Chỉ tính riêng ở Việt Nam, những bài thơ Hai-cư của M.Basho và Y.Buson được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 10 phân ban cả chương trình Cơ bản lẫn chương trình Nâng cao được xem là một
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Thơ Hai-cư – một thành tựu độc đáo của văn học Nhật Bản
và là một hiện tượng văn học đang được chú ý của thế giới Chỉ tính riêng ở Việt Nam, những bài thơ Hai-cư của M.Basho và Y.Buson được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 10 phân ban (cả chương trình Cơ bản lẫn chương trình Nâng cao) được xem là một nội dung dạy học không thể bỏ qua trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn ở phổ thông hiện nay nhằm giúp các em học sinh hiểu sâu sắc hơn nền văn chương một dân tộc khá gần chúng ta về phương diện địa lý song cũng còn những khác biệt trong phong tục, văn hóa, thơ ca
1.2 Thực trạng nghiên cứu, giảng dạy thơ Hai-cư hiện nay còn nhiều hạn chế hoặc chưa được quan tâm đúng mức Thơ Hai-cư rất hay nhưng việc nghiên cứu, giảng dạy nó lại là một thử thách lớn Trên thực
tế, cho đến nay cả người dạy, người học đang gặp không ít khó khăn, thậm chí lúng túng trong hướng tiếp cận các bài thơ Hai-cư Hiện nay những tư liệu có liên quan đến thơ Hai-cư (những tư liệu bằng tiếng Việt) vẫn còn rất hạn chế, khó tiếp cận (vì số lượng xuất bản ít ỏi) Điều
đó đặt ra một yêu cầu phải có giải pháp khả thi để giúp hoạt động dạy học thơ Hai-cư trong nhà trường phổ thông trở nên hiệu quả
1.3 Nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay
chú trọng dạy học đọc hiểu thay thế cho quan niệm giảng văn trước đây
động Hiện nay, quan niệm dạy học văn là dạy đọc hiểu Quan niệm đó
đã xác định hoạt động dạy học văn trong nhà trường phổ thông hiện nay
là dạy cho học sinh năng lực đọc, kĩ năng đọc để học sinh có thể đọc hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà phát triển năng lực của chủ thể học sinh Đó là một sự thay đổi phù hợp với tinh thần lí
Trang 2luận dạy học mới, coi học sinh là trung tâm của hoạt động đào tạo trong nhà trường
Xuất phát từ những lý do trên và thông qua thực tiễn dạy học ở
trường phổ thông, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Chiến lược
dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10”
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Tổng quan về nghiên cứu thơ Hai-cƣ
Thơ Hai-cư đã được nghiên cứu khá nhiều ở Nhật Bản và nhiều nơi trên thế giới dưới nhiều khía cạnh khác nhau Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thể thơ này Tại phương Tây, từ những năm đầu thế kỷ 19
có những công trình nghiên cứu của W.G.Aston (1877, 1899), Basil Hall Chamberlain (1990), Lafcadio Hearn (1915) đã bước đầu tiếp cận và giới thiệu quá trình ra đời của thơ Hai-cư, ghi nhận những giá trị của thơ Hai-
cư trong nền văn học Nhật Bản và những vấn đề khác biệt khi thơ Hai-cư được dịch sang tiếng Anh Bước sang thế kỷ XX, thơ Hai-cư được giới thiệu toàn diện hơn Tiêu biểu là các tác phẩm: “An Introduction to HAIKU – An anthogoly of poems and poets from Basho to Shiki”, Harold G Henderson (1958), bộ sách “Thơ Hai-cư Xuân, Hạ, Thu, Đông” của R.H.Blyth (1981, 1982), “Haiku Master Buson”, Yuki Sawa
và Edith Marcombe Shiffert (1978) (Bu-son – Đại thi hào thơ Hai-cư),
“The path of Flowering thorn – The life and poetry of Yosa Buson”, Makoto Ueda (1998) (Cuộc đời và sự nghiệp thi ca của Yosa Buson – Con đường đầy chông gai), “Masaoka Shiki: His Life and Works”, Janie Beichman (2002) (Masaoka Shiki: Cuộc đời và tác phẩm)
Tại Nhật Bản, các tài liệu về thơ Hai-cư luôn được xuất bản mới với nhiều nội dung phong phú Tiêu biểu phải kể đến các công trình:
“Nghiên cứu sự diễn đạt của thơ Hai-cư”, Shibata Nami, (1994); “Xin mời đến với thơ Hai-cư”, Yamashita Kazumi (1998); “Danh cú Bu-son – Hiểu ngay nghĩa thơ Hai-cư!”, Ishida Kyouko (2004); “Basho – Đánh giá và bình luận” của tác giả Yamamoto Kenichi (2006); “Diễn giải mới
về Nẻo đường Đông Bắc - Chuyến du hành của hiện thực và chân lý”, Ozawa Katsumi (2007); “Tái nhập thơ Hai-cư dễ nhất”, Matsuda Hiromu (2008); Các cuốn sách nêu trên đều hướng tới những nội dung cơ bản:
Trang 3giới thiệu các nhà thơ Hai-cư lỗi lạc, phân tích đặc trưng phong cách nghệ thuật của các nhà thơ Hai-cư, phân tích ngắn gọn nhưng sắc bén các đặc trưng cơ bản về thể loại, ngôn ngữ, thi pháp, lối diễn đạt trong thơ Hai-cư
Tại Việt Nam, hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Hai-cư Nhật Bản Song đó cũng là nỗ lực không ngừng của các nhà nghiên cứu để đưa Hai-cư đến gần với chúng ta hơn, cung cấp cho chúng
ta một cái nhìn tương đối đầy đủ trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật thơ Hai-cư Các công trình tiêu biểu bao gồm cả 3 loại: loại thứ nhất là sách, giáo trình, chuyên luận, chuyên khảo; loại thứ hai là các bài báo đăng trên các tạp chí trong nước; loại thứ ba là các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp Nhìn chung, lịch sử nghiên cứu về thơ Hai-cư
ở Việt Nam đang dừng lại ở một mức độ khiêm tốn với một số gương mặt các nhà nghiên cứu, dịch giả tiêu biểu: Phan Nhật Chiêu, Lê Thiện Dũng, Đoàn Lê Giang, Lưu Đức Trung, Vĩnh Sính… Các công trình
nghiên cứu tiêu biểu: “Basho và thơ Hai-cư” (1994), “Thơ ca Nhật
Bản” (1998), “Văn học Nhật Bản – Từ khởi thủy đến 1868”
(2003)…“Ba nghìn thế giới thơm” (2007) của tác giả Phan Nhật
Chiêu, được đánh giá là người có nhiều công trình nghiên cứu về thơ
Hai-cư nhất; “Giáo trình văn học châu Á” (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997), “Hai-cư hoa thời gian” của GS Lưu Đức Trung; “Dạo chơi vườn
văn học Nhật Bản” (NXB Thế giới, 1999) của tác giả Hữu Ngọc; các bài
báo đăng trên các tạp chí trong nước: “Basho – Nguyễn Trãi – Nguyễn
Du những hồn thơ đồng điệu” (Đoàn Lê Giang, Tạp chí Văn học, 2003),
“ Basho (1644-1694) và Huyền Quang (1254-1334) sự gặp gỡ với mùa thu hay sự tương hợp về cảm thức thẩm mĩ” (Lê Từ Hiển, Tạp chí
Nghiên cứu Văn học số 7, 2005), “Phác thảo những nét tương đồng và
dị biệt của ba thể thơ: tuyệt cú, haiku và lục bát” (Nguyễn Thị Bích Hải
trong cuốn “Văn học so sánh, nghiên cứu và triển vọng”, Nxb Đại học
Sư phạm Hà Nội, 2005), “So sánh chất Thiền trong thơ haiku Nhật Bản
và thơ mang màu sắc Thiền Tông ở Việt Nam” (Nguyễn Thị Thanh
Chung, Tạp chí Khoa học, Đại học Sư Phạm Hà Nội, số 2, 2005), “Sự
biểu hiện của cái “tĩnh” và “động” trong thơ Trần Nhân Tông và
Trang 4thơ haiku của M.Basho” (Hà Văn Lưỡng, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc
Á, số 1, 2006), “Haiku – Lục bát một vài ghi nhận” (Nguyễn Thị Thanh Xuân, Tạp chí Văn học 2012), “Đặc điểm thơ haiku Nhật Bản” (Nguyễn Thị Mai Liên, Nghiên cứu Đông Bắc Á, 10, 2010), “Một số phương diện
thi pháp thơ haiku cổ điển Nhật Bản” (Nguyễn Thị Mai Liên, Tạp chí
Khoa học, ĐHQG Hà Nội, 2014), “Thơ Hai-cư, một sáng tạo nhỏ nhắn
mang tầm vóc lớn lao” (GS Nguyễn Thanh Hùng) đăng trên tạp chí Thơ,
Hội nhà văn Việt Nam, số 3, 2014 ; các luận án, luận văn, khóa luận tốt
nghiệp: luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Quỳnh Như với đề tài “Thơ
Haiku Nhật Bản: Lịch sử phát triển và đặc điểm thể loại” được bảo vệ
tại Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn – ĐHQG TPHCM vào ngày
14/6/2013, luận văn thạc sĩ “Định hướng dạy học thơ Haiku ở lớp 10
THPT từ góc nhìn văn hóa” của Nguyễn Thị Mai Anh ( ĐHSP ) và luận
văn “Dạy học thơ Hai – cư Nhật Bản ở lớp 10 trong quan hệ so sánh với
thơ Thiền Việt Nam” của Trịnh Thị Tâm (ĐHSP ) Tuy nhiên hướng
triển khai của các đề tài nghiên cứu trên khác với đề tài mà chúng tôi lựa chọn Chúng tôi tìm thấy được ở những công trình nghiên cứu nêu trên những kiến thức lí luận có liên quan đến đề tài Nhưng nếu đi sâu vào mảng kiến thức khoa học mà đề tài chúng tôi quan tâm thì những công trình nghiên cứu này chỉ có vai trò định hướng, mở đường
2.2 Tổng quan về nghiên cứu chiến lƣợc dạy học thơ Hai-cƣ Cho đến nay, dường như chưa có một công trình nào nghiên cứu
chuyên sâu riêng biệt tiêu biểu về vấn đề chiến lược dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư Có chăng mới chỉ là rải rác một vài bài viết chia sẻ kinh nghiệm dạy học thơ Hai-cư trên một số trang web mà thôi
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình tổ chức dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư cho học sinh lớp 10 THPT theo chiến lược dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học thơ Hai-cư ở nhà trường phổ thông hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Trang 53.2.2 Đề xuất những giải pháp có tính chất thực thi, hiệu quả cho
việc dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư ở lớp 10
3.2.3 Kiểm tra đánh giá khả năng thực thi, hiệu quả của việc tổ
chức dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư theo chiến lược dạy học mà luận văn
đề xuất
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chiến lược dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu: đặc trưng thi pháp thơ Hai-cư, các bài thơ Hai-cư trong SGK (Cơ bản và Nâng cao), lựa chọn vận dụng một số phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp, một số chiến lược dạy học đọc hiểu vào dạy học các văn bản thơ Hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn vận dụng tổng hợp những phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: khảo sát, miêu tả, phân tích, tổng hợp lý thuyết
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: (so sánh, đối chiếu, điều tra, phỏng vấn, thống kê, phân loại, thực nghiệm sư phạm)
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
6.1 Đóng góp về lý luận: Đề tài đã mô tả và hệ thống hóa các cơ
sở khoa học của dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư theo tư tưởng chiến lược
6.2 Đóng góp vào thực tiễn: Đề tài đã cụ thể hóa vấn đề dạy học
thơ Hai-cư theo tư tưởng chiến lược bằng hệ thống những phương pháp,
kỹ thuật, quy trình dạy học có tính khả thi, giúp GV hiện thực hóa tư tưởng đổi mới dạy học TPVC ở trường THPT hiện nay
6.3 Ý nghĩa xã hội: Thực hiện một đề tài về dạy học TPVC, tác
giả luận văn cũng muốn đóng góp một phần nhỏ vào chiến lược phát triển con người trong thời đại mới của đất nước
Trang 67 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu tổ chức được quá trình dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư cho học sinh lớp 10 theo hướng luận văn đề xuất thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư ở nhà trường phổ thông
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội dung gồm 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10
Chương 2: Chiến lược dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10
Chương 3: Thực nghiệm dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10
Trang 7Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU THƠ HAI-CƯ TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN LỚP 10 1.1 CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN LƯỢC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU
1.1.1 Khái niệm chiến lược
Thuật ngữ chiến lược là một khái niệm chung chỉ sự hoạch định quan trọng mang tính toàn cục, trên nhiều lĩnh vực của các hệ thống và trong một thời gian tương đối dài Ngày nay, có nhiều định nghĩa về chiến lược, mỗi định nghĩa có ít nhiều điểm khác nhau tùy thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả Theo chúng tôi, chiến lược được hiểu trên những phương diện sau đây:
1.1.1.1 Chiến lược (stategy) là kế hoạch hành động
Chữ “chiến lược” không chỉ định một chương trình được ấn định trước và áp dụng máy móc không bao giờ thay đổi (ne variatur) Chiến lược cho phép người ta thiết kế một số kịch bản hành động Những kịch bản ấy có độ mềm dẻo, có những dự kiến trước và bất ngờ có thể xảy ra làm chệch hướng hành động Chiến lược được xác định nhất thiết phải vận dụng tư duy sáng tạo và tư duy phối hợp Tức là tư duy mở ra trong
hệ thống đồng thời vạch ra mâu thuẫn và sự biến đổi trong lòng của cái đồng nhất
1.1.1.2 Chiến lược là sự cụ thể hóa chương trình một cách sinh động và sáng tạo
Khái niệm chiến lược đối lập với khái niệm chương trình: chương trình là một loạt hành động được quy định sẵn để vận hành trong những tình huống cho phép hoàn thành Nếu tình huống bên ngoài không thuận lợi, chương trình bị đình chỉ hay thất bại Ngược lại, khi xác định chiến lược phải tính kỹ về tình thế ngẫu nhiên, các yếu tố bất lợi và kể cả
sự đối kháng Chiến lược xây dựng nhiều kịch bản hoặc những phương
án (variant) để nếu gặp sự cố hoặc cái mới nảy sinh thì phải hội nhập với nó để sửa đổi hay làm phong phú thêm cho hành động
1.1.2 Khái niệm chiến lược dạy học
Chiến lược dạy học là kịch bản hoặc những phương án dạy học
có tính mục đích và giải pháp nhằm phát huy hiệu quả các phương pháp
Trang 8dạy học để đạt được các mục tiêu đặt ra trong một thời gian tương đối dài
1.1.3 Chiến lƣợc dạy học đọc hiểu văn bản
1.1.3.1 Vai trò
Hiện nay việc vận dụng chiến lược dạy học đọc hiểu văn bản vào dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông có ý nghĩa then chốt trong việc thay đổi cả một hệ hình dạy học văn cũ nặng về thuyết trình,
áp đặt, học trò thụ động trong quá trình tiếp cận tri thức Nó chú trọng đến hành động đọc của học sinh, dạy học sinh biết cách đọc bằng kĩ năng đọc Học sinh chủ động thực hiện hành động đọc để tự tìm tòi nắm bắt thông tin, xử lý thông tin và rút ra chân lý
1.1.3.2 Bản chất
Chiến lược dạy học đọc hiểu văn bản thực chất là một quá trình nhận thức được dẫn dắt bởi một hệ thống những biện pháp, những thủ thuật, những cách thức nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh, kiến tạo ý nghĩa của văn bản một cách tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình đọc hiểu tác phẩm văn chương
Nhìn một cách tổng quát thì chiến lược dạy học đọc hiểu văn bản chính là một hoạt động chuyển hóa vào bên trong hoạt động dạy học của người giáo viên và cụ thể hóa bằng hoạt động song phương giữa thầy và trò nhằm thực hiện, giải quyết những nhiệm vụ học tập
1.1.3.3 Nguyên tắc xây dựng chiến lược
a Đảm bảo tính khoa học, thiết thực
Chiến lược dạy học đọc hiểu văn bản phải được xây dựng trên nền tảng của tâm lý học nhận thức, phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi
và nhận thức của học sinh THPT giúp hoạt động của học sinh bao giờ cũng có tính mục đích, học sinh biết sử dụng hợp lí, đúng đắn hành động đọc của mình, biết vận dụng linh hoạt những hình thức đọc hiểu văn bản khác nhau nhằm giải mã và kiến tạo ý nghĩa tác phẩm văn chương
b Đảm bảo phát huy được năng lực người học
Xây dựng chiến lược dạy học đọc hiểu văn bản nhằm giúp HS có
cơ hội được hình thành, rèn luyện và phát triển năng lực đọc hiểu văn
Trang 9chương, bao gồm các năng lực cảm nhận, lí giải, thưởng thức, ghi nhớ và đọc nhanh mà năng lực lí giải là quan trọng nhất
1.2 ĐỌC HIỂU, DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VÀ BẢN CHẤT ĐẶC THÙ CỦA ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
1.2.1 Khái niệm đọc hiểu
Khái niệm đọc hiểu (comprehension reading) có nội hàm khoa học phong phú, có nhiều cấp độ, gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận, tâm lí học nghệ thuật, lí thuyết giao tiếp, thi pháp học, tường giải học, văn bản học,… Mỗi khái niệm đều có một cơ sở khoa học và hạt nhân logic phù hợp với góc độ nghiên cứu của từng nội hạt Trong số các công trình nghiên cứu về đọc hiểu, có lẽ các công trình
nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Thanh Hùng đặc biệt là cuốn Đọc và tiếp
nhận văn chương (NXB Giáo dục, 2002) đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc
và những kiến giải mang tính khoa học về vấn đề đọc hiểu Theo GS
Nguyễn Thanh Hùng,“Đọc văn chương là đọc cái phần chủ quan của
người viết bằng cách đồng hoá tâm hồn, tình cảm, suy nghĩ của nó vào trang sách Đọc là đón đầu những gì mà mình đọc qua từng chữ, từng câu, từng đoạn rồi quay về những gì đọc đã qua để chứng kiến và đi tìm hợp lực của tác giả, để tác phẩm được tái tạo trong tính cụ thể và giàu trí tuởng tượng” [14; tr 29] Với sự kiến giải trên, GS đã đưa ra khái
niệm “Đọc hiểu văn chương là phân tích mối quan hệ biện chứng giữa
ba tầng cấu trúc của tác phẩm tìm ra sự quy chiếu và giá trị riêng của nó” [14; tr 88]
Đặt khái niệm đọc hiểu vào môi trường giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông, chúng ta có thể nhận thấy rằng khái niệm đọc hiểu có quan hệ với năng lực đọc Đây cũng là một trong những khái niệm cơ bản dùng để xây dựng chương trình môn Ngữ văn hiện nay
1.2.2 Bản chất đặc thù của đọc hiểu tác phẩm văn chương
Bản chất đặc thù của đọc hiểu chính là một quá trình phức tạp, tổng hợp, đòi hỏi cần sở hữu một hệ thống kĩ năng nhằm giải mã văn bản
và kiến tạo ý nghĩa của văn bản Nói một cách khác, đọc hiểu tác phẩm văn chương thực chất là quá trình người đọc kiến tạo ý nghĩa của văn bản đó thông qua hệ thống các hoạt động, hành động, thao tác nhất định
Trang 10Đọc hiểu là hoạt động đọc mang tính chất đối diện một mình, tự lực với văn bản, nó có cái hay là tập trung và tích đọng, lắng kết thầm lặng năng lực cá nhân Đây là hoạt động thu nạp và ứng dụng những kinh nghiệm đời sống, lịch sử, kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm văn hóa của mỗi cá thể để hiểu chiều sâu của giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng độc đáo của tác phẩm
1.2.3 Dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương
Dạy học đọc hiểu văn chương là một hoạt động có quy luật riêng của nó và chỉ ở nhà trường phổ thông thì hoạt động đọc hiểu mới trở nên bài bản Nói cách khác dạy đọc hiểu là quá trình biến văn bản thành tác
phẩm của mỗi học sinh bởi “mỗi quyển sách có số phận riêng của mình
trong đầu bạn đọc” (L.Tôntôi)
Hiện nay hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản trong nhà trường luôn có ý thức gắn liền với đặc trưng thể loại Ở đây tác phẩm hiện lên như là chính nó nên nếu không có ý thức về những đặc trưng thi pháp thể loại riêng biệt thì khó có thể mở đúng con đường đi tới đích Do đó dạy học đọc hiểu thơ Hai-cư theo tư tưởng chiến lược nhất thiết cũng phải dựa vào đặc trưng thi pháp thể loại của nó
1.3 ĐẶC TRƯNG THI PHÁP THƠ HAI-CƯ
1.3.1 Thơ Hai-cư là hiện tượng kết tinh văn hóa Nhật Bản
1.3.1.1 Thơ Hai-cư thể hiện đời sống tinh thần của người Nhật
Đây là đặc điểm riêng nổi bật nhất của thơ Hai-cư mang dấu ấn đặc trưng của văn hóa Nhật Nhà nghiên cứu người Mĩ, P.I Smeeth
trong cuốn “Thiên nhiên Nhật”, đã có nhận xét: “Cảm xúc về cái đẹp,
khuynh hướng chiêm ngưỡng vẻ đẹp là đặc trưng tiêu biểu cho mọi người Nhật – từ người nông phu cho đến nhà quý tộc Bất cứ người nông dân Nhật Bản bình thường nào cũng là một nhà mĩ học, một nghệ sĩ biết cảm thụ cái đẹp từ trong thiên nhiên” Vì thế Thiên nhiên trong thơ Hai-
cư đẫm màu sắc với bốn mùa luân chuyển và mang một vẻ đẹp thật bình
dị, nguyên sơ nhưng không kém phần huyền bí Trong thơ Hai-cư, nổi bật yếu tố mùa Việc sử dụng quý ngữ (từ chỉ mùa) thể hiện sự gắn bó sâu sắc của người Nhật với thiên nhiên Hai-cư muốn cho thấy con người trong thiên nhiên cũng như thiên nhiên trong con người Con người là
Trang 11thành phần của thiên nhiên, là thành phần của một toàn thể Đó là mối tương quan không gì cắt nổi giữa con người và sức sống của vũ trụ
1.3.1.2 Thơ Hai-cư in đậm dấu ấn văn hóa Thiền
Thơ Hai-cư bắt nguồn từ cảm thức văn hóa của người Nhật về Thiền tông Mỗi bài thơ Hai-cư mang hơi thở của Thiền tông, được thể hiện dưới một hình thức ngắn gọn, cô đọng Văn hóa Thiền tạo ra quan niệm thẩm mỹ Thiền Người làm thơ Hai-cư chịu ảnh hưởng sâu đậm của quan niệm thẩm mỹ Thiền: cái đẹp hiện hữu trong sự bình dị, đơn
sơ Những cảm thức thẩm mỹ này thể hiện cái nhìn của các thi sĩ Hai-cư trước hiện thực mang đậm màu sắc Thiền tông gắn với thiên nhiên và con người : thường đề cao cái vẻ u nhàn, đơn sơ, cao khiết (wabi); thể hiện cái đạm bạc bên ngoài, sâu lắng bên trong, cái vắng lặng tịch liêu (sabi); cái dư vị buồn thương nhè nhẹ (shiori); cái bi cảm vô thường (aware); cái u huyền trầm mặc (yugen); cái nhạy cảm và tinh tế để bắt gặp đối tượng (hosomi); cách trình bày nhẹ nhàng thanh thoát, không nặng về kỹ xảo của câu thơ (karumi)…
1.3.2 Thơ Hai-cƣ – sự độc đáo và đặc sắc về thi pháp
Theo các nhà nghiên cứu, sự độc đáo và đặc sắc về thi pháp của thơ Hai-cư thể hiện trên những phương diện sau:
1.3.2.1 Kết cấu Kết cấu độc đáo, đặc trưng cho thơ Hai-cư: kết
cấu hư không Gọi là kết cấu hư không bởi khoảng trống vắng được tạo
ra trong thơ Hai-cư không mang bản chất vật lý trống rỗng tuyệt đối mà mang bản chất Thiền tông chỉ cảnh giới tịch lặng trong tâm hành giả lúc nhập định, một cái tâm trong sáng, không tạp niệm, do đó có khả năng tri kiến sáng suốt Chính những khoảng trống này tạo nên ý nghĩa, vẻ đẹp cho một bài Hai-cư
1.3.2.2 Yếu tố bất ngờ Yếu tố bất ngờ trong thơ Hai-cư khởi
phát từ tư tưởng của Thiền đạo: “satna đốn ngộ” Có nghĩa là “lập tức giác ngộ, tức khắc tỉnh ngộ” Sự bừng ngộ này xảy ra trong khoảng thời gian cực ngắn mà tiếng Sanskrit gọi là ksana Hai-cư chứa yếu tố bất ngờ trong thời gian khoảnh khắc Yếu tố bất ngờ giúp chúng ta tiếp cận và giải mã được một kiểu cấu tứ độc đáo của Hai-cư và góp phần khẳng
Trang 12định sức sống, sức hấp dẫn kỳ lạ của thể thơ bé nhỏ nhất trong thế giới rộng lớn này
1.3.2.3 Không gian – thời gian nghệ thuật Về vấn đề thời gian
nghệ thuật, thơ Hai-cư thể hiện cảm thức của con người về thứ thời gian khoảnh khắc Hai-cư vẫn được gọi là “thơ của khoảnh khắc” – cái khoảnh khắc của hiện thực như nó vốn vậy Đặc trưng này thể hiện ở chỗ trong mỗi bài Hai-cư bao giờ cũng có quý ngữ (kigo) – từ chỉ mùa Đặc điểm này của thơ Hai-cư thể hiện rõ sự chi phối của Thiền Thiền vốn coi giây phút thực tại là tài sản quý giá nhất của mỗi con người
Về không gian nghệ thuật, trong thơ Hai-cư hết sức phong phú,
đa dạng Không gian trong thơ Hai-cư Nhật Bản luôn luôn là không gian hiện thực Nhà thơ ghi lại sự tình, tuyệt không bộc lộ cảm xúc, thái độ để cho người đọc thì mặc sức liên tưởng, tưởng tượng
1.3.2.4 Cảm thức thẩm mỹ Đặc trưng thơ Hai-cư là mỹ cảm Có
thể tạm gọi đó là cảm thức thẩm mĩ Thiền, là loại cảm thức thẩm mĩ thiên về coi trọng, đề cao cái đẹp thanh nhã, tịch lặng, giản khiết, bình đạm Do đó, bốn nguyên tắc mĩ học thường được nhắc đến trong thơ
Hai-cư nói riêng, văn học nghệ thuật Nhật Bản nói chung là: Sabi (tịch lặng), Wabi (đơn sơ), Yugen (u huyền) và Karumi (nhẹ nhàng) Chính
cảm thức thẩm mĩ ấy đã chi phối cách lựa chọn màu sắc, âm thanh, đường nét, chuyển động,… trong miêu tả, phản ánh con người cũng như ngoại vật trong mỗi bài Hai-cư
1.3.2.5 Quan niệm về con người, thiên nhiên gắn với cái nhìn nhất thể hoá, tương giao
Thơ Hai-cư chấm phá, gợi mà không tả, chỉ một cảnh vật, một
sự việc trong thời điểm nhất định mà nhà thơ bừng ngộ một chân lí giản
dị, sâu xa về con người và vạn vật trong cái nhìn nhất thể hóa (con người, vạn vật là một) Sự tương giao giữa các sự vật, hiện tượng (âm thanh, màu sắc, mùi hương có thể chuyển hóa lẫn nhau), đó là quy luật lớn lao và bí ẩn của tự nhiên
1.3.2.6 Nhận thức thế giới thực tại Nét đặc sắc trong nhận thức
thế giới thực tại của thơ Hai-cư chính là coi trọng thể nghiệm cá nhân
“Với thơ Hai-cư, cách nhận thức thế giới của thi nhân là coi trọng tri