vực xã Tân Hoà Mặt khác, việc bảo vệ rừng, bảo vệ đadạng sinh học ở vùng ven khu vực dự kiến khai thác đang và sẽ là vấn đề cầnđược UBND địa phương và Ban Quản lý khu vực dự kiến khai thác quan tâmđúng mức
Trang 29CHƯƠNG BATÀI NGUYÊN RỪNG
3.1 HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI TÂY NINH
3.2 HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI KHU VỰC DỰ KIẾN KHAI
THÁC ĐÁ VÔI SROC CON TRĂN
3.2.1 Hiện trạng rừng
3.2.2 Các loài động vật
Trang 30CHƯƠNG BATÀI NGUYÊN RỪNG
3.1 HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI TÂY NINH
Rừng Tây Ninh phần lớn là rừng thứ sinh do bị tàn phá trong chiến tranhtrước đây, đại bộ phận rừng thuộc dạng rừng thưa khô, rừng hỗn giao tre, nứa vàcây gỗ Diện tích rừng còn khoảng 40.025 ha (kiểm kê năm 1990) Theo quyhoạch tổng quan lâm nghiệp, rừng và đất để trồng rừng khoảng 70.000ha/ diệntích tự nhiên của toàn tỉnh
Rừng ở Tây Ninh đang trong trạng thái cần báo động về cả hai mặt số lượngvà chất lượng Nhiệm vụ bảo vệ, gây lại quỹ rừng là vấn đề cấp bách
Bảo vệ rừng tự nhiên khoanh nuôi tái sinh rừng 11.975ha, nuôi dưỡng rừngtrồng 6.609ha, trong đó 185ha dân tự bỏ vốn, trồng mới 3.588ha, trồng cao su3.930 ha Đến năm 2005, tổng diện tích đất có rừng là 56,446 ha, trong đó: rừngtự nhiên: 34.744, rừng trồng 10.087 ha, khoanh nuôi tái sinh 11.624 ha Đưa độche phủ tự nhiên lên trên 35% [5] Tình hình sử dụng đất và rừng giai đoạn 2000 –
2005 được nêu trong Bảng12 và Bảng 13 Giai đoạn 2006 – 2010, trong 57.000 ha
đất rừng có 46.255 là đất rừng tự nhiên và 10.745 ha đất rừng trồng
Trang 31Bảng 12: Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Tây Ninh
Bảng 13: Sản lượng gỗ khai thác hàng năm
Các chỉ tiêu chủ yếu Đơn vị tính 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Nguồn: Tổng hợp
Trang 323.2 HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN RỪNG KHU VỰC DỰ KIẾN KHAI
THÁC MỎ ĐÁ VÔI SROC CON TRĂN
vùng đệm hoặc vùng lõm của vườn quốc gia hay khu bảo tồn thiên nhiên Vườnquốc gia Lò Gò – Xa Mát cách mỏ Sroc Con Trăn trên 50km về phía Tây, khubảo tồn thiên nhiên Dương Minh Châu cách khu vực dự kiến khai thác đá vôi trên
30 km về phía Nam, khu bảo tồn đất ngập nước hồ Dầu Tiếng cách khu vực dựkiến khai thác đá vôi trên 10 km về phía Nam Mặc dù không nằm trong các khubảo tồn thiên nhiên nhưng khu vực dự kiến khai thác đá vôi nằm trong vùng rừngphòng hộ hồ Dầu Tiếng Hiện nay, trên diện tích 105 ha vùng khu vực dự kiếnkhai thác đá vôi, tài nguyên sinh vật rất nghèo nàn, phần lớn là trảng cỏ và câybụi
Việc hình thành các kiểu rừng có liên quan chặt chẽ giữa sự hình thành cácthảm thực vật tự nhiên với vùng địa lý và điều kiện khí hậu Trong mỗi kiểu rừngđược hình thành thì khí hậu, đất đai và độ ẩm sẽ xác định thành phần cấu trúc vàtiềm năng phát triển của thảm thực vật rừng Sự phân bố của thảm thực vật rừng
Trang 33là sự đồng nhất tương đối về địa lý, sinh thái và được hiểu là một đơn vị địa lýthực vật độc lập, chúng kết hợp với nhau theo vĩ độ và theo độ cao thành nhữngđai rừng lớn trên trái đất [4].
Dựa vào chức năng cơ bản mà thực chất là dựa vào tính chất và mục đích sửdụng thì khu rừng tại xã Tân Hoà được liệt kê vào rừng phòng hộ Rừng phòng hộđược phân chia theo mức độ xung yếu:
- Vùng rất xung yếu: bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn,gần sông, gần hồ, có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về điều tiếtnước; những nơi cát di động mạnh; những nơi bờ biển thường bị sạt lở, sóng biểnthường xuyên đe dọa sản xuất và đời sống nhân dân có nhu cầu cấp bách nhất vềphòng hộ, phải quy hoạch, đầu tư xây dựng rừng chuyên phòng hộ, đảm bảo tỉ lệche phủ của rừng trên 70%
- Vùng xung yếu: bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn và điềutiết nguồn nước trung bình; những nơi mức độ đe doạ của cát di động và của sóngbiển cũng thấp hơn Có điều kiện kết hợp phát triển sản xuất lâm nghiệp, có yêucầu cao về bảo vệ và sử dụng đất, phải xây dựng rừng phòng hộ kết hợp sản xuất,đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng tối thiểu 50%
Qua tìm hiểu và nghiên cứu thì rừng phòng hộ này được xếp vào vùng xungyếu, rừng phòng hộ với mục đích bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn,hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái
Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất được xác định ranh giới trênbản đồ và trên thực địa bằng hệ thống mốc, bảng chỉ dẫn và lập hồ sơ thống kêtheo dõi chặt chẽ Để thuận lợi cho việc quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ,rừng sản xuất được chia thành các đơn vị diện tích sau:
Trang 34- Tiểu khu: có diện tích trung bình 1.000ha, là đơn vị cơ bản để quản lýrừng, thứ tự tiểu khu đựơc xác định trong phạm vi của từng tỉnh từ tiểu khu số 1đến tiểu khu cuối cùng (ví dụ: tiểu khu 1, tiểu khu 2,…).
- Khoảnh: có hiện tích trung bình 100ha, là đơn vị thống kê tài nguyên rừngtạo điều kiện thuận lợi trong việc xác định vị trí trên thực địa, thứ tự khoảnh đượcxác định trong phạm vi từng tiểu khu (ví dụ: khoảnh 1, khoảnh 2,…)
- Lô: là đơn vị chia nhỏ của khoảnh có cùng điều kiện tự nhiên và có cùngbiện pháp tác động kỹ thuật, diện tích bình quân là 10ha đối với rừng gỗ và rừngtre nứa tự nhiên, thứ tự lô được xác định trong phạm vi từng khoảnh (ví dụ: lô a,lô b,…)
Bảng 14: Diện tích khoanh nuôi tiểu khu 43 của khu vực dự kiến khai thác đá vôi rừng
phòng hộ Dầu Tiếng 2006
cộng Bảo vệ rừng Phục hồi rừng
Tổngcộng
Rừngtrồng
ĐấtkhácCộn
IA: kiểu rừng này được đặc trưng bởi lớp thực bì cỏ, lau lát hoặc chuối rừng.
IB: kiểu này được đặc trưng bởi lớp thực bì cây bụi, cũng có thể có một số cây gỗ,
tre mọc rải rác.
Trang 35IC: kiểu rừng này được đặc trưng bởi cây thân gỗ tái sinh với số lượng đáng kể nằm trong hai kiểu trên chỉ được xếp vào kiểu IC khi số lượng cây tái sinh có chiều cao trên 1m đạt 1000cây/ha trở lên.
IIA: là rừng phục hồi sau nương rẫy, được đặc trưng bởi lớp cây tiên phong, ưa sáng, đều tuổi, mọc nhanh, một tầng.
IIB: rừng phục hồi sau khi khai thác kiệt, phần lớn kiểu này bao gồm những quần thụ non với những loại cây tương đối ưa sáng, thành phần phức tạp không đều tuổi, do tổ thành loài cây ưu thế không rõ ràng, vượt ra khỏi tán rừng, kiểu này có thể còn xót lại, một số cây của quần thụ cũ nhưng trữ lượng không đáng kể vào kiểu này các quần thụ mà đường kính phổ biến chỉ được xếp không vượt quá 20cm.
Nhận xét:
Từ diện tích khoanh nuôi bảo vệ rừng năm 2006 (Bảng 14) cho thấy: diện
tích khoanh nuôi khá lớn (875), trong đó diện tích rừng sau phục hồi được bảo vệ755ha còn diện tích đang phục hồi rừng (các loại tre, nứa, thảm cây bụi và cáccây thân gỗ nhỏ) chỉ có 120ha một sự chênh lệch khá cao nhưng điều đó cho biếtrừng được khoanh nuôi ở đây rất lớn gần gấp 4 lần diện tích không khoanh nuôi(305,5ha)
Trang 36Bảng 15: Đặc điểm của khu rừng bảo vệ (tiểu khu 43)
D 1,3
cây gỗ
H ba
cây gỗ
Trữ lượng Độ che
phủ (%)
Mật độ cây gỗ lớn
Loài cây mục đích chủ yếu Gỗ Tre,nứa
Trang 37Trong phạm vi nghiên cứu, qua khảo sát thực địa cho thấy khu thực vậtvùng dự kiến khai thác đá vôi trên khu hệ rừng Đông nam Bộ tiếp giáp với biên
giới Việt Nam – Campuchia Hình 4.
Trang 39Hiện tại, khu rừng (tiểu khu 43) bao gồm các cây họ Dầu và Bằng Lăng là
2 loài cây đặc trưng chủ yếu, rừng tự nhiên ở đây chiếm một diện tích lớn
(755ha) trong tổng 875ha diện tích khoanh nuôi bảo vệ rừng thể hiện trong Hình
5
Trong nhiều thập kỷ trước vùng mỏ là kiểu rừng kín nửa rụng lá với thành
Trang 40Sến (Shorea) là những loại cây có giá trị kinh tế Nhưng do kế hoạch sản xuất
theo chỉ tiêu gỗ thời kỳ bao cấp nên rừng đã bị khai thác cạn kiệt Phương thứckhai thác là khai thác chọn theo cấp kính trên các loài cây gỗ có giá trị trong tổthành rừng đã bị lấy đi, các loài cây còn chừa lại trong tổ thành là các loài ít có
giá trị như: Cầy (Irvingia malayana), Cám (Oarubaru abbanebse), Bằng lăng
(Lagerstrolmia calyculata) Các loài này vẫn còn cây con nhưng cấp kính và chiều
cao chiếm tỷ trọng thấp trong tổ thành loài Vên vên (Anisoptera costata) là một
loài cây mà trước đây chiếm ưu thế nhưng giờ đây chỉ có mặt trong tổ thành loài
với cấp kính khoảng 20 – 25 cm Các loài có gía trị như: Gõ mật (Sindora
siamensis) chỉ tìm thấy cây con cao khoảng 5m Ngược lại loài cây vươn lên trong
tổ thành là Sổ (Dillennia sp.), Vừng (Barri ngtonia acutangula) với nhiều cấp kính
khác nhau chiếm tỷ trọng lớn trong tổ thành loài Đồng thời một loài khác là Bứa
(Grarcinnia sp.) trước đây có trong tầng tán rừng cũng trở thành cây ưu thế vì các
loại giá trị kinh tế đã bị lấy đi Ở những nơi nào mà các loài cây có giá trị kinh tếchiếm mật độ cao thì phương thức khai thác là khai thác trắng, chỉ chừa lại hai
loài cây phổ biến trong tổ thành là Cầy (Irbingia malayana) và Cám (Patinari
annamnse) Do khoảng trống lớn ánh sáng chiếu xuống nhiều nên các loài tre
xâm chiếm hình thành kiểu thảm thực vật hỗn giao tre xen gỗ Các loài đi theo là
những loài ưa sáng như: Tai nghé (Aporusa sp.), Lòng máng (Oterosbermum sp.).
Mặt khác những nơi mà cư dân phá rừng để làm nương rẫy thì cả một trảng cỏ
cây bụi xuất hiện sau nương rẫy Các loại như: Lành ngạnh (Cratoxylon sp.), Cò
ke (Grtwua sp.) chiếm ưu thế.
Qua khảo sát về cấu trúc và thành phần loài thực vật thì trên khu vực dựkiến khai thác mỏ có 3 kiểu thảm thực vật
Kiểu rừng kín nửa rụng lá: ưu hợp sổ, bứa
Kiểu rừng hỗn giao: tre – gỗ
Kiểu trảng cỏ cây bụi sau nương rẫy