LƢỢC SỬ NGHIÊN CỨU THÚ Ở VIỆT NAM
Lƣợc sử nghiên cứu thú ở việt nam
Trong thế kỷ XIX, nhiều tài liệu về hệ thú ở Việt Nam được công bố trên các tạp chí và sách báo quốc tế, đặc biệt từ các quốc gia châu Âu Trong giai đoạn Pháp xâm lược, các nhà khoa học Pháp bắt đầu nghiên cứu về thiên nhiên Việt Nam, chú trọng đặc biệt đến lớp thú Các công trình điều tra và thu thập mẫu vật ban đầu chủ yếu do các nhà động vật học tiến hành, góp phần mở rộng kiến thức về hệ thú Việt Nam Các tài liệu ban đầu về thú của khu vực Nam Bộ và Trung Bộ đã được nhiều nhà khoa học như Jouan (1868), Dr Hamy (1876), Germain (1887), Harmand (1881), và Heude (1888) công bố.
Trong giai đoạn này, Brousmiche (1887) đã xuất bản cuốn tài liệu “Nhìn chung về lịch sử tự nhiên của Bắc Bộ”, giới thiệu tổng quan về các loài thú có giá trị kinh tế và y học cùng khu phân bố của chúng ở Bắc Bộ Năm 1894, A.Huede công bố nghiên cứu về loài Sơn Dương (Capricornis marritinus), góp phần mở rộng kiến thức về đa dạng sinh học khu vực Năm 1896, Billet viết cuốn “Hai năm ở miền núi Bắc Bộ”, phản ánh hoạt động nghiên cứu và khám phá vùng núi phía Bắc Việt Nam Trong cùng năm, De Pousargues thông báo về loài Vượn mới (Hylobates henrici) được tìm thấy tại Lai Châu, đồng thời cũng cung cấp thông tin về loài Voojooc đen (Pythecus Francoisi) sinh sống ở Bắc Bộ và Trung Bộ, góp phần làm rõ hơn về hệ sinh thái động vật tại khu vực này.
Trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nghiên cứu về động vật ở Việt Nam có những tiến bộ đáng kể, nổi bật là đoàn nghiên cứu do Pavie dẫn đầu tiến hành khảo sát, thu thập số liệu về thú từ năm 1879 đến 1898 trên khắp lãnh thổ Kết quả của đoàn nghiên cứu này được công bố trong tác phẩm “Nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của Đông Dương”, xem như công trình đầu tiên và khá toàn diện về động vật ở khu vực Đông Dương.
De Pousages đã ghi nhận tổng cộng 200 loài và phụ loài thú tại Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan, trong đó Việt Nam có số lượng đáng chú ý với 117 loài và phụ loài đã được công bố.
Trong khoảng thời gian đó, đoàn nghiên cứu khảo sát thú miền Bắc Việt Nam do Boutan dẫn đầu đã công bố nhiều kết quả khảo sát trong các tạp chí như Bulletin Museum Naturelle (1905), góp phần mở rộng kiến thức về động vật hoang dã Năm 1906, Boutan tiếp tục xuất bản cuốn sách mang tên “Mười năm nghiên cứu về động vật”, cung cấp các dữ liệu về hình thái, sinh học và sự phân bố của 10 loài thú, góp phần quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu động vật tại Việt Nam.
Năm 1932, H Osgood đã tổng hợp các tài liệu của nhiều tác giả về loài thú và công bố một thông báo chung, thống kê 172 loài và phân loại chúng, trở thành một tài liệu quý giá cho nghiên cứu phân loại và hệ sinh thái thú tại Việt Nam Tuy nhiên, năm tiếp theo chỉ ghi nhận một số thông báo nhỏ của E Blaune, cho thấy sự thiếu cập nhật trong lĩnh vực này ở giai đoạn đó.
(1932) và J.Delacour (1934) về Vƣợn Bên cạnh đó có nhiều cuốn sách về việc săn bắt thú ở Việt Nam do các nhà săn bắt người Pháp biên tập
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), hoạt động nghiên cứu về động vật hoang dã tại Việt Nam bị gián đoạn đáng kể Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học Pháp vẫn dựa vào các tiêu bản và ghi nhận thực địa để mở rộng kiến thức về đa dạng sinh học của Việt Nam và Đông Dương, góp phần bổ sung thông tin về các loài thú trong khu vực.
Sau năm 1954, hoạt động nghiên cứu động vật hoang dã tại miền Nam Việt Nam đã bị gián đoạn, mãi đến cuối những năm 1960, P.F.D Van Peenen mới bắt đầu thực hiện các đợt khảo sát về khu hệ thú ở một số tỉnh Kết quả nghiên cứu của ông được ghi lại trong cuốn sách “Preliminary Mammals of South Vietnam,” góp phần mở rộng kiến thức về đa dạng sinh học khu vực.
(1969) Ông đã mô tả sơ bộ 217 loài và phân loài thú có ở miền Nam Việt
Sau khi hòa bình được lập lại, nghiên cứu về phân bố và đặc điểm của các loài thú đã có nhiều bước tiến, đặc biệt tại miền Bắc Việt Nam Trong năm 1968, nhà khoa học Đặng Huy Huỳnh đã công bố kết quả nghiên cứu quan trọng về các loài thú ăn thịt và thú móng guốc, góp phần làm rõ hơn về sự phân bố của chúng trong khu vực.
4 ở miền Bắc Việt Nam trong cuốn “Sinh học và sinh thái các loài thú móng guốc ở Bắc Việt Nam” NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nôi
Năm 1973, trong cuốn sách “Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam”, Lê Hiền Hào đã trình bày các đặc điểm sinh vật học chính và phân bố của các loài thú kinh tế quan trọng miền Bắc Việt Nam, góp phần quan trọng vào nghiên cứu và bảo tồn nguồn gen động vật kinh tế của khu vực.
Trong giai đoạn sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, các nghiên cứu về động vật đặc biệt phát triển mạnh mẽ, với nhiều công trình quan trọng được xuất bản như “Những loài gặp nhấm Việt Nam” của Cao Văn Sung, Đăng Huy Huỳnh, Bùi Kính (1980), “Khảo sát thú miền Bắc Việt Nam” của Đào Văn Tiến (1985), và “Thú linh trưởng Việt Nam” của Phạm Nhật (2002), góp phần mở rộng kiến thức về động vật hoang dã tại Việt Nam.
Trong giai đoạn này, các nghiên cứu về bảo tồn động vật hoang dã, đặc biệt là các loài thú tại Việt Nam, ngày càng được quan tâm hơn Những nỗ lực này xuất phát từ nhu cầu cấp thiết về việc bảo vệ các loài động vật nguy cấp và đa dạng sinh học của đất nước Nhờ đó, nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu về bảo tồn đã được xuất bản, góp phần nâng cao nhận thức và thúc đẩy các hoạt động bảo vệ động vật hoang dã hiệu quả hơn.
Việc phát hiện 3 loài thú đặc biệt tại Việt Nam, gồm Sao La, Mang Lớn và Mang Trường Sơn, đánh dấu những nỗ lực và thành tựu nghiên cứu quan trọng từ năm 1975 Những thành tựu này không chỉ thể hiện năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam mà còn chứng minh rằng tài nguyên động vật hoang dã của Việt Nam vẫn còn nhiều bí ẩn và chưa được khám phá hết.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KẺ GỖ
Điều kiện tự nhiên
Khu BTTN Kẻ Gỗ nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hà Tĩnh và phía Đông dãy Trường Sơn Bắc, thuộc địa phận hành chính của ba huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và Hương Khê.
* Có ranh giới tiếp giáp nhƣ sau:
- Đông giáp Khu phòng hộ Cẩm Xuyên và khu phòng hộ Nam Hà Tĩnh
- Tây giáp Khu phòng hộ Thạch Hà và Khu phòng hộ Ngàn Sâu
- Bắc giáp Hồ Bộc Nguyên và khu dân cƣ xã Cẩm Thạch - Cẩm Xuyên
- Nam giáp tỉnh Quảng bình
* Toạ độ địa lý: 19 0 91’ đến 20 0 16’ Độ vĩ Bắc
Khu BTTN Kẻ Gỗ nằm trong khu vực đồi núi thấp của miền trung, có độ cao tuyệt đối phổ biến từ 150m đến 500m Địa hình tại đây phức tạp, bị chia cắt bởi các khe, suối, đặc biệt là vùng thượng nguồn Kẻ Gỗ có sự chia cắt mạnh mẽ hơn Tổng thể, địa hình nơi đây gồm nhiều cấp độ dốc khác nhau, ảnh hưởng lớn đến hệ sinh thái và hoạt động phát triển khu vực.
- Độ dốc cấp I (< 9 0 ) có diện tích ít
Độ dốc cấp II (15-20°) chiếm phần lớn diện tích của vùng dự án, chủ yếu gồm các lưu vực như Rào Cời, Rào Len, Rào Bưởi, Rào Trường, Rào Bội, Rào Pheo, Rào Cái và thung lũng Cát Bịn - thượng nguồn Kẻ Gỗ.
3.1.3 Khí hậu thuỷ văn a) Khí hậu: Khu vực Kẻ Gỗ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa
- Lƣợng mƣa trung bình hàng năm 2.700 mm chủ yếu tập trung vào các tháng 8, 9,10
- Gió: Gió Tây nam khô nóng thổi từ tháng 4 - 8, gió mùa Đông bắc thổi từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau
- Nhiệt độ trung bình hàng năm: 24 0 C
Khu vực có độ ẩm trung bình hàng năm lên tới 84%, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ sinh thái phát triển phong phú Toàn bộ khu vực hình thành bởi 7 lưu vực cùng hệ thống khe suối chằng chịt, mang lại nguồn thủy văn đa dạng và phong phú Hồ chứa nước Kẻ Gỗ nằm ở cuối hạ lưu, góp phần điều hòa dòng chảy và cấp nước cho khu vực Tuy nhiên, do địa hình cao dốc cùng chế độ mưa theo mùa, dòng chảy có sự biến động lớn: vào mùa khô hạn, lượng nước giảm gây cạn kiệt hồ Kẻ Gỗ, trong khi mùa mưa dòng chảy tăng cao dẫn đến nguy cơ lũ lụt, xói mòn, sạt lở đất.
Theo bản đồ đất tỉnh Hà Tĩnh (1995) của Viện ĐTQH rừng, các nhóm đất chính thuộc vùng dự án đƣợc hình thành trên các nền địa chất sau:
- Nhóm đá tạo đất là sa thạch bao gồm các loại trầm tích hạt thô
- Nhóm đá phiến thạch sét có kết cấu hạt mịn
Nhóm đá Mắcma axít kết tinh chua gồm các loại Grarít và Rolít, đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đất feralit Đất feralit hình thành trên các loại phiến thạch sét, sa thạch và mắc ma axít kết tinh chua, tạo thành các loại đất có độ phì nhiêu khác nhau do phân bổ đan xen phức tạp của chúng Tùy thuộc vào kiểu địa hình, độ cao và độ dốc, đất trong vùng thường được thực bì che phủ dày, chứa nhiều mùn và có khả năng phù hợp để trồng cây ăn quả có tán che hoặc cây bản địa.
Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ trước đây bao phủ bởi rừng kín thường xanh với nhiều loài cây gỗ quý hiếm Theo kết quả điều tra gần nhất, có 567 loài thực vật thuộc 117 họ và 367 chi đã được ghi nhận tại khu vực Tuy nhiên, do mật độ dân cư đông đúc, địa hình bằng phẳng và giao thông thuận tiện, hoạt động khai thác tài nguyên rừng đã gây ảnh hưởng nặng nề đến hệ sinh thái tự nhiên của khu bảo tồn.
Rừng nguyên sinh bị tác động nhẹ hiện chỉ còn diện tích ít, chủ yếu ở những vùng ít chịu ảnh hưởng; trong khi đó, diện tích rừng nghèo kiệt chiếm 36% diện tích rừng tự nhiên, phản ánh mức độ suy thoái nghiêm trọng Đất trống chiếm 19% đất lâm nghiệp, chủ yếu thuộc trạng thái Ic, với thực bì chủ yếu là cây bụi và diện tích cây tái sinh trung bình 300-500 cây/ha, phù hợp cho các khoanh nuôi và biện pháp lâm sinh Rừng trồng chiếm 7,8% đất lâm nghiệp, phân bố chủ yếu ở ven hồ Kẻ Gỗ, với các loại cây chính như Keo lá tràm, Thông nhựa và Lim Xanh, hầu hết đã phát triển từ trồng mới thành rừng kép tán, góp phần phục hồi và phát triển rừng bền vững.
Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ nằm trong vùng Bắc Trung Bộ, có hệ động vật đa dạng gồm 364 loài thú, chim, bò sát và lưỡng cư Nơi đây còn lưu giữ nhiều loài động vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới như Hổ, Gấu, Bò Tót, Sao la và Ngan cánh trắng Đặc biệt, khu vực còn là nơi sinh sống của hai loài gà đặc hữu toàn cầu: Gà lôi lam đuôi trắng và Gà lôi lam mào đen.
Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội và các vấn đề liên quan
3.2.1 Tình hình dân sinh kinh tế a) Dân số : Dân số khu vực vùng đệm có gần 50.000 người Số người trong tuổi lao động trên 15.000 người
- Huyện Cẩm Xuyên có 6 xã nằm trong vùng đệm gồm: 35.451 người
- Huyện Kỳ Anh có 1 xã nằm trong vùng đệm gồm: 6.892 người
- Huyện Hương Khê có 1 xã nằm trong vùng đệm gồm: 7.500 người b) Dân sinh kinh tế:
Các xã trong vùng đệm có diện tích đất sản xuất nông nghiệp trung bình chỉ từ 0,7 đến 1 sào cho mỗi lao động, cho thấy hạn chế về quy mô sản xuất nông nghiệp Dân cư trong khu vực chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, trong khi thu nhập từ các ngành nghề thủ công và dịch vụ còn rất thấp Điều này khiến đời sống nhân dân trong vùng còn nhiều khó khăn, mức sống còn thấp so với các khu vực khác.
Trình độ dân trí ở vùng đệm còn thấp và chưa đồng đều, dẫn đến hạn chế trong việc hiểu biết về lợi ích của rừng cũng như các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Điều này gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả của hoạt động bảo tồn rừng trong những năm qua.
Hạ tầng kỹ thuật hiện có tại Khu BTTN Kẻ Gỗ gồm điện, đường, thông tin liên lạc nhưng còn thiếu các công trình phục vụ sản xuất và đời sống, trong đó nhiều công trình đã xuống cấp cần được nâng cấp và cải tạo để đảm bảo hiệu quả hoạt động Hệ thống giao thông hỗ trợ công tác tuần tra bảo vệ rừng và khai thác tiềm năng du lịch sinh thái hiện rất hạn chế, ảnh hưởng đến công tác quản lý và phát triển bền vững khu vực.
Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ sở hữu đa dạng hệ động thực vật và cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, tạo tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái Đất đai tại đây phù hợp để phát triển cây ăn quả, trồng rừng nguyên liệu với năng suất cao, cần được khai thác hiệu quả để mang lại lợi ích kinh tế Các xã vùng đệm có tiềm năng phát triển mô hình sản xuất nông lâm kết hợp và kinh tế trang trại, tuy nhiên chưa được khai thác triệt để do hạn chế về trình độ dân trí và chính sách Đặc biệt, khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế chăn nuôi như trâu, bò, hươu, dê, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, giảm đói giảm nghèo và giảm áp lực lên tài nguyên rừng Chính quyền và các ngành liên quan cần có các giải pháp phù hợp để khai thác tối đa tiềm năng này.
ĐỐI TƢỢNG – ĐỊA ĐIỂM – THỜI GIAN – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm phân bố và tình trạng của các loài thú quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, Hà Tĩnh Nghiên cứu này nhằm phát hiện các loài động vật nguy cấp, quý hiếm nhằm xây dựng các giải pháp bảo tồn hiệu quả Kết quả cho thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ các loài động vật đặc hữu trong khu vực để duy trì đa dạng sinh học Thông qua các dữ liệu này, chính quyền địa phương có thể đưa ra các biện pháp thúc đẩy bảo tồn và nâng cao nhận thức cộng đồng Nghiên cứu góp phần vào việc duy trì hệ sinh thái tự nhiên bền vững và bảo vệ các loài thú quý hiếm tại khu bảo tồn Kẻ Gỗ.
Đối tƣợng, địa điểm, và thời gian nghiên cứu
Đối tƣợng là các loài thú quý hiếm tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ
Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh.
Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Khóa luận đƣợc thực hiện từ ngày 14 tháng 02 năm 2011 đến ngày 13 tháng 05 năm 2011.
Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu của đề tài, tôi tiến hành các nội dung sau:
- Lập danh lục các loài thú quý hiếm tại Khu bảo tồn
- Nghiên cứu tình trạng của các loài thú quý hiếm tại Khu bảo tồn
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của các loài thú quý hiếm tại Khu bảo tồn
- Xác định mối đe dọa đến các loài thú quý hiếm
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thú quý hiếm tại Khu bảo tồn.
Phương pháp nghiên cứu
Thu thập các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và đặc điểm khu vực nghiên cứu
Chuẩn bị bản đồ khu vực nghiên cứu gồm: Bản đồ địa hình và hiện trạng tài nguyên rừng
Chuẩn bị dụng cụ, trang thiết bị như: Ống nhòm, máy ảnh, thước dây, địa bàn
Xác định sơ bộ các tuyến điều tra trên bản đồ (chủ yếu là điều tra theo các đường mòn)
Dựa trên các tuyến điều tra sơ bộ đã lập trên bản đồ, chúng tôi tiến hành khảo sát thực địa để xác định các dạng sinh cảnh chính của khu vực Quá trình này giúp điều chỉnh tuyến điều tra phù hợp với điều kiện địa hình thực tế Kết quả khảo sát đã xác định được 4 tuyến điều tra chính, đảm bảo mức độ phù hợp và chính xác cao hơn cho nghiên cứu.
Tuyến 1 chạy từ Trạm Mũi Tru đến Trạm Cát Bịn qua xã Kỳ Thượng, là tuyến điều tra dài nhất với tổng chiều dài khoảng 16 km Khoảng cách từ Mũi Tru đến Cát Bịn khoảng 8 km, tiếp tục từ Cát Bịn đến xã Kỳ Thượng cũng khoảng 8 km, đảm bảo việc khảo sát diễn ra liên tục và hiệu quả trên tuyến dài này.
Tuyến số 1 bắt đầu từ trạm Mũi Tru, đi qua sinh cảnh cây bụi và rừng trồng tre, trước khi tiếp tục vào khu vực rừng thứ sinh phục hồi Tuyến đường này chạy dọc theo địa hình dốc và có trữ lượng gỗ thấp, chủ yếu xuyên qua các sinh cảnh rừng thứ sinh đã hồi phục, phản ánh quá trình phục hồi sinh thái tự nhiên của khu vực.
- Tuyến 2: Trạm Mũi Tru – Khe Dơi Tuyến này dài khoảng 6 km
Tuyến đường bắt đầu từ trạm Mũi Tru, đi qua sinh cảnh cây bụi để bắt đầu hành trình khám phá thiên nhiên hoang sơ Sau đó, tuyến đường xuyên qua rừng trồng Lim xanh một tuổi, tạo nên khung cảnh tự nhiên yên bình Tiếp theo, hành trình dọc theo suối, nơi sinh cảnh hai bên là rừng thứ sinh phục hồi có trữ lượng gỗ thấp, đem lại trải nghiệm môi trường tự nhiên đa dạng Cuối cùng, tuyến đường kết thúc qua sinh cảnh rừng trồng, mở ra cảnh quan xanh mướt và phù hợp cho các hoạt động khám phá, du lịch sinh thái.
-Tuyến 3:Trạm Mũi Tru – Rào Môn Tuyến này dài khoảng 6 km
Trên tuyến điều tra số 3, tuyến đường đi qua sinh cảnh cây bụi và rừng trồng tre, mang lại đa dạng sinh thái phong phú Tiếp đó, tuyến đường đi qua rừng thứ sinh phục hồi chủ yếu với loài cây Táu, thể hiện sự phục hồi sinh thái tự nhiên Đoạn tiếp theo che phủ bởi rừng tự nhiên, góp phần bảo vệ hệ sinh thái bản địa và đa dạng sinh học Điểm cuối của tuyến điều tra là khu vực giáp với bờ hồ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và quan sát các loài sinh vật phụ thuộc vào môi trường nước.
-Tuyến 4:Trạm Mũi Tru – Xe cháy Tuyến này dài khoảng 7 km
Tuyến bắt đầu từ trạm Mũi Trù, đi qua sinh cảnh cây bụi và rừng trồng tre, sau đó đến khu rừng thứ sinh đang phục hồi Tiếp tục theo đường mòn qua rừng thứ sinh, hành trình sẽ dẫn tới rừng tự nhiên đã bị khai thác mạnh trong quá trình phát triển của khu vực.
Chúng tôi tiến hành điều tra dựa trên các tuyến điều tra đã lập, bằng phương pháp quan sát mô tả kết hợp sử dụng các sách nhận dạng thú ngoài thực địa Kết quả điều tra đã được ghi vào biểu 01, cung cấp dữ liệu chính xác và đáng tin cậy về các loài thú trong khu vực nghiên cứu.
Biểu 01: Kết quả điều tra loài các loài thú
Người điều tra………… ngày điều tra………
Thời tiết ……… Địa điểm điều tra………
Tuyến điều tra………… chiều dài tuyến ………
Thời gian bắt đầu …… Thời gian kết thúc ………
Thời gian Loài Số lƣợng Tuổi/giới tính
4.6.2.2 Phỏng vấn thợ săn và nhân dân địa phương
* Đối tƣợng phỏng vấn và mục đích phỏng vấn:
Mục đích của cuộc phỏng vấn là thu thập thông tin sơ bộ về sự có mặt và số lượng các loài thú quý hiếm trong khu vực Đồng thời, hoạt động phỏng vấn còn giúp xác định các hoạt động liên quan đến sử dụng tài nguyên của người dân, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các loài thú quý hiếm tại địa phương.
Đối tượng phỏng vấn bao gồm người dân địa phương và thợ săn trong khu vực, những người sinh sống quanh vùng đệm của Khu bảo tồn Họ thường xuyên vào rừng để săn thú, kiếm củi, chăn trâu bò, lấy mật ong và thu hái thuốc, góp phần vào hoạt động sinh sống và phát triển của cộng đồng địa phương.
Công việc điều tra phỏng vấn đƣợc thông qua hệ thống các câu hỏi đơn gian, ngắn gọn, dễ hiểu
Trong các chuyến tham quan Khu bảo tồn, du khách thường gặp nhiều loài thú đa dạng như [tên loài] tại [địa phương], với số lượng ước tính khoảng [số lượng] Các loài dễ bị săn bắt nhất thường là [tên loài], do đặc điểm sinh trưởng nhanh và dễ tiếp cận Lần gặp gần nhất của bạn với các loài thú này diễn ra vào [thời điểm], mang lại trải nghiệm đáng nhớ và giúp nâng cao ý thức bảo vệ động vật hoang dã.
Kết quả phỏng vấn đƣợc ghi vào biểu 02
Biểu 02: Kết quả phỏng vấn người dân địa phương
Người điều tra: Ngày điều tra: ……… Tên thợ săn: Dântộc Tuổi: Địa chỉ: ………
Tên loài Địa điểm bắt gặp
Số lƣợng Ghi chú Địa phương Phổ thông
Dựa vào các sản phẩm từ con vật được thợ săn và người dân địa phương giữ lại làm kỷ niệm sau mỗi cuộc đi săn, chúng ta có thể theo dõi thông qua biểu mẫu hệ thống để xác định thời gian, địa điểm thu thập mẫu vật của các loài thú quý hiếm Thông tin này giúp đánh giá tình trạng của loài hiện nay và xác định các khu vực có khả năng bắt gặp các loài thú quý hiếm còn tồn tại.
Kết quả phân tích mẫu vật đƣợc ghi vào biểu 03
Mẫu biểu 03: Phiếu phân tích mẫu vật
Nơi giữ mẫu vật:……… Người thu mẫu:……… Ngày phân tích:……… Dân tộc:………
Thời gian thu mẫu Địa điểm thu mẫu
Tình trạng loài hiện nay
Vùng còn khả năng bắt gặp
4.6.2.4 Xác định các mối đe dọa đến các loài thú quý hiếm tại khu vực nghiên cứu
Dựa trên khảo sát sinh cảnh sống và các tác động của người dân, thợ săn như đốt nương làm rẫy, khai thác gỗ, xây dựng đường mòn, cháy rừng, sử dụng bẫy, súng kết hợp quan sát thực địa Các hoạt động này đã gây ảnh hưởng lớn đến môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học của khu vực Việc ghi nhận các tác động của con người giúp đưa ra các giải pháp bảo vệ hiệu quả hơn, góp phần duy trì cân bằng hệ sinh thái.
Biểu 04: Biểu ghi chép về tác động của con người Địa điểm điều tra ………… Ngày: ………
Thời gian bắt đầu………… Thời gian kết thúc …………
Tuyến số……… Quãng đường đi ………
2 súng 6 đường đi lại trong rừng
3 làm nương rẫy 7 những hoạt động khác
Thời gian Hoạt động Vị trí* Hoạt động Ghi chú**
4.6.2.5 Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thú quý hiếm tại khu vực nghiên cứu
Thông qua quá trình điều tra thực địa các tuyến, sẽ đánh giá được các mối đe dọa chính đối với các loài thú quý hiếm tại khu bảo tồn Từ đó, các biện pháp phù hợp sẽ được đề xuất nhằm giảm thiểu tối đa tác động của các mối đe dọa, bảo vệ hiệu quả đa dạng sinh học và duy trì cân bằng sinh thái trong khu vực.
Trong quá trình phân tích và xử lý số liệu, chúng tôi sử dụng các phần mềm như Excel để thống kê tọa độ tuyến điều tra, Photoshop để chỉnh sửa hình ảnh, và MapInfo để thiết kế các tuyến điều tra cũng như xây dựng bản đồ phân bố các loài thú quý hiếm và bản đồ phân cấp mức độ đe dọa.