Tuy nhiên, trong bối cảnh mà nhu cầu được hiểu biết về lịch sử, địa lý của dân tộc một cách cụ thể theo các không gian khác nhau đã và đang trở nên cấp thiết thì những nghiên cứu trước đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
LÊ THỊ LAN
LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG NỖ GIÁP
XÃ NGUYÊN BÌNH, HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA
Trang 2Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Hồng Đức
Người hướng dẫn: PGS.TS Hà Mạnh Khoa
Phản biện 1: TS Lê Ngọc Tạo
Phản biện 2: TS Lê Sỹ Hưng
Luận văn sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ khoa học Tại: Trường Đại học Hồng Đức
Vào hồi: 13 giờ 30 ngày 07 tháng 11 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện trường Đại học Hồng Đức, hoặc Bộ môn: Lịch Sử - Trường Đại học Hồng Đức
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp có bề dày lịch sử gắn liền với văn hóa làng xã Làng là nơi chứng kiến mỗi người dân Việt sinh ra, lớn lên và cho đến lúc trưởng thành, nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người con Việt bằng sự yêu thương của gia đình, dòng họ, bằng nghĩa xóm, tình làng trong những mối quan hệ thanh cao và trong sáng Làng cũng là nơi lưu giữ những ký ức thân thương và gần gũi của mỗi người Việt Nam khi xa quê hương bởi những ý niệm thiêng liêng và sâu sắc Trong suốt quá trình hình thành và phát triển với những biến đổi thăng trầm của lịch sử dân tộc, làng không chỉ là nơi cư dân Việt cư trú, lao động và sản xuất ra những giá trị vật chất mà còn là nơi cố kết quan hệ dòng tộc, xóm giềng, tạo nên những pháo đài vững chắc để chống lại mọi xâm lăng nhằm bảo vệ sự bình yên cho dân tộc… Tất cả những điều đó đã tạo nên một dấu ấn Lịch
sử và Văn hóa làng đặc trưng của dân tộc Việt Nam mà không phải mọi quốc gia hay dân tộc đều có được
Làng xã Việt Nam từ lâu đã như một thực thể xã hội, một đối tượng của nghiên cứu khoa học mà hàng trăm năm qua đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Bằng những cách tiếp cận khác nhau trên tất cả các mặt, với lối nhìn và cách suy nghĩ đúng đắn, những nghiên cứu đó đã phần nào phản ánh khá đầy đủ về vai trò của làng xã trong tiến trình của lịch sử dân tộc Tuy nhiên, trong bối cảnh mà nhu cầu được hiểu biết về lịch sử, địa lý của dân tộc một cách cụ thể theo các không gian khác nhau đã và đang trở nên cấp thiết thì những nghiên cứu trước đây hầu như chưa đáp ứng được đầy đủ đặc biệt là đối với nhu cầu tìm hiểu về lịch
sử, văn hóa địa phương của nhân dân Trên cơ sở đó, những năm vừa qua, các ngành khoa học xã hội đã luôn quan tâm khuyến khích đối với các nghiên cứu về làng xã nhằm khôi phục lại một nét truyền thống văn hóa đặc sắc của các làng trên cả nước, góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa hội nhập tiên tiến nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc đậm đà
Nằm ở phía nam thị trấn Tĩnh Gia, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, làng Nỗ Giáp của xã Nguyên Bình là một vùng đất có truyền thống văn hóa từ lâu đời Nơi địa linh nhân kiệt mà người dân trong vùng vẫn truyền
Trang 42
tụng nhau là vùng đất có “vượng khí đế vương” Đây là vùng đất phì nhiêu
và màu mỡ, phong cảnh hữu tình, nơi đã ươm mầm cho những bậc kỳ tài của dân tộc bằng truyền thống hiếu học vốn có từ lâu đời Đây cũng là nơi một thời nổi tiếng với những làn điệu dân ca, chèo cổ, một “đặc sản tinh thần” của cả một vùng mà sau này đã được Đào Duy Từ mang vào truyền cho xứ Bình Định nói riêng và vùng đất phía Nam của Tổ quốc nói chung
Đó là chưa kể đến kho tàng văn học dân gian với những câu chuyện, những truyền thuyết, những câu ca dao, hò vè mà hàng trăm năm vẫn còn được người dân truyền tai nhau lưu giữ Không những thế, nơi đây còn có rất nhiều những dòng họ lớn nổi tiếng có từ lâu đời mà trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc đã luôn có những người con ưu tú đồng hành theo mỗi đợt chuyển mình của đất nước, thay nhau gánh vác việc nước việc làng…
Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây, trước xu thế hội nhập quốc tế, do nhiều tác động, cũng như các làng khác trên cả nước, làng Nỗ Giáp đang nổ lực phát triển kinh tế cũng như tìm giải pháp để bảo tồn và phát huy giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại Điều đó đã đặt ra một yêu cầu cho các cấp lãnh đạo cũng như với nhân dân địa phương là phải làm cách nào để xây dựng lên ở đây khu vực phát triển hiện đại về kinh tế nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc trưng của làng, nhất là trong điều kiện khu kinh tế Nghi Sơn đang được quy hoạch xây dựng với sự xuất hiện của hàng loạt các yếu tố nước ngoài đã và đang có ảnh hưởng không nhỏ đến nếp sinh hoạt văn hóa và tư tưởng của người dân nơi đây
Với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu những nét lịch sử, văn hóa của một làng đã tồn tại từ lâu đời trong lịch sử, xác định rõ vị trí của nó trong lịch sử dân tộc, qua đó cung cấp cho người đọc những hiểu biết chi tiết về một ngôi làng giàu truyền thống ở xứ Thanh, chúng tôi quyết định
chọn đề tài “Lịch sử - văn hóa làng Nỗ Giáp, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (từ thế kỷ XV đến năm 2010)” làm đề tài luận
Trang 5thành tựu Đa phần các nghiên cứu đã trình bày một cách khái quát và rõ nét đặc điểm của làng xã ở nước ta trong lịch sử theo nhiều góc độ khác nhau trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng như văn hóa, lịch sử, con người…
Nói về văn hóa làng xã của Việt Nam, tác giả Nhất Thanh trong
cuốn “Đất lề quê thói” (1992), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh đã trình bày
một cách chi tiết về các phong tục tập quán của cư dân làng xã Việt Nam như ẩm thực, nhà ở, hôn nhân, ma chay… qua đó tác giả đã chứng minh nền văn hóa Việt Nam từ lâu đã là một nền văn hóa phong phú, đa dạng và đặc sắc Đặc biệt trong tác phẩm này, tác giả sử dụng nguyên chương thứ XIII để nói về làng xóm của Việt Nam với các vấn đề như nguồn gốc, tên đặt, các chức quan, tài chính… của làng xã từ cách đây hàng trăm năm Nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Thanh Hóa, phải kể đến những bài
viết ở Hội thảo khoa học “Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc trung bộ
trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” diễn ra vào
tháng 12 năm 1994 và được Hội văn nghệ dân gian Việt Nam in thành sách năm 1997, trong đó có nhiều bài viết đã nhấn mạnh đến tầm quan
trọng của văn hóa làng ở Thanh Hóa trong đó bài viết “Truyền thống văn
hóa địa phương và vai trò của nó trong sự phát triển xã hội” của tác giả
Ngô Đức Thịnh đã nhấn mạnh rằng văn hóa xứ Thanh là một tiểu vùng văn hóa ít nhiều mang tính “chuyển tiếp” giữa văn hóa của đồng bằng bắc
bộ và trung bộ Cuốn “văn hóa làng và làng văn hóa xứ Thanh” (1996),
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội của tác giả Hoàng Anh Nhân đã chỉ ra mối quan hệ giữa văn hóa với con người và vai trò của làng văn hóa đối với sự phát triển chung của đất nước đồng thời cũng khẳng định xây dựng làng văn hóa là “vấn đề có tính chiến lược trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo hướng xã hội chủ nghĩa ở Thanh
Hóa” Cũng là tác giả Hoàng Anh Nhân, trong cuốn “Khảo sát văn hóa
làng xứ Thanh” xuất bản năm 1993, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội đã xếp
làng Giáp Nổ (Nỗ Giáp) vào nhóm Làng văn - một dạng làng mà theo tác giả là “làng nổi tiếng văn học trong thời kỳ phong kiến, làm thành truyền thống văn học mà ngày nay vẫn còn được mọi người ở xứ Thanh kính nể” Làng Nỗ Giáp trong nghiên cứu lịch sử đã từng được nhắc đến khá nhiều bằng một cái tên khác là Làng Hoa Trai, gắn liền với quê hương của
Trang 64
vị “Gia Cát tái sinh” Hoằng Quốc công Đào Duy Từ dưới thời các chúa
Nguyễn Một cuốn sách của tác giả Trần Thị Liên (1992), Đào Duy Từ -
con người và tác phẩm, Nxb văn Hóa, Hà Nội cũng đã nhắc đến quê
hương Hoa Trai như là một vùng đất giàu truyền thống khoa cử, nơi đã ươm mầm cho tài năng và trí tuệ của Đào Duy Từ Bài viết của tác giả
Nguyễn Khắc Hàm (giáo viên hưu trí ở xã Nguyên Bình) về “Truyền
thuyết và di tích về Đào Duy Từ ở làng Hoa Trai” trong Hội thảo khoa học
nhân kỷ niệm 420 năm sinh của Đào Duy Từ năm 1992, sau khi đưa ra những dẫn chứng xác thực, tác giả cũng đã kết luận rằng: “Làng Hoa Trai (Nỗ Giáp) là một làng có từ lâu đời, có truyền thống tốt đẹp, là nơi chôn nhau cắt rốn, trao đổi kiến thức, tìm kế lập thân và cống hiến tài năng cho đất nước của danh nhân Đào Duy Từ” và nhiều công trình nghiên cứu về Đào Duy Từ khác cũng có nhắc qua về quê hương Hoa Trai của ông Tuy nhiên, ở hầu hết các công trình nghiên cứu đều chỉ trình bày về làng Nỗ Giáp một cách chung chung chứ chưa có một bài viết nào đi sâu vào nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể và chi tiết về quá trình hình thành và phát triển của làng cũng như những giá trị truyền thống còn đọng lại Song những tư liệu đó ít nhiều đã góp phần làm nền tảng để chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu và hoàn thành đề tài của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lịch sử và văn hóa của làng
Nỗ Giáp, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi làng
Nỗ Giáp, xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
Về mặt thời gian: Giới hạn từ thế kỷ XV đến năm 2010
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lịch sử,
văn hóa của làng
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục đích làm rõ hơn những vấn đề thuộc về truyền thống lịch sử và văn hóa xã làng Nỗ Giáp qua đó làm nổi bật lên sự biến đổi về lịch sử và văn hóa của làng, đồng thời đưa ra những giải pháp tích cực nhằm phát huy những truyền thống tốt đẹp, khắc phục những hạn
Trang 7chế trước xu thế hội nhập, mở cửa của đất nước như hiện nay
5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.2 Nguồn tư liệu
Thực hiện luận văn, tác giả sử dụng 2 nguồn tư liệu tham khảo chính như sau:
Thứ nhất: là nguồn tư liệu từ các cơ quan lưu trữ như: thư viện Quốc gia, thư viện tỉnh Thanh Hóa, thư viện Đại học Hồng Đức, thư viện huyện Tĩnh Gia, hương ước làng, gia phả các dòng họ ở làng Nỗ Giáp, hồ
sơ di tích lịch sử đền Đào Duy Từ Đây được coi là nguồn tư liệu quan trọng, đa dạng, phong phú và hết sức có giá trị, được coi là nền tảng để tác giả xác định cách tiếp cận qua đó xây dựng nên quan điểm của cá nhân nhằm đưa đến sự thành công của luận văn
Thứ hai: là nguồn tư liệu điền dã mà tác giả thu thập được thông qua nhiều lần nghiên cứu thực địa tại địa phương, nơi các đền, chùa, di tích lịch sử… gặp gỡ trực tiếp và phỏng vấn các cụ cao niên, hậu duệ của các dòng họ lớn… đồng thời là những số liệu thông qua khảo sát và thống
kê từ những tài liệu sẵn có tại địa phương Đây là một nguồn tư liệu cần
thiết để tác giả hoàn thành luận văn của mình
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng chủ yếu một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu quá trình hình thành và phát
triển của làng qua các thời kỳ lịch sử để thấy sự biến đổi của làn trong
Trang 86
từng giai đoạn
- Phương pháp liên ngành: tác giả sử dụng các kiến thức của nhiều
nhành khác nhau bao gồm như: địa lí, lịch sử, tôn giáo, văn học… nhằm
có cái nhìn toàn diện về văn hóa của làng
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu: nhằm chọn lọc các tư
liệu có giá trị, đồng thời đánh giá các tư liệu đã có Qua đó, định lượng được giá trị và hàm lượng kiến thức mà tư liệu cung cấp, tính cập nhật của
tư liệu nhằm tổng hợp lại những kiến thức chắc chắn, có căn cứ nhất định
để đưa vào luận văn của mình
- Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp điền dã thực tế trong
đó bao gồm các hoạt động phỏng vấn trực tiếp, gián tiếp, chụp ảnh, quan sát…
6 Đóng góp của luận văn
Trước hết, luận văn cung cấp một lượng thông tin nhất định về lịch
sử con người và truyền thống văn hóa của làng Nỗ Giáp, nhất là đối với những người chưa hoặc ít khi có điều kiện tiếp cận thực tế tại địa phương Bên cạnh đó, luận văn cũng cung cấp cho người đọc một cái nhìn cụ thể, chi tiết và toàn diện về lịch sử văn hóa làng Nỗ Giáp trong tiến trình lịch sử dân tộc đối với cộng đồng làng xã Việt Nam nói chung và làng Nỗ Giáp nói riêng
Mặt khác, luận văn cũng chỉ rõ nhưng mặt hạn chế cần khắc phục cũng như những những giá trị ưu tú cần được phát huy, đồng thời đưa ra những phương án để có thể góp phần khôi phục và gây dựng lại lịch sử của một vùng đất vốn có truyền thống lâu dài như làng Nỗ Giáp
Và cuối cùng, luận văn còn là nguồn tưu liệu tham khảo đáng tin cậy cho các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa làng ở xứ Thanh Đồng thời có thể xem như đó là một nguồn tư liệu phục vụ cho một phần nào việc giảng dạy lịch sử địa phương trên địa bàn huyện
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về làng Nỗ Giáp
Chương 2 Truyền thống lịch sử làng Nỗ Giáp
Chương 3 Truyền thống văn hóa làng Nỗ Giáp
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NỖ GIÁP
1.1 Vị trí địa lý, cảnh quan và môi trường
1.1.1 Vị trí địa lý
Làng Nỗ Giáp nằm ở rìa phía Đông của xã Nguyên Bình Làng có diện tích tự nhiên ở vào khoảng 256 ha, dân số khoảng gần 2.000 người, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 45km và cách trung tâm thị trấn Tĩnh Gia khoảng 1km về phía Bắc Phía Đông giáp xã Bình Minh, phía Bắc giáp thị trấn Tĩnh Gia là trung tâm kinh tế, chính trị của cả huyện; phía Tây giáp thôn Sơn Thắng, phía Nam giáp xã Xuân Lâm
Với vị trí này, Nỗ Giáp trở thành một nơi có vị trí chiến lược quan trọng với phát triển kinh tế, với an ninh quốc phòng cũng như là một vùng văn hóa truyền thống phong phú và đa dạng, nơi địa linh nhân kiệt với nhiều danh nhân xuất chúng trong lịch sử dân tộc Đó chính là cơ hội cũng là thách thức đối với chính quyền xã trong việc tận dụng thế mạnh của mình
1.1.2 Khí hậu, sông ngòi
Khí hậu của làng mang đặc trưng khí hậu của vùng đồng bằng ven biển bắc miền trung Chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm và mưa nhiều Được chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng
5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4
Sông ngòi không phải là thế mạnh của Nỗ Giáp Làng chỉ có duy nhất một nhánh nhỏ của dòng Lạch Bạng gọi là sông Cầu Hung Sông Cầu Hung nhỏ hẹp, đi qua góc phía tây nam của làng sau khi đi qua địa phận
xã Xuân Lâm Tuy nhiên, do vấn đề thủy nông ở đây chưa phát triển, mùa màng phụ thuộc thời tiết nên chưa khai thác hết giá trị của đoạn sông này
1.1.3 Đất đai, địa hình
Làng Nỗ Giáp nằm ở rìa phía Đông của xã Nguyên Bình với địa hình tương đối bằng phẳng, đa phần là đồng bằng đan xen bởi những ngọn núi thấp Đất đai chủ yếu là đất cát pha do nằm giáp ranh với các làng ven biển, chỉ thích hợp cho việc trồng hoa màu như khoai, lạc, ngô, đậu…, một số vùng trũng cho phép nhân dân trồng lúa tuy nhiên năng suất không đáng kể
Làng Nỗ Giáp ngày nay theo số liệu thống kê năm 2014, làng có
Trang 11diện tích tự nhiên khoảng 256 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 184
ha, đất thổ cư khoảng 39 ha còn lại là các loại đất khác bao gồm cả đất dùng cho phúc lợi xã hội là 33 ha
1.2 Diện mạo làng Nỗ Giáp trong lịch sử
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển làng
Làng Nỗ Giáp thuộc tổng Vân Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa Đây là một làng có từ lâu đời, đất rộng người đông chuyên nghề làm ruộng Người dân nơi đây không những cần cù, thật thà chất phác mà còn đoàn kết cùng nhau dũng cảm đấu tranh chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, vươn lên với ý chí và nghị lực lớn lao để xây dựng và bảo vệ xóm làng
Tên làng được gọi là Nỗ Giáp dưới triều Lê - Trịnh (thời vua Lê Hiển Tông) Do ở thời điểm này họ Trịnh quy định lính bảo vệ ở kinh thành chỉ lấy 3 phủ ở Thanh Hóa là Thiệu Thiên, Hà Trung, Tĩnh Gia và
12 huyện ở Nghệ An Chúa Trịnh rất ưu đãi bộ phận quân đội này, cấp ruộng tiền nhiều cho họ, lại giảm thuế cho dân Thanh - Nghệ Nhân dân thường gọi là lính Tam Phủ (còn gọi là ưu binh) Dân làng Hoa Trai có nhiều người đi lính trong phủ này và có công trạng nên được phong tước quận công và uy quyền lớn trong làng xã Vì thế, các ông đổi tên làng thành làng Nỗ Giáp (弩 甲) Nỗ tức là cái Nỏ ( chữ nỏ trên, chữ cung dưới ), Giáp là áo giáp, có nghĩa là mặc áo giáp bắn nỏ Người ta cũng gọi đây
là làng Phát Võ bởi làng có rất nhiều người được phong tước quận công
1.2.2 Đặc điểm dân cư
Nỗ Giáp là một làng có từ lâu đời, đất rộng, người đông tổng số dân trong làng chiếm khoảng 1/6 tổng dân số cả xã với 1973 nhân khẩu (2014), trong đó số khẩu thuộc giới nữ là 1180 khẩu, chiếm 59,8% còn lại
là nam Người dân Nỗ Giáp chuyên nghề làm ruộng Cả làng có khoảng 18 dòng họ lớn nhỏ Qua quá trình phát triển, các dòng họ từ khắp nơi quần tụ
về, song hiện nay không có tư liệu nào chỉ rõ nguồn gốc các dòng họ xưa
ở đất này
1.2.3 Tổ chức làng xã
Trước năm 1945, bộ máy chính quyền làng chia làm 2 bộ phận: Hội
đồng kỳ mục và Bộ máy hương chính
Trang 1210
Hội đồng kỳ mục là một bộ máy quản lý truyền thống gồm các hưu
quan, các chức sắc có phẩm hàm, học thức Đứng đầu tổ chức Hội đồng kỳ mục là Đại hào mục (giống như tiên chỉ ở các vùng khác) và thứ chỉ Đây
là bộ máy đề ra chủ trương, biện pháp và có quyền quyết định các công việc quan trọng trong làng
Bộ máy hương chính của làng là bộ phận đại diện cho nhà nước
phong kiến ở cơ sở chấp hành những mệnh lệnh của nhà nước trong phạm
vi xã thôn Đứng đầu là lý trưởng
Lý trưởng là người được ủy quyền cho các hạng người trong bộ máy
chức dịch để giao thiệp với chính quyền nhà nước trên các vấn đề về thuế
má, sưu dịch binh dịch và các công việc liên quan khác về mặt hành chính Đồng thời cũng là người được ủy nhiệm thực hiện mọi quyết định của hội đồng các viên thứ chỉ
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nỗ Giáp bị tách ra thành 5 thôn gồm có: Cao Thắng 1, Cao Thắng 2, Cao Thắng 3, Cao Thắng 4, Cao Thắng 5 Mỗi một thôn đều bầu ra một trưởng thôn đứng đầu Trưởng thôn
do nhân dân trong thôn bầu ra, đại diện cho cộng đồng dân cư có một số nhiệm vụ và quyền hạn nhất
Nằm ở phía Nam thị trấn Tĩnh Gia, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, làng Nỗ Giáp của xã Nguyên Bình là một vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội cũng như an ninh quốc phòng của huyện Tĩnh Gia nói riêng và của cả tỉnh Thanh Hóa nói chung Với điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi với địa hình bằng phẳng, đồng bằng rộng, chủ yếu là đất cát pha phù hợp cho hoạt động gieo trồng lúa và đặc biệt là các giống hoa màu ngắn ngày Đã đóng góp phần lớn vào sự ổn định kinh tế của từng hộ gia đình khi mà trong một giai đoạn dài hoạt động sản xuất kinh tế chủ yếu của làng là nông nghiệp
Khí thiêng sông núi đã hun đúc nên con người Nỗ Giáp luôn cần cù sáng tạo, dũng cảm chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, giữ đất, giữ làng làm đẹp cho cuộc sống và làm giàu cho quê hương Họ cũng là những con người có tâm hồn khoáng đạt, dí dỏm, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống Đàn ông thì kiêu dũng hiên ngang, phụ nữ thì chất phác, đôn hậu, chịu thương, chịu khó Người già mẫu mực, trẻ em thì hiếu học, có ý chí cầu tiến, Mỗi một con người đều là biểu trưng cho những đức tính tốt
Trang 13đẹp của người Việt Nam trong lịch sử
Cho đến trước năm 1945, về cơ bản bộ máy hành chính của làng được tổ chức hết sức chặt chẽ và hoàn chỉnh Cũng giống như các làng quê khác ở xứ Thanh, Làng Nỗ Giáp vẫn giữ được tính độc lập tương đối có tính tự quản cao Mặc dù làng là một tổ chức năng động, nhạy cảm đối với những vấn đề trị thủy hay chống giặc ngoại xâm nhưng đặc tính tự quản
đã duy trì tính chất đóng kín của các làng, là nguyên nhân làm cho xã thôn ở trong tình trạng lạc hậu, bảo thủ, cản trở sự phát triển của lịch sử, làm ảnh hưởng tới công cuộc xây dựng quan hệ XHCN của chúng ta ngày nay
Tuy nhiên, Với một bề dày lịch sử, văn hóa có từ lâu đời, người dân
Nỗ Giáp đã không ngừng vun đắp cho mình những tinh hoa tốt đẹp Tất cả những điều ấy, đã quy tụ dưới một ngôi làng quy củ, nền nếp với lớp lớp con cháu qua nhiều thế hệ đã luôn đoàn kết, xây dựng và bảo vệ quê hương góp phần vào sự phát triển của đất nước ngay từ trong lịch sử Đó là truyền thống và cũng là cội nguồn của những chiến công hiển hách và thành tích vẻ vang trong sự nghiệp chống ngoại xâm bảo vệ đất nước, giữ bình yên cho xóm làng, cùng nhau xây dựng quê hương giàu đẹp và phồn thịnh