hơ lục bát nói chung và cái tôi trữ tình trong thơ lục bát ồng ức Bốn nói riêng xuất hiện trong những công trình nghiên cứu uy mô, khá bài bản cho đến những bài viết nhỏ in trên báo viết
Trang 1sư rần ình S , vấn đề cái tôi trữ tình v n ít được nghiên cứu rên con đường đi vào thế giới nghệ thu t thơ, vì l do này, khác hình như v n còn những dè dặt, ngại khi khai phá mảnh đất màu m nhưng c ng đầy
th thách này ặc biệt, trong bối cảnh sáng tác đương đại, khi cảm hứng thơ đã chuyển từ cộng đồng, s thi sang cái tôi cá nhân, cá thể với cảm hứng nhân sinh thế sự, thì việc khai thác hình tượng cái tôi trữ tình là một yêu cầu đặt ra Những vấn đề thuộc về thi pháp của một giai đoạn thơ, một chặng đường thơ; những bản sắc riêng, phong cách của một tác giả thơ… sẽ được mở ra từ việc khám phá hình tượng cái tôi trữ tình
rong lịch s văn học viết Việt Nam, thể thơ lục bát có vai trò đặc
biệt uan trọng và có sức sống mạnh mẽ h o các nhà nghiên cứu đây là thể thơ xuất hiện vào cuối thế kỉ XV và có nhiều thành tựu xuất sắc hơ lục bát không giống với bất kỳ thể thơ nào khác bởi ở lục bát người ta có thể vừa cảm nh n được tính truyền thống dân dã, vừa cảm nh n được những nét hiện đại ối với bất cứ một nhà thơ nào có lẽ đều từng viết lục bát, nhưng để có được một phong cách riêng trong thơ lục bát lại là điều không hề dễ dàng Cái tôi trữ tình trong lục bát ca dao có những đặc sắc riêng, nó là những khuôn m u, những nền tảng cho lục bát giai đoạn sau phát triển ến các giai đoạn sau nhiều tác giả đã thể hiện được cái tôi trữ tình rất rõ nét trong thơ lục bát như Nguyễn Du, Nguyễn Bính, ố Hữu, Nguyễn Duy với những âm điệu, ngôn từ, hình tượng phong phú góp thêm cho dòng thơ nhiều tác phẩm có giá trị cao., được người đọc hôm nay và mãi đến sau này yêu thích và mến mộ
ồng ức Bốn là một trong những nhà thơ lục bát tiêu biểu của văn học đương đại trong vài th p niên gần đây Ông “đại náo” (Dư hị Hoàn) làng văn Việt Nam bằng thanh gươm lục bát của riêng mình và dành được một vị trí mà nhiều người ao ước ồng ức Bốn nổi lên từ
Trang 2các giải thưởng thơ hay trên các tạp chí, các báo: giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ (1995), giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ (1998-2000), giải thưởng cuộc thi thơ ạp chí văn nghệ uân đội (1998-2000),
giải thưởng cuộc thi thơ Tầm nhìn thế kỷ báo iền phong, đặc biệt là tặng
thưởng thơ hay nhất của tạp chí văn nghệ uân đội 1999 - 2000 Người
ta bắt đầu biết đến cái tên ồng ức Bốn từ dạo ấy Ông được coi là “vị cứu tinh của thơ lục bát” (Nguyễn Huy hiệp) Cái tôi trữ tình trong thơ
lục bát của ồng ức Bốn có nhiều nét riêng, độc đáo khó l n về nội dung và cảm xúc biểu đạt uy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về chủ thể cái tôi trữ tình trong thơ lục bát của ông
1.2 Cơ sở thực tiễn
Cho đến nay, chưa có một cuốn sách giáo khoa nào đề c p đến tác giả ồng ức Bốn uy nhiên, tác giả này c ng nh n được khá nhiều sự uan tâm của giới nghiên cứu và bạn đọc xa gần Kh n có, chê có! Nhưng mặc những kiến kh n chê, thơ ồng ức Bốn v n nổi lên như một “ hiện tượng” đặc biệt hơ lục bát nói chung và cái tôi trữ tình trong thơ lục bát ồng ức Bốn nói riêng xuất hiện trong những công trình nghiên cứu uy mô, khá bài bản cho đến những bài viết nhỏ in trên báo viết, báo mạng và được bạn đọc uan tâm đặc biệt
Bản thân tác giả lu n văn là một giáo viên dạy môn Ngữ Văn ở trường rung học phổ thông, việc tìm hiểu và nghiên cứu về cái tôi trữ
tình trong thơ nói chung và “Cái tôi trữ tình trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn” nói riêng có ngh a uan trọng, giúp chúng tôi hiểu sâu sắc
hơn về các vấn đề mà đề tài nghiên cứu Và c ng ua đó góp phần giới thiệu một hồn thơ lục bát tiêu biểu của nền thơ ca đương đại với bạn đọc
Bổ sung thêm tài liệu cho việc nghiên cứu và giảng dạy thơ sau năm
1975, trong đó có thơ lục bát hêm một tài liệu có ích cho người yêu thơ ồng ức Bốn
rên đây là những l do cơ bản, xuất phát từ cơ sở l lu n và thực
tiễn để chúng tôi lựa chọn vấn đề “Cái tôi trữ tình trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn” làm đề tài nghiên cứu
Trang 3Về nguồn gốc của thể lục bát có nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và đưa ra nhiều kiến khác nhau Ví dụ các công trình nghiên cứu của: Chu Xuân Diên, Phan Diễm Phương, Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Xuân ức,… Các nghiên cứu của họ đều gặp nhau ở một điểm là: Lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam, không chịu ảnh hưởng của những yếu tố ngoại lai, nó xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ XV trong văn
học viết… rong bài nghiên cứu của Chu Xuân Diên (Tục ngữ Việt Nam), Nguyễn Xuân ức (Đi tìm nguồn gốc thể loại lục bát Việt Nam)… cho rằng thể lục bát có dấu vết của ca dao, tục ngữ, thành ngữ rong nghiên cứu của Phan hị Diễm Phương (Ngọn nguồn của hai thể thơ dân tộc: Lục bát và song thất lục bát), Nguyễn Thái Hòa (Tiếng Việt
và thể lục bát)… thì cho rằng tiếng Việt và văn hóa Việt là những điều
kiện hình thành nên hai thể thơ này
Về vần, lu t, ngôn ngữ, nhịp điệu, chức năng,…có hàng loạt các bài nghiên cứu cho thể loại nói chung và cho các tác giả, tác phẩm nói riêng
h o Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao, có 95% ca dao được
sáng tác th o thể lục bát, điều này đã khẳng định được vị trí của nó trong
nền văn học dân tộc Nguyễn Xuân ức tìm hiểu “về thể lục bát trong ca dao” đã chỉ ra hiện tượng biến thể cấu trúc, về hiệp vần, về phối thanh,
về lu t bằng trắc của lục bát ương tự, trong Những thế giới nghệ thuật
ca dao- tác giả Phan hu Yến c ng nhấn mạnh ngh a của thể lục bát
trong các sáng tác dân gian và sáng tác văn học viết
Với công trình: Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại… tác giả Hồ Văn Hải đã nghiên cứu thể thơ lục bát dưới góc độ của
chuyên ngành ngôn ngữ Quan điểm của ông cho thơ lục bát có một phẩm chất thẩm m đặc biệt, kết tinh tinh hoa văn hóa- ngôn ngữ dân tộc
Nó thể hiện cảm thức cộng đồng ở mọi thời đại Vì thế nó đồng hành với tiến trình phát triển văn hóa xã hội Nó bền bỉ và sâu lắng
Vấn đề sự phát triển hoặc những phát hiện về mối uan hệ với văn học dân gian, về sự tác động ảnh hưởng của thơ lục bát ca dao, lục bát cổ điển đối với thơ và thơ lục bát hiện đại,… đã được các tác giả như Nguyễn Xuân Kính, rần ức Các, Xuân Diệu, rần ình S , Chu Văn Sơn, Lê Quang Hưng nhắc đến trong các bài nghiên cứu của mình Như
v y, nghiên cứu về thơ lục bát là uá trình nghiên cứu không chỉ có độ rộng mà còn có độ sâu Có thể nói, thơ lục bát chưa và không bao giờ ngừng trở thành đối tượng uan tâm của các nhà nghiên cứu Lục bát là thể thơ u n thuộc với nhiều thi s c ng như độc giả Việt Việc nghiên cứu về thể thơ này là tiền đề, cơ sở cho người viết lu n văn tìm hiểu,
Trang 4nghiên cứu, so sánh để thấy sự kế thừa, cách tân, đóng góp của mỗi tác giả c ng như tiến trình phát triển của thể lục bát trong đời sống văn học.
2.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ
và cái tôi trữ tình trong thơ lục bát thời kì đổi mới
rước hết có thể nói đến công trình nghiên cứu mang tính tiên phong
của Lê Lưu Oanh: Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990 (1996) óng góp
của nhà nghiên cứu ở công trình này là đã khái uát được bản chất chủ uan của thể loại trữ tình, đưa ra khái niệm cái tôi trữ tình và một số kiểu cái tôi trữ tình, c ng như thấy được mối quan hệ giữa cái tôi của nhà thơ
và cái tôi trữ tình trong thơ
iếp th o là tác giả V uấn nh với N a thế kỷ thơ Việt Nam 1945
- 1990 (1997) Công trình này đã khái uát được uy lu t v n động của thơ trữ tình Việt Nam trong suốt n a thế kỷ thơ, khái uát được bộ mặt
của thơ Việt Nam với kiểu cái tôi trữ tình ca ngợi và hòa nh p cuộc sống
Ngoài ba công trình có uy mô chuyên biệt như trên còn có một số
bài viết mang tính tổng kết, như: Nhận t về tư du thơ thời kì đổi mới (Nguyễn Bá hành), ười l m n m thơ thời kì đổi mới những u hướng tìm t i (Mai Hương), ành trình thơ Việt Nam hiện đại ( rần ình S ),
Về một u hướng đổi mới Thi há trong thơ hiện na ( ỗ Lai húy), Nhìn lại tiến trình thơ Việt Nam hiện đại (V Quần Phương), ười n m
c ng thơ l o n i ( hanh hảo), Tổng uan về thơ Việt Nam 1975 - 2 Thơ Việt Nam thời kì đổi mới 1986 - 2000 (Mã iang Lân), Những chu ển động về thơ Việt Nam thời kì đổi mới (Nguyễn ăng iệp), Thơ
t sau 1975 (Nguyễn Văn Long) Nhìn chung, các bài viết trên đều khá
thống nhất với nhau trong việc phân chia các dạng thức của cái tôi trữ tình trong thơ sau 1975, khẳng định xu hướng trở về cái tôi cá nhân, khẳng định con người cá tính, uan tâm đến những vấn đề nhân sinh thế
sự Về nghệ thu t: nổi b t lên là vấn đề cách tân ngôn ngữ, sự đa dạng linh hoạt về giọng điệu; sự đa dạng cấu trúc thể loại
Về các công trình nghiên cứu về cái tôi trữ tình trong thơ lục bát đương đại hầu như chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào
Trang 5Những công trình nghiên cứu, những bài viết trên sẽ là tiền đề quan
trọng giúp chúng tôi có những kiến thức cơ bản trong quá trình nghiên
cứu Từ những gì đã tiếp thu được của người đi trước chúng tôi sẽ có
thêm sự tự tin cần thiết để thực hiện đề tài
2.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ lục bát và cái tôi trữ tình trong
thơ lục bát Đồng Đức Bốn
ồng ức Bốn viết nhiều thể loại thơ khác nhau, nhưng trong đó nổi
b t là thể thơ lục bát hơ lục bát của ồng ức Bốn, được khá nhiều tác
giả uan tâm nghiên cứu và triển khai đề tài này thành những chuyên
lu n
Mở đầu là bài viết: “Đồng Đức Bốn - vị cứu tinh của thơ lục bát”
của nhà văn Nguyễn Huy hiệp h o Nguyễn Huy hiệp, cái hay của
thơ ồng ức Bốn là ở chỗ “Thơ Đồng Đức Bốn khá giàu tình cảm…
giàu nhị điệu và giàu nội lực”
Cho đến nay, Nguyễn Huy hiệp đã có khá nhiều bài viết về ồng
ức Bốn và thơ ồng ức Bốn Ông còn có cả truyện ngắn Đưa sáo
sang sông, lấy thơ ồng ức Bốn làm khung cảnh, làm v thanh cho thơ
ồng ức Bốn Có thể nói, chưa ai đánh giá cao ồng ức Bốn như
Nguyễn Huy hiệp Những nh n xét, đánh giá của Nguyễn Huy hiệp
trên đây có phần hơi cực đoan nhưng nó đã chứng tỏ sức hấp d n của thơ
lục bát ồng ức Bốn trong dòng chảy thơ đương đại nói chung và
trong dòng chảy thơ lục bát đương đại nói riêng
Nhà nghiên cứu Nguyễn ăng iệp trong công trình “Đồng Đức Bốn
-phiêu du vào lục bát” có cái nhìn tỉnh táo hơn Sau khi chỉ ra cái khó
trong việc làm thơ lục bát: “là một thể loại ai cũng u n mặt ai cũng
thuộc tên nếu không có cái mới lậ tức kẻ làm thơ sẽ bị đuổi khỏi chiếu”
tác giả khẳng định chắc nịch “Đồng Đức Bốn đã trụ lại được” [2; tr 646]
ác giả Nguyễn hị nh hư trong bài viết “Đọc thơ lục bát của Đồng
Đức Bốn” đã nh n xét: “T ng cặ câu thơ lục bát của Đồng Đức Bốn
rất chắc khỏ đa hần t ngữ được chắt lọc một cách tinh tế với một
kiểu logic su tư (cách liên tưởng) lạ thường đ m lại cho người đọc sự
bất ngờ ngỡ ngàng về ý tứ về ngôn t hình ảnh” [2; tr 674]
Với giọng điệu tự nhiên pha chút ngang tàng nhưng c ng không kém
phần trịnh trọng, trong bài “Đóng gạch nơi nao”, con chim đại bàng của
núi rừng rường Sơn Phạm iến Du t đã khẳng định: “…một mình
Đồng Đức Bốn tự làm một cuộc trường chinh Gã ông thẳng vào trận
địa lục bát và chỉ một thời gian ngắn Đồng Đức Bốn trở thành ông vua
trẻ của thể loại nà ” [2-I,695] Cách nói này của Phạm iến Du t đã
Trang 6khẳng định được tài năng của ồng ức Bốn và những đóng góp của thơ ông
ác giả inh Quang ốn trong bài viết “Những bài thơ cuối cùng của Đồng Đức Bốn” [39](http://tapchinhavan.vn/news/Sang-tac/ / ) đã trân trọng khẳng định: “Đến na nhắc đến Đồng Đức Bốn ai cũng biết
đấ là một hồn thơ lục bát Phải th a nhận rằng: thơ lục bát của Đồng Đức Bốn có một vị trí riêng trong thơ Việt Nam hai thậ kỷ na ” Cuối bài viết, tác giả đã dành cho ồng ức Bốn một vị trí xứng đáng: “Nếu chọn lấ 1 thi nhân hoặc chọn 1 bài thơ ha của thế kỷ XX; riêng tôi tôi đều bỏ hiếu cho Đồng Đức Bốn”
rên các w bsit của Hội nhà văn, của các cá nhân, một số nhà văn, nhà thơ như Bằng Việt, Phạm iến Du t, Nguyễn Huy hiệp, Văn Chinh, Nguyễn Hòa, Nguyễn rọng ạo, Nguyễn ình Minh, … đã viết
về lục bát của ồng ức Bốn bằng giọng điệu trân trọng và cảm mến đặc biệt
hơ lục bát của ồng ức Bốn không chỉ được nghiên cứu trên mặt tổng thể - tức là trên mặt bằng rộng với hàng trăm bài lục bát của ông mà còn được nghiên cứu trên phạm vi từng bài lục bát ược các học giả
nghiên cứu c ng như nhắc đến nhiều nhất là bài “Ch n trâu đốt lửa”
“Trở về với mẹ ta thôi” và bài “Vào chùa” ây được coi là ba bài thơ
rong lu n văn hạc s “Chất đồng quê trong thơ lục bát Việt Nam hiện đại - qua thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn” (năm 2008),
tác giả Phạm Mai Phong đã khẳng định: “Có thể nói đến Đồng Đức bốn thơ lục bát một lần nữa khẳng định được vị trí và sức sống lâu bền của mình”
hơ lục bát của ồng ức Bốn tiếp tục được nghiên cứu trong lu n
văn “Văn hóa làng quê trong thơ lục bát đương đại” (qua thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ) (năm 2008) của tác giả Nguyễn
Văn ồng
Trang 7Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về cái tôi trữ tình trong thơ lục bát ồng ức Bốn Nhưng đã có các công trình nghiên cứu về các khía cạnh nội dung, nghệ thu t của thơ lục bát ồng
ức Bốn ó là cơ sở nghiên cứu để chúng tôi tìm hiểu sâu thêm về cái tôi
tữ tình trong thơ lục bát ồng ức Bốn thông ua lu n văn này
2.3 Kết luận chung về lịch sử vấn đề
hơ lục bát ồng ức Bốn đã nh n được rất nhiều sự uan tâm của độc giả c ng như của các nhà nghiên cứu Nhưng th o đánh giá của người viết, những nghiên cứu mới phần nào chú đến một vài phương
diện nào đó như: nội dung cảm hứng cảm c chủ đạo hình tượng nghệ thuật chất đồng uê ngôn ngữ chất ca dao,… mà v n chưa có cái nhìn toàn diện về cái tôi trữ tình trong thơ lục bát - một thứ “lộc trời”, một
“đặc sản” của ông Cho nên, đặt vấn đề “Cái tôi trữ tình trong thơ lục
bát Đồng Đức Bốn” - tức là x m xét toàn diện cái hay, cái đẹp, nghiên
cứu tính truyền thống và hiện đại, tìm hiểu những điểm riêng biệt của cái tôi trữ tình trong thơ lục bát ồng ức Bốn… để người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn, thiết ngh , là một việc làm có ngh a và cần thiết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cái tôi trữ tình trong thơ lục bát ồng ức Bốn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- 149 bài thơ lục bát trong tuyển t p thơ “Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc” (NXB Hội nhà văn, H, 2006)- ồng ức Bốn
- uyển t p thơ lục bát Việt Nam - NXB văn hóa- Hà Nội- 1994
- Các t p thơ lục bát tiêu biểu của các tác giả đương đại
4 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ lục bát ồng ức Bốn trên cả
phương diện nội dung phản ánh và nghệ thu t thể hiện ừ đó làm rõ diện mạo, đặc trưng của thơ lục bát ồng ức Bốn
- hấy được vị trí và đóng góp của ồng ức Bốn trong dòng thơ lục bát thời kì đổi mới
5 Phương pháp nghiên cứu
ể triển khai “Cái tôi trữ tình trong thơ lục bát ồng ức Bốn” - chúng tôi s dùng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp khảo sát thống kê - phân loại: thống kê số lượng bài thơ lục bát trong sáng tác của ồng ức Bốn để thấy được vị trí thơ lục
Trang 8bát trong sự nghiệp sáng tác của ông Phân loại thơ lục bát ồng ức Bốn theo các chủ đề chính
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: để thấy nét riêng độc đáo, khác biệt của cái tôi trữ tình trong thơ lục bát ồng ức Bốn với một số nhà thơ cùng thế hệ
- Phương pháp tiếp c n thi pháp học: thi pháp học là khoa học nghiên
cứu văn học như một nghệ thu t Trong nghệ thu t, nôi dung hoàn toàn hóa thân vào hình thức Cho nên hình thức nghệ thu t là đối tượng chiếm
l nh chủ yếu của thi pháp học Việc nghiên cứu cái tôi trữ tình đòi hỏi những người thực hiện phải có phương pháp tiếp c n thi pháp học
- Phương pháp phân tích, thẩm bình: để thấy rõ vẻ đẹp cái tôi trữ tình trong thơ lục bát ồng ức Bốn
6 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ lục bát ồng ức Bốn, lu n văn
cả phương diện nội dung và nghệ thu t
- Góp thêm một tư liệu tham khảo cho việc giảng dạy văn học dưới góc độ thể loại và việc học t p, nghiên cứu của học sinh, sinh viên, giáo viên cùng những người yêu thích thơ lục bát ồng ức Bốn nói riêng và thơ lục bát nói chung
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết lu n và danh mục tài liệu tham khảo, lu n văn có 3 chương:
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái quát về cái tôi trữ tình trong thơ
1.1.1 Khái niệm cái tôi
Cái tôi là khái niệm thể hiện thức tồn tại của mình, để nh n ra mình là một cá thể độc l p khác với các cá thể khác Cái tôi của người nghệ s là nền tảng để tạo nên sự độc đáo riêng biệt trong sáng tạo nghệ thu t Khi cái tôi được thể hiện trong tác phẩm là cái tôi nhân cách đã trở thành cái tôi trữ tình
1.1.2 Khái niệm, đặc trưng cái tôi trữ tình trong thơ
1.1.2.1 Khái niệm cái tôi trữ tình trong thơ
Cái tôi trữ tình được coi là nhân tố khởi sự và hoàn tất của thơ trữ tình Cái tôi là yếu tố đầu tiên, là nguồn gốc của thơ trữ tình Cái tôi trữ tình vừa là cách nhìn, cảm thụ thế giới của chủ thể, đồng thời c ng đóng vai trò sáng tạo, tổ chức các phương diện nghệ thu t ừ cảm hứng, đến giọng điệu thi ca, ngôn ngữ… nhà thơ luôn cần phải hiện diện
1.1.2.2 Đặc trưng của cái tôi trữ tình trong thơ
* Nhu cầu tự bộc lộ và nhu cầu đối thoại
*Biểu hiện của cái tôi mang giá trị thẩm mĩ
1.1.3 Mối quan hệ giữa cái tôi tác giả và cái tôi trữ tình trong thơ
Cái tôi và cái tôi trữ tình đều bắt nguồn từ bản thân nhà thơ uy nhiên cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình không hoàn toàn trùng khít với nhau Cái tôi trữ tình trong mối uan hệ với cái tôi của nhà thơ nó vừa có nét tương đồng vừa có sự khác biệt Cái tôi trữ tình một phần thể hiện cái tôi của nhà thơ, một phần nó được khách thể hóa được thăng hoa trong nghệ thu t bằng nghệ thu t
1.1.4 Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ ca Việt Nam
1.1.4.1 Cái tôi trữ tình trong thơ ca dân gian
Trở về với thể loại văn học cổ xưa- văn học dân gian cái tôi trữ tình trong ca dao, dân ca là cái tôi tìm thấy tiếng nói chung của t p thể Cái tôi ở đây không bộc lộ như một cá nhân riêng biệt mà cá thể chìm đi,
biểu hiện cái tôi xã hội, cái tôi của t p thể
1.1.4.2 Cái tôi trữ tình trong thơ ca trung đại
Cái tôi cá nhân c ng bị kìm hãm không có cơ hội phát triển mạnh
mẽ, cá tính sáng tạo in dấu trên tác phẩm mờ nhạt, viết văn, làm thơ c ng
Trang 10th o khuôn m u và c ng vì thế mà người ta nói văn học trung đại là văn học phi ngã
1.1.4.3 Cái tôi trữ tình trong thơ ca hiện đại
rong xã hội hiện đại, cái tôi cái bản ngã của con người được coi trọng Ý thức về cái tôi phát triển và được xã hội tôn trọng
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vị trí của thơ lục bát trong nền thơ
ca Việt Nam
1.2.1 Khái niệm về thơ lục bát
úng như tên gọi của nó thơ lục bát gồm những cặp câu luân phiên kế tiếp nhau bao gồm một câu sáu âm tiết và sau đó là đến một câu tám âm tiết Cứ như v y, thơ lục bát có thể kéo dài đến hàng trăm, hàng ngàn câu (như truyện Nôm từng thịnh hành từ thế kỷ XVIII- XIX)
1.2.2 Đặc điểm thơ lục bát
hể thơ lục bát được sáng tác trên cơ sở những ui định về số tiếng, gi o vần, phối điệu và ngắt nhịp
1.2.3 Cái tôi trữ tình trong thơ lục bát
Lục bát là thể thơ mang đ m bản sắc dân tộc Cái tôi trữ tình trong lục bát dân gian thể hiện rất tinh tế những cung b c tình cảm yêu thương giữa người với người bằng giọng điệu nhẹ nhàng đôi khi là giọng điệu mang tính triết lí hay hờn dỗi Kế thừa truyện thơ lục bát của thế kỷ XVIII, đến giữa thế kỷ XIX, cái tôi trữ tình trong thơ lục bát đã có tính
cá thể riêng biệt ặc sắc nhất của lục bát trong hơ mới nói riêng và lục bát hiện đại nói chung so với thơ lục bát trữ tình của văn học truyền thống là chức năng trữ tình luôn gắn với nội dung bày tỏ tư tưởng, tình cảm, tâm trạng của “cái tôi cá nhân cá thể” Càng về sau cái tôi trữ tình trong thơ lục bát càng hiện đại, tươi trẻ hơn so với thời đầu hơ lục bát
đi vào chiều sâu trữ tình, khám phá những cảnh ngộ riêng tư, bám sát vào cuộc sống ở những mảng khuất, bị lấp nhằm tăng cường tính hiện thực và yếu tố tự sự, đưa thơ lục bát về gần với đời sống thực Sau đề tài chiến tranh, thơ lục bát đi sâu vào mảng thế sự- đời tư Các nhà thơ lục bát thời kì này đã tạo ra những cái tôi trữ tình mang phong cách cá thể không thể trộn l n
1.2.4 Vị trí của thơ lục bát trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại
Lục bát là một thể thơ truyền thống, một thể loại thi ca đặc thù của văn học Việt Nam, mang trong nó hồn phách của dân tộc Việt Nam Lục
Trang 11bát là máu chảy trong huyết uản để nuôi sống tâm hồn người Việt bao thế hệ Do v y, trong suốt uá trình phát triển của nền văn học dân tộc, thể thơ này luôn được đề cao và đã có rất nhiều thành công, những kết tinh
1.3 Vài nét về tác giả - tác phẩm và vị trí thơ lục bát trong sự nghiệp thơ Đồng Đức Bốn
1.3.1 Vài nét về tác giả- tác phẩm
ồng ức Bốn (1948 - 2006) là con một gia đình nghèo thôn Song Mai, xã n ồng, huyện n Hải ngoại ô thành phố Hải Phòng Năm
1966, ông gia nh p lực lượng thanh niên xung phong Sau đó ông là thợ
cơ khí (thợ gò b c 6/7) tại Xí nghiệp cơ khí 20-7, thuộc ổng công ty xây dựng Bạch ằng (Hải Phòng) Cuối cùng, ồng ức Bốn chuyển sang làm việc ở Xí nghiệp xuất nh p khẩu gia cầm Hải Phòng
ồng ức Bốn uan tâm đến khá nhiều mảng đề tài Về mặt nghệ thu t, đa số các kiến đều cho rằng, khi khai phá và trình bày nỗi niềm của mình, ồng ức Bốn đã s dụng lục bát như một chiến binh tài năng
1.3.2 Vị trí thơ lục bát trong sự nghiệp thơ Đồng Đức Bốn
ồng ức Bốn coi lục bát là cõi hóa thân, là bản mệnh của mình ồng ức Bốn đến với đời ua lục bát và bằng lục bát bởi ông đã g i tất
cả hồn mình vào đó
1.4 Thống kê, phân loại các dạng thức của cái tôi trữ tình trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn
1.4.1 Thống kê số lượng bài thơ lục bát
1.4.1.1 Tư liệu thống kê hân loại
- uyển t p thơ ồng ức Bốn: "Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc”
(NXB Hội nhà văn, H, 2006)- có tổng số 196 bài thơ
1.4.1.2 Tiêu chí thống kê hân loại
- Căn cứ vào các khái niệm, đặc điểm thơ lục bát
1.4.1.3 Kết uả thống kê
Bảng 1: Thống kê phân loại thơ lục bát trong sáng tác Đồng Đức Bốn
Số lượng bài thơ Thơ lục bát Thể thơ khác
Trang 121.4.1.4 Nhận t t bảng thống kê
Qua bảng thống kê phân loại ta có thể dễ dàng nh n thấy số lượng thơ lục bát chiếm tỉ lệ lớn: 76%, tức là hai phần ba trong số lượng thơ của ồng ức Bốn
1.4.2 Thống kê, phân loại các dạng thức cái tôi trữ tình
1.4.2.1 Tư liệu thống kê hân loại
- uyển t p thơ ồng ức Bốn: "Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc”
(NXB Hội nhà văn, H, 2006)
1.4.2.2 Tiêu chí thống kê hân loại
- Căn cứ vào khái niệm, đặc trưng cái tôi trữ tình trong thơ
- Căn cứ vào đề tài, chủ đề bài thơ
- Căn cứ vào đối tượng, nội dung phản ánh trong bài thơ
Cảm hứng thế sự Đề tài khác
về tình yêu và cảm hứng của ông trước nhân tình thế thái
tìm được một vị trí xứng đáng