Công ty xi măng Hoàng Mai thuộc thị trấn Hoàng Mai – Quỳnh Lưu – Nghệ An, được xây dựng ngày 07 tháng 10 năm 1995 tên gọi trước đây là công ty xi măng Nghệ An với quy mô sản xuất ngày cà
Trang 1Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại Nhà máy xi măng Hoàng Mai - Quỳnh Lưu - Nghệ An / Văn Sỹ Mạnh; GVHD: Ngô Duy Bách
2011 LV7904
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong vài thập kỷ trở lại đây, môi trường toàn cầu có nhiều biến đổi theo chiều hướng xấu đối với cuộc sống của các sinh vật trên trái đất Do đó vấn đề phát triển bền vững và bảo vệ môi trường đang được sự quan tâm đặc biệt của phần lớn các quốc gia, các tổ chức quốc tế trên thế giới Vì thế mục tiêu phấn đấu của nhân loại là phát triển bền vững, nhằm đảm bảo giữ cân bằng phát triển kinh tế xã hội và bền vững môi trường
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nhịp độ ngày càng cao, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa, nhằm đưa đất nước ta cơ bản thành nước công nghiệp vào năm 2020, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Sự phát triển của hầu hết các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã và đang góp phần đáng kể cho sự đổi mới và phát triển của đất nước Nhiều nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến vẫn tiếp tục “ăn nên, làm ra” trong cơ chế thị trường, bên cạnh những mặt đạt được các đơn vị này vẫn để lại những mặt tồn tại mà chúng ta không khỏi băn khoăn Đó là tình trạng ô nhiễm môi trường với tốc độ và và chiều sâu tương ứng với sự phát triển của chúng Vì vậy mục tiêu cơ bản của bảo vệ môi trường ở nước ta trong gian đoạn hiện nay là: “Ngăn ngừa ô nhiểm môi trường, phục hồi và cải thiện, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở những nơi, những vùng bị suy thoái, ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Trong quá trình đô thị hóa, mối đe dọa cho sức khỏe con người đó là sự ô nhiễm công nghiệp, khí thải xe cộ, điều kiện sinh hoạt chật chội, cơ sở hạ tầng kém không đảm bảo, chất thải ra nhiều chưa được thu gom quản lý tốt, kinh doanh dịch vụ ăn uống mất vệ sinh Môi trường bị đe dọa chủ yếu do hoạt động sống của con người Trong đó hoạt động sản xuất xi măng là một trong những loại hình sản xuất gây ô nhiễm nghiêm trọng Nguồn ô nhiễm chủ yếu của nó là khói thải và bụi xi măng, gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và
Trang 3sức khỏe người dân Vấn đề đặt ra là làm sao để phát triển sản xuất xi măng theo hướng bền vững Để giải quyết được yêu cầu này chúng ta phải đánh giá được mức độ tác động của loại hoạt động sản xuất này ảnh hưởng tới môi trường như thế nào? Căn cứ vào mức độ tác động mà chúng ta có những giải pháp phù hợp để ngăn chặn và giảm thiểu các tác động tiêu cực đó tới môi trường
Công ty xi măng Hoàng Mai thuộc thị trấn Hoàng Mai – Quỳnh Lưu – Nghệ An, được xây dựng ngày 07 tháng 10 năm 1995 (tên gọi trước đây là công ty xi măng Nghệ An) với quy mô sản xuất ngày càng mở rộng đã gây tác động đến môi trường ngày một tăng dần Chính vì vậy để hiểu rõ hơn mức độ tác động đến môi trường của công ty sản xuất xi măng này, nhằm đề xuất biện pháp giảm thiểu tác hại đến môi trường của công ty xi măng trong khu vực em
đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại nhà máy xi măng Hoàng Mai – Quỳnh Lưu – Nghệ An”
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình sản xuất xi măng
1.1.1 Trên thế giới
Xã hội không ngừng phát triển, nhu cầu của con người không ngừng tăng lên Theo đó là sự phát triển của các ngành công nghiệp, sản xuất để đáp ứng nha cầu ngày càng tăng đó Một trong những nghành phát triển tương đối lớn hiện nay là ngành sản xuất vật liệu xây dựng, trong đó ngành sản xuất xi măng chiếm một tỷ trọng rất lớn trên thế giới
- Năm 2002, nhu cầu xi măng toàn thế giới đạt 1,7 tỷ tấn
- Đến 2004, toàn thế giới có 163 nước sản xuất xi măng với 1655 Nhà máy
và 344 cơ sở nghiền xi măng với tổng công suất là 2.1 tỷ tấn với gần 900.000 người làm việc
Hiện nay trên thế giới đang xuất hiện những cuộc chạy đua về năng suất cũng như khả năng tiêu thụ xi măng Mỹ từng là đất nước tiêu thụ xi măng lớn nhất thế giới vào cuối thập kỷ 80 đầu 90 của thế kỷ XX Nhưng sau một thời gian bùng nổ kinh tế, Trung Quốc và Ấn Độ đã biến thành những đại công trường xây dựng khổng lồ Hai nước này đã vượt qua Mỹ để trở thành những nước sản xuất và tiêu thụ xi măng lớn nhất thế giới
Tình hình sản xuất và tiêu thụ xi măng ở một số nước
* Trung Quốc: là nước có sản lượng xi măng lớn nhất và tiêu thụ xi măng lớn nhất thế giới
Trang 5- Năm 2004, Trung Quốc sản xuất 970 triệu tấn xi măng, tiêu thụ 963 triệu tấn
- Tốc độ gia tăng về sản lượng và nhu cầu 2000 – 2004 là 11.6%/năm
- Năm 2006, Trung Quốc đã sản xuất 1,2 tỷ xi măng, chiếm khoảng 46% sản lượng của thế giới, trong đó xuất khẩu khoảng 33 triệu tấn
Hiện nay, Trung Quốc có 60 nhà máy sản xuất xi măng, với tổng công suất sản xuất 1,6 tỷ tấn/năm
- Nhu cầu sử dụng 2002 – 2004 tăng 10 triệu tấn, đạt 121 triệu tấn
- Năm 2005 nhu cầu sử dụng là 124 triệu tấn
Công nghệ sản xuất xi măng là một trong những ngành gây ô nhiễm không khí lớn nhất Vì vậy, sản xuất xi măng luôn đòi hỏi phải gắn liền với công tác
xử lý ô nhiễm môi trường tốt
Ở những nước phát triển dây chuyền công nghệ sản xuất xi măng hiện đại nên ít gây ô nhiễm Chủ yếu là các công nghệ sản xuất xi măng lò quay, máy nghiền khép kín, sử dụng nhiên liệu sạch nên vấn đề ô nhiễm ở đây là không đáng kể Ở những nước đang phát triển còn tồn tại những công nghệ sản xuất xi măng lò đứng cũ, lạc hậu đã gây ô nhiễm môi trường rất lớn Công nghệ xử lý ô
Trang 6nhiễm chủ yếu là túi lọc vải Bởi vậy, vấn đề ô nhiễm bụi xi măng ở các nước này là mối quan tâm rất lớn
1.1.2 Ở Việt Nam
Hiện nay, nước ta đang đi vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do vậy các công trình xây dựng ngày càng nhiều và cần thiết Trong số đó công nghiệp sản xuất xi măng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển
cơ sở hạ tầng của đất nước
Việt Nam với
4
3 diện tích là đồi núi, đây chính là nguồn nguyên liệu phong phú cho các ngành sản xuất xi măng ở nước ta Vì vậy song song với sự phát triển của các ngành công nghiệp than, dệt, đường sắt ngành sản xuất xi măng ở nước ta đã hình thành từ rất sớm Bắt đầu là việc khởi công xậy dựng nhà máy xi măng Hải Phòng vào ngày 25/12/1889, cái nôi đầu tiên của ngành
xi măng Việt Nam Trải qua hơn 1 thế kỷ xây dựng và phát triển, đội ngũ những người thợ sản xuất xi măng Việt Nam ngày càng lớn mạnh Với lực lượng cán bộ công nhân gần 50.000 người, ngành sản xuất xi măng Việt Nam
đã làm nên những thành tựu to lớn, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Từ năm 1996, Hiệp hội Xi măng Việt Nam được thành lập đến nay đã quy
tụ gần 90 thành viên, đơn vị trực tiếp sản xuất và phục vụ sản xuất xi măng trong cả nước Riêng năm 2004 cả nước đã sản xuất và tiêu thụ trên 27 triệu tấn, trong đó Tổng công ty xi măng Việt Nam đạt 12,5 triệu tấn, xi măng địa phương đạt 7,1 triệu tấn, các công ty liên doanh đạt 7,4 triệu tấn
Tính đến nay, cả nước có hơn 40 dự án Nhà máy xi măng đang được đầu
tư xây dựng với tổng công suất thiết kế lên đến 43 triệu tấn, 17 dự án xi măng
lò đứng đang trong lộ trình chuyển đổi sang lò quay với công suất 1.000 tấn Clinker/ngày Đó là chưa để một số doanh nghiệp và liên doanh đang làm thủ tục chuẩn bị khởi công Nhà máy mới Vì vậy, trên thực tế, số dự án đầu tư đã tăng hơn so với quy hoạch 9 dự án Có những địa phương xây dựng tới 4 – 5 Nhà máy xi măng, như tỉnh Ninh Bình Chỉ tính riêng trục đường số 1 (đoạn
Trang 7đường từ Phủ Lý vào Nghệ An) dài chưa đầy 300 km đã có tới 11 nhà máy xi măng với tổng công suất thiết kế 23 triệu tấn/năm Mới đây lại thêm dây chuyền 2 Nhà máy xi măng Nghi Sơn được khởi công xây dựng cũng trên tuyến đường này Với sản lượng xi măng này, mỗi năm có tới vài trăm xe tải nặng chuyên chở xi măng trên quốc lộ 1A này, không chỉ làm cho con đường mau xuống cấp mà còn tiềm ẩn tai nạn giao thông
Trong suốt chặng đường từ Bắc vào Nam có rất nhiều các Nhà máy sản xuất xi măng có ứng dụng cả cũ, cả mới Các Nhà máy dùng công nghệ mới thì
ít tác động đến môi trường Ví dụ như các nhà máy liên doanh và đầu tư nước ngoài: Nghi Sơn, Holsim, Chinfon Dùng công nghệ hiện đại (Công nghệ lò quay và các thiết bị lọc bụi tĩnh điện và lọc khô tiên tiến) để giảm thiểu tối đa
sự ô nhiễm môi trường Còn rất nhiều nhà máy dùng công nghệ lò đứng, và vấn
đề cần giải quyết lớn nhất là vấn đề môi trường Các nhà máy xi măng địa phương như: Duyên Linh, Quân đội 3, Vạn Chánh, Trung Hải của Huyện Kinh Môn, Hải Dương Xi măng Trắng Thái Bình, Xi măng Hải Phòng cũ Lượng khí thải và bụi làm ô nhiễm môi trường rất lớn Các hộ dân xung quanh các nhà máy ngày nào cũng phải sống trong môi trường ô nhiễm quá nặng Khi
đi ra khỏi nhà không thể không có khẩu trang và thiết bị bảo hộ lao động, đáng
lẽ chỉ dùng cho công nhân trong Nhà máy
1.2 Ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất xi măng
Con người đã và đang có nhiều tác động làm ô nhiễm đến bầu không khí như: Các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải đã thải vào bầu khí quyển các loại khí độc như: sunfua đioxit, nito đioxit, cacbon đioxit, hydro cacbon Bầu khí quyển bị nhiễm độc đã làm cho khí hậu trên trái đất bị biến đổi theo chiều hướng ngày một xấu đi, điển hình là lượng khí cacbon đioxit với trên 8,5 tỷ tấn hằng năm tích tụ vào bầu khí quyển, gây ra hiệu ứng nhà kính làm nhiệt độ trái đất ngày một nóng lên
Ở những nước có nền kinh tế đang phát triển từ Châu Á cho tới Đông Âu,
xi măng là đầu mối của sự tiến bộ Có vai trò kết dính các nguyên liệu làm bê
Trang 8tông, xi măng là thành phần thiết yếu trong xây dựng các tòa nhà và các công trình cầu đường Đó là là lý do tại sao khoảng 80% xi măng được sản xuất và tiêu thụ ở các nước đang phát triển
Chỉ tính riêng Trung Quốc đã sản suất và tiêu thụ 45% sản lượng xi măng toàn cầu Ở những nơi như Ucraina, việc sản xuất xi măng tăng gấp đôi sau mỗi năm Nhưng sản xuất xi măng đồng nghĩa với việc gây ô nhiễm do giải phóng Carbon đioxit, nguyên nhân của tình trạng nóng lên toàn cầu Có tới 60% lượng khí tạo ra bởi việc sản xuất xi măng là từ các quá trình phản ứng hóa học, phần còn lại được tạo ra từ nhiên liệu sử dụng trong sản xuất
Trong công nghệ sản xuất xi măng, nguyên liệu chủ yếu là đá vôi đất sét, các phụ gia (quặng sắt hoặc xỉ pirit ), nhiên liệu chủ yếu là than đá, dầu DO để nhóm lò và dung cho buồng đốt phụ Trong quá trình nung luyện clinker, các nguyên tố C, N, F, H, O, S có trong nguyên liệu, nhiên liệu và phụ gia sẽ tác dụng với O2 tạo thành các khí CO, CO2, SO2, NOx, HF thoát ra ngoài và gây ô nhiễm môi trường
Bản chất của công nghệ sản xuất xi măng là phân hủy đá vôi CaCO3 và chất chứa trong nguyên, nhiên liệu ở nhiệt độ cao Vì vậy để phân hủy 1 tấn đá vôi sạch, thì phải dùng 440 kg khí CO2 Với các định mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu bình quân hiện nay ở các nhà máy xi măng theo phương pháp khô,
để sản xuất 1 tấn xi măng theo tiêu chuẩn Việt Nam (2682:1992), sẽ thải ra môi trường 1 lượng khí CO2 là 730 kg khí CO2 (chưa tính đến lượng CO2 sinh ra do quá trình vận chuyển nguyên, nhiên liệu và xi măng) Như vậy, tại thời điểm năm 2015 khi nhu cầu xi măng vào khoảng 76 triệu tấn/năm thì ngành công nghiệp xi măng sẽ thải ra môi trường một lượng khí CO2 là 55.5 triệu tấn Đây
là 1 con số đáng để chúng ta suy nghĩ và tìm các biện pháp giảm thiểu
Hiện nay, chính các sáng kiến xanh lại có thể đang làm gia tăng ô nhiễm Liên minh châu Âu có chính sách trợ cấp cho các công ty phương Tây mua các nhà máy xi măng lỗi thời ở các nước nghèo rồi trang bị cho chúng các công nghệ xanh Nhưng những công nghệ xanh này cũng chỉ có thể giảm 20% lượng
Trang 9Carbon dioxide thải ra Khi các công ty phương Tây sửa sang lại các nhà máy phương Đông, lượng khí giảm theo từng tấn bê tông được sản xuất, nhưng lượng xi măng được sản xuất cũng luôn gia tăng chính vì thế tổng lượng khí thải ô nhiễm cũng gia tăng theo
Hiện nay “Ngành xi măng đang là trung tâm của các cuộc tranh cãi về sự thay đổi khí hậu toàn cầu, nhưng thế giới cũng cần vật liệu để xây dựng trường học, bệnh viện, nhà ở ”, bởi vậy cần có những giải pháp hiệu quả để vừa có thể sản xuất và vừa có thể giảm lượng khí thải gây ô nhiễm vào bầu khí quyển
Ở Việt Nam theo số liệu quan trắc và phân tích hiện trạng môi trường ở một số thành phố và khu công nghiệp đại diện cho các khu vực chủ yếu trên toàn quốc, chỉ có những nơi xa thành phố, khu công nghiệp, xa đường giao thông nồng độ bụi trong không khí mới chỉ ở mức dưới hoặc xấp xỉ tiêu chuẩn cho phép Không kể các khu vực khai thác, sản xuất ngoài trời Theo thống kê thì những nơi ô nhiễm bụi nặng nhất được xếp theo thứ tự: Từ các nhà máy xi măng sau đó đến các khu công nghiệp và các nhà máy vật liệu xây dựng Nhìn chung, lượng khí thải gây ô nhiễm của nước ta còn thấp so với các nước công nghiệp phát triển như khí Carbon dioxide mới vào khoảng 125 triệu tấn/năm Tuy vậy tình trạng ô nhiễm môi trường không khí cục bộ ở nước ta đang trở thành vấn đề bức bách, nhất là trong giai cả nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa
1.3 Một số nghiên cứu đánh giá tác động của hoạt động sản xuất xi măng đến môi trường
Trước thực trạng gây ô nhiễm của hoạt động sản xuất xi măng như vậy đã
có rất nhiều những công trình nghiên cứu đánh giá mức độ tác động đến môi trường từ hoạt động này Dưới đây là một số công trình nghiên cứu mới nhất
Trang 10đề tài đã đánh giá được hiện trạng, công tác môi trường của các nhà máy xi măng sản xuất theo công nghệ lò đứng Từ đó đề xuất giải pháp nhằm khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong các nhà máy xi măng theo công nghệ lò đứng, nhằm hoàn thiện công nghệ và phát triển bền vững công nghiệp
xi măng
Năm 2004, Viện nghiên cứu mỏ và luyện kim đã thực hiện đề tài: “Đánh giá tác động môi trường cho công ty xi măng Hoàng Mai” Kết quả đạt được là phát hiện được những tác động đến môi trường do hoạt động sản xuất của nhà máy; dự báo được các tác động sẽ xảy ra trong tương lai và đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động
Năm 2004, Công ty Hà Tiên 2 đã thực hiện lập “Báo cáo đánh giá các tác động môi trường cho dự án công ty xi măng Hà Tiên 2” Báo cáo đã đánh giá được tác động của những hoạt động sản xuất đến môi trường, xây dựng được bản đồ phân bố nồng độ các chất ô nhiễm và đề ra được giải pháp khắc phục các tác động xấu đến môi trường
Ngoài ra theo quy định của Luật bảo vệ môi trường hầu hết tất cả các nhà máy xi măng hiện nay trước khi đi vào hoạt động đều phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Tuy nhiên sau khi các báo cáo đánh giá tác động môi trường được nghiệm thu, dự án đi vào sản xuất thì việc quan trắc, giám sát chất lượng môi trường do hoạt động của nhà máy gây ra còn là vấn đề quan tâm Chúng ta có thể thấy rằng ô nhiễm môi trường chịu sự tác động rất lớn từ hoạt động sản xuất xi măng Bởi vậy việc đi sâu nghiên cứu đánh giá các tác động từ hoạt động này là một việc làm quan trọng và cần thiết Chính vì vậy,
“Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý môi trường tại nhà máy xi măng Hoàng Mai – Quỳnh Lưu – Nghệ An” là nội dung mà đề tài lựa chọn
Trang 11CHƯƠNG II MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLMT tại nhà máy xi măng Hoàng Mai – Nghệ An cũng như nâng cao đời sống, sức khỏe cộng đồng dân cư và cán bộ công nhân làm việc trong khu vực nhà máy
2.2 Nội dung nghiên cứu
Phù hợp với mục tiêu đề ra, KLTN thực hiện với những nội dung sau:
- Đánh giá hiện trạng hoạt động của nhà máy xi măng Hoàng Mai – Quỳnh Lưu – Nghệ An tại khu vực
- Nghiên cứu ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động sản xuất tại khu vực nhà máy xi măng Hoàng Mai
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường tại khu vực
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác QLMT tại khu vực
2.3 Đối tượng phạm vi và thời gian nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hiện trạng hoạt động của nhà máy xi măng Hoàng Mai – Quỳnh Lưu – Nghệ An
- Thực trạng công tác quản lý tại nhà máy xi măng Hoàng Mai và sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động quản lý môi trường tại khu vực nhà máy xi măng Hoàng Mai - Quỳnh Lưu – Nghệ An
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu và một số tiêu chí quản lý môi trường và giải pháp nâng cao hiệu quả môi trường tại khu vực nhà máy xi măng Hoàng Mai
2.3.3 Thời gian nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện từ ngày 14/02/2011 đến ngày 22/04/2011
Trang 122.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Tài liệu thứ cấp là những tài liệu có sẵn của khu vực nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu Tài liệu thứ cấp giúp giảm bớt nội dung điều tra, bổ sung những nội dung không điều tra được hay không tiến
hành được:
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu
Hệ thống cơ sở hạ tầng tại khu vực nghiên cứu
Các thông tin về chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin qua phiếu điều tra
Công tác QLMT là một hoạt động mang tính xã hội cao, hiệu quả của công tác QLMT không chỉ phụ thuộc vào các nhà quản lý mà còn phụ thuộc rất lớn ở
sự tham gia của cộng đồng địa phương Bên cạnh các phương pháp điều tra, thu thập số liệu truyền thống, khóa luận sử dụng phiếu điều tra như là một công cụ chủ đạo trong quá trình thu thập số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu của khóa luận
Phiếu điều tra được chia làm 2 loại, được áp dụng cho 2 đối tượng:
Các nhà quản lý, công nhân lao động trực tiếp Phiếu điều tra gồm các câu hỏi
đã được soạn sẵn theo một trình tự nhất định
Các bộ quản lý là người điều hành mang tầm vĩ mô lựa chọn những thiết bị
và công nghệ tiên tiến nhằm hạn chế tác động của môi trường Công nhân lao động trực tiếp lại là người trực tiếp điều hành và vận hành các thiết bị máy móc
Các câu hỏi ở dạng sau:
Câu hỏi mở: Câu hỏi tạo khả năng giao tiếp hai chiều trong quá trình phỏng vấn Câu hỏi mở luôn tạo cho người dân suy nghĩ cân nhắc để lựa chọn một câu trả lời tốt nhất, có thể giải thích kèm theo
Trang 13Câu hỏi gián tiếp: Loại câu hỏi này không đề cập trực tiếp đến vấn đề (nội dung) cần phỏng vấn mà được diễn tả theo một khía cạnh khác, từ đó người dân nắm bắt ý đồ để giải thích hơn là trả lời
Câu hỏi “có” hay “không”: Loại câu hỏi này đã được định sẵn câu trả lời (có, không, không biết) và có thể có giải thích Nó giúp tiết kiệm thời gian, câu trả lời không bị lệch vấn đề, thuận tiện xử lý số liệu và thông tin thu được
Câu hỏi trợ giúp: Đây là các câu hỏi Cái gì? Ai? Ở đâu? Khi nào? Tại sao? Bao nhiêu? Như thế nào? Câu trả lời phụ thuộc vào người được phỏng vấn Thông tin thu được nói lên tâm tư nguyện vọng của người được phỏng vấn Loại câu hỏi này được sử dụng để thu thập những ý kiến của người được phỏng vấn, những hoạt động mà họ tham gia, những lý do hạn chế sự tham gia của họ trong công tác QLMT Những ý kiến của họ nhằm giúp đưa ra các chương trình, chính sách giúp họ tham gia nhiều hơn vào hoạt động QLMT
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp
Trên cơ sở thông tin thu thập từ: phiếu điều tra - phỏng vấn, tài liệu thứ cấp, tài liệu tham khảo, kết quả quan trắc… đánh giá theo mục đích cụ thể
Trang 14CHƯƠNG III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
Hoàng Mai, có ranh giới hành chính tiếp giáp với:
- Phía Bắc giáp khu kinh tế Nghi Sơn – Tỉnh Thanh Hóa
- Phía Nam giáp xã Mai Hùng
- Phía Tây giáp xã Quỳnh Vinh
- Phía Đông giáp xã Quỳnh Dị và Quỳnh Lộc
Là một thị trấn bán sơn địa, Hoàng Mai có diện tích tự nhiên là 1.260 ha, với tổng dân số hơn 9 nghìn người được phân bố thành 10 khối, 3 Hợp tác xã nông nghiệp và dịch vụ điện năng, có hơn 32 cơ quan, đơn vị trung ương và địa phương đóng trên địa bàn
3.1.2 Khí hậu và thời tiết
Khí hậu của khu vực thị trấn Hoàng Mai mang tính chất khí hậu nhiệt đới
ẩm với 2 mùa:
Mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng IV đến tháng XI gồm 2 thời kỳ, thời kỳ nóng khô có gió Lào từ tháng IV đến cuối tháng VII, thời kỳ ít nóng ẩm có bão từ tháng VIII đến tháng XI Mùa lạnh kéo dài từ cuối tháng XI đến cuối tháng III năm sau gồm 2 thời kỳ, thời kỳ lạnh khô từ cuối tháng XI đến cuối tháng I năm sau, với gió mùa đông bắc và thời kỳ lạnh ẩm có mưa phùn từ tháng II đến tháng III
Mùa mưa ở Quỳnh Lưu kéo dài từ tháng V đến tháng X, trong đó khoảng 85% lượng mưa tập trung vào tháng VI Lượng mưa trung bình năm 1543 mm
Trang 153.1.3 Điều kiện thủy văn
Khu vực thị trấn Hoàng Mai nằm ở phía bắc huyện Quỳnh Lưu – Nghệ
An
Quỳnh Lưu ở vào vùng địa hình nửa đồi núi (núi chiếm 50% diện tích của Quỳnh Lưu) và nửa đồng bằng, trước mặt là biển, phía sau vây quanh là núi Nguồn nước: Nguồn nước của Quỳnh Lưu có thể chia ra làm hai loại là nước đến do mưa, nước đến từ ngoài huyện đưa vào và nước được giữ lại các
hồ chứa trong Huyện
Chế độ dòng chảy: Tiểu vùng đồi núi Tây Bắc có dòng chảy trung bình nhiều năm lớn nhất huyện Quỳnh Lưu đạt tới trên 500mm sau đó đến tiểu vùng đồng bằng xen đồi núi
Chế độ dòng chảy chia làm hai loại:
- Dòng chảy mùa cạn: kéo dài 8 tháng từ tháng XI đến tháng VI năm sau chiếm 30 – 50% lượng nước
- Dòng chảy mùa lũ: Lũ lớn xảy ra không đồng thời trên các sông lớn
3.1.4 Đặc điểm địa chất
Quỳnh Lưu nằm trong phạm vi đầu mút Đông Nam của đới địa chất Sầm Nưa Đất này kéo dài từ Sầm Nưa (Lào) xuống sát biển Đông của huyện Quỳnh Lưu Đặc trưng của đới là bao gồm các đất đá được tạo ra chủ yếu vào kỷ Triat (cách đây khoảng 200 triệu năm) Các hoạt động kiến tạo sau đó đã làm cho đới này bị uốn nếp, tạo ra nhiều đứt gãy
Địa hình khu vực nhà máy nằm trên đất đá thuộc hệ đồng trầu Trong phạm vi chiều sâu khảo sát đến độ sâu 27m gồm các lớp đất đá từ trên xuống dưới như sau:
+ Lớp đất trồng trọt: Phân bố đều khắp khu vực khảo sát, chiều dài từ 0,30 – 0,50m Thành phần là sét pha cát lẫn ít sạn màu nâu vàng, nâu xám trạng thái mềm, bở rời
+ Lớp sét dẻo ít pha cát: Phân bố khắp khu vực khảo sát gặp ở độ sâu 0,3 – 0,5m., kết thúc ở độ sâu 10 – 11,2m, chiều dài trung bình 10m Thành phần chủ
Trang 16yếu là hạt sét, bụi chiếm 51 – 87%, hạt cáy 10,5 – 32.5%, hạt cuội sỏi 10,5 – 18% Đất có màu nâu nhạt, nâu xám, xám vàng, ẩm, cứng vừa
7 – 27%, hạt sét 5 – 15,5% Đất có màu xám vàng, xám lục, nâu vàng, ẩm ít trạng thái rất chặt Cường độ kháng nén trung bình
+ Lớp bột kết xen cát kết: Phân bố khắp khu vực khảo sát gặp ở độ sâu 16,8 – 19,8m, và ở độ sâu 27m vẫn còn gặp lớp này Sét bột kết, cát kết có màu xám xanh, xám lục, xám nâu, ở phần trên phong hóa nhẹ, phần dưới không phong hóa nứt nẻ vừa với các khe nứt được lấp đầy thạch anh kết tinh màu xám trắng Đá có độ ẩm trung bình, thuộc loại mềm trung bình, cường độ kháng nén
139 kg/cm2
3.1.5 Tài nguyên đất đai, kết cấu hạ tầng
Với nguồn tài nguyên đá vôi lớn 156ha, đất sét chất lượng cao gần 40ha đây là những nguyên vật liệu chính để sản xuất vật liệu xây dựng nên Thị trấn Hoàng Mai có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp
Một số khoáng sản đã được xác định trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu gồm:
- Khoáng sản nguyện liệu gồm có than đá
- Khoáng sản kim loại gồm có chì và kẽm
- Khoáng sản không kim loại gồm có photphorit, đá oplat, đá vôi, caolin, sét xi măng, Bazan bọt, ngọc bích
Trong các loại khoáng sản trên, khoáng sản không kim loại chiếm ưu thế hơn, nhiều chủng loại và trữ lượng lớn
Trang 17Ngoài những khoáng sản đã phát hiện được, dựa trên bản đồ địa chất Quỳnh Lưu và dựa vào cấu trúc địa chất, có thể dự đoán rằng trong vùng Quỳnh Lưu có khả năng chứa vàng sa khoáng và vàng gốc, than bùn và cát cuội sỏi xây dựng
Về kết cấu hạ tầng của Thị trấn được xây dựng đồng bộ và hoàn thiện, khu vực công sở Thị trấn khang trang, đường làng, ngõ khối đổ nhựa và bê tông hóa
cơ bản, 100% hộ dân được dùng điện, công trình phúc lợi được quan tâm, xây dựng đầy đủ để phục vụ lợi ích của người dân
3.2 Tình hình kinh tế xã hội
Kinh tế của thị trấn Hoàng Mai chủ yếu là dịch vụ và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh dọc theo tuyến giao thông chính là Quốc lộ 1A Hoàng Mai đã và đang là một trọng điểm về công ngiệp của tỉnh Nghệ An Hiện nay trên địa bàn có nhà máy xi măng Hoàng Mai, nhà máy gạch Tuynel
Dự án thép KoBe 1 tỉ USD Khu công nghiệp Hoàng Mai và Khu công nghiệp Đông Hồi
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy và sự điều hành của chính quyền, sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ và người dân, nên tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 17-17,5%; giá trị gia tăng bình quân đầu người năm sau cao hơn năm trước Năm 2007 đạt trên 7 triệu đồng/ người, tăng 16,1%; tỷ lệ gia đình văn hóa đạt gần 80%, 9/10 khối đạt khối văn hóa, 10/10 khối có nhà văn hóa, 4/4 trường đạt chuẩn Quốc gia, trong đó có trường Mầm non 7 năm liền đạt trường tiên tiến xuất sắc của tỉnh
Bên cạnh đó quốc phòng-an ninh được giữ vững, tệ nạn xã hội giảm dần, ngành đơn vị địa phương đạt đơn vị giỏi, Công an đạt đơn vị quyết thắng, công tác chính sách hậu phương quân đội được thực hiện tốt Thị trấn đã làm tốt công tác xây dựng chính quyền thường xuyên chăm lo công tác bồi dưỡng, học tập cho cán bộ Đặc biệt Thị trấn rất quan tâm đến công tác đền ơn, đáp nghĩa, được Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ghi nhận năm 2006
Trang 18CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QỦA
4.1 Hiện trạng hoạt động của nhà máy xi măng Hoàng Mai
4.1.1 Lược sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty CP xi măng Hoàng Mai thuộc Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam, tiền thân là Công ty xi măng Nghệ An, được chuyển đổi từ loại hình doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần theo Quyết định số 367/QĐ - BXD tháng 03/2007 Đến ngày 01 tháng 04 năm 2008, Công ty hoàn thiện cổ phần hoá và chính thức lấy tên là: Công ty Cổ phần xi măng Hoàng Mai
Chính phủ đã chấp nhận đề án của UBND tỉnh tại Quyết định số 216/QĐ - TTg ngày 07/10/1995 Công ty xi măng Nghệ An chính thức được thành lập, trực thuộc UBND tỉnh Nghệ An Đây là dự án xi măng có công suất 1,4 triệu tấn xi măng/năm với tổng mức đầu tư 238 triệu USD từ nguồn vay trong và ngoài nước
Ngày 09/6/1999, dự án xi măng Hoàng Mai đã tiến hành khởi công đồng loạt các hạng mục công trình chính thuộc dây chuyền sản xuất và sau 33 tháng khởi công xây dựng Ngày 06/3/2002 Nhà máy đã cho ra lò những tấn clinker đầu tiên đạt chất lượng cao Trước những đòi hỏi về nhu cầu nhân lực nhằm đáp ứng quá trình vận hành nhà máy và công tác sản xuất kinh doanh lâu dài, được sự chấp thuận của chính phủ tại văn bản số 954/CP - ĐMDN ngày 18/10/2000, ngày 30/12/2000 UBND tỉnh Nghệ An và Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam đã ký Biên bản bàn giao Công ty xi măng Hoàng Mai thuộc UBND tỉnh Nghệ An trở thành thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam
Ngày 24/10/2007, Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam phê duyệt phương án cổ phần hoá Công ty xi măng Hoàng Mai Ngày 30/11/2007, Công ty tổ chức bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng Ngày 03/3/2008 Công ty tổ chức Đại hội cổ đông lần thứ nhất, thành lập Công ty Cổ phần xi
Trang 19măng Hoàng Mai và bầu ra Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát Ngày 01/4/2008 Công ty được Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 2703001834, theo đó Công ty CP xi măng Hoàng Mai chính thức
đi vào hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần với tổng vốn điều lệ là 720 tỷ đồng kể từ ngày 01/4/2008
4.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty
Cơ cấu tổ chức của Công ty CP xi măng Hoàng Mai được thể hiện dưới dạng sơ đồ sau:
Sơ đồ 4.1: Sơ đồ tổ chức quản lý Công ty Cổ phần xi măng Hoàng Mai Ghi chú: Quan hệ chỉ huy trực tuyến
Quan hệ kiểm tra giám sát
ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
CT HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT
P.Vật tƣ
TT Tiêu Thụ
X.Cơ Khí P.Cơ điện
Trang 20Sơ đồ 4.2: Sơ đồ hệ thống quản lý môi trường
- Khối sản xuất chính
+ Xưởng Mỏ: Có chức năng khai thác và bốc xếp đá vôi, đá sét trong địa bàn quản lý đảm bảo chất lượng và khối lượng theo kế hoạch Công ty giao một cách có hiệu quả nhất
+ Xưởng Clinker: Có chức năng quản lý vận hành các thiết bị nghiền các loại đá thành bột và nung bột liệu sau khi đã được trộn với xỷ pirit theo tỷ lệ nhất định nhằm sản xuất clinker có chất lượng tốt
+ Xưởng Xi măng: Có chức năng vận hành hệ thống thiết bị từ khâu vận chuyển clinker, thạch cao, phụ gia đến thiết bị nghiền chế biến thành xi măng
và sau đó đóng bao xi măng bao
- Khối phụ trợ
+ Xưởng Điện tử động hoá: Vận hành các thiết bị cung cấp điện của Công
ty, cung cấp nguồn điện cho các thiết bị công nghệ, phục vụ sinh hoạt liên tục,
ổn định Đồng thời quản lý nguồn nước, cung cấp nước để tổ chức vận hành thiết bị, cung cấp nước đã xử lý đủ cho sản xuất và sinh hoạt
Phòng KTSX C.Văn Phòng TP.Tiêu Thụ TP.Vật Tƣ TP.KT-TC TP.Cơ Điện
Trang 21+ Xưởng Cơ khí: Có chức năng tổ chức bảo dưỡng, sửa chữa, lắp đặt, chạy thử và xử lý các sự cố về thiết bị của nhà máy, bảo vệ thiết bị, nhà xưởng của Công ty
+ Xưởng Xây dựng và dịch vụ: Có chức năng tổ chức công tác sữa chữa lớn trong Công ty và thực hiện các nhiệm vụ dịch vụ vận tải, dịch vụ xây dựng
và các dịch vụ khác
- Các phòng ban chuyên môn bao gồm: Phòng tổ chức, trung tâm tiêu thụ, phòng vật tư, phòng tài chính – kế toán, phòng kỹ thuật sản xuất, phòng cơ điện, văn phòng công ty, phòng thí nghiệm KCS có chức năng, nhiệm vụ tham mưu giúp việc cho giám đốc và chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động của các phân xưởng sản xuất
Với hệ thống quản lý môi trường như trên thì việc quản lý môi trường sẽ được thực hiện từ trên xuống thông qua các ngành và các phòng ban trong công
ty, đảm bảo các quy trình công nghệ về quản lý môi trường diễn ra đúng thứ tự
4.1.3 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất thành phẩm
Nhà máy xi măng Hoàng Mai là một nhà máy sản xuất xi măng hiện đại với công nghệ khô, lò quay có công suất 1,4 triệu tấn xi măng/năm, có quy mô sản xuất với khối lượng lớn (trên 4000 tấn clinker/ngày) Nhà máy hoạt động theo dây chuyên khép kín từ khâu nguyên liệu đầu vào (nguyên liệu thô) cho tới khi sản phẩm hoàn thành đầu ra (vật liệu xi măng) Quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, thiết bị toàn nhà máy hoạt động 24h trong ngày, tất cả các công đoạn trong dây chuyền sản xuất đều được kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống các thiết bị kiểm tra, hệ thống quản lý chất lượng QXC và các Camera giám sát Lực lượng lao động được tổ chức làm việc theo 3 ca, tất cả các ngày
trong tuần
Dây chuyền sản xuất của Nhà máy xi măng Hoàng Mai công nghệ lò quay phương pháp khô có hệ thống Cyclone 5 tầng trao đổi nhiệt và buồng đốt Canciner đầu lò loại NOX thấp với công suất 4.500T Clinker/ngày Dây chuyền
Trang 22sản xuất chính cũng như các công đoạn phụ trợ đều được cơ khí hóa và tự động hóa cao
Các thiết bị trong dây chuyền đều được thiết kế tự động từ phòng ĐKTT, chính phòng ĐKTT trực tiếp vận hành và giám sát các thiết bị từ kho đồng nhất
sơ bộ, kho tổng hợp đến các Silo xi măng Ngoài ra còn có các trung tâm ĐK nhỏ tại công đoạn đá vôi, đá sét, tiếp nhận nguyên liệu đầu vào và đóng bao
4.1.4 Các quá trình sản xuất gây ô nhiễm chính
- Quá trình khai thác nguyên liệu
Quá trình khai thác nguyên liệu, chất ô nhiễm chủ yếu là bụi Bụi phát sinh
từ khoan đá, nổ mìn, xay, sàng (khai thác đá), xúc, vận chuyển (đá, đá sét) Vùng khai thác đá vôi có diện tích rộng 120 ha Trong quá trình khai thác công
ty sử dụng máy khoan, thuốc nổ Watergaine, và TNT, máy đập Theo quan sát của tôi, khai thác đá là một trong những công đoạn gây ô nhiễm môi không khí lớn nhất của Nhà máy Quá trình này nếu không được kiểm soát tốt sẽ gây ra tiếng ồn lớn, bụi là yếu tố chính được sinh ra từ công đoạn này Quá trình này bao gồm các công đoạn:
+ Khoan, nổ mìn
+ Vận chuyển
+ Đập, nghiền, sàng
Hình 4.2: Bãi khai thác đá Hình 4.1: Máy đập đá
Trang 23+ Dự trữ đá trong bãi chứa
+ Đổ rót đá vào băng tải
Ngoài ảnh hưởng lớn từ tiếng ồn và bụi còn có các khí CO2, SO2, NOx, Pb được sinh ra từ các phương tiện vận chuyển và quá trình nổ mìn Sau quá trình khai thác còn để lại những diện tích bãi đá trống, hoang sơ làm mất mỹ quan, các bãi này cũng chứa một lượng bụi khác lớn
- Quá trình sản xuất Clinker và xi măng
Ở cả hai quá trình này đều phát ra tiếng ồn và thải một lượng khói bụi rất lớn vào môi trường Nguồn phát sinh ô nhiễm chủ yếu ở các công đoạn: dự trữ nguyên liệu, đập sàng, sấy, nghiền, nung, vận chuyển Ngoài bụi, tiếng ồn và khí thải còn có một lượng nước thải và chất thải rắn sinh ra từ các công đoạn này cũng không phải là nhỏ
+ Nước thải sinh ra từ các quá trình làm mát máy, làm nguội vật liệu tạo
ẩm, làm mát quạt Root lò nung, nghiền xi măng, làm nguội và thu bụi ở tháp lọc khí
+ Chất thải rắn của nhà máy phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau
Chất thải từ quá trình sản xuất clinker bao gồm: nguyên vật liệu không đạt chất lượng và vật liệu rơi vãi từ các băng tải, bụi clinker sa lắng và lượng clinker ra khỏi lò không đạt chất lượng, bụi từ hệ thống xử lý bụi, bùn cặn từ hệ thống hố ga lắng
Chất thải từ quá trình sản xuất xi măng gồm: bụi xi măng sa lắng quanh khu vực sản xuất, cặn xi măng trong các silo, vỏ bao xi măng hư hỏng
Như vậy, chất thải sinh ra ở hầu hết các công đoạn sản xuất với nồng độ và khối lượng khá lớn Bên cạnh đó, hoạt động sinh hoạt của một lượng lớn cán bộ công nhân viên trong Nhà máy cũng sinh ra một lượng chất thải đáng kể Vì vậy, đòi hỏi phải có biện pháp trước khi đưa vào môi trường
4.2 Tác động của hoạt động sản xuất xi măng đến môi trường
Để đánh giá được thực trạng ô nhiễm môi trường trong khu vực do hoạt động sản xuất xi măng của Nhà máy Chúng tôi đã tiến hành quan sát, mô tả, đo
Trang 24và phân tích một số chỉ tiêu gây ô nhiễm, lấy ý kiến của cộng đồng Do thời gian và kinh phí có hạn nên một số chỉ tiêu phân tích chúng tôi đã sử dụng kết quả phân tích của Trung tâm quan trắc môi trường Nghệ An – Sở tài nguyên môi trường và bản đánh giá tác đông môi trường tại nhà máy xi măng Hoàng Mai do Trung tâm kỹ thuật nhiệt đới – Viện VITTEP thực hiện
4.2.1 Tác động đến môi trường không khí
Nhà máy xi măng Hoàng Mai với công suất là 1,4 triệu tấn xi măng/năm Đây là một khối lượng xi măng lớn, vì vậy trong quá trình sản xuất tạo ra các chất thải ô nhiễm môi trường không phải là nhỏ Đặc biệt tác động rất lớn đến chất lượng không khí trong vùng
Trong quá trình hoạt động của nhà máy nguồn gốc gây ô nhiễm không khí chủ yếu bao gồm:
- Bụi sinh ra từ công đoạn máy nghiền nguyên liệu thô và nghiền than
- Bụi sinh ra trong các công đoạn vận chuyển nguyên liệu như đá vôi, cát, đất sét, clinken, xi măng trên các băng tải, gầu nâng trong nội bộ nhà máy
- Khí thải sinh ra từ các lò nung nguyên liệu và nung clinke có chứa bụi,
CO, CO2, SO2 và VOC (hợp chất hữu cơ bay hơi)
- Khí thải sinh ra trong công đoạn làm lạnh clinke
- Bụi xi măng sinh ra từ máy nghiền xi măng, vận chuyển xi măng, nạp
xi măng vào silo, đóng bao và vận chuyển xi măng thành phẩm
- Khí thải của các phương tiện giao thông vận tải, các loại xe nâng hoạt động trong nhà máy
- Tiếng ồn và các yếu tố khí hậu
Ô nhiễm không khí ở đây chủ yếu là bụi đá trong quá trình nổ mìn, ủi xúc lên xe và đập đá Ở các hệ thống băng tải vận chuyển đá không lắp đặt hệ thống thu bụi hoặc che bao, vì vậy lượng bụi phát ra ở các công đoạn này là tương đối lớn Đặc biệt, điểm rót đá từ băng tải xuống bãi chứa đá quá cao so với mặt đất
Trang 25nên bụi đá trong khi rơi theo gió phát tán vào không khí gây ô nhiễm trên một vùng rộng lớn
Chính vì vậy, bụi là vấn đề ô nhiễm chính phát sinh hầu hết trong các công đoạn sản xuất Đặc biệt và nhiều nhất là ở các công đoạn nghiền, đập, sàng, vận chuyển, dự trữ, nung clinker… Bụi đất đá vào phổi thường gây kích thích cơ học và phát sinh phản ứng xơ hóa phổi, gây nên những bệnh về hô hấp Lượng bụi phát tán vào không khí tồn tại ở hai dạng: Bụi lơ lửng, bụi lắng
- Bụi lơ lửng: Là những hạt bụi có kích thước nhỏ, tồn tại ở dạng lơ lửng trong không khí có tác hại rất lớn đến đường hô hấp Hoạt động sản xuất của Nhà máy đưa vào môi trường một lượng bụi lơ lửng khá lớn
- Bụi lắng: Là những hạt bụi có kích thước và trọng lượng lớn sa lắng trên
bề mặt đất, nước Bụi sa lắng làm tăng độ đục nguồn nước, đồng thời bụi sa lắng theo thời gian sẽ tích tụ làm cho đất ngày càng trở lên chai cứng, tính giữ nước kém, đất trở lên nghèo dinh dưỡng
4.2.1.1 Tác động của khí thải từ lò nung clinke
Khí thải từ lò nung clinke có chứa bụi than, SO2, NO2, CO, CO2, VOC có thể gây ô nhiễm không khí và gây ảnh hưởng tới súc khỏe con người, ảnh hưởng tới sự phát triển của động thực vật
(i) Bụi than
Bụi vào phổi gây kích thích cơ học và phát sinh phản ứng xơ hóa phổi gây nên những bệnh hô hấp Bụi than tạo thành trong quá trình đốt nhiêu liệu có thành phần chủ yếu là các chất hydrocarbons đa vòng (ví dụ 3,4-benzpyrene) là chất nhiễm có độc tính cao và có khả năng gây ung thư
(ii) Tác hại của các khí axit (SO 2 , NO 2 )
SO2, NO2 là các chất khí kích thích, khi tiếp xúc với niêm mạc ẩm ướt tạo thành các axit SO2, NO2 vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hòa tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hóa sau đó phân tán vào máu tuần hoàn SO2, NO2 khi kết hợp với bụi tạo thành các bụi axit lơ lửng, nếu kích thước nhỏ hơn 2 – 3 micromet sẽ vào tới phế nang, bị đại thực bào phá hủy hoặc đưa đến hệ thống
Trang 26bạch huyết SO2 có thể nhiễm độc qua da gây sự chuyển hóa toan tính làm giảm
dự trữ kiềm trong máu, đào thải amôniắc ra nước tiểu và kiểm tra nước bọt Các khí SO2, NO2 khi bị oxi hóa trong không khí và kết hợp với nước mưa tạo nên mưa axit gây ảnh hưởng tới sự phát triển của cây trồng và thảm thực vật Khi nồng độ SO2 trong không khí khoảng 1-2 ppm có thể gây chấn thương đối với lá cây sau vài giờ tiếp xúc Đối với các loại thực vật nhậy cảm giới hạn gây độc kinh niên khoảng 0,15-0,30 ppm Nhậy cảm nhất đối với SO2 là động vật bậc thấp như rêu, địa y
Sự có mặt của SO2, NO2 trong không khí nóng ẩm làm tăng quá trình ăn mòn kim loại, phá hủy vật liệu bê tông và các công trình xây dựng, nhà cửa
(iii) Oxyt cácbon (CO) và khí cacbonic (CO 2 )
Oxyt cacbon (CO): Oxyt cacbon dễ gây độc do kết hợp khá bền vững với hemoglobin thành cacbonxyhemoglobin dẫn đến khả năng vận chuyển oxi của máu đến các tổ chức, tế bào
Khí cacbonit (CO2): Khí CO2 gây rối loạn hô hấp phổi và tế bào do chiếm mất chỗ của ô xi Một số đặc trưng gây độc của CO2 như sau:
Khi hít thở hơi hydrocacbons với nồng độ 60.000 mg/m3
sẽ xuất hiện các cơn co giật, rối loạn tim và hô hấp, thậm chí có thể tử vong