Việc xác định đúng giá trị của xe cơgiới khi nhận bảo hiểm vật chất đóng vai trò quan trọng trong khâu khai thác giảiquyết bồi thường và đảm bảo hiệu quả kinh doanh trong loại hình bảo h
Trang 1MỞ ĐẦU
Với sự phát triển mạnh mẽ của học công nghệ, các phương tiện được sử dụngtrong ngành giao thông ngày càng được nâng cấp cả về chât lượng lẫn số lượng cùngvới nó là việc nâng cấp cơ sỏ hạ tầng ngày một càng hoàn thiện hơn để phục vụ nhucầu đi lại của dân cư được thuận lợi hơn Trong các loại hình giao thông vận tải thìgiao thông đường bộ - giao thông vận tải với những ưu điểm thuận lợi dễ dàng làhuyết mạch nối các vùng đất được sử dụng phổ biến nhất Song một thực tế là khiphương tiện giao thông ngày một hiện đại, số lượng xe đưa vào sử dụng ngày mộtnhiều thì kèm theo đó là tai nạn giao thông đường bộ xảy ra càng nhiều hơn Khi tainạn xảy ra thì để lại hậu quả vô cùng nặng nề không chỉ đối với cá nhân nhữngngười trực tiếp tham gia điều khiển xe mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội Với mụcđích giúp các chủ xe khắc phục khó khăn, ổn định một phần nào đó về tài chính khikhông may gặp rủi ro bất ngờ từ đó góp phần đảm bảo an toàn xã hội thì bảo hiểmvật chất xe cơ giới ra đời như là một tất yếu khách quan
Tuy mới chỉ chính thức đi vào hoạt động từ 01/01/2006 nhưng chỉ sau 4 nămhoạt động thì công ty Bảo hiểm BIC đã khẳng đinh được vị trí của mình trên thịtrường bảo hiểm phi nhân thọ Đứng ở vị trí thứ 6 trong các công ty bảo hiểm phinhân thọ và chiếm 2,7 % về thị phần Doanh thu và lợi nhuận cũng liên tục tăngqua các năm Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là một trong các loại hình bảo hiểm đượctriển khai ở công ty Bảo hiểm BIC, dù chỉ là một loại hình bảo hiểm trong rấtnhiều loại hình bảo hiểm phi nhân thọ mà công ty đang triển khai nhưng nghiệp vụbảo hiểm vật chất xe cơ giới chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số doanh thu của công
ty Nhằm mục đích nghiên cứu và tìm hiểu kĩ hơn về loại hình bảo hiểm này tạicông ty bảo hiểm BIC, cũng như để củng cố lại kiến thức đã học em đã lựa chọn đềtài: “Thực trạng triển khai bảo hiểm vật chất xe tại công ty Bảo hiểm Đầu tư vàPhát triển Việt Nam (giai đoạn 2006 -2009) để làm chuyên đề tốt nghiệp của mình
Bài viết của em ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì gồm 3 chươngnhư sau:
Chương 1: Một số vấn đề về bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Chương 2: Thực trạng triển khai nghiệp vụ Bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại
công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam (giai đoạn
2006-2009 )
Trang 2Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo
hiểm vật chất xe cơ giới
Mặc dù đã cố gắng nhưng chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót,
em mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để chuyên đề của
em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI
1.1 Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.1.1 Sự cần thiết của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Tai nạn rủi ro là điều không một tổ chức, cá nhân nào mong muốn Nhưngtrên thực tế là tai nạn rủi ro lại hàng ngày, hàng giờ vẫn luôn xảy ra đe dọa đếntính mạng con người với các mức độ khác nhau Với sự phát triển của khoa học kĩthuật, con người cũng phần nào kiểm soát và hạn chế được một số rủi ro, songcũng chính bàn tay con người lại làm cho rủi ro ngày một hoành hành giữ dội hơn
Sự phát triển nhanh chóng của phương tiện xe cơ giới một mặt đem lại chocon người một hình thức vận chuyển kịp thời nhanh, rẻ và đặc biệt phù hợp với nhucầu của đa số dân cư Việt Nam hiện nay Nhưng do tính động cơ cao nên nguy cơgây ra tai nạn rủi ro ngày một nghiêm trọng Điều này thể hiện qua bảng số liệu sau
Bảng 1.1: Số lượng xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ tại Việt Nam
(giai đoạn 2006 – 2009)
Năm ( chiếc) Ô tô
Tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn ( chiếc)
Tốc độ phát triển liên hoàn( l ần)
Mô tô ( chiếc)
Tăng ( giảm) tuyệt đối liên hoàn (chiếc)
Tốc độ phát triển liên hoàn ( lần)
Tổng số ( chiếc)
2007 12.854 2.944 30,36 244.229 56.882 30,36 257.083
2008 15.912 3.058 23,8 279.667 35.438 14,51 295.579
2009 27.111 11.199 70,4 314.001 34.334 12,27 341.112
(Nguồn: Uỷ ban an toàn giao thông quốc gia)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta nhận thấy số lượng xe cơ giới liên tục gia tăngqua các năm Năm 2006 mới chỉ có 197.207 xe tham gia giao thông mà đến năm
2009 số lượng xe đã nên tới 341.112 bình quân mỗi năm tăng 19,046 lần
Số lượng xe tham gia giao thông tăng nhanh như vậy nhưng tốc tốc độ pháttriển của cơ sở hạ tầng lại không tăng kịp so với tốc độ phát triển của xe Mặt khác,
cơ sở hạ tầng vật chất còn yếu kém cùng với ý thức chấp hành luật lệ an toàn giaothông của chủ điều khiển phương tiện còn chưa cao cũng chính là nguyên nhân làmcho tai nạn giao thông ngày một gia tăng
Trang 4Theo số liệu thống kê của Uỷ ban an toàn giao thông quốc gia Năm 2008 cótổng cộng 10.442 vụ tai nạn giao thông do xe cơ giới gây ra và số người chết lêntới là 9.112 người và hơn 6.424 người bị thương Năm 2009 số vụ tai nạn do xe cơgiới đã tăng lên là 11.869 vụ và làm chết hơn 10.896 người, làm bị thương 7000người.
Thiệt hại về xe cơ giới gây ra là rất lớn, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đếnchủ phương tiện tham gia giao thông mà ảnh hưởng đến toàn xã hội Làm cho chủ
xe bị chết, bị thương tật có thể là vĩnh viễn hay tạm thời, ảnh hưởng lớn đến tìnhhình tài chính cũng như làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh của họ Vàtiếp theo đó là cuộc sống của cả gia đình, người thân, con cái của họ cũng bị ảnhhưởng Chính vì vậy mà bảo hiểm vật chất xe cơ giới ra đời như là một tất yếukhách quan đáp ứng được nhu cầu của chủ xe cũng như nhu cầu của toàn xã hội
1.1.2 Tác dụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
mà hoạt động kinh doanh ít bị gián đoạn, tài sản, hàng hóa được đảm bảo giúp họ
ổn định cuộc sống và sản xuất
Ví dụ: Đầu năm 2009 chủ xe A có chiếc xe Toyota trị giá thực tế là 420 triệu,tham gia bảo hiểm toàn bộ với số tiền là 420 triệu đồng tại công ty bảo hiểm B.Ngày 13/07/ 2009 xe gặp tai nạn bị tổn thất toàn bộ Khi tham gia bảo hiểm xe đã
sử dụng được 6 năm, tỷ lệ khấu hao xe là 5% /năm Vậy trong trường hợp này sốtiền mà chủ xe nhận được là 405 triệu đồng, dựa vào cách tính sau
Giá trị ban đầu của xe là (420)/(1- 5%.6)=600 tr.đ
Giá trị tại thời điểm trước khi xảy ra tai nạn là 600 - 600(78*5%/12)=405 tr.đ+ Không chỉ được bù dắp về mặt vật chất mà các chủ xe còn được bù dắp vềmặt tinh thần, giúp họ giảm bớt được những lo âu căng thẳng khi rủi ro xảy ra Vìrủi ro đã được chuyển một phần cho nhà bảo hiểm Không những cuộc sống của bảnthân chủ xe được ổn định mà còn của cả con cái và người thân của họ
Trang 5Đối với công ty bảo hiểm
Việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới góp phần làm tăng doanh thucũng nhu lợi nhuận cho công ty BH ( tuy chỉ là một loại hình nghiệp vụ nhỏ nhưng
nó cũng đóng góp một phần đáng kể trong tổng doanh thu của toàn công ty )
Ví dụ: Tại công ty bảo hiểm BIC Doanh thu phí BHVCXCG năm 2009 là99.112 tr.đ chiếm 25.57% tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc toàn công ty
Đối với xã hội
+ Tích cự ngăn ngừa và góp phần giảm thiểu tai nạn, hạn chế tổn thất khi rủi
ro xảy ra vì công tác triển khai nghiệp vụ này luôn đi kèm với công tác quảng cáo,tuyên truyền giúp mọi người nhận biết được vai trò khi tham gia bảo hiếm vật chất
xe cơ giới và những rủi ro bất ngờ cũng như thiệt hại có nguy cơ xảy ra với chiếc xecủa mình Do vậy mà họ có ý thức tự giác chấp hành nghiêm chỉnh luật an toàngiao thông đường bộ vì lợi ích trước hết của chính bản thân họ Bên cạnh đó việctriển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới cũng đi liền với việc giúp các cánhân tổ chức tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất, giảm thiểu rủi rođến mức có thể
+ Việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới còn góp phần xâydụng một xã hội phát triển
+ Góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước để từ đó nhà nước có điều kiệnđầu tư trở lại nền kinh tế, nâng cấp xây dựng mới cơ sở hạ tầng giao thông, đảmbảo an toàn cho người tham gia giao thông
1.2 Nội dung cơ bản của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.2.1 Đối tượng bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm
1.2.1.1 Đối tượng bảo hiểm
Xe cơ giới được hiểu là tất cả các loại xe tham gia giao thông trên đường bộbằng chính động cơ của chiếc xe đó, bao gồm xe ô tô và xe máy Bảo hiểm xe cơgiới là loại hình bảo hiểm tài sản, được thực hiện dưới hình thức bảo hiểm tựnguyện, đối tượng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là những chiếc xe còn nguyên giátrị và được lưu hành trên lãnh thổ quốc gia
Trên thế giới, đối với xe mô tô, xe máy thường các chủ xe tham gia bảo hiểmtoàn bộ vật chất thân xe, còn đối với xe ô tô có thể bảo hiểm toàn bộ và cũng có thểbảo hiểm từng tổng thành của xe
Xe ô tô thường có 7 tổng thành
- Tổng thành thân vỏ
Trang 6Ngoài ra các loại xe chuyên dùng thường có tổng thành thứ 8
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình bảo hiểm tự nguyện song hầu hếtcác công ty bảo hiểm thường triển khai kết hợp bảo hiểm trách nhiệm dân sự củachủ xe cơ giới với người thứ 3, bảo hiểm tai nạn lái xe phụ xe và, bảo hiểm tráchnhiệm dân sự của chủ xe đối với hàng hóa trở trên xe
1.2.1.2 Phạm vi bảo hiểm
Trong hợp đồng bảo hiểm vật chất thân xe, các rủi ro được bảo hiểm thôngthường bao gồm
- Xe bị đâm va, lật đổ, rơi
- Bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá, thời tiết xấu
- Xe bị mất cắp toàn bộ
- Tai nạn bất ngờ do rủi ro khác gây nên …
Ngoài việc bồi thường thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc xe được bảo hiểmtrong những trường hợp trên, các công ty bảo hiểm còn thanh toán cho các chủ xetham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:
- Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các rủi rođược bảo hiểm
- Chi phí bảo vệ và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất
- Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm
Tuy nhiên trong mọi trường hợp tổng STBH của công ty bảo hiểm không vượtquá STBH đã ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm Nếu chủ xe cố tình tham gia “bảohiểm trùng” nhằm mục đích trục lợi, công ty bảo hiểm từ chối bảo hiểm, nếu chủ
xe tham gia “bảo hiểm trùng” nhưng không nhằm mục đích trục lợi thì công ty bảohiểm chỉ bồi thường trên nguyên tắc tỷ lệ STBH Đồng thời công ty bảo hiểm sẽkhông chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất của xe gây ra bởi :
- Hao mòn tự nhiên mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật hoặc
hư hỏng do sửa chữa
Trang 7- Hư hỏng về điện hoặc một bộ phận máy móc thiết bị, săm lốp bị hư hỏng màkhông do tai nạn gây ra.
- Mất cắp bộ phận của xe
Để tránh “nguy cơ đạo đức” lợi dụng bảo hiểm, những hành vi vi phạm phápluật, hay một số rủi ro đặc biệt khác, những thiệt hại xảy ra trong những trường hợpsau cũng không được bồi thường:
- Hành động cố ý của chủ xe, lái xe
- Xe không đủ điều kiện kĩ thuật và thiết bị an toàn để lưu hành theo quy địnhcủa Luật giao thông đường bộ
- Chủ xe lái xe vi phạm nghiêm trọng luật an toàn giao thông đường bộ như:+ Xe không có giấy phép lưu hành ;
+ Lái xe không có bằng lái hoặc có nhưng không hợp lệ;
+ Lái xe bị ảnh hưởng bởi rượu bia, ma túy hoặc các chất kích thích tương tựkhác trong khi điều khiển xe;
+ Xe chở chất cháy chất nổ trái phép
+ Xe chở quá trọng tải hoặc số hành khách quy định :
+ Xe đi vào đường cấm
+ Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao hoặc chạy thử sau khi sửa chữa
- Những thiệt hại gián tiếp như giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sản xuấtkinh doanh;
- Những thiệt hại do chiến tranh
Cũng cần lưu ý rằng trong thời hạn bảo hiểm nếu chủ xe chuyển quyền sở hữucho các chủ xe khác thì thì quyền lợi bảo hiểm vẫn có hiệu lực cho các chủ xe mớinếu họ yêu cầu
1.2.2 Gía trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm
1.2.2.1 Gía trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm của xe cơ giới là giá trị thực tế của xe trên thị trường bảo hiểmtại thời điểm người tham gia mua bảo hiểm Việc xác định đúng giá trị của xe cơgiới khi nhận bảo hiểm vật chất đóng vai trò quan trọng trong khâu khai thác giảiquyết bồi thường và đảm bảo hiệu quả kinh doanh trong loại hình bảo hiểm này
Cơ sở để xác định giá trị xe:
Có thể xác định giá trị xe qua các cơ sở sau:
- Hóa đơn, chứng từ mua bán xe giữa các bên, hóa đơn thu thuế trước bạ của xe;
Trang 8- Hợp đồng cho thuê tài chính, trả góp, cầm cố (Giá trị thế chấp tại ngân hàng);
- Hóa đơn sửa chữa lớn, nâng cấp, đại tu xe lần gần nhất;
- Giá trị xe thực tế trên thị trường thông qua các trang tạp chí chuyên về ôtô(có thể cùng chủng loại nhưng ở mỗi địa bàn khác nhau có giá khác nhau)
Cách thức tính gía trị thực tế xe:
Đối với xe mới
Đối với xe mới, chưa áp dụng khấu hao, thì giá trị xe được tính trên cở sở giámua chiếc xe đó (hóa đơn xe)
Đối với xe cũ/ xe được tái tục bảo hiểm
Thông thường, giá trị thực tế xe cũ được xác định theo công thức sau:
Giá trị thực tế xe = Giá gốc xe - Khấu hao sử dụng + Chi phí sửa chữa lớn, đại tuTrường hợp có biến động về giá cả thì áp dụng tỷ lệ tăng giảm của thị trường
để đánh giá lại giá trị bảo hiểm cho phù hợp:
Giá trị bảo hiểm = (Giá trị bảo hiểm năm trước) - (Giá trị bảo hiểm năm trước
x tỷ lệ khấu hao) + (chi phí sửa chữa lớn) x (tỷ lệ % biến động giá cả thị trường)
Đối với xe nhập khẩu:
Có 2 cách tính giá trị xe:
Cách 1: Tính theo giá trị nhập khẩu miễn thuế:
Căn cứ theo chứng từ hoá đơn, theo kê khai của Chủ xe
Cách 2: Tính theo giá trị xe tại thị trường Việt Nam sau khi đã tính đầy đủ các
loại thuế:
Chủ xe tham gia bảo hiểm theo giá trị tương đương tại thị trường Việt Namsau khi đã tính (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt…) theo khung thuế hiện hànhcủa Bộ Tài chính
Thông thường, mức thuế áp dụng như sau:
- Đối với xe mới: Thuế nhập khẩu là khoảng trên 80%, thuế tiêu thụ đặc biệt
từ khoảng 50% đến 100%; thuế GTGT (VAT) là 10%
- Đối với xe cũ: Việc tính thuế nhập khẩu xe có thể tham khảo bảng tính thuếnhập khẩu xe đã qua sử dụng (thời hạn sử dụng nhỏ hơn 5 năm và giá trị xe lớn hơn80%) theo Quyết định số 69/2006/QĐ-TTg ngày 28/03/2006 của Thủ tướng ChínhPhủ đã ký có hiệu lực từ ngày 01/05/2006 Thuế tiêu thụ đặc biệt là 50%, thuếGTGT (VAT) là 10%
Cách thức tính gía trị xe khi chủ xe tham gia bảo hiểm thân vỏ:
Trang 9Việc xác định gía trị thân vỏ xe được tính trên 2 phương pháp chủ yếu sau.
Phương pháp xác định dựa vào bảng tỷ lệ tổng thành thân vỏ:
Giá trị thân vỏ = Giá trị toàn bộ x Tỷ lệ tổng thành
Trong đó:
+ Giá trị toàn bộ: là giá trị thực tế của xe
+ Tỷ lệ tổng thành: là tỉ lệ phần trăm (%) của phần thân vỏ trong giá trị xe(chi tiết như bảng dưới đây)
Bảng 1.2: Bảng tỷ lệ tổng thành xe
Đơn vị: %
Tỷ lệ thân vỏ (tỷ lệ % giá trị xe)
Tỷ lệ tổng thành khác (tỷ lệ % giá trị xe)
9 Xe vừa chở người vừa chở hàng 54,5 45,5
20% cơ cấu chuyên dùng
Nguồn:( Hướng dẫn nghiệp BHVCXCG của BIC)
Phương pháp tính theo giá trị thực tế:
Tổng thành thân vỏ xe bao gồm 3 Nhóm A, B và C chi tiết như sau:
Nhóm A: Thân vỏ
Bao gồm: vỏ kim loại, cabin toàn bộ, cảnh cửa, khoá, nắp capô trước, sau,calăng (mặt nạ), toàn bộ hệ thống đèn chiếu và signal, phanh, toàn bộ gương, ăngten, kính chắn gió và kính cánh cửa, hệ thống nâng hạ kính, hệ thống gạt nước, phunrửa kính, thùng hàng, khoang hành lý, …
Nhóm B: Ghế đệm + nội thất
Bao gồm: toàn bộ ghế, đệm ghế, tấm cách nhiệt sàn và trần, bảng đồng hồ, mặt
vô lăng, túi khí, quạt gió, trang thiết bị điều hoà nhiệt độ, đầu đĩa, radio, đèn nộithất, hệ thống điện nội thất, …
Trang 10 Nhóm C: Sắt si (chassi)
Bao gồm: khung dầm xe (dầm dọc, dầm ngang) các cơ cấu bắt chặt vào khung
xe, lốc điều hoà, dàn nóng, tổng phanh, dẫn động phanh chính và phanh tay, điềuhoà lực phanh, tuy ô và ống dẫn dầu, dẫn hơi, bình chứa nhiên liệu, bình chứa hơi,
hệ thống dây dẫn điện, mâm xoay (nếu có),
STBH được thể hiện trong hợp đồng bảo hiểm thể hiện trách nhiệm cao nhấtcủa doanh nghiệp bảo hiểm Vì vậy mà trong bất cứ trường hợp nào thì số tiền bồithường cũng không vượt quá STBH
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình bảo hiểm tài sản vì vậy mà STBHđược xác định theo 3 trường hợp sau:
- Trường hợp 1: Bảo hiểm dưới gía trị STBH<GTBH
- Trường hợp 2: Bảo hiểm ngang giá trị STBH = GTBH
- Trường hợp 3: Bảo hiểm trên giá trị STBH > GTBH
Trên thực tế, hầu hết các trường hợp đều tham gia bảo hiểm dưới giá trị hoặcngang giá trị
1.2.2.3 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm chính là số tiền mà người tham gia bảo hiểm phải nộp cho nhàbảo hiểm để đổi lấy sự bảo đảm rủi ro chuyển sang cho công ty bảo hiểm
Khi xác định phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới các công ty bảo hiểm thường căn
cứ vào các nhân tố sau :
- Loại xe Do mỗi loại xe có những đặc tính khác nhau, có mức độ rủi ro khácnhau nên phí bảo hiểm vật chất được tính riêng cho từng loại xe Thông thường cáccông ty bảo hiểm thường đưa ra những biểu phí phù hợp cho hầu hết các xe thôngdụng thông qua việc phân loại xe thành các nhóm Việc phân loại này dựa trên cơ
sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc và mức độ khó khăn khi sửa chữa và sự khanhiểm phụ tùng Đối với hoạt động không thông dụng như xe kéo rơ mooc, xe trởhàng nặng do có mức độ rủi ro cao nên phí bảo hiểm thường được cộng thêm một
tỷ lệ nhất định dựa trên mức phí cơ bản
- Khu vực để xe và giữ xe Trong thực tế không phải công ty bảo hiểm nàocũng quan tâm tới nhân tố này Tuy nhiên trong một số công ty bảo hiểm phí bảohiểm dựa trên khu vực trông giữ xe và để xe rất chặt chẽ
Trang 11- Mục đích sử dụng xe: Đây là nhân tố rất quan trọng khi xác định phí bảohiểm Nó cho phép công ty bảo hiểm có thể xác định được mức độ rủi ro có thể xảy
ra như: xe kinh doanh gặp mức độ rủi ro cao hơn những xe không kinh doanh nênmức phí bảo hiểm của xe kinh doanh cao hơn rất nhiều xe không kinh doanh
- Tuổi tác kinh nghiệm của người yêu cầu bảo hiểm và những người thườngxuyên sử dụng xe được bảo hiểm: Số liệu thống kê cho thấy rằng các lái xe trẻ tuổi
bị tai nạn nhiều hơn các lái xe lớn tuổi Trong thực tế các công ty bảo hiểm thường
áp dụng bảo hiểm cho các lái xe trên 50 hoặc 55 tuổi do kinh nghiệm cho thấynhững người này lái xe ít bị tai nạn hơn các lái xe trẻ tuổi Cũng đồng nghĩa vớiviệc số tiền mà doanh nghiệp phải bồi thường là thấp và lợi nhuận mà doanh nghiệpthu về là cao Tuy nhiên với những lái xe trên 65 tuổi thì các công ty bảo hiểmthường yêu cầu các lái xe phải xuất trình giấy chứng nhận sức khỏe phù hợp đểxem xét có đủ điều kiện để lái xe hay không
- Ngoài ra để khuyến khích hạn chế tai nạn, các công ty thường yêu cầu ngườibảo hiểm tự chịu một phần với tổn thất xảy ra với xe (hay còn gọi là mức miễnthường) Đối với các lái xe trẻ tuổi mức miễn thường này thường cao hơn các lái xelớn tuổi
Giống như các tính phí bảo hiểm nói chung, phí bảo hiểm phải đóng cho mỗiđầu xe đối với mỗi loại xe được tính theo công thức
+ Xác xuất xảy ra rủi ro Nếu xác xuất xảy ra rủi ro càng lớn thì tỷ lệ phí bảohiểm càng cao và ngược lại
+ Cường độ tổn thất: tính khốc liệt mức độ trầm trọng của tổn thất
+ STBH
+ Thời hạn bảo hiểm
+ Lãi suất đầu tư
Phụ phí là khoản phí giúp các doanh nghiệp bảo hiểm chi trả các khoản chi sau:+ Chi hoa hồng
Trang 12+ Chi quản lý hành chính
+ Chi đề phòng và hạn chế tổn thất
+ Chi thuế nhà nước
Trên thực tế, cũng như tất cả các loại hình bảo hiểm khác, bảo hiểm vật chất xe
cơ giới phí P được tính như sau
Phí bảo hiểm = Tỷ lệ phí x STBH
Trong đó:
+ Số tiền bảo hiểm: là giá trị tham gia bảo hiểm của chiếc xe
+ Tỷ lệ phí bảo hiểm: có thể là tỷ lệ phần trăm hay tỷ lệ phần nghìn
Ví dụ, tại BIC tỷ lệ phí bảo hiểm vật chất xe được quy định chi tiết như sau:
Bảng 1.3: BIỂU TỈ LỆ PHÍ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE
Tỉ lệ phí BH
BH toàn bộ xe BH thân vỏ
xe
2 Xe mới đã sử dụng dưới 3 năm hoặc giá
trị xe còn lại từ 70% trở lên so với giá trị
xe mới
3 Xe đã sử dụng từ 3 năm đến dưới 6 năm
hoặc giá trị còn lại từ 50% đến 70 % so
với giá trị xe mới
4 Xe đã sử dụng từ 6 năm tới 10 năm hoặc
gía trị còn lại từ 50% trở xuống so với
Trang 13Bảng 1.4: Biểu phí bảo hiểm áp dụng cho đơn bảo hiểm có thời hạn bảo hiểm
dưới 12 tháng
Xe ôtô có thời hạn bảo hiểm Phí bảo hiểm ngắn hạn
( % của phí bảo hiểm 12 tháng)
trên 12 tháng
Xe ôtô có thời hạn bảo hiểm Phí bảo hiểm ngắn hạn
( % của phí bảo hiểm 12 tháng)
(Nguồn: Hướng dẫn nghiệp vụ BHVCXCG của BIC )
Ngoài ra, BIC còn áp dụng phí bảo hiểm mở rộng
Phí bảo hiểm mở rộng là phí bảo hiểm tính cho các trường hợp áp dụng cácđiều khoản bổ sung, cụ thể:
Điều khoản “Không trừ khấu hao” khi xảy ra tổn thất bộ phận: Tỷ lệphí bảo hiểm tăng 0,2% so với tỉ lệ phí bảo hiểm cơ bản (áp dụng đối với xe khôngphải là xe chuyên dụng)
Điều khoản “Thiệt hại ngoài lãnh thổ Việt Nam” Tỷ lệ phí bảo hiểm
là 150% tỷ lệ phí cơ bản
Điều khoản “Xe tạm nhập, tái xuất” Tỷ lệ phí bảo hiểm tính cho bảohiểm toàn bộ xe, như sau:
Trang 14
Bảng 1.6: Tỷ lệ phí bảo hiểm cho toàn bộ xe đối với xe tạm nhập, tái xuất.
(Nguồn: Hướng dẫn nghiệp vụ BHVCXCG của BIC)
Điều khoản “Bảo hiểm cho xe chuyên dùng”: Tỷ lệ phí bảo hiểm choloại xe này (thiết bị nâng bốc hàng, làm vệ sinh, trộn bêtông, xe chở xăng dầu, cây)tăng 20% so với xe cùng loại
Điều khoản “Bảo hiểm cho xe taxi”: Tỷ lệ phí bảo hiểm bằng 150% tỷ
Tăng phí bảo hiểm :
Các DNBH áp dụng tăng phí theo một trong các phương thức dưới đây
Công thức tăng phí thường được tính theo một trong hai cách sau:
Phương thức 1: Tăng phí bảo hiểm dựa trên chỉ tiêu tỷ lệ giữa số tiền bồithường và doanh thu phí trong 01 năm liên tục của 1 xe (gọi tắt là tỉ lệ bồi thường)
Ví dụ: Tại BIC tỷ lệ tăng phí bảo hiểm theo tỷ lệ bồi thường được tính như sau
Bảng 1.7: Tỷ lệ tăng phí theo tỷ lệ bồi thường
Tỉ lệ bồi thường Tỷ lệ tăng phí tối thiểu Trên 50% đến nhỏ hơn 60% 10% tổng số phí bảo
hiểm Trên 60% đến nhỏ hơn 70% 20% tổng số phí bảo
Trang 16Phương thức 2: Tăng phí bảo hiểm bằng cách xác định hệ số tăng phí
Bước 1: Tổng hợp số liệu thống kê khai thác, bồi thường trong 03 năm (tốt nhất là
5 năm) của các loại xe hoặc đối tượng chủ xe cần tăng phí Tỷ lệ bồi thường cho phéptối đa là 70%, tỷ lệ vượt quá 70% thì thuộc đối tượng bắt buộc phải điều chỉnh tăngphí
Bước 2: Xác định hệ số tăng phí
Hệ số tăng phí (>1) = Tổng số tiền bồi thường (từ 3-5 năm)/70%
Tổng số phí bảo hiểm (từ 3-5 năm)
Bước 3: Xác định phí bảo hiểm điều chỉnh
Phí bảo hiểm điều chỉnh = Phí bảo hiểm cơ bản x Hệ số tăng phí
Ví dụ: Hệ số tăng phí bảo hiểm tính được là 1,7 Tỷ lệ phí bảo hiểm vật chất là1,36% Phí bảo hiểm điều chỉnh tăng là 1,36% x 1,7 = 2,31%
Giảm phí bảo hiểm:
Các DNBH thường áp dụng giảm phí bảo hiểm theo một trong các phươngthức dưới đây khi khách hàng tham gia các loại hình bảo hiểm tự nguyện Cụ thểtại BIC như sau:
Phương thức 1: Giảm phí theo tỷ lệ tổn thất
Nếu 01 chiếc xe nào đó không có bất cứ tổn thất nào trong các mức thờihạn bảo hiểm cụ thể thì có thể giảm phí như sau:
Bảng 1.8: Tỷ lệ giảm phí theo số năm không tổn thất
Trang 17Bảng 1.9 : Tỷ lệ giảm phí theo số lượng xe tham gia bảo hiểm
(Nguồn: Hướng dẫn nghiệp vụ BHVCXCG của BIC)
Phương án 3: Giảm phí theo mức miễn bồi thường:
Chủ xe có thể lựa chọn mức miễn bồi thường có khấu trừ tùy ý từ 1.000.000VNĐ đến 10.000.000 VNĐ hoặc từ 100 USD đến 1.000 USD thì tỷ lệ giảm phí sẽtương ứng như bảng dưới
Bảng 1.10: Tỷ lệ giảm phí theo mức miễn thường
1.000.000 VNĐ hoặc 100 USD Giảm 05% tổng số phí 2.000.000 VNĐ hoặc 200 USD Giảm 08% tổng số phí 3.000.000 VNĐ hoặc 300 USD Giảm 11% tổng số phí 4.000.000 VNĐ hoặc 400 USD Giảm 14% tổng số phí 5.000.000 VNĐ hoặc 500 USD Giảm 17% tổng số phí 6.000.000 VNĐ hoặc 600 USD Giảm 20% tổng số phí 7.000.000 VNĐ hoặc 700 USD Giảm 23% tổng số phí 8.000.000 VNĐ hoặc 800 USD Giảm 26% tổng số phí 9.000.000 VNĐ hoặc 900 USD Giảm 30% tổng số phí 10.000.000 VNĐ hoặc 1.000 USD Giảm 35% tổng số phí
(Nguồn: Hướng dẫn nghiệp vụ BHVCXCG của BIC)
Đối với những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ, tức chỉ hoạt động một sốngày trong năm thì chủ xe phải đóng phí cho những hoạt động đó theo công thứcnhư sau
Trang 18hiểm theo những tháng ngừng hoạt động của chủ xe đó Số phí hoàn lại được tínhnhư sau
Tùy theo công ty bảo hiểm mà tỷ lệ này là khác nhau nhưng thông thường tỷ lệnày là 80 %
Trong trường hợp chủ xe muốn hủy bỏ hợp đồng khi chưa hết thời hạn thìthông thường công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lạitheo công thức trên, nhưng với điều kiện là chưa lần nào được công ty bảo hiểm trảtiền bảo hiểm
1.2.3 Hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và công ty bảohiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm Công ty bảo hiểm phải trảtiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người bảo hiểm khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới thường bao gồm những nội dung sau
- Quy tắc bảo hiểm vật chất xe cơ giới
- Giấy yêu cầu bảo hiểm
- Giấy chứng nhận bảo hiểm
- Các điều khoản bổ sung cho bản hợp đồng
- Các thỏa thuận khác nếu có
Trên thực tế hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới chính là đơn bảo hiểm haygiấy chứng nhận bảo hiểm Thông thường trong giấy chứng nhận bảo hiểm vật chất
xe của hầu hết các công ty bảo hiểm không chỉ có phần dành riêng cho bảo hiểm vậtchất xe mà còn có phần bảo hiểm tai nạn đối với người ngồi trên xe, BHTNDS củachủ xe cơ giới đối với người thứ 3 vì khi đã có nhu cầu mua bảo hiểm vật chất xethì các chủ xe thường muốn mua kết hợp cả 3 loại hình trên
Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc được ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm.Chủ xe phải thanh toán đủ phí bảo hiểm trước khi công ty bảo hiểm cấp giấy chứngnhận bảo hiểm, trừ khi có thỏa thuận khác bằng văn bản
Trang 19Trường hợp bên mua bảo hiểm chậm đóng phí bảo hiểm theo định kì mà khôngthông báo với công ty bảo hiểm, thỏa thuận lại ấn định lại hợp đồng đóng phí thìhợp đồng bảo hiểm mặc nhiên chấm dứt hiệu lực cho đến khi chủ xe tiếp tục đóngphí bảo hiểm
Khi chủ xe yêu cầu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trước thời hạn, thì phải thôngbáo cho cơ quan bảo hiểm trước 15 ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng Nếu hợpđồng được hai bên thỏa thuận chấm dứt thì công ty bảo hiểm hoàn lại cho chủ xe 80
% phí bảo hiểm của thời gian còn lại vói điều kiện trong thời gian hợp đồng bảohiểm có hiệu lực chưa xảy ra sự kiện bảo hiểm
Nếu trong thời gian bảo hiểm công ty bảo hiểm yêu cầu chấm dứt hợp đồngbảo hiểm trước thời hạn thì công ty bảo hiểm phải thông báo cho chủ xe bằng vănbản trước 15 ngày và hoàn lại phí bảo hiểm cho chủ xe tương ứng vói thời gian cònlại của hợp đồng
1.2.4 Đề phòng và hạn chế tổn thất
Đề phòng tổn thất và hạn chế tổn thất trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới làcác biện pháp được sử dụng để hạ thấp tần suất tổn thất, để tránh các tổn thất xảy ranhư tai nạn do đâm va, lật đổ, cháy, nổ…Cả hai biện pháp này không chỉ là tráchnhiệm của công ty bảo hiểm mà của cả người tham gia bảo hiểm Đối với công tybảo hiểm việc đề phòng và hạn chế tổn thất trong trong bảo hiểm vật chất xe cơ giớicũng sẽ đáp ứng được những mục tiêu mà công ty đặt ra: giảm chi bồi thường dorủi ro gây nên , tăng lợi nhuận, đáp ứng nhu cầu khách hàng, đảm bảo an sinh xãhội Đối với nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới muốn giảm thiệt hại các công tybảo hiểm phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng có liên quan như: công
an giao thông để tăng cường hệ thống biển báo chỉ đường …
1.2.5 Giám định và giải quyết bồi thường
1.2.5.1 Vai trò của công tác giám định bồi thường
Giám định bồi thường trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới có vai trò rất quantrọng
Công tác giám định bồi thường là cơ sở quan trọng để xác định mức tráchnhiệm của DNBH Ví dụ: xác định nguyên nhân xảy ra tổn thất, mức độ thiệt hai (Nếu như người lái xe do uống rượu đâm phải cột mốc gây vỡ kính xe ô tô thì trongtrường hợp này không thuộc trách nhiệm của nhà bảo hiểm, người tham gia bảohiểm sẽ không nhận được bất cứ khoản bồi thường nào từ nhà bảo hiểm.) từ đó làmcăn cứ xác định số tiền bồi thường
Trang 20Công tác giám định bồi thường tốt sẽ đảm bảo được sự công bằng cho kháchhàng, ngăn chặn được tình trạng trục lợi bảo hiểm ngay từ đầu.(Ví dụ như: hành vi
cố ý gây xước xe để được bồi thường, khai tăng tổn thất…) Do bảo hiểm dựa trênnguyên tắc “ số đông bù số ít” nên việc thực hiện công tác giám định bồi thường tốtkhông chỉ đảm bảo quyền lợi cho DNBH mà còn đảm bảo lợi ích cho khách hànghiện tại và tương lai của doanh nghiệp
Công tác giám định bồi thường trong BHVCXCG còn liên quan trực tiếpđến quyền lợi và trách nhiệm của DNBH Trách nhiệm của DNBH đảm bảo nhữngcam kết với khách hàng, thực hiện tốt công tác này cũng chính là khẳng định côngtác chất lượng – dịch vụ của doanh nghiệp tạo ra được uy tín của doanh nghiệp vớikhách hàng Uy tín của doanh nghiệp tạo ra sự tin tưởng của khách hàng đối vớiDNBH ( do bảo hiểm vật chất xe cơ giới là sản phẩm dịch vụ, giá trị của nó chỉđược thể hiện khi đã tiêu dùng dịch vụ tức là khi có rủi ro tổn thất xảy ra với đốitượng bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm mới được bồi thường thiệt hại) Vìvậy uy tín thương hiệu của DNBH đã tạo được niềm tin cho khách hàng)
Thông qua việc giám định tổn thất, qua đó xác định được nguyên nhântổn thất, từ đó giúp các doanh nghiệp có biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất ( cóbảng chỉ đường, xây dựng hệ thống biển báo nguy hiểm …) để có thể giảm thiểuđược tối đa tổn thất xảy ra khi xe tham gia giao thông
1.2.5.2 Nguyên tắc chung trong công tác giám định bồi thường
Giám định
Khi xe bị tai nạn thì chủ xe, lái xe, hoặc người thân trong gia đình phải kịp thờithông báo cho nhà bảo hiểm biết, ngoài ra chủ xe phải có biện pháp đề phòng và hạnchế tối đa tổn thất và không được phép di dời, tháo gỡ hoặc sửa chữa xe khi chưađược sự đồng ý của nhà bảo hiểm Còn đối với nhà bảo hiểm khi nhận được thôngbáo tai nạn, nhà bảo hiểm phải cử nhân viên giám định hoặc người ủy quyền tổ chứcgiám định Khi giám định có mặt của chủ xe, cảnh sát giao thông để xác định lỗi củachủ xe và mức độ thiệt hại thực tế của xe sau đó lập biên bản giám định
Để giám định được chính xác, cán bộ giám định phải chụp ảnh xe bị tai nạn từtất cả các góc độ hoặc chụp từng bộ phận bị tổn thất Ngoài ra phải có ảnh nhậndạng ô tô, biển số xe để xác định xe bị tai nạn có tham gia bảo hiểm hay không, sau
đó xem xét từng bộ phận bị tổn thất để đánh giá mức độ tổn thất chung của từng
bộ phận, khả năng sửa chữa hoặc thay thế
Bồi thường
Trang 21Khi yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường tổn thất vật chất xe, chủ xe phảilàm hồ sơ bồi thường bao gồm các tài liệu chúng từ sau:
- Chứng minh thư nhân dân
- Tờ khai nạn của chủ xe
- Bản sao giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy chứng nhận đăng kí xe, giấy chứngnhận kiểm định an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện cơ giao đường
bộ, giây phép lái xe
Kết luận điều tra của công an hoặc bản sao hồ sơ tai nạn gồm: Biên bản giámđịnh hiện trường, biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn, biên bản giảiquyết tai nạn
- Bản án hoặc quyết định của tòa án trong trường hợp có tranh chấp tại phiêntòa, các biên bản xác định trách nhiệm của bên thứ 3 và các chứng từ xác định thiệthại do các tai nạn như các chứng từ: chi phí sử chữa xe, chi phí thuê cần cẩu, chi phíkéo xe tới nơi sửa chữa …
Nguyên thất tắc bồi thường tổn thất
Trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, các công ty bảo hiểm có thể lựa chọnhình thức thanh toán chi phí thực tế để sửa chữa, thay thế (nếu không thể sửa chữađược) bộ phận bị tổn thất, hoặc trả bằng tiền cho Chủ xe để bù đắp tổn thất trên cơ
sở xác định được chi phí sửa chữa, khắc phục tổn thất có thể phải trả
Trong quá trình sửa chữa xe được bảo hiểm, nếu phải thay thế mới bộ phận thì
số tiền bồi thường cho việc thay thế bộ phận đó tối đa không vượt quá giá trị thực tếcủa bộ phận đó ngay trước khi xe bị tổn thất (trừ khi có thoả thuận khác)
- Trường hợp xe tham gia bảo hiểm bằng hoặc dưới giá trị thực tế
Số tiền bồi thường = Gía trị bảo hiểm X (STBH :GTBH)
- Trường hợp xe tham gia bảo hiểm trên giá trị thực tế
Theo nguyên tắc đánh giá việc trục lợi bảo hiểm, công ty bảo hiểm chỉ chấpnhận STBH nhỏ hơn hoặc bằng GTBH Nếu người bảo hiểm cố tình tham gia vớiSTBH lớn hơn hoặc bằng GTBH thì hợp đồng bảo hiểm sẽ không có hiệu lực Tuynhiên là vô tình tham gia bảo hiểm trên giá trị, công ty bảo hiểm vẫn bồi thườngnhưng số tiền bồi thường chỉ bằng thiệt hại thực tế và luôn nhỏ hơn hoặc bằng giátrị thiệt hại thực tế của xe
Nhưng cũng có trường hợp, công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm trên giá trị thực
tế Đây là trường hợp bảo hiểm theo “giá trị thay thế mới” Nhưng đây là bảo hiểmtrên giá trị nên phí bảo hiểm rất cao và các điều kiện bảo hiểm là khá nghiêm ngặt
Trang 22- Tổn thất bộ phận
Nếu xe tham gia bảo hiểm với số tiền bằng hoặc trên giá trị thực tế của xe tạithời điểm tham gia bảo hiểm thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường đúng bằng chi phísửa chữa thực tế và khắc phục tổn thất của bộ phận đó
Hoặc nếu khách hàng tham gia bảo hiểm với “giá trị thay thế mới” thì sẽ đượcbồi thường đúng bằng giá trị thay thế mới của bộ phận đó
Nếu xe tham gia bảo hiểm với số tiền bảo hiểm dưới giá trị thực tế tại thờiđiểm tham gia bảo hiểm thì số tiền bồi thường được tính theo giá trị thiệt hại thực tếnhân với ( STBH /giá trị thực tế của xe tại thời điểm tham gia bảo hiểm)
Ngoài ra khi tính toán số tiền bồi thường còn phải tuân thủ những quy tắc sau+ Những bộ phận thay thế mới (tức là khi tổn thất toàn bộ một bộ phận tổngthành ), khi bồi thường phải trừ đi khấu hao đã sử dụng hoặc chỉ tính giá trị tươngđương vói giá trị của bộ phận được thay thế ngay trước lúc xảy ra tai nạn Công tybảo hiểm sẽ thu hồi những bộ phận được thay thế hoặc đã được bồi thường toàn bộgiá trị
+ Trường hợp chủ xe tham gia bảo hiểm một số bộ phận hoặc tổng thành xe,STBH được xác định dựa trên thiệt hại của bộ phận hoặc tổng thành xe Và STBHcũng thường được giới hạn bởi bảng tỷ lệ tổng thành xe của bộ phận hay của tổngthành xe tham gia bảo hiểm
+ Trường hợp tai nạn xảy ra liên quan đến trách nhiệm của người thứ 3, công tybảo hiểm bồi thường cho chủ xe và yêu cầu chủ xe bảo lưu quyền khiếu nại vàchuyển đòi bồi thường cho công ty bảo hiểm toàn bộ hồ sơ, chứng từ liên quan Cụthể nếu xe tham gia bảo hiểm vật chất bị một xe có bảo hiểm trách nhiệm dân sựđâm va và gây ra thiệt hại thì bồi thường thiệt hại trước Đối với trách nhiệm dân sựchỉ bồi thường phần chênh lệch giữa số tiền bồi thường phần TNDS và số tiền thiệthại vật chất
+ Bảo hiểm trùng: Có những trường hợp chủ xe tham gia bảo hiểm vật chấttheo một hay nhiều đơn bảo hiểm khác nhau theo đúng nguyên tắc hoạt động của
Trang 23bảo hiểm, tổng số tiền mà chủ xe nhận được từ tất cả các đơn bảo hiểm chỉ đúngbằng thiệt hại thực tế Thông thường các công ty bảo hiểm thường giới hạn mứctrách nhiệm của mình theo tỷ lệ giữa STBH ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểmcủa công ty mình so với những STBH ghi trong tất cả các đơn bảo hiểm
1.2.5.3 Quy trình giám định và bồi thường tổn thất
Quy trình giám định bảo hiểm vật chất xe cơ giới theo các bước sau:
Tiếp nhận và sử lý thông tin
Nhân viên giám định phải nắm được các thông tin sau:
Tình hình tai nạn: Số xe, chủ xe tham gia bảo hiểm, thời gian và địa điểmxảy ra tai nạn cũng như thiệt hại sơ bộ đối với đối tượng được bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm, STBH, nơi cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, loại hìnhtham gia bảo hiểm
Sau khi tiếp nhận thông tin, tùy thuộc vào tình hình thực tế mà giám địnhviên yêu cầu chủ xe làm những việc cần thiết để hạn chế tôn thất phát sinh,bảo vệ môi trường, tài sản Đồng thời giám định viên phải thống nhất vớichủ xe về thời gian giám định và chuẩn bị dụng cụ giám định.Trongtrường hợp tính chất phức tạp của vụ tai nạn là cao giám định viên khôngthể đảm nhiệm được thì có thể thuê chuyên gia giám định khác, để phục vụtốt nhất cho công tác giám định được chính xác, nhanh chóng, kịp thời,đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
Tiến hành giám định Công việc giám định phải được tiến hành khẩn trương, ý kiến của chuyênviên giám định phải đưa ra hợp lý chính xác và nhất quán Với những vụ tai nạnphức tạp (ví dụ như là: tổn thất xảy ra lớn, có liên quan đến nhiều bên mà chưa xácđịnh được nguyên nhân …) thì giám định viên phải tìm hiểu, đánh giá thị trường,thu thập thông tin và đưa ra các phương án phù hợp nhất Trong quá trình giám địnhtốn thất BHVCXCG, nhân viên giám định phải tập trung vào các công việc sau :
Kiểm tra mức độ hợp lệ của giấy tờ bao gồm:
Giấy chứng nhận bảo hiểm
Giấy đăng kí xe
Giấy phép lưu hành hoặc giấy tờ tương đương
Bằng lái xe
Giấy kiểm định an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường
Sao chép các giấy tờ trên và giám địnhviên đăng kí xác nhận
Trang 24 Chụp ảnh tổng thể và chi tiết từng bộ phận của xe (như số khung, bánh lái,cầu trước…)
- Ảnh chụp tổng thể có biển đăng kí hiện trường xảy ra tai nạn
- Ảnh chụp chi tiết phải bộc lộ thiệt hại, nếu cần thiết phải đánh dấu khoanhvùng thiệt hại Khi chụp ảnh các chi tiết gãy rời bên trong phải chụp ảnh chi tiếttháo rờ, trường hợp thiệt hại nặng phải chụp cả số má, số khung , số xe
- Những vụ tai nạn mà có dấu hiệu nguyên nhân kĩ thuật hay những nguyênnhân nằm trong trường hợp loại trừ bảo hiểm thì cần chụp những chi tiết liên quan
để có bằng chứng chứng minh nguyên nhân xảy ra tai nạn
- Đưa ảnh vào hồ sơ phải có ngày chụp, tên người chụp, chú thích và dấu hiệuxác nhận
Lập biên bản giám định
Đây là biên bản chủ yếu để xét duyệt bồi thường hoặc chi trả bảo hiểm Vì vậynội dung văn bản này phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, rõ ràng, cụ thể Các
số liệu phải phù hợp với thực trạng không mâu thuẫn khi đối chiếu với các giấy tờ
có liên quan Với những vụ tổn thất lớn nghiêm trọng phức tạp cần phải lấy ý kiếncủa tập thể của những người có liên quan và ban lãnh đạo DNBH trước khi hoàn tấtbiên bản giám định
Nội dung biên bản giám định bảo gồm: Biên bản giám định thiệt hại vật chất
xe cơ giới, bản phụ lục theo mẫu quy định
Biên bản giám định phải đầy đủ những nội dung sau.:
- Ngày, giờ tiến hành giám định
- Họ tên, chức vụ quyền hạn của cơ quan giám định
- Biển số, số khung, số máy, nhãn hiệu, loại xe, trọng tải của xe
- Tên chủ xe
- Địa điểm nơi xảy ra tai nạn
- Nội dung của biên bản giám định phải ghi cụ thể nhũng bộ phận bị thiệthại, mức độ, kích thước, ảnh chụp Nếu hư hỏng nhiều bộ phận thì sử dụng bảngphục lục kèm theo
Quy trình giải quyết bồi thường của nghiệp vụ BHVCXCG
Trang 25Sau khi hoàn tất hồ sơ bồi thường cho khách hàng Bộ phận giải quyết bồithường phải tính toán STBT
STBT bảo hiểm vật chât xe cơ giới căn cứ vào:
- STBH
- Biên bản giám định tổn thất, và bản kê khai tổn thất
- Các điều khoản, điều lệ của hợp đồng
- Giá trị của xe tại thời điểm xảy ra tai nạn…
Thông báo bồi thường
Sau khi STBT được xác định, DNBH sẽ chấp nhận bồi thường cho khách hàng.Trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới thường có 3 hình thức bồi thường: thanh toánbằng tiền mặt, sửa chữa tài sản, thay thế mới Nếu STBT hoặc tri trả là quá lớn,DNBH có thể thảo thuận với khách hàng về kì hạn thanh toán, thời hạn thanh toán,lãi suất trả chậm…
Truy đòi người thứ 3
Bộ phận thanh toán bồi thường phải áp dụng các biện pháp truy đòi người thứ
3 nếu họ có liên quan trách nhiệm trong trường hợp xảy ra tai nạn.Việc thực hiệntruy đòi phải nhanh chóng, kịp thời
1.2.6 Vấn đề trục lợi trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.2.6.1 Khái niệm trục lợi trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Trục lợi bảo hiểm được coi là hành vi gian lận bảo hiểm, hiện tượng này làmột vấn đề nhức nhối đối với tất cả các DNBH Các DNBH đã phải chi ra rất nhiềutiền để kiểm soát tổn thất cũng như khắc phục hậu quả trong trục lợi bảo hiểm.Như vậy trục lợi bảo hiểm xe cơ giới là: “Hành vi cố tình gian dối, lừa đảo cóthể có chủ ý ngay từ đầu khi tham gia bảo hiểm hoặc khi phát sinh sau khi rủi ro đãxảy ra cho chiếc xe khi tham gia bảo hiểm nhằm chiếm đoạt một số tiền từ doanhnghiệp bảo hiểm mà lẽ ra họ không được hưởng”
1.2.6.2 Các hình thức trục lợi Bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
Để thực hiện các hành vi trục lợi của mình người tham gia bảo hiểm thường sửdụng các hình thức khác nhau để trục lợi Nhìn chung có một số hình thức trục lợinhư sau:
Hợp lý hóa hợp đồng bảo hiểm
Đây là hình thức trục lợi rất phổ biến trong Bảo hiểm vật chất xe cơ giới gồmhai trường hợp:
Trang 26- Ghi lùi ngày trên giấy chứng nhận bảo hiểm: trường hợp này xảy ra khingười tham gia bảo hiểm cấu kết với nhân viên bảo hiểm để tiến hành trục lợi bảohiểm Trường hợp này xảy ra khi tổn thất xảy ra mới mua bảo hiểm để trục lợi bảohiểm.
- Ghi sai ngày tai nạn: Trường hợp này xảy ra khi người tham gia bảo hiểm cấukết với cán bộ công an để khai sai ngày tai nạn (do hợp đồng bảo hiểm mới hết hạnhoặc khi tai nạn rồi mới mua bảo hiểm)
Thay đổi tình tiết tai nạn
Do nguyên nhân của vụ tai nạn có thể không thuộc phạm vi bảo hiểm vì vậy
mà người tham gia bảo hiểm thay đổi lời khai nhằm hợp lý hóa tai nạn để được bồithường
Tạo hiện trường giả
Khi xe tham gia bảo hiểm không bị tai nạn mà một xe nào đó cùng loại bị tainạn, người tham gia bảo hiểm sẽ gắn biển xe đã tham gia bảo hiểm vào xe bị tainạn sau đó mới lập hồ sơ bồi thường
Khai tăng tổn thất, khai báo rủi ro không trung thực
Trường hợp khi tham gia bảo hiểm thỏa mãn các đầy đủ các điều kiện bảohiểm, lúc đó người tham gia bảo hiểm sẽ kết hợp với cơ quan giám định, các xưởnghoặc ga ra sửa chữa để khai tăng giá trị tổn thất cũng như chi phí sửa chữa để đòibồi thường
Lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần
Người tham gia bảo hiểm chủ ý trục lợi bảo hiểm ngay từ đầu và họ tham giabảo hiểm của nhiều công ty bảo hiểm, khi tham gia bảo hiểm họ đòi bồi thường ởnhững công ty đó Đây là trường hợp người tham gia bảo hiểm trùng, người thamgia bảo hiểm đã tận dụng được sơ hở về thông tin giữa các doanh nghiệp
Cố ý gây ra tai nạn để được bồi thường
Đây là hành vi tương đối tinh vi, người tham gia bảo hiểm là những người amhiểu về kĩ thuật họ tự tạo ra những vụ tai nạn để đòi bồi thường Hình thức này sửdụng rất tinh vi khó có thể phát hiện được ra
Trang 271.2.6.3 Hậu quả của trục lợi bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Trục lợi bảo hiểm sẽ làm tăng chi phí bồi thường, giảm lợi nhuận, giảm uy tíndanh tiếng của doanh nghiệp, kéo theo đó là hiệu quả kinh doanh bị giảm sút.Trục lợi cũng ảnh hưởng trục tiếp đến chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm.Trong các khoản chi của DNBH thì chi bồi thường được coi là khoản chi có giá trịlớn nhất thường chiếm khoảng 50% chi phí của toàn doanh nghiệp Trục lợi sẽ làmtăng số tiền bồi thường, mặt khác khi có trục lợi bảo hiểm xảy ra doanh nghiệp sẽtiến hành các biện pháp để xác minh và cho dù có xác minh được hay không thìDNBH cũng đã mất thêm một phần chi phí cho công tác này, khi đó chi phí tăngnên là điều tất yếu
Ngoài ra, khi mà hành vi trục lợi diễn ra ở mức phổ biến, làm chi cho bồithường của DNBH tăng lên, bù đắp cho chi phí bồi thường của DNBH tăng lên quácao mức dự kiến sẽ buộc các DNBH phải tính lại phí bảo hiểm theo chiều hướngtăng lên bù đắp cho chi phí bồi thường để tăng lợi nhuận hợp lý Khi phí bảo hiểmtăng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi khách hàng
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh của loại hình bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.3.1 Các chỉ tiêu kết quả
Kết quả kinh doanh là một số tuyệt đối, phản ánh cụ thể khi đạt được một côngviệc nào đó Kết quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới đượcthể hiện ở hai chỉ tiêu là doanh thu và lợi nhuận
Doanh thu của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới phản ảnh tổng hợp kếtquả kinh doanh trong một thời kì nhất định (thường là một năm) Nó là cơ sở đểtính các chỉ tiêu khác có liên quan, phục vụ phân tích hiệu quả hoạt động sản xuấtkinh doanh trong DNBH Doanh thu mà càng cao thì lợi nhuận mà doanh nghiệpthu được là càng nhiều và ngược lại doanh thu thấp thì hoạt động kinh doanh bảohiểm của DN sẽ có lợi nhuận thấp hoặc có thể bị lỗ
Ví dụ : Doanh thu BHVCXCG tại BIC năm 2008, 2009 lần lượt là 89.125và99.112 triệu đồng
Chi phí của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới là toàn bộ số tiền DNBHchi ra để phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh trong vòng 1 năm Ví dụ như:chi bồi thường tổn thất, chi hoa hồng, chi trả lương cán bộ khai thác, chi quảnlý Tất các các khoản chi trên đều được tính vào chi phí của hoạt động kinh doanhbảo hiểm vật chất xe cơ giới
Trang 28V í dụ: Chi phí cho nghiệp vụ BHVCXCG tại BIC năm 2008 là 6.569 triệuđồng và năm 2009 là 8.975 triệu đồng
Dựa vào kết quả thu – chi, doanh nghiệp sẽ tính được lợi nhuận thu được từnghiệp vụ BHVCXCG trong một năm Có hai chỉ tiêu lợi nhuận: lợi nhuận trướcthuế và lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận trước thuế của nghiệp vụ BHVCXCG = Tổng doanh thu của nghiệp
vụ BHVCXCG - Tổng chi phí của nghiệp vụ BHVCXCG
Lợi nhuận sau thuế của nghiệp vụ BHVCXCG = Lợi nhuận trước thế của nghiệp
vụ BHVCXCG - Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp( từ hoạt động kinh doanh
BHVCXCG)Kết quả kinh doanh của từng nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới có thể phântích theo các hướng sau:
Phân tích cơ cấu doanh thu và chi phí
Phân tich tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và lợi nhuận
Phân tích sự biến động của doanh thu, chi phí, và lợi nhuận theo thời gian
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của nghiệp vụ làmột trong các hướng phân tích chủ yếu, tuy nhiên phải xác lập được mối quan hệgiữa các nhân tố (nguyên nhân) ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận Sau khi xácđịnh được mối liên hệ sẽ chọn được phương pháp phân tích phù hợp Có nhiềuphương pháp phân tích phù hợp Song phương pháp hồi quy tương quan, chỉ số,thay thế liên hoàn….hay được sử dụng phổ biển nhất trong nghiệp vụ bảo hiểm vậtchất xe cơ giới
1.3.2 Các chỉ tiêu hiệu quả
Hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới là thước đo sựphát triển của nghiệp vụ và phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ranhững kết quả kinh doanh, nhằm đạt được các mục đích đề ra
Nếu kí hiệu C là chi phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới
K là kết quả kinh doanh nghiệp vụ BHVCXCG
Thì hiệu quả kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới được thể hiện như sau”H=K/C (1) hoặc H= C/K (2)
Khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ BHVCXCG thì phải xét trênhai góc độ: Góc độ kinh tế và góc độ xã hội
Trang 29 Đứng trên góc độ kinh tế: Hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ BHVCXCGđược đo bằng tỷ số giữa doanh thu hoặc lợi nhuận với tổng chi phí nghiệp
D - Doanh thu phí BHVCXCG thu được trong kỳ
L - Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh BHVCXCG thu được trong kì
C - Tổng chi phí BHVCXCG trong kì
Chỉ tiêu 1 cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra trong kì thì tạo ra bao nhiêu đồngdoanh thu Còn chỉ tiêu 2 phản ánh cứ một đồng chi phí chi ra trong kì thì tạo ra baonhiêu đồng lợi nhuận Các chỉ tiêu trên càng lớn càng tốt vì với mỗi mức chi phínhất định thì lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động kinh doanhBHVCXCG là càng cao
Đứng trên góc độ xã hội: Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ BHVCXCGcũng được thể hiện ở hai chỉ tiêu sau
Hx = KTG / CBH (3)
HX =KBT / CBH (4)
Trong đó:
Hx: Hiệu quả xã hội của nghiệp vụ BHVCXCG
KTG: Số khách hàng tham gia BHVCXCG trong kì
KBT: Số khách hàng được bồi thường trong kì
CB T : Tổng chi cho hoạt động kinh doanh BHVCXCG phát sinh trong kì
Chỉ tiêu (3) phản ánh cứ một đồng chi phí sinh ra trong kì thu hút được bảonhiêu khách hàng tham gia bảo hiểm
Còn chỉ tiêu (4) phản ánh cùng một đồng chi phí đã góp phần giải quyết hậuquả cho bao nhiêu khách hàng tham gia bảo hiểm
Tất cả các chỉ tiêu trên phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả kinh kinh doanh củanghiệp vụ BHVCXCG
Ngoài các cách phân tích trên khi phân tich hiệu quả hoạt động kinh doanh bảoBHVCXCG ta còn sử dụng cách phân tích hiệu quả kinh doanh theo từng khâucông việc
Trang 30 Ví dụ như để đánh giá hiệu quả khâu khai thác BHVCXCG ta sử dụng chỉchỉ tiêu sau.
Hiệu quả khai thác BH = Kết quả khai thác trong kì/ Chi phí khai thác trong kìKết quả khai thác BHVCXCG có thể là doanh thu phí BHVCXCG hoặc cóthể là số lượng hợp đồng, số đơn bảo hiểm được cấp trong kì Còn chi phí khai thác
có thể là tổng chi cho hoạt động khai thác BHVCXCG phát sinh trong kì hoặc cóthể là số lượng đại lý khai thác trong kì
Trong khâu giám định tổn thất Hiệu quả khâu giám định được thể hiện nhưsau:
Hiệu quả giám định bảo hiểm = Kết quả giám định trong kì / Chi phí giám địnhtrong kì
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT
XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN ( 2006 – 2009)
2.1 Vài nét về công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ( BIC) là mộtđơn vị thành viên của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam ( BIDV), tiền thân
là công ty liên doanh Bảo hiểm Việt – Uc (BIDV – QBE), công ty liên doanh bảohiểm đầu tiên ở Việt nam với tập đoàn bảo hiểm và tái bảo hiểm phi nhân thọ lớnnhất nước ÚC được cấp giấy phép đầu tư số 2126 / GP của Bộ Kế hoạch và Đầu tưngày 16/07/1999
Sau 6 năm hoạt động công ty liên doanh chưa đáp ứng được mong đợi của haibên đối tác nên BIDV đã quyết định mua lại cổ phần góp vốn của QBE trong công
ty liên doanh bảo hiểm việt ÚC đẻ thành lập công ty 100% vốn trong nước
BIC thành lập theo quyết định số 292/ QĐ – HĐQT ngày 28/12/2005 của Hộiđồng ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam có vốn điều lệ ban đầu là 100 tỷđồng, do Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đầu tư 100% vốn, có con dấuriêng và hoạt động độc lập BIC đã chính thức đi vào hoạt động với tên gọi mới từngày 01/01/2006
Chi nhánh BIC Hồ chí minh được tái thành lập và đi vào hoạt động cùng thờiđiểm thành lập BIC
Ngày 10/04/2006 Bộ tài chính đã cấp giấy phép thành lập và hoạt động số 11GP/KDBH cho BIC với thời hạn hoạt động là 89 năm Do quá trình triển nhanhchóng của BIC, từ thời điểm đó đến nay Bộ tài chính đã thêm 4 lần cấp giấy phépđiều chỉnh hoạt động cho BIC bao gồm :
Giấy phép điều chỉnh số 11/GPĐC1/KDBH, ngày 10/05/2006 cho phép Công
ty Bảo hiểm BIDV thành lập các chi nhánh tạị Hải phòng, Ngệ An , Đà Nẵng Giấy phép điều chỉnh số 11/GPĐC2 /KDBH, ngày 27/09/2006 cho phép Công
ty Bảo hiểm BIDV thành lập các chi nhánh tại Bình Định, Tây Nguyên, Đồng Nai,Vũng Tàu, Cần Thơ
Giấy phép điều chỉnh số 11/GPĐC3 /KDBH Ngày 17/10/2006 nâng vốn điều
lệ công ty Bảo hiểm nên 200 tỷ VNĐ
Trang 32Giấy phép điều chỉnh số 11/GPDDC4 /KDBH , ngày 07/09/2007 nâng vốnđiều lệ công ty Bảo Hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam nên 500 tỷ ViệtNam đồng và thành lập thêm 3 chi nhánh tại Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh Mặc dù mới chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2006 nhưng nhờ sự
kế thừa kinh nghiệm về hoạt động bảo hiểm với hình thức liên doanh, cùng với sựgiúp đỡ của BIDV và sự hỗ trợ của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công tyBIC đã có những thành công đáng kể Tính đến thời điểm 31/12/2009 vốn điều lệ là
500 tỷ đồng, tổng tài sản là 1808,96 tỷ đồng tăng 63 tỷ đồng so với năm 2008 Vốn
sở hữu đạt 523,64 tỷ đồng, tổng quỹ dự phòng đạt 215 tỷ và là công ty Bảo hiểmphi nhân thọ đứng thứ 6/28 về thị phần (năm 2007 xếp thứ 17), chiếm 2,7 % về thịphần Năm 2009 BIC đã đưa về hoạt động thêm 5 chi nhánh mới ở các địa bànBình Dương, Tây Bắc, Tây Hà Nội, Thái Nguyên, Đông bắc, đưa tổng số chi nhánhcủa BIC nên 19 chi nhánh với 40 văn phòng kinh doanh hoạt động ở 54 tỉnh thànhtrong cả nước Tới thời điểm cuối năm 2009 toàn bộ hệ thống của BIC bao gồm cảLào và Campuchia đã có gần 500 cán bộ có mặt ở hầu hết các tỉnh thành trong cảnước (năm 2006 chỉ có 118 cán bộ) Không chỉ dừng lại ở thị trường bảo hiểmtrong nước, BIC là công ty bảo hiểm tiên phong trong việc mở ra thị trường hảingoại Tiếp theo việc thành lập công ty bảo hiểm Lào Việt ( LVI) năm 2008, tháng
9 năm 2009 BIC đã đưa vào hoạt động công ty Bảo hiểm Cambodia Việt nam(CVI) và trở thành công ty bảo hiểm phi nhân thọ đầu tiên phủ kín hoạt động tại 3nước Đông Dương
Bên cạnh đó BIC vẫn tiếp tục duy trì duy trì quan hệ hợp tác với các đối táclớn như: Swiss Re, CCR, ACR, các công ty môi giới bảo hiểm quốc tế như Aon,Mash, Gras và duy trì hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ không ngừng gia tănggiá trị cho khách hàng
Với sự cố gắng làm việc hết mình của toàn thể cán bộ nhân viên trong công ty
và sự hợp tác của các tổ chức trong và ngoài nước Năm 2008 BIC đã vinh dự nhậnđược bằng khen của bộ tài chính vì thành tích xuất sắc Tháng 09/2009 BIC nhậnđược giải thưởng Việt Nam Golden FDI (giải thưởng tôn vinh các doanh nghiệpnước ngoài do phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trao tặng ) Ngày 25/12/2009 tại
Hà Nội trong lễ kỉ niệm 10 năm ngày thành lập hiệp hội Bảo hiểm Việt nam công
ty Bảo hiểm BIDV đã được bộ tài chính trao tặng bằng khen trao tặng là một trongnhững công ty bảo hiểm có nhiều thành tích trong quá trình đóng góp phát triển,nâng cao hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt nam ( 1999-2009)
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty
Cơ cấu tổ chức của công ty bảo hiểm BIC được thể hiện qua sơ đồ sau
Trang 33SƠ ĐỒ 2.1: SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Trang 34Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy:
Cơ cấu tổ chức của công ty được tiến hành theo 3 cấp
- Cấp trụ sở chính
- Cấp chi nhánh đặt tại các địa bàn cần thiết cho hoạt động kinh doanh củacông ty
- Cấp phòng kinh doanh khu vực trực thuộc các chi nhánh
Hiện nay công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam (BIC) có
19 chi nhánh và 40 văn phòng kinh doanh khu vực đặt tại các tỉnh, thành phố cùnggần 700 đại lý, công tác viên trong cả nước Và tất cả các chi nhánh BIDV tại cáctỉnh và thành phố trên toàn quốc là đại lý bảo hiểm của BIC
- Cấp trụ sở chính có vai trò định hướng điều hành, quản lý, hỗ trợ, kinhdoanh, trực tiếp hoạt động kinh doanh, nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới,kiểm tra giám sát các hoạt động kinh doanh, gồm Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toántrưởng/ Trưởng phòng kế toán, Phòng kiểm tra nội bộ và các phòng bộ phận hỗ trợ
Hỗ trợ kiểm tra, giám sát kết quả hoạt động khai thác nhóm nghiệp vụ đó trongtoàn công ty
+ Phòng Dự An
Phòng là đầu mối quản lý, tổ chức triển khai các ngiệp vụ bảo hiểm lớn trongtoàn công ty, là đơn vị khai thác trực tiếp của trụ sở chính, là đầu mối tiếp nhận,thực hiện khai thác các dịch vụ bảo hiểm đặc thù, các dự án lớn phải đầu tư trongtoàn hệ thống
+ Phòng đầu tư
Các chức năng chủ yếu của phòng chủ yếu là tham mưu, hỗ trợ trợ Ban giámđốc về chủ trương, định hướng, hoạt dộng kinh doanh của công ty Triển khainghiên cứu và xúc tiến đầu tư, thực hiện đầu tư và quản lý danh mục đầu tư của
Trang 35công ty đảm bảo an toàn và hiệu quả nhất Trực tiếp thực hiện và quản lý các hoạtđộng tài chính theo danh mục đầu tài chính, theo mục tiêu và hiệu quả hàng năm
2.1.3 Lĩnh vực kinh doanh của công ty
Công ty bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là công ty bảohiểm phi nhân thọ có chức năng kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ,kinh doanh tái bảo hiểm và đầu tư tài chính Nội dung thể như sau
2.1.3.1 Kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm rủi ro kĩ thuật gồm
- Bảo hiểm rủi ro xây dựng lắp đặt
- Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt
- Bảo hiểm máy móc và thiết bị xây dựng
- Bảo hiểm đỏ vỡ máy móc
- Bảo hiểm nồi hơi
- Bảo hiểm thiết bị điện tử
- Bảo hiểm kho lạnh
- Bảo hiểm tổn thất bộ phận do đổ vỡ máy móc
Bảo hiểm tài sản
- Bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt
- Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản
- Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm con người
- Bảo hiểm kết hợp con người
- Bảo hiểm tai nạn 24/24
-Bảo hiểm du lịch
- Bảo hiểm bồi thường cho người lao động
Bảo hiểm xe cơ giới
- Bảo hiểm vật chất xe cơ giới
- Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3
- Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe
Bảo hiểm trách nhiệm
- Bảo hiểm trách nhiệm công cộng
- Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm
- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
Bảo hiểm hàng hóa
Trang 36- Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu ( đường biển, đường hàng không )
- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa ( đường bộ, đường sắt, đường thủy)
Bảo hiểm thân tàu
- Bảo hiểm thân tàu
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu với tàu hoạt động trong vùng nộithủy và lãnh hải Việt nam
Bảo hiểm khác
- Bảo hiểm tiền
- Bảo hiểm trộm cắp
- Bảo hiểm tính trung thực
- Bảo hiểm cho các tổ chức tín dụng
Ngoài những ngiệp vụ bảo hiểm truyền thống trên, BIC đã triển khai một sốnghiệp vụ bảo hiêm mới như: Bancssurancare ( Bic Bảo An, Bic Bảo Phú…) , bảohiểm tài chính
Trong số các nghiệp vụ đạt doanh thu cao phải kể đến bảo hiểm xây dựng lắpđặt, bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt, bảo hiểm xe cơ giới )
2.1.3.2 Kinh doanh tái bảo hiểm phi nhân thọ
Đối vói các công trình dự án lớn tại ViệtNam, các công ty bảo hiểm Việt Namchỉ giữ lại một phần trách nhiệm, còn phần lớn là tái bảo hiểm cho các công tynước ngoài Vì vậy khi đánh giá năng lực để lựa chọn đầu tư, ngoài việc xem xét uytín khả năng tài chính thì đánh gía về năng lực tái là quan trọng nhất Một chươngtrình tái bảo hiểm tốt nhất, phải là một chương trình được các nhà tái lớn, có uytín trên thị trường tham gia
Các nhà tái báo hiểm và môi giới bảo hiểm quốc tế đã tích cực hậu thuẫn vàlựa chọn BIC là nhà bảo hiểm gốc cho các hợp đồng bảo hiểm lớn trong các lĩnhvực bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm tàu, bảo hiểm mọi rủi ro tài sản …
BIC đã xây dựng mối quan hệ kinh doanh với các nhà bảo hiểm lớn trên thếgiới như: Swiss Re, AIG, QBE, Best Re, Labuan Re, Malay sia Re…
Tái bảo hiểm là một công cụ quản trị rủi ro đảm bảo khả năng tài chính chocác hợp đồng có số tiền bảo hiểm lớn và tăng doanh thu từ phí bảo hiểm nhận tái
và hoa hồng nhượng tái bảo hiểm
Trang 372.1.3.3 Đầu tư tài chính
Công ty bảo hiểm BIC sẽ thực hiện đầu tư theo hướng chuyên nghiệp hóanhằm nâng cao năng lực tài chính của công ty, hỗ trợ các hoạt đông khai thác.Ngoài ra hoạt động đầu tư tài chính là kênh chính tạo ra lợi nhuận, thu nhập chínhcủa công ty Đặc biệt trong giai đoạn đầu mới đi vào hoạt động, công ty đang thựchiện chiếm lĩnh thị trường nên việc bị thua lỗ là không thể tránh khỏi, vì vậy nguồnlợi nhuận chính của công ty chủ yếu tạo ra từ hoạt động đầu tư tài chính
2.1.4.K ết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong giai đoạn ( 2006-2009)
Mặc dù mới đi vào hoạt động từ năm 2006 nhưng sau 4 năm, BIC khôngngừng mở rộng mạng lưới, có mức tăng trưởng vuợt bậc so với điểm xuất phát và
đã vươn lên đứng thứ 6 trên thị trường Từ chỗ là công ty mới thành lập trên cơ sởmua lại vốn góp của công ty liên doanh BIDV – QBE với chiến lược kinh doanhcòn còn chưa định hình rõ ràng, giờ đây hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã trởthành một trong hai cụ trột của hệ thống ngân hành Đầu tư và Phát triển Việt nam( xét về cả quy mô kinh doanh, mạng lưới hoạt động, số lượng khách hàng ) Quantrọng hơn, sự ra đời của BIC đã góp phần mang lại gía trị cho BIDV về hình ảnhcủa một định chế tài chính lớn, kinh doanh toàn diện trong lĩnh vực trọng yếu (ngânhàng, bảo hiểm, chứng khoán, tài chính, đầu tư)
+ Tăng trưởng về quy mô: doanh thu luôn ở mức cao nhất thị trường, bêncạnh đó là tăng nhanh về mạng lưới, số lượng khách hàng
+ Phát triển lực lượng cán bộ đông đảo, có trình độ chuyên môn nghiệp vụtốt, năng động nhiệt huyết với công việc
+ Đã hoàn thành mô hình tổ chức chuẩn: Mô hình cơ cấu tổ chức của BICđược phân cấp rõ ràng từ Trụ sở chính đến chi nhánh, Phòng kinh doanh khu vực.+ Chất lượng dịch vụ rủi ro ở mức tương đối tốt so với thi trường
+ Hoàn thiện cơ chế điều hành quản lý, các quy trình tác nghiệp về cấp đơnbảo hiểm, thu xếp tái bảo hiểm và cấp đơn bồi thường Chú trọng công tác nội bộ,từng bước xây dựng hệ thống quản lý rủi ro
+ Công tác quản trị điều hành của Ban lãnh đạo công ty đang từng bước đượcnâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu quản trị điều hành của một công tybảo hiểm chuyên nghiệp
+ Hệ thống công nghệ thông tin ngày càng được hoàn thiện đáp ứng nhu cầukinh doanh và hoạt động quản lý điều hành
Trang 38Vị trí của BIC so với thị trường bảo hiểm phi nhân thọ năm 2009
Thị phần bảo hiểm gốc - Tiếp tục tăng trưởng và duy trì ở vị trí thứ
6/28 DNBH
Năm 2009, BIC tiếp tục tăng trưởng thị phần doanh thu bảo hiểm gốc, chiếm
2,7% (tăng 0,2% so với năm 2008) và duy trì ở vị trí thứ 6/28 DNBH Ngoại trừPVI (thị phần tăng 1,68%), 4 Doanh nghiệp bảo hiểm khác có quy mô lớn nhất thịtrường đều có thị phần giảm, trong đó giảm mạnh nhất là Bảo Minh (giảm 4%); BảoViệt (giảm 3,7%); PTI (giảm 0,7%) 3 DNBH thuộc top 10 có tốc độ tăng trưởng thịphần cao gồm VNI (tăng 1,51%); MIC (tăng 1,18%); AAA (tăng 0,57%)
Biểu đồ 2.1: Thi phần 10 DNBH lớn nhất
( Nguồn: Cục Quản lý Giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính), Hiệp hội bảo hiểm, Swiss Re.)
Thị phần doanh thu theo nghiệp vụ
- Doanh thu ở tất cả các nghiệp vụ đều tăng trưởng tương đối cao so với năm
2008 (Thân tàu và P&I tăng 108%; Trách nhiệm chung tăng 147%; XCG tăng 53%,SK&TNCN tăng 37%)
- Mặc dù doanh thu tăng trưởng cao, tuy nhiên thị phần theo nghiệp vụ tăngtrưởng rất thấp, trong đó có 2 nghiệp vụ thị phần giảm (TS&TH giảm 0,48%; Cháy
nổ giảm 0,75%), các nghiệp vụ khác thị phần tăng không đáng kể, ngoại trừ nghiệp
vụ Thân tàu và P&I tăng 1,25%
- Thứ hạng theo nghiệp vụ: chỉ có 2 nghiệp vụ duy trì được thứ hạng so vớinăm 2008 (TS&TH và Thân tàu & P&I) còn lại tất cả các nghiệp vụ khác thứ hạng
đều giảm so với năm 2008.
- Nguyên nhân thứ hạng các nghiệp vụ của BIC giảm so với năm 2008 là donăm 2009 BIC tập trung vào mục tiêu hiệu quả, trong khi đó nhiều DNBH mới gianhập thị trường có quy mô chưa đủ lớn vẫn theo đuổi mục tiêu quy mô Hơn nữa
Bảo Việt 26,73%
PVI 20,23%
MIC 2,49%
AAA 2,44%
Bảo Long 2,37%
Khác 14,95%
PTI 3,28%
BIC 2,70%
PJICO 9,29%
Bảo Minh 13,33%
VNI 2,18%
Trang 39nhiều DNBH ngành được thành lập đã tận dụng tiềm năng của ngành để đẩy mạnhdoanh thu
Thị phần doanh thu theo nghiệp vụ được thể hiện chi tiết ở bảng sau:
Bảng 2.1: Thị phần doanh thu theo nghiệp vụ của BIC năm 2008 - 2009
Nghiệp vụ
Doanh thu phí bảo
2008 ( tr.đ)
2009 (tr.đ)
Tăng trưở ng(
%)
2008 (%)
2009 (%)
Tăng/
giảm (%)
200 8
200 9
( Nguồn: Cục Quản lý Giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính), Hiệp hội bảo hiểm, Swiss Re.)
Biểu đồ 2.2: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG DT THEO NGHIỆP VỤ CỦA BIC
Trang 40Nguồn: Cục Quản lý Giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính), Hiệp hội bảo hiểm, Swiss Re
.
.Năng suất lao dộng thấp
- Doanh thu bảo hiểm gốc bình quân đầu người của BIC so với thị trường ở mức
rất thấp (751 tr/ng), đứng thứ 18/28 DNBH
- NSLĐ của các DNBH nước ngoài cao hơn rất nhiều so với các DNBH ViệtNam (NSLĐ bình quân của các DNBH nước ngoài đạt 1,811 tỷ đồng/người), trong đóNSLĐ bình quân các DNBH Việt Nam chỉ đạt 1,043 tỷ đồng/người
- NSLĐ bình quân toàn thị trường đạt 1,079 tỷ đồng (4 DNBH có NSLĐ bìnhquân cao nhất đều thuộc về các DNBH nước ngoài)
- Nguyên nhân NSLĐ bình quân của BIC thấp:
+ Cán bộ của BIC phần lớn là cán bộ mới, chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnhvực bảo hiểm
+ BIC vẫn đang trong giai đoạn củng cố bộ máy, tập trung phát triển mạng lưới
và nguồn nhân lực để phục vụ cho sự phát triển lâu dài của Công ty
Lợi nhuận hoạt dộng kinh doanh bảo hiểm
- Năm 2009, thị trường bảo hiểm PNT tiếp tục lỗ từ hoạt động kinh doanh bảo
hiểm (tổng số lỗ từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm là 264 tỷ đồng) giảm 29% so với năm
2008 Toàn thị trường chỉ có 11/28 DNBH có lãi từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Sau 4 năm hoạt động, BIC vẫn chưa có lãi từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm(lỗ 5,8 tỷ) Tuy nhiên đây cũng là lý do khách quan vì 2009 là năm chịu nhiều ảnhhưởng của thiên tai, đặc biệt là cơn bão số 9 và 11
.Tỷ suât lợi nhuận trên vốn sở hữu
- Sau 4 năm hoạt động, năm 2009 là năm BIC đạt tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở
SK&TNCN TS&Thiệt hại HHVC Khác Bình quân