1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Vai trò của các loài động vật tự tái tạo quần đàn quần đàn trong hệ thủy sinh do nông dân quản lý đối với sinh kế cộng đồng

4 451 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của các loài động vật tự tái tạo quần đàn quần đàn trong hệ thủy sinh do nông dân quản lý đối với sinh kế cộng đồng
Trường học Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
Thể loại dự án nghiên cứu
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 376,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của các loài động vật tự tái tạo quần đàn quần đàn trong hệ thủy sinh do nông dân quản lý đối với sinh kế cộng đồng Nuôi trồng thủy sản NTTS ở đồng bằng sông Hồng đã trở nên rất

Trang 1

Vai trò của các loài động vật tự tái tạo quần đàn quần đàn

trong hệ thủy sinh do nông dân quản lý đối với sinh kế cộng đồng

Nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở đồng bằng sông

Hồng đã trở nên rất phổ biến và có nền tảng

vững chắc Mức độ thâm canh rất đa dạng, từ

hình thức quảng canh đến thâm canh trình độ

cao Hoạt động phổ biến nhất ở các hệ nuôi thủy

sản là việc thả con giống sản xuất tại trại tôm cá

và cho ăn Do đòi hỏi phải có đầu tư về vốn,

NTTS là một nghề khó làm đối với các nhóm

dân cư nghèo của cộng đồng, nhất là ở vùng

nông thôn – nơi các nông hộ thường không có

ao và không vay được vốn tín dụng (theo Ngân

hàng Phát triển Châu Á, 2004) Vì những yếu tố

đó, các hộ ít nguồn lợi thường có khuynh hướng

phụ thuộc vào nguồn lợi thủy sinh tự nhiên mà

họ có thể khai thác được Đánh bắt cá cũng rất

phổ biến và có vai trò quan trọng ở những nơi

mà nhiều gia đình không có ao hay không có

quyền quản lý những nơi có mặt nước chứa

nước quanh năm Điều này dẫn đến áp lực có

thể khiến cho các quần đàn tự nhiên suy giảm

về trữ lượng và đa dạng giống loài, tăng các hoạt động đánh bắt trái phép và làm môi trường xuống cấp trầm trọng

Gần đây, Bộ Phát triển Quốc tế của Chính phủ Vương quốc Anh (DFID) đã tài trợ cho một dự

án nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I thực hiện, nhằm khảo sát vai trò của các loài động vật tự nhiên trong hệ thủy sinh do nông dân quản lý (ruộng lúa, aohồ.v.v ) đối với sinh kế nông thôn, và đề xuất giải pháp để nông dân có thể quản lý nguồn lợi tốt hơn nhằm nâng cao và duy trì ổn định sản lượng cá cần thiết cho gia đình Hoạt động nghiên cứu được triển khai tại 2 huyện Sóc Sơn và Phú Xuyên (thuộc đồng bằng sông Hồng), và đã có những phát hiện lý thú về tầm quan trọng của các loài sinh vật cũng như các hệ nguồn lợi đó, như sẽ được trình bày dưới đây

ĐVTTT được hiểu là các động vật sống trong nước có thể đánh bắt được trong các hệ thủy sinh do nông dân quản lý mà không phải thả giống thường xuyên Đây có thể là các loài bản địa hoặc nhập nội với kích cỡ to nhỏ khác nhau Các loài ĐVTTT đã được nhận dạng ở đồng bằng sông Hồng bao gồm cả loài ngoại lai (rô phi), cá cỡ lớn (cá quả, cá trê, cá lăng), cá cỡ nhỏ (rô đồng và cá diếc), cá bản địa và các sinh vật khác (tôm, cua nước ngọt) Các đối tượng nuôi được trại giống sản xuất ra như trôi, mè, trắm, chép, rô phi cũng có thể coi là ĐVTTT nếu chúng tự sinh sản ở các hệ thủy sinh này mà không cần có sự can thiệp đáng kể của con người

HTSDNDQL là một môi trường các loài thuỷ

sản do một hoặc nhiều hộ gia đình quản lý, bất

luận thuộc quyền sử dụng của ai Việc quản lý

ở đây không chỉ bó hẹp trong các hoạt động thả

giống và cho ăn, mà rộng hơn, gồm tất cả các hoạt động được tiến hành đối với nguồn lợi nhằm tăng năng suất của các các loài thuỷ sản (thực và động vật) sinh sống ở đó

Hệ thủy sinh do nông hộ quản lý (HTSDNDQL) là gì?

ĐVTTT chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng

Cá rô đồng (Anabas sp.)

Cá trê (Clarias sp.)

Cá quả (Channa sp.)

Cá diếc (Carassius auratus)

Cá lăng (Hemibagrus sp)

Cá chạch (Misgurnus sp.)

Loài khác

Tôm càng (Macrobrachium sp)

Ốc vặn (Sinotaia sp) Cua đồng (Somanniathelpusa sp.)

Động vật thủy sản tự tái tạo quần đàn (ĐVTTT) là gì?

Giới thiệu

Trang 2

Các loại hình HTSDNHQL ở đồng bằng sông Hồng:

Ruộng lúa DT trung bình: 2100 m 2 ; thường

không phải thả giống, có hầu hết các loài ĐVTTT

Đào thông với kênh mương, ao gia đình hoặc hồ nước

Chủ yếu cho sinh hoạt hàng ngày (gạo và cá)

“Hồ” nước Là dạng nơi có mặt nước lớn, thường ở phía dưới vùng trồng

lúa hoặc nằm ven sông Loài thả: mè, trôi, trắm, chép, trê,

rô phi và một số ĐVTTT khác

Đặt đăng chắn, cho ăn, tháo cạn, cải tạo (kể cả bón vôi)

Thu hoạch cá thả chú yếu

để bán; ĐVTTT: con lớn hầu hết đem bán, con nhỏ để ăn hoặc cho bạn bè, người thân

Kênh mương

Nguồn nước chủ yếu dành cho chăn nuôi và trồng trọt

Loài thả: mè, trôi, trắm, chép, trê,

rô phi và một số ĐVTTT khác

Quây rào chắn (bằng tre, lưới) Thả cá giống cỡ lớn

Cho cá ăn bổ sung

Cá thả cỡ lớn và ĐVTTT khi thu hoạch chủ yếu đem bán,

cá nhỏ hoặc tôm cua ốc để

ăn hoặc biếu

Ao

(gia đình & ao

nuôi thủy sản)

Diện tích trung bình: 283 m2 Loài thả: mè, trôi, trắm, chép và một số ĐVTTT

Vị trí: Gần nhà

Hầu hết là thả giống mua từ các trại và áp dụng các biện pháp ngăn ĐVTTT xâm nhập, đặt đăng chắn, phơi đáy, bón vôi và thuốc trừ sâu

Chỉ có dưới 30% các hộ đào ao chuôm, mương dẫn nước cho ĐVTTT ra vào tự do

Ao nuôi – chủ yếu để bán

Ao gia đình – cả ăn và bán

Nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng

Từ kết quả khảo sát suốt một năm tại 6 thôn vùng

đồng bằng sông Hồng, các số liệu về bữa ăn gia

đình đã cho thấy có 6 nhóm thực phẩm chủ yếu

được tiêu thụ hàng ngày ở khu vực nghiên cứu

(gạo; rau; thịt; gia cầm; thủy sản; các loại khác),

trong đó nguồn đạm động vật (32%) đóng vai trò

quan trọng thứ hai sau gạo (46%) Các loài thuỷ

sản đóng góp đến một phần tư lượng đạm đó,

mà 60% các loài này được đánh bắt từ các hệ

thủy sinh nông hộ Nhìn chung, ĐVTTT có một

vai trò đáng kể trong việc đóng góp vào tổng

lượng cá tiêu thụ cho các gia đình nghèo, với

mức trung bình là 275,75 g/hộ mỗi tuần Tuy

nhiên, lượng tiêu thụ ĐVTTT và các loài khác

thay đổi theo mùa, mà cao nhất là vào khoảng

tháng 4-5 và tháng 8-9 Lúc đó, mực nước trong

ruộng lúa xuống khá thấp và người dân có thể dễ

dàng đánh bắt được tôm cá

Nguồn thu nhập bổ sung

Viện NCNTTS 1 đã dành 13 tháng khảo sát việc

sử dụng các loài thuỷ sản mà các hộ gia đình nông thôn đồng bằng Bắc Bộ đánh bắt được Kết quả cho thấy hầu hết các hộ đều dùng các loài thuỷ sản này vào bữa ăn gia đình Các số liệu cũng cho thấy hơn 80% các hộ gia đình khảo sát

ở 2 tỉnh có tham gia đánh bắt trực tiếp ĐVTTT Khoảng 65% các hộ này nấu ăn toàn bộ sản phẩm thu được, 34% số hộ còn lại đem bán đi khoảng 83% khối lượng ĐVTTT đánh bắt được,

và nhờ vậy giúp gia đình có một khoản thu nhập

bổ sung đáng kể bằng tiền mặt Với các hộ không

có ao, tôm cá mà họ bắt được trên ruộng lúa hoặc ở ao của gia đình khác thường không bán

mà chỉ để ăn

ĐVTTT với việc củng cố nguồn lực xã hội

ĐVTTT có thể có một vai trò khác trong việc thúc đẩy mối quan hệ giữa các hộ dân địa phương với nhau Trong thời gian nghiên cứu khảo sát, chúng tôi nhận thấy việc cung cấp tôm cá cho các hộ láng giềngkhông phải là hiện tượng hiếm gặp Các loài thủy sản ngoài cá (tôm, cua) là những ĐVTTT thường được đem biếu cho họ hàng, những người đỡ đần gia đình trong các việc nhà nông và thậm chí cả khách khứa Trong các dịp lễ hội ở thôn làng, các loài cá quả, trê,

mè, trôi, trắm, chép được chế biến thành các món ăn đãi khách

Nghèo Khá giả Nghèo Khá giả

Phú Xuyên Sóc Sơn

Vì sao ĐVTTT lại quan trọng?

Trang 3

Thâm canh lúa và quản lý thủy nông

Việc tăng sử dụng các loại hoá chất như thuốc trừ sâu trong ruộng lúa, cũng như việc xử lý cẩu thả với các chai lọ hoá chất đã qua sử dụng có thể khiến cho các loài thủy sản bị chết Nếu mực nước trong ruộng lúa và kênh mương không được đảm bảo suốt trong năm, thì các ĐVTTT sẽ không có được môi trường sống ổn định

Mở rộng mô hình NTTS truyền thống

Một khuyến nghị thường được nêu ra trong các tài liệu khuyến ngư hiện nay là cải tạo ao, diệt “cá tạp” và một số loài không cần thiết trước khi nuôi cá

Những loài “không cần thiết” đó thông thường lại là những

ĐVTTT có giá trị đối với những hộ dân nghèo nhất của

cộng đồng

Mâu thuẫn về sử dụng nguồn nước

Với mức độ thâm canh ngày càng cao trong nông nghiệp,

việc duy trì mực nước trong ruộng lúa là ưu tiên hàng đầu

và bởi vậy việc điều tiết nước trong các kênh mương thường không tính đến lợi ích của những người nuôi cá

Nhận thức hạn chế về đặc điểm sinh học của một số ĐVTTT chủ yếu

ĐVTTT thường bị bỏ ra ngoài nội dung các dự án phát triển, và có quá ít người hiểu được rằng các ĐVTTT là rất có ích và cần phải được bảo vệ

Kỹ thuật đánh bắt và thu hoạch mang tính huỷ diệt

Việc đánh bắt một số lượng lớn các loài thủy sản trong một thời

gian ngắn có thể được thực hiện bằng cách tát cạn hay dùng xung

điện Nếu không được điều chỉnh kịp thời, cả hai cách làm này đều

gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi ĐVTTT Đánh bắt bằng

xung điện cũng rất có hại đến cơ quan sinh sản của các ĐVTTT,

trong khi việc tát cạn ao hồ sẽ làm chết hoặc loại bỏ các ĐVTTT

chưa trưởng thành

Những thay đổi về sử dụng đất

Việc mở đường, xây dựng các khu công nghiệp ở một số nơi có thể ngăn cản con đường di trú của ĐVTTT và do đó ảnh hưởng bất lợi đến vòng đời của chúng, điều này có thể khiến cho chúng không còn khả năng tái tạo trong tự nhiên

Với sự hiện diện của các những nhân tố đang

gây tác động tiêu cực đến ĐVTTT, việc cải tiến

phương thức quản lý đơn lẻ sẽ chỉ có tác dụng

hạn chế đối với việc phát triển trữ lượng nguồn

lợi ĐVTTT Những ý tưởng về đồng quản lý hay

tổ chức ra “nhóm khai thác - sử dụng nguồn lợi

thủy sản” (NKTSDNLTS) đã được đánh giá,

trình diễn, và đang chứng minh được hiệu quả

có lợi cho phát triển nguồn ĐVTTT vì lợi ích

cộng đồng Việc thành lập NKTSDNLTS trong

thôn làng đòi hỏi phải xác định chính xác khu

vực chung – thường nằm phía dưới các ruộng

lúa và có đủ nước quanh năm, hoặc có thể là

một phần của mương cấp nước, và cần có một nhóm hộ đứng ra quản lý khu vực này

Những mối đe doạ đối với ĐVTTT

Các giải pháp cho việc quản lý HTSDNDQL

Trang 4

Ở miền Tây Bắc Băng-la-đét, nơi thường xuyên bị khô hạn, người dân đã thực hiện và đánh giá một mô hình quản lý kết hợp giữa nuôi ghép các đối tượng thuộc họ cá chép với ĐVTTT Kết quả thử nghiệm đã cho thấy các hộ chủ động thả hoặc giữ lại các ĐVTTT trong ao nuôi đã đạt được sản lượng thu hoạch cao hơn 1,38 lần so với những hộ loại ĐVTTT ra khỏi ao, và như vậy việc kết hợp nuôi chép với ĐVTTT đã đem lại thu nhập cao hơn Hơn nữa, những hộ này cũng không hề thấy có ảnh hưởng bất lợi nào đến đối tượng nuôi thả chính trong ao

Phương thức quản lý HTSDNDQL thông qua NKTSDNLTS

Chuôm trong ruộng

lúa, “hồ”

Làm đường dẫn nước từ các nơi có mặt nước vào ruộng lúa

Đào chuôm trong ruộng lúa làm nơi trú ẩn cho các loài thủy sản

Hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu

Cá bố mẹ ngoài hồ có thể sinh sản trong ruộng lúa

Giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường do thuốc trừ sâu

Một đoạn kênh

mương

Làm đăng chắn bằng tre nứa, đặt quanh một đoạn kênh mương và thả vào đó cá bố mẹ (các loài mè, trôi, trắm, chép, rô phi hoặc ĐVTTT khác) Đăng chắn sẽ ngăn không cho cá bố mẹ ra ngoài nhưng

cá con có thể bơi ra nơi có mặt nước và HTSDNHQL

Tăng sản lượng và khả năng sinh sản của ĐVTTT Thắt chặt tình làng nghĩa xóm giữa các nông hộ

Một số loại hình ao

gia đình

Thả giống lớn hơn (lấy từ trại ương) và làm đường dẫn nước để ĐVTTT có thể vào được

Tăng sản lượng và nâng cao khả năng sinh sản của ĐVTTT Các hộ dân có cơ hội chia sẻ với nhau ý kiến về quản lý

• Cần thừa nhận vai trò của ĐVTTT trong quản lý nông nghiệp, NTTS và môi trường

• Cần đưa nội dung quản lý và phát triển ĐVTTT vào tài liệu và thông tin khuyến ngư,

nhằm tăng cường nhận thức về các đối tượng này cũng như việc quản lý phù hợp, lâu dài các ĐVTTT

• Cần điều tra đánh giá hạn chế của NTTS hiện tại và nhược điểm của phương thức

canh tác truyền thống, để từ đó khuyến khích việc kết hợp nuôi trồng thuỷ sản với bảo vệ đa dạng sinh học

• Cần xác định các môi trường sống chủ yếu của ĐVTTT và xây dựng chiến lược bảo

vệ, đồng thời tạo điều kiện cho các hộ nghèo tiếp cận nguồn lợi

• Cần chú ý tìm hiểu đặc tính sinh học của một số ĐVTTT quan trọng và tác động qua

lại giữa chúng với các đối tượng nuôi để triển khai cách quản lý phù hợp

• Cần tiến hành đánh giá phương pháp quản lý theo hình thức nhóm (NKTSDNLTS)

đối với một số HTSDNDQL liên thông có ĐVTTT sinh sống

Tài liệu tham khảo:

Little, D.C.,2002 Sinh vật tự tái tạo trong hệ thuỷ sinh do nông dân quản lý – một phương pháp tiếp cận

mới trong nuôi trồng thủy sản Tạp chí Aquaculture News số 28, trang 10-11

Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2004 Nghiên cứu đánh giá đặc biệt về phát triển nuôi trồng thủy sản nước

ngọt quy mô nhỏ phục vụ xoá đói giảm nghèo

Dự án ĐVTTT, 2002 Các báo cáo Đánh giá Nông thôn có sự Tham gia Cộng đồng Các báo cáo Nghiên

cứu điển hình của dự án SRS

Dự án ĐVTTT, 2005 Sinh vật tự tái tạo trong nuôi trồng thủy sản: Vai trò của chúng đối với sinh kế nông

thôn Báo cáo kỹ thuật cuối cùng

Để có thêm thông tin, xin liên hệ:

Khuyến nghị

TS Phạm Anh Tuấn

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1

Cán bộ Chương trình AFGRP (Programme Officer AFGRP)

Bộ Phát triển Quốc tế – Vương quốc Anh

Ngày đăng: 06/06/2014, 16:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức quảng canh đến thâm canh trình độ - Vai trò của các loài động vật tự tái tạo quần đàn quần đàn trong hệ thủy sinh do nông dân quản lý đối với sinh kế cộng đồng
Hình th ức quảng canh đến thâm canh trình độ (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w