Mục lục CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN DỰ ÁN 4 1. Định hướng đầu tư, điều kiện thuận lợi và khó khăn. 4 1.1. Định hướng đầu tư. 4 1.2. Điều kiện thuận lợi. 4 1.3. Lợi ích mà Dự án mang lại: 6 CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG 8 2.1. Quy mô thị trường hiện tại. 8 2.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu 8 2.3 Xác định sản phẩm. 8 2.4. Phân tích cung cầu. 9 2.5 Công tác tiếp thị sản phẩm của dự án. 9 2.6. So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa nấm sò với nấm rơm 9 2.7 Phân tích SWOT: 11 CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH KỸ THUẬT CHO SẢN PHẨM 12 3.1 Mô tả sản phẩm của dự án 12 3.2 Hình thức đầu tư 12 3.3 Xác định công suất của dự án. 12 3.4 Lựa chọn kỹ thuật công nghệ cho dự án. 13 3.5 Thiết bị máy móc, công cụ dụng cụ cho dự án. 26 3.6 Nguyên vật liệu đầu vào hàng kỳ. ( kỳ 3 tháng ) 27 3.7 Cơ sở hạ tầng. 28 3.8 Địa điểm thực hiện dự án. 29 3.8.1 Vị trí địa lý. 29 3.8.2 Lý do chọn địa điểm thực hiện dự án. 29 3.9 Xây dựng trang trại. 30 3.9.1 Tiêu chuẩn thiết kế 30 3.9.2 Quy mô xây dựng. 32 3.10 Đánh giá môi trường. 34 3.11 Lịch trình thực hiện dự án 35 CHƯƠNG IV: TỔ CHỨC NHÂN SỰ VÀ TIỀN LƯƠNG CỦA DỰ ÁN 36 4.1 Loại hình tổ chức. 36 CHƯƠNG V: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN 37 5.1 Dự tính tổng mức đầu tư: 37 5.2 Dự tính chi phí hoạt động thường xuyên. 37 5.3 Khấu hao tài sản cố định. 38 5.4 Doanh thu hoạt động thường xuyên. 38 5.5 Thuế: 39 5.6. Bảng kết quả kinh doanh 39 5.7 Dòng tiền: 39 CHƯƠNG VI: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ, XÃ HỘI 41 VÀ MÔI TRƯỜNG 41 6.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế: 41 6.2 Đánh giá hiệu quả xã hội: 41 6.3 Đánh giá tác động đối với môi trường: 42 CHƯƠNG VII: NHỮNG VẤN ĐỀ XẢY RA TRONG QUÁ TRÌNH TRỒNG NẤM SÒ 44 7.1 Nấm chỉ xuất hiện xung quanh khu vực cấy giống. 44 7.2 Năng suất thấp do. 44 7.3 Xuất hiện một số loại nấm mốc màu trắng. 44 7.4 Xuất hiện các loại nấm lạ. 44 7.5 Côn trùng (kiến, ve, nhện, mối…) phá hoại. 44 7.6 Trồng nấm như thế nào để có năng suất cao. 44 7.7 Giống nấm (meo giống). 45 7.8 Thành phần dinh dưỡng. 45 7.9 Điều kiện nuôi ủ và chăm sóc. 45 7.10 Những nguyên nhân thất bại khi trồng nấm sò. 46 CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN DỰ ÁN 1.Định hướng đầu tư, điều kiện thuận lợi và khó khăn. 1.1.Định hướng đầu tư. Theo thống kê của Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT), sản lượng nấm cả nước đạt khoảng 250.000 tấn nấm tươinăm, trong đó khoảng 65.000 tấn nấm rơm, 120.000 tấn mộc nhĩ, 60.000 tấn nấm sò, 5.000 tấn nấm mỡ… Mục tiêu cụ thể đến năm 2015 sản lượng nấm đạt 400.000 tấn, trong đó tiêu thụ nội địa 75% và xuất khẩu 25%. Tuy nhiên theo thống kê của Cục bảo vệ thực vật thì trong sáu tháng đầu năm 2014, tổng lượng nấm ăn nhập khẩu về Việt Nam lên gần 8.000 tấn, tăng 62% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó lượng nấm nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 78,01% tổng lượng nấm nhập khẩu. Điều này cho thấy lượng nấm tiêu thụ nhập khẩu chiếm 6.4% tổng sản lượng nấm mà cả nước đạt được. Trong khi đó mục tiêu vào năm 2015, lượng nấm tiêu thụ trong nước là 100.000 tấn nấmnăm mặc dù trong nửa năm đầu 2014 lượng nấm nhập khẩu vào Việt Nam đã chiếm là 8000 tấn. Đây là điều bất cập khi chúng ta xuất khẩu một lượng lớn nấm mà phải nhập khẩu nấm (trong đó 78% từ Trung Quốc). 1.2.Điều kiện thuận lợi. Nấm là một sinh vật đặc biệt, không phải thực vật và cũng không phải động vật. Nhiều loài nấm lớn ăn ngon và là thực phẩm quí, đồng thời phòng ngừa và điều trị một số bệnh. Ngoài ra, nuôi trồng nấm còn là biện pháp nông sinh học, góp phần giải quyết vấn đề môi trường do phế liệu, phế thải gây ra. Hiện nay, mô hình trồng nấm đã được áp dụng ở nhiều địa phương trên khắp cả nước, và thực tế đã cho thấy hiệu quả kinh tế cao. Trong đó, một trong những mồ hình phổ biến hiện nay là mô hình trồng nấm Sò. Nghiên cứu cho thấy nước ta có đầy đủ thế mạnh để phát triển quy mô nuôi trồng và sản xuất nấm Sò trên mùn cưa. Nước ta là một nước nhiệt đới, nhiệt độ quanh năm trung bình khoảng 260 C với độ ẩm khá cao khoảng 80%. Đây là điều kiện lí tưởng cho nuôi trồng Nấm Sò. Hiện nay, mô hình trồng nấm Sò được phát triển mạnh ở các tỉnh như: Vĩnh Phúc, Hà Giang, Quảng Trị, Đồng Nai, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. 1.2.1.Thế mạnh về nguyên liệu. Thực tế là nước ta có nguồn nguyên liệu trồng nấm sẵn có như: rơm rạ, mùn cưa, thân cây gỗ, thân lõi ngô, bông phế loại của các nhà máy dệt, bã mía của các nhà máy đường… Ước tính cả nước có trên 40 triệu tấn nguyên liệu và nếu chỉ cần sử dụng khoảng 1015% lượng nguyên liệu này để nuôi trồng nấm đã có thể tạo ra trên 1 triệu tấn nấmnăm và hàng trăm ngàn tấn phân hữu cơ. Thế nhưng ở Việt Nam, phần lớn rơm rạ sau khi thu hoạch lúa đều bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng hoặc ném xuống kênh, rạch, sông ngòi... Vì thế, phát triển nghề sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu còn có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết ô nhiễm môi trường. Ngoài ra chúng ta có nguồn gen giống nấm tương đối hoàn chỉnh và tương đối đa đạng đặc biệt là những loại nấm trên thị trường thế giới, hiện nay đang ưa chuộng. Do đó chúng ta không phải phụ thuộc vào bên ngoài quá nhiều. 1.2.2.Thế mạnh về lao động. Nguồn lao động dồi dào, lao động nông thôn sẵn có, giá thuê lao động rẻ là thế mạnh lớn nhất trên địa bàn tỉnh. 1.2.3.Lợi thế về chính sách phát triển. Bộ NNPTNT đã đề ra mục tiêu đến năm 2015 sẽ đạt sản lượng nấm 400 ngàn tấn, trong đó 300 ngàn tấn để tiêu thụ trong nước và 100 ngàn tấn xuất khẩu, tổng giá trị sản phẩm hàng hóa đạt 12 ngàn tỷ đồngnăm, giá trị xuất khẩu đạt 150200 triệu USD. Đến năm 2020, sản lượng nấm sẽ được nâng lên tới 1 triệu tấn (50% tiêu thụ trong nước, 50% xuất khẩu). Để hoàn thành được mục tiêu trên, Bộ đã chủ động đầu tư cho nghiên cứu và chuyển giao công nghệ nuôi trông và sản xuất nấm. Hiện tại Bộ NNPTNT đang soạn thảo đề án phát triển nấm đến năm 2020, trong đó, Bộ sẽ có các chính sách khuyến khích phát triển ngành này như tăng cường nghiên cứu, chuyển giao khoa học kỹ thuật; kêu gọi hợp tác đầu tư, trao đổi nguồn giống và công nghệ chế biến; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị sản xuất; hỗ trợ giống nấm cho các cơ sở sản xuất... Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật Viện Di truyền nông nghiệp đề xuất các cơ quan hữu quan cần có chiến lược tuyên truyền sâu rộng về nghề trồng nấm với phương châm: “nhiều người biết trồng nấm, người người biết ăn nấm” nhằm nâng cao chất lượng khẩu phần ăn của người Việt Nam. Về thuế: UBND tỉnh đã quyết định miễn thuế thu nhập đối với các trang trại, HTX sản xuất nấm tươi, nấm sấy khô. Đối với doanh nghiệp sản xuất, chế biến, tiêu thụ nấm được miễn thuế thu nhập trong 2 năm đầu và giảm 50% cho 2 năm kế tiếp.Vì thế, đây cũng là lợi thế cho Doanh nghiệp ta tiếp tục phát triển nghề trồng nấm lâu dài về sau. 1.2.4.Thế mạnh về vốn và công nghệ. Qua quá trình nghiên cứu, nhiều viện, trường, trung tâm đã chọn và tạo được một số giống nấm ăn, nấm dược liệu có khả năng thích ứng với môi trường Việt Nam, cho năng suất khá cao. Đồng thời các tiến bộ kỹ thuật về nuôi trồng, chăm sóc, bảo quản và chế biến nấm ngày càng được hoàn thiện. Trình độ và kinh nghiệm của người nông dân cũng không ngừng được nâng lên nên năng suất trung bình của các loài nấm đang nuôi trồng ở nước ta đã cao gấp 1,53 lần so với 10 năm về trước. Hơn nữa, vốn đầu tư để trồng nấm so với các ngành sản xuất khác không lớn, vì đầu vào chủ yếu là rơm rạ và công lao động (chiếm khoảng 7080% giá thành một đơn vị sản phẩm). 1.3.Lợi ích mà Dự án mang lại: Thị trường Nấm sò thường được tiêu thụ ở dạng tươi có giá từ 1025 nghìn đkg. Như thế, nếu cải thiện được công tác chế biến và hạ giá thành sản phẩm, dự kiến thị trường cả nước có thể tiêu thụ được vài chục ngàn tấn mỗi năm. Đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ nấm. Doanh thu và lợi nhuận: về nấm sò mỗi năm ước tính đạt khoảng 600 triệu VND đến dưới 1 tỷ VND. Hiệu quả kinh tế: Việc triển khai dự án này đã tiếp thêm sức mạnh, mở ra cơ hội hình thành nghề trồng nấm góp phần tăng thu nhập cho nông dân, thúc đẩy nghề trồng nấm rơm từ các phụ phẩm trong nông nghiệp. Hiệu quả xã hội: Tận dụng được nguồn phế thải từ các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp như: mùn cưa, rơm rạ, bông phế loại.... góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cung cấp được lượng phân bón tốt cho cây trồng, cung cấp nguồn thực phẩm sạch. Ngân sách: Thu nhập hàng năm từ việc trồng nấm đã tạo một nguồn lớn ngân sách cho việc đầu tư các ngành khác góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao. CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG 2.1. Quy mô thị trường hiện tại. Tổng sản lượng các loại nấm ăn và nấm dược liệu của Việt Nam năm 2013 đạt 250.000 tấn. kim nghạch xuất khẩu đạt 60 triệu USDnăm, hàng năm tăng 57%. Trong đó, sản lượng nấm Sò vào khoảng 60.000 triệu tấn chiếm 24% tổng sản lượng. Hiện nay, sản xuất nấm chỉ tập trung ở một số vùng như ĐB Sông Hồng, Quảng Trị, Đồng Nai và một số tỉnh Miền Tây. Tuy nhiên, theo Bộ NNPTNT sản lượng nấm Sò chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Như vậy, nhìn chung tiềm năng thị trường nấm trong và ngoài nước là rất lớn, trong đó có thị trường nấm Sò. Tỉ trọng nấm Sò chiếm gần 20% trong nhu cầu tiêu dùng nấm. Hiện nay, trong khu vực tỉnh Bình Định vẫn chưa có trang trại sản xuất nấm Sò, hiện chỉ có trang tại nấm rơm ở Tây Sơn và Trang trại nấm Linh chi ở Hoài Ân. 2.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu Cung cấp nấm Sò cho thị trường TP Quy Nhơn, và các vùng lân cận. Cung cấp nấm Sò sạch đảm bảo chất lượng cho các Siêu thị và các chợ đầu mối ở địa bàn thành phố Quy Nhơn và các tỉnh lân cận. Khách hàng mục tiêu chủ yếu là các hộ gia đình, các quán cơm chay, các chùa chiền. 2.3Xác định sản phẩm. Nấm sò tên khoa học là Oyster pleurotus. Hiện nay nước ta đang đứng đầu với sản lượng của loài nấm này trong khu vực Đông nam á (theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc thế giới FAO2006). Nấm sò phổ biến dễ trồng cả ở xứ nóng và xứ lạnh tùy thuộc vào chủng giống nấm. Nước ta là nơi có khí hậu thích hợp để nuôi trồng hầu như tất cả các loài nấm khác nhau, hơn nữa nấm sò có hương vị thơm ngon, dễ chế biến, có nhiều công dụng dược liệu dành cho người bị tiểu đường, làm giảm hàm lượng cholesteron trong máu, ngoài ra còn có công dụng chống ung thư vì có các thành phần hoạt chất: Betaglucans (chống ung thư, tăng cường miễn dịch) Lovastatin (giảm cholesterol) 2.4. Phân tích cung cầu. Thị trường Quy Nhơn đa phần nhập nguồn nấm sò từ các tỉnh khác, chủ yếu là từ Đồng Nai và Lâm Đồng. Từ đó cho thấy tại thành phố Quy Nhơn đang thiếu hụt nguồn cung nấm sò tại chỗ. Trong khi đó, nhu cầu dùng nấm của người dân ngày càng tăng nhiều, đặc biệt là các người dân có xu hướng ăn chay, có nguy cơ gặp các bệnh tiểu đường, gut…có nhu cầu tìm thực phẩm thay thế cho thịt. 2.5 Công tác tiếp thị sản phẩm của dự án. Thông thường các trang trại nấm không liên hệ trực tiếp đến các khách hàng mục tiêu mà thông qua các trung gian thu mua. Do đó mà lòng tin về nguồn nấm chưa được đảm bảo vì nấm còn được nhập từ Trung Quốc sang Việt Nam mỗi năm. Chính vì thế cho thấy công tác tiếp thị rất quan trọng trong khả năng tiêu thụ sản phẩm hiện nay. Công tác tiếp thị sản phẩm của chúng em là liên hệ trực tiếp đến các đại lý bán lẻ và các trung tâm thu mua rau sạch nhằm giới thiệu sản phẩm với độ tin cậy cao và với mức giá hợp lý trên thị trường hiện nay. 2.6. So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa nấm sò với nấm rơm Giống nhau: Nấm rơm và nấm sò có thể trồng nhiều trên nền đất khác nhau nhưng phải thoát nước tốt. Nơi trồng ít chịu ảnh hưởng của gió mạnh. Nguồn giống tốt không bị sâu bệnh .Nguồn nước tưới từ nước sạch hạn chế nước nhiễm phèn. Độ ẩm nguyên liệu (cơ chất) 6570%; độ ẩm không khí 80%; pH = 7, thoáng khí. Kỹ thuật chăm sóc nấm tương đối giống nhau. Khác nhau: Nấm rơm có thể trồng trong nhà hoặc ngoài trời Nấm sò chỉ có thể trồng trong nhà. Nhiệt độ mô nấm rơm trong những ngày đầu khoảng 3840 độ C là tốt nhất. Nhiệt độ thích hợp để nấm rơm phát triển từ 3032 độ C Các điều kiện phù hợp cho nấm Sò • Nhiệt độ thích hợp nhất: Đối với nấm chịu lạnh là 1320 độ C Đối với nấm chịu nhiệt độ cao hơn là 2428 độ C Từ lúc trồng đến khi thu hoạch nấm rơm chỉ khoảng 1012 ngày. Tổng số thời gian thu hái nấm kéo dài trong phạm vi 3045 ngày kể từ ngày hái đầu tiên. Sau khi thu hoạch +Với nấm sò, cần chọn lựa từng chùm nấm, loại bỏ những chùm quá già, giập nát hay bị sâu, dòi. Cắt bỏ phần cuống nấm có dính mạt cưa. +Với nấm rơm, chọn lọc sơ bộ, loại bỏ những nụ nấm bị ố vàng, úng, các phần gốc dính vào còn sót lại trong lần thu hoạch trước. Cắt bỏ phần cuống nấm có dính rơm, đất. Về giá cả thì nấm rơm có giá thành cao gấp đôi giá thành nấm sò nên số lượng người tiêu dùng nấm sò nhiều hơn nấm rơm. Ngoài ra nấm sò có tác dụng chữa được nhiều bệnh so với nấm rơm nên nhóm quyết định trồng nấm sò.
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN DỰ ÁN
Định hướng đầu tư, điều kiện thuận lợi và khó khăn
Theo Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT), sản lượng nấm cả nước đạt khoảng 250.000 tấn/năm, với 65.000 tấn nấm rơm, 120.000 tấn mộc nhĩ, 60.000 tấn nấm sò và 5.000 tấn nấm mỡ Mục tiêu đến năm 2015 là đạt 400.000 tấn, trong đó 75% tiêu thụ nội địa và 25% xuất khẩu Tuy nhiên, trong nửa đầu năm 2014, Việt Nam đã nhập khẩu gần 8.000 tấn nấm, tăng 62% so với cùng kỳ năm trước, với 78,01% lượng nấm nhập khẩu từ Trung Quốc Điều này cho thấy nấm nhập khẩu chiếm 6,4% tổng sản lượng nấm của cả nước, trong khi mục tiêu tiêu thụ nội địa vào năm 2015 là 100.000 tấn/năm.
Năm 2014, Việt Nam đã nhập khẩu 8000 tấn nấm, điều này cho thấy sự bất hợp lý khi chúng ta xuất khẩu một lượng lớn nấm nhưng vẫn phải nhập khẩu, trong đó 78% nấm nhập khẩu đến từ Trung Quốc.
Nấm là sinh vật độc đáo, không thuộc nhóm thực vật hay động vật Nhiều loại nấm lớn không chỉ ngon mà còn là thực phẩm quý giá, giúp phòng ngừa và điều trị một số bệnh Hơn nữa, việc nuôi trồng nấm còn đóng góp vào nông sinh học, giúp giải quyết vấn đề môi trường do rác thải và phế liệu gây ra.
Mô hình trồng nấm đang ngày càng phổ biến tại nhiều địa phương trên toàn quốc, mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong số đó, nấm Sò là một trong những loại nấm được ưa chuộng Nghiên cứu chỉ ra rằng Việt Nam có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển quy mô nuôi trồng và sản xuất nấm Sò trên mùn cưa.
Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới với nhiệt độ trung bình khoảng 26°C và độ ẩm cao khoảng 80%, tạo điều kiện lý tưởng cho việc nuôi trồng nấm Sò Hiện nay, mô hình trồng nấm Sò đang phát triển mạnh mẽ tại các tỉnh như Vĩnh Phúc, Hà Giang, Quảng Trị, Đồng Nai và các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long.
1.2.1 Thế mạnh về nguyên liệu.
Việt Nam sở hữu nguồn nguyên liệu phong phú để trồng nấm, bao gồm rơm rạ, mùn cưa, thân cây gỗ, và bã mía, với tổng lượng ước tính trên 40 triệu tấn Nếu khai thác chỉ 10-15% nguồn nguyên liệu này, chúng ta có thể sản xuất hơn 1 triệu tấn nấm mỗi năm và hàng trăm ngàn tấn phân hữu cơ Tuy nhiên, hiện nay, phần lớn rơm rạ sau thu hoạch lúa thường bị đốt bỏ hoặc vứt xuống kênh rạch, dẫn đến ô nhiễm môi trường Do đó, phát triển ngành sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường.
Chúng ta sở hữu nguồn gen nấm phong phú và đa dạng, đặc biệt là các loại nấm đang được ưa chuộng trên thị trường toàn cầu Điều này giúp chúng ta giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài.
1.2.2 Thế mạnh về lao động.
Nguồn lao động dồi dào, lao động nông thôn sẵn có, giá thuê lao động rẻ là thế mạnh lớn nhất trên địa bàn tỉnh.
1.2.3 Lợi thế về chính sách phát triển.
Bộ NN-PTNT đặt mục tiêu sản lượng nấm đạt 400 ngàn tấn vào năm 2015, với 300 ngàn tấn tiêu thụ nội địa và 100 ngàn tấn xuất khẩu Tổng giá trị sản phẩm hàng hóa dự kiến đạt 12 ngàn tỷ đồng mỗi năm.
Đến năm 2020, sản lượng nấm dự kiến đạt 1 triệu tấn, với 50% tiêu thụ trong nước và 50% xuất khẩu, mang lại doanh thu khoảng 150-200 triệu USD Để đạt được mục tiêu này, Bộ NN-PTNT đã chủ động đầu tư vào nghiên cứu và chuyển giao công nghệ nuôi trồng nấm Bộ đang soạn thảo đề án phát triển nấm, trong đó sẽ có các chính sách khuyến khích như tăng cường nghiên cứu, hợp tác đầu tư, trao đổi giống và công nghệ chế biến, cũng như hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp giống nấm cho các cơ sở sản xuất.
Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật - Viện Di truyền nông nghiệp khuyến nghị các cơ quan liên quan cần triển khai chiến lược tuyên truyền mạnh mẽ về nghề trồng nấm, với phương châm: “nhiều người biết trồng nấm, người người biết ăn nấm” Mục tiêu là nâng cao chất lượng khẩu phần ăn của người Việt Nam.
UBND tỉnh đã quyết định miễn thuế thu nhập cho các trang trại và HTX sản xuất nấm tươi, nấm sấy khô Doanh nghiệp sản xuất, chế biến và tiêu thụ nấm sẽ được miễn thuế thu nhập trong 2 năm đầu và giảm 50% trong 2 năm tiếp theo Điều này tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp trong việc phát triển nghề trồng nấm bền vững trong tương lai.
1.2.4 Thế mạnh về vốn và công nghệ.
Trong quá trình nghiên cứu, nhiều viện, trường và trung tâm đã phát triển các giống nấm ăn và nấm dược liệu phù hợp với môi trường Việt Nam, đạt năng suất cao Các tiến bộ kỹ thuật trong nuôi trồng, chăm sóc, bảo quản và chế biến nấm ngày càng được cải thiện Trình độ và kinh nghiệm của nông dân cũng được nâng cao, giúp năng suất nấm tăng gấp 1,5-3 lần so với 10 năm trước Đặc biệt, vốn đầu tư cho trồng nấm không lớn, chủ yếu là rơm rạ và công lao động, chiếm khoảng 70-80% giá thành sản phẩm.
1.3 Lợi ích mà Dự án mang lại:
Thị trường Nấm sò chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng tươi với giá từ 10-25 nghìn đồng/kg Nếu cải thiện quy trình chế biến và giảm giá thành sản phẩm, dự kiến cả nước có thể tiêu thụ hàng chục ngàn tấn nấm mỗi năm, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng.
Doanh thu và lợi nhuận: về nấm sò mỗi năm ước tính đạt khoảng 600 triệu VND đến dưới 1 tỷ VND.
Dự án này đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, tạo cơ hội cho việc hình thành nghề trồng nấm, từ đó tăng thu nhập cho nông dân và thúc đẩy việc sử dụng phụ phẩm nông nghiệp để trồng nấm rơm.
Hiệu quả xã hội của việc tận dụng nguồn phế thải từ nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp như mùn cưa, rơm rạ và bông phế loại không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn cung cấp phân bón chất lượng cho cây trồng, đồng thời tạo ra nguồn thực phẩm sạch.
PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG
Quy mô thị trường hiện tại
Vào năm 2013, tổng sản lượng nấm ăn và nấm dược liệu của Việt Nam đạt 250.000 tấn, với kim ngạch xuất khẩu đạt 60 triệu USD mỗi năm và tăng trưởng hàng năm từ 5-7% Trong số đó, nấm Sò chiếm khoảng 60.000 tấn, tương đương 24% tổng sản lượng.
Sản xuất nấm hiện chỉ tập trung ở một số khu vực như ĐB Sông Hồng, Quảng Trị, Đồng Nai và một số tỉnh miền Tây Theo Bộ NN-PTNT, sản lượng nấm Sò hiện tại chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Tiềm năng thị trường nấm, đặc biệt là nấm Sò, rất lớn cả trong nước và quốc tế Nấm Sò hiện chiếm gần 20% tổng nhu cầu tiêu dùng nấm.
Hiện tại, tỉnh Bình Định chưa có trang trại sản xuất nấm Sò, chỉ có trang trại nấm rơm tại Tây Sơn và trang trại nấm Linh chi ở Hoài Ân.
Lựa chọn thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu
Chúng tôi cung cấp nấm Sò sạch chất lượng cao cho thị trường TP Quy Nhơn và các vùng lân cận, phục vụ cho các siêu thị và chợ đầu mối trong khu vực.
Khách hàng mục tiêu chủ yếu là các hộ gia đình, các quán cơm chay, các chùa chiền.
Xác định sản phẩm
Nấm sò, hay còn gọi là Oyster pleurotus, hiện đang dẫn đầu về sản lượng trong khu vực Đông Nam Á Việt Nam có khí hậu lý tưởng để trồng nhiều loại nấm, bao gồm cả nấm sò Loại nấm này không chỉ có hương vị thơm ngon và dễ chế biến mà còn mang lại nhiều lợi ích sức khỏe, như hỗ trợ cho người bị tiểu đường, giảm cholesterol trong máu và có khả năng chống ung thư nhờ vào các hoạt chất có trong nó.
- Beta-glucans (chống ung thư, tăng cường miễn dịch)
Phân tích cung cầu
Thị trường nấm sò tại Quy Nhơn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn cung từ các tỉnh khác, đặc biệt là Đồng Nai và Lâm Đồng, cho thấy sự thiếu hụt nguồn cung nấm sò tại địa phương này.
Nhu cầu sử dụng nấm ngày càng tăng, đặc biệt trong cộng đồng người ăn chay, những người có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và các vấn đề về tiêu hóa Họ đang tìm kiếm thực phẩm thay thế cho thịt để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của mình.
Công tác tiếp thị sản phẩm của dự án
Các trang trại nấm thường không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng mà thông qua các trung gian thu mua, dẫn đến sự thiếu tin cậy về nguồn gốc nấm Hơn nữa, nấm còn được nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam hàng năm, làm gia tăng lo ngại về chất lượng sản phẩm.
Công tác tiếp thị đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm hiện nay Chúng em tập trung vào việc liên hệ trực tiếp với các đại lý bán lẻ và trung tâm thu mua rau sạch để giới thiệu sản phẩm với độ tin cậy cao và giá cả hợp lý trên thị trường.
So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa nấm sò với nấm rơm
Nấm rơm và nấm sò có thể trồng nhiều trên nền đất khác nhau nhưng phải thoát nước tốt Nơi trồng ít chịu ảnh hưởng của gió mạnh.
Nguồn giống chất lượng cao không bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh, kết hợp với nguồn nước tưới sạch giúp hạn chế tình trạng nhiễm phèn Độ ẩm của nguyên liệu đạt từ 65-70%, độ ẩm không khí duy trì ở mức 80%, và pH được kiểm soát ở mức 7, đảm bảo điều kiện thoáng khí lý tưởng cho sự phát triển.
Kỹ thuật chăm sóc nấm tương đối giống nhau.
-Nấm rơm có thể trồng trong nhà hoặc ngoài trời
-Nấm sò chỉ có thể trồng trong nhà.
-Nhiệt độ mô nấm rơm trong những ngày đầu khoảng 38-40 độ C là tốt nhất. Nhiệt độ thích hợp để nấm rơm phát triển từ 30-32 độ C
-Các điều kiện phù hợp cho nấm Sò
• Nhiệt độ thích hợp nhất: Đối với nấm chịu lạnh là 13-20 độ C Đối với nấm chịu nhiệt độ cao hơn là 24-28 độ C
-Từ lúc trồng đến khi thu hoạch nấm rơm chỉ khoảng 10-12 ngày.
-Tổng số thời gian thu hái nấm kéo dài trong phạm vi 30-45 ngày kể từ ngày hái đầu tiên.
Khi chọn nấm sò, cần lựa chọn kỹ từng chùm nấm, loại bỏ những chùm quá già, bị giập nát hoặc có dấu hiệu sâu, dòi Đồng thời, cắt bỏ phần cuống nấm có dính mạt cưa để đảm bảo chất lượng.
Khi chọn nấm rơm, cần thực hiện việc lọc sơ bộ để loại bỏ những nụ nấm bị ố vàng, úng và các phần gốc còn sót lại từ lần thu hoạch trước Đồng thời, cắt bỏ phần cuống nấm có dính rơm và đất để đảm bảo chất lượng.
Nấm rơm có giá thành cao gấp đôi so với nấm sò, dẫn đến việc người tiêu dùng ưa chuộng nấm sò hơn Bên cạnh đó, nấm sò còn có tác dụng chữa bệnh, làm tăng thêm sự hấp dẫn của loại nấm này.
Phân tích SWOT
• Địa điểm trồng nấm gần thành phố, thuận tiện cho việc cung ứng sản phẩm
• Nhân viên trong trang trại có phong cách phục vụ khách hàng tốt, luôn ân cần đón chào khách hàng đến tham quan và mua hàng.
• Giá cả sản phẩm hợp lý, không chênh lệch giá quá cao so với đối thủ cạnh tranh.
• Trang trại có quy mô ở Tuy Phước,
• Vì mới đi vào hoạt động nên chưa có lượng khách hàng trung thành cao.
• Mới bắt đầu trồng nên chưa có kinh nghiệm cạnh tranh, chưa có kinh nghiệm trong việc quản lý và phục vụ khách hàng.
• Chưa được nhiều người biết đến và chưa có tên tuổi trên thị trường.
• Thu nhập người dân ngày càng cao, nhu cầu ăn uống ngày càng tăng.
• Khách hàng có nhu cầu về những món ăn giúp chữa một số bệnh về ung thư, giảm cholesterol.
• Chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại của chính phủ.
• Cạnh tranh về việc cung cấp nấm trở nên gay gắt đặc biệt khi nhu cầu về nấm rất nhiều, có rất nhiều loại nấm trên thị trường.
• Xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh.
PHÂN TÍCH KỸ THUẬT CHO SẢN PHẨM
Mô tả sản phẩm của dự án
Thành phần hoá học: Nấm tươi chứa 90,4% nước, 4% protid, 3,4% glucid, 3,3% vitamin PP, 4mg% vitamin C.
Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, tính ấm; có tác dụng thư cân hoạt lạc, truy phong tán hàn, hạ huyết áp, hạ cholesterol, trừ u bướu.
Nấm sò có mùi thơm hạnh nhân và vị ngon, được ưa chuộng trong ẩm thực Thịt nấm sò dai hơn nấm rơm, có thể chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn như xào với lòng lợn hoặc hầm với xương lợn.
Hình thức đầu tư
Đầu tư mới, tức là đầu tư để xây dựng mới, mua sắm thiết bị và máy móc mới toàn bộ.
Vốn đầu tư ban đầu: 320 trđ
Xác định công suất của dự án
Với nhà nuôi nấm diện tích 50 m², sử dụng hình thức treo bịch phôi, dự kiến sẽ nuôi 8000 bịch phôi Mỗi bịch phôi có 1kg cơ chất, tạo ra sản lượng nấm tươi trong 3 tháng là 1,5kg Ở mức công suất tối đa, sản lượng nấm đạt 48.000kg/năm.
Bảng 3.1 Bảng mức sản xuất dự kiến.
Năm Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
Lựa chọn kỹ thuật công nghệ cho dự án
Quy trình công nghệ nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu đã được chuyển giao từ Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật thuộc Viện Di truyền Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cùng với sự hợp tác của Công ty Sinh học Công Thành tại tỉnh Đồng Nai.
Kỹ thuật nuôi trồng nấm Sò trên mùn cưa.
Nấm sò có thể được nuôi trồng trên nhiều loại nguyên liệu như rơm rạ, bã mía, bông thải, mạt cưa và gỗ khúc Tuy nhiên, năng suất nấm đạt được từ các nguyên liệu gỗ thường cao hơn đáng kể.
Gỗ trồng nấm sò thường là gỗ từ cây lá rộng, có nhựa nhưng không chứa tinh dầu Nghiên cứu cho thấy nấm sò phát triển tốt trên mạt cưa, đặc biệt là mạt cưa từ cây cao su.
Trồng nấm sò bằng túi mạt cưa.
Trồng nấm sò trong túi mạt cưa, hay còn gọi là trồng trong bịch ny lông, là phương pháp hiện đại, dễ thực hiện, tiết kiệm công sức chăm sóc, chiếm ít diện tích và cho thu hoạch nhanh chóng.
Mặt khác nguyên liệu dễ tìm, nhẹ vốn vì đó là mạt cưa hay rơm rạ, và thức ăn bổ sung cho tơ nấm cũng không hiếm.
Phương pháp này sử dụng mạt cưa làm nguyên liệu chính, cho phép đóng túi theo kích thước mong muốn và bổ sung dinh dưỡng cần thiết cho nấm Sau đó, túi cơ chất được thanh trùng ở nhiệt độ thích hợp, giúp giảm thiểu nguy cơ tạp nhiễm.
Qui trình trồng trên mạt cưa có thể tóm tắt như sau:
(*) Có thể có hoặc không, nếu bổ sung thêm : N-P-K (15-30-15), Urê, DAP, SA liều lượng không quá 5%o, MgSO4 1-2%o.
Để nuôi trồng nấm hiệu quả, cần bổ sung chất dinh dưỡng cho nấm, có thể sử dụng bã mía với tỉ lệ 20% hoặc cám với tỉ lệ 6% Ngoài ra, cần thêm các thành phần đạm như N-P-K, urê và khoáng chất như KH2PO4, MgSO4 với liều lượng tương tự như đối với mạt cưa cao su.
Sau đây ta sẽ tìm hiểu chi tiết quy trình trồng và sản xuất nấm sò:
Thời gian trồng nấm sò tốt nhất là từ tháng 8 - tháng 9 dương lịch.
Nguyên liệu trồng nấm sò bao gồm mùn cưa từ các loại gỗ mềm không chứa tinh dầu, không bị lẫn xăng dầu và không bị mốc, cùng với cám gạo Nhà trồng nấm sò được xây dựng từ vật liệu tre nứa và rơm rạ, đảm bảo đơn giản, sạch sẽ, có khả năng chống lại mưa, nắng, gió lớn và thoát nước tốt Để đảm bảo an toàn và vệ sinh, dự án đã đầu tư xây dựng khu nhà trồng nấm theo tiêu chuẩn nhà cấp 4.
Có thể trồng nấm sò trên nhiều loại mùn cưa khác nhau, nhưng cần tránh mùn cưa đã bị mốc, mùn cưa từ cây có tinh dầu và cây gỗ cứng Mùn cưa từ cây cao su hoặc bồ đề là lựa chọn tốt nhất Ngoài ra, mùn cưa từ các loại gỗ được nghiền hoặc xẻ từ thân cây trồng nấm sò cũng rất phù hợp.
Mùn cưa mới dùng ngay là tốt nhất Nếu dùng dần phải phơi khô hoặc đóng bao rải mỏng trên nền kho sạch
Tránh để lên men hoặc bị ẩm, mốc gây mùn hoá làm mất chất dinh dưỡng. Ủ mạt cưa.
Mạt cưa, đặc biệt là mạt cưa Cao Su, là nguyên liệu chính để trồng nấm sò Mặc dù có thể sử dụng mạt cưa từ các loại cây không chứa tinh dầu, nhưng mạt cưa tươi không mang lại hiệu quả tốt bằng mạt cưa đã được ủ kỹ trong một thời gian Mạt cưa dễ tìm, nhưng việc chọn lựa đúng loại sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nấm.
Khi ủ mạt cưa phải phơi khô rồi sàng để lấy phần mịn, tạo ẩm mùn cưa bằng nước sạch Tiến hành phối trộn nguyên liệu theo tỷ lệ:
Mùn cưa đã tạo ẩm :100kg
Ngoài ra, còn trộn thêm một số chất dinh dưỡng khác như cám gạo (3–5%), hột bắp hoặc cùi, thân cây bắp xay nhuyễn (3–6%), Super photphat (0,5%), phân Urê
(0,1%) Tất cả các thành phần trên trộn lẫn với nhau, kiểm tra độ ẩm đạt mức 60
Để kiểm tra độ ẩm của mùn cưa, bạn nên nắm mùn cưa trong lòng bàn tay và từ từ mở ra, quan sát tình trạng mùn cưa để xác định mức độ ẩm Sau đó, hãy ủ mùn cưa trong 1-3 ngày trước khi đóng túi Việc ủ mùn cưa giúp cho mùn cưa thấm đủ nước và làm trương nở các tế bào gỗ.
Đối với mạt cưa gỗ mềm không tinh dầu, cần thêm 0,5% vôi vào đống ủ để tăng tốc quá trình lên men, sau đó vun đống ủ thêm 5 ngày đến nửa tháng là có thể sử dụng Trong khi đó, mạt cưa gỗ cứng yêu cầu phải ủ và đảo nhiều lần, thường mất từ 3-4 tháng mới có thể dùng được.
Sử dụng túi nilon chịu nhiệt độ cao (túi PP) là cần thiết do quá trình hấp khử trùng diễn ra ở nhiệt độ cao trong nhiều giờ Kích thước của túi là 20 x 40 cm, được dán ở 2 góc và lộn lại để tạo thành đáy vuông, phẳng Sau đó, tiến hành đóng túi.
Nhồi giá thể vào túi nilông, nén chặt với khoảng 1 - 1,4kg hỗn hợp, cách miệng túi 10 cm Sử dụng ống nhựa tròn hoặc cổ bao giấy cứng đường kính 2 cm, dài 3 cm để luồn vào và gập nilon xuống, sau đó dùng dây chun nịt chặt Dùng đũa đâm từ miệng bịch xuống đáy để tạo lối thông, giúp hấp nhanh hơn và mùn cưa được khử trùng đều Cuối cùng, dùng bông gòn sạch đậy chặt miệng bịch và đậy nắp nhựa hoặc bọc giấy báo để tránh ướt khi hấp thanh trùng.
Hấp khử trùng túi mùn cưa.
Sau khi đóng túi, cần hấp khử trùng túi mùn cưa để tiêu diệt tất cả bào tử và vi sinh vật gây hại Có nhiều phương pháp hấp khử trùng túi mùn cưa sau khi đóng bịch nấm, trong đó sử dụng nồi hấp cách thủy là một trong những cách hiệu quả nhất.
- Nồi áp suất (autoclave) hấp ở nhiệt độ ở nhiệt độ 119-120 0 C (áp suất đạt
Mỗi mẻ hấp có thể chứa từ 400-500 túi mùn cưa, tùy thuộc vào kích thước của buồng hấp Để đảm bảo độ tiệt trùng, không nên rút ngắn thời gian hấp Sau khi hoàn tất thời gian hấp, cần mở cửa lò để làm nguội và nhanh chóng chuyển túi ra ngoài, tránh để lâu sẽ làm ướt nút bông Cuối cùng, tháo bỏ chụp nilon và chuyển túi vào phòng cấy.
Cấy giống và ươm túi mùn cưa.
- Sau khi đã hấp chuyển túi mùn cưa ra phòng cấy giống, để nguội rồi tiến hành cấy giống
Khi cấy giống cần chuẩn bị:
- Phòng cấy giống rộng 2 - 4 m2 , dọn sạch sẽ, có 1 bàn cấy, nếu phòng rộng dùng nilon hoặc bạt ngăn hẹp lại.
- Dụng cụ cấy gồm: dùi gỗ, que cấy, cồn 70 0
Thiết bị máy móc, công cụ dụng cụ cho dự án
Dự án sẽ mua thiết bị từ Công ty Vật tư Khoa học Kỹ thuật (Cemaco), địa chỉ 15-17 Trần Thanh Cần, Quận 5, nằm bên trái chợ Kim Biên, hoặc từ chi nhánh Cemaco tại ngã tư Tô Hiến Thành và Thành Thái.
Các công cụ dụng cụ khác sẽ được mua tại các của hàng cung cấp vật tư trong TP.Quy Nhơn.
Bảng 3.2: Nhu cầu và chi phí cho thiết bị máy móc, công cụ dụng cụ ĐVT: Triệu đồng
TT Tên thiết bị ĐVT Số lượng Đơn giá
3 Nồi hấp mt cấp 1 Cái 1 50 50
5 Máy sàng mạt cưa Cái 1 19.5 19.5
6 Máy trộn mạt cưa Cái 1 21 21
7 Máy cấy meo giống Cái 1 32 32
10 Cân đồng hồ 100kg Cái 1 0.5 1
11 Cân đồng hồ 10kg Cái 2 0.2 0.4
17 Quạt và hệ thống thông gió Cái 2 1 2
21 Bảo hộ, dây thun, khẩu trang, cuốc xẻng 0.7
Nguyên vật liệu đầu vào hàng kỳ ( kỳ 3 tháng )
Nguyên vật liệu sẽ được mua từ các cửa hàng trong thành phố, trong khi mạt cưa sẽ được cung cấp từ Đồng Nai thông qua Công Ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Phúc Nguyên.
Còn giống nấm sẽ được mua tại Viện Sinh học Tây Nguyên ở tỉnh Lâm Đồng.
Bảng 3.3: Nhu cầu và chi phí nguyên vật liệu đầu vào hàng kỳ (quý 3 tháng ) ĐVT: triệu đồng
TT Tên nguyên liệu ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
1 Mạt cưa cao su Tấn 8 2.5 20
4 Cổ nhựa, nắp nhựa Kg 10 0.03 0.3
5 Bịch nilong tự hủy Kg 8 0.035 0.28
Cơ sở hạ tầng
Trang trại sử dụng điện của hệ thống mạng lưới điện quốc gia,.
Dự án được triển khai tại khu vực nông thôn, nơi hệ thống nước máy chưa phát triển, do đó cần xây dựng bể lọc để cung cấp nước Bể lọc sẽ được thiết kế theo mô hình thủ công đơn giản, sử dụng các vật liệu sẵn có như than, cát, sỏi và đá ong.
Có thể bố trí 2 hoặc 3 lớp vật liệu, tùy theo nguồn nước:
Lớp dưới cùng là sỏi, tạo khoảng trống để thu gom nước.
Lớp than hoạt tính hoặc đá ong là bước tiếp theo trong quá trình lọc Sử dụng hạt than có kích thước nhỏ sẽ giúp hấp thụ hiệu quả mùi, màu sắc và các hóa chất hòa tan.
Trên cùng là lớp cát vàng hoặc Filox (nếu muốn khử sắt, mangan và mùi tanh).
Nhu cầu về năng lượng, nước:
Bảng 3.4: Nhu cầu về năng lượng, nước hàng tháng. ĐVT: Triệu đồng
TT Nhu cầu Thành tiền
Địa điểm thực hiện dự án
Tuy Phước là huyện đồng bằng lớn tại phía nam tỉnh Bình Định, với diện tích 217 km² và dân số khoảng 180.400 người Huyện này có địa hình giáp ranh với các khu vực lân cận: phía bắc và tây bắc giáp Phù Cát và An Nhơn, phía đông giáp biển, phía nam giáp TP Quy Nhơn, và phía tây giáp huyện Vân Canh.
Huyện Tuy Phước, nằm bên đầm Thị Nại và có sông Côn, sông Hà Thanh chảy qua, sở hữu hệ thống giao thông thuận lợi với quốc lộ 1A, QL 19 và đường sắt Bắc - Nam Địa hình huyện được chia thành ba khu vực rõ rệt: các xã phía tây nam như Phước Thành, Phước Mỹ, Phước An có tiềm năng lớn về đất nông nghiệp nhưng chưa được khai thác triệt để; các xã khu đông như Phước Hòa, Phước Thắng, Phước Thuận, Phước Sơn nổi bật với thế mạnh về cây lúa và con tôm, tạo ra tiềm năng kinh tế lớn; và các xã còn lại chuyên canh cây lúa.
3.8.2 Lý do chọn địa điểm thực hiện dự án.
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm ở khu vực miền núi dao động từ 20,1 đến 26,1°C, với mức cao nhất ghi nhận là 31,7°C và thấp nhất là 16,5°C Trong khi đó, tại vùng duyên hải, độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng ở khu vực miền núi là từ 22,5 đến 27,9%, với độ ẩm tương đối dao động từ 79% đến 92% Đối với vùng duyên hải, độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối trung bình là 79%.
Chế độ mưa tại khu vực này diễn ra từ tháng 9 đến tháng 12, với một mùa mưa phụ từ tháng 5 đến tháng 8 ở miền núi do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên Mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8 Tổng lượng mưa trung bình hàng năm ở các huyện miền núi dao động từ 2.000 đến 2.400 mm, trong khi vùng duyên hải có tổng lượng mưa trung bình là 1.751 mm Xu hướng lượng mưa giảm dần từ miền núi xuống duyên hải và từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Cụ thể: Địa điểm tại vị trí 135 Đào Tấn theo bản đồ bên dưới.
Xây dựng trang trại
Các tiêu chuẩn Việt Nam:
Quy chuẩn xây dựng Việt Nam
Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03/04/2008 Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng
TCVN 2737-1995: Tải trọng và tác động- Tiêu chuẩn quốc tế.
TCXD 229-1999: Chỉ dẫn tính toán thành phần động của tải trọng gió theo TCVN 2737-1995.
TCXD 45-1978: Tiêu chuẩn thiết kế nền nhà và công trình.
TCVN 5760-1993: Hệ thống chữa cháy- Yêu cầu chung thiết kê lắp đặt và sử dụng.
TCVN 2622-1995: PCCC cho nhà, công trình yêu cầu thiết kế.
TCVN 62-1995: Hệ thống PCCC chất cháy bột, khí.
TCVN 6160-1996: Yêu cầu chung về thiết kế, lắp đặt, sử dụng hệ thống chữa cháy.
TCVN 4760-1993: Hệ thống PCCC- yêu cầu chung và thiết kế.
TCXD 33-1995: cấp nước- mạng lưới bên ngoài và công trình- Tiêu chuẩn thiết kế.
TCVN 5576-1991: Hệ thống cấp thoát nước- Quy phạm quản lý kỹ thuật.
TCXD 51-1984: Thoát nước- mạng lưới bên trong và ngoài công trình- Tiêu chuẩn thiết kế.
TCVN 4474-1987: Tiêu chuẩn thiết kế hệ thống thoát nước trong nhà.
TCVN 4473-1988: Tiêu chuẩn thiết kế hệ thống cấp nước bên trong.
TCVN 5673-1992: Tiêu chuẩn thiết kế hệ thống cấp thoát nước bên trong.
TCVN 4513-1998: cấp nước trong nhà.
TCVN 6772: tiêu chuẩn chất lượng nước và nước thải sinh hoạt.
TCVN 5502: Đặc điểm kỹ thuật nước sinh hoạt.
TCVN 5687-1992: Tiêu chuẩn thiết kế thông gió- điều tiết không khí- sưởi ấm.
11TCN 21-84: Thiết bị phân phối và trạm biến thế.
TCXD 25-1991: Tiêu chuẩn đặt đường dây dẫn điện trong nhà ở và công trình công cộng.
TCXD 27-1991: Tiêu chuẩn đặt thiết bị trong nhà ở và công trình công cộng.
3.9.2.1 Kết cấu từng hạng mục công trình.
Khu nhà hấp, khử trùng mùn cưa.
Kết cấu khung thép, dàn vì kèo thép lợp mái tôn chống nóng, tường có nhiều cửa sổ và ô thông khí, nền bê tông.
Xây dựng theo tiêu chuẩn nhà ở.
Kết cấu khung thép và dàn vì kèo thép lợp mái tôn chống nóng được thiết kế với hệ thống cửa ra vào và giàn thép cố định Mỗi giàn gồm 5 tầng, cách nhau 50cm, nhằm tối ưu hóa diện tích sử dụng, tương tự như giàn giữ giống khoai tây, trên nền bê tông vững chắc.
Toàn bộ khu nuôi nấm cấn kín gió, ánh sáng nhẹ.
Kết cấu của nhà nuôi nấm bao gồm khung thép, giàn vì kèo gỗ và mái ngói, với nền lát gạch đất nung Thay vì xây tường, nhà được bao quanh bằng bạt, cót hoặc vách lá, sử dụng tre xẻ dọc ghép khít để đảm bảo thông thoáng trong suốt quá trình thực hiện dự án Mỗi nhà nuôi được trang bị các trụ sắt tạo thành đơn vị diện tích treo nấm và lối đi, cùng với giàn thép để buộc dây treo nấm Mỗi mét vuông giàn treo có thể chứa 25 dây nấm, với chiều cao giàn cách mặt sàn 1,8m để thuận tiện cho việc quan sát và chăm sóc nấm.
Để phơi nấm hiệu quả, cần chọn nơi có cường độ chiếu sáng tốt, thông thoáng và không bị bóng râm Chỉ nên đổ bê tông làm sân phơi, vì khi phơi, nấm không nên tiếp xúc trực tiếp với sàn mà phải phơi trên bạt để đảm bảo vệ sinh cho nấm.
Kết cấu khung thép, giàn vì kèo thép lợp tôn chống nóng, nền đổ bê tông.
Kết cấu móng betong cốt thép, mái lợp tôn chống nóng, xây tường xung quanh và chia làm 2 kho:
Kho chứa hàng hóa và sản phẩm hoàn thành: khô thoáng, hệ thống an ninh tốt hơn.
Kho chứa NVL: khô thoáng.
Nhà vệ sinh, chốt bảo vệ.
Bảng 3.5 Bảng chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng. ĐVT: Trđ
STT Hạng mục xây dựng Đơn vị
Khối lượng Giá trị trước thuế Đơn giá Thành tiền
1 Khu nhà hấp, khử trùng mùn cưa m2 15 1.9 28.5
2 Khu phòng cấy, ươm sợi m2 20 1.8 36
7 Nhà vệ sinh+ chốt bảo vệ m2 4 1.5 6
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ sơ đồ mặt bằng và nhà làm việc, lán trại
Đánh giá môi trường
- Công nghệ nuôi trồng sử dụng nguyên liệu là phế phụ phẩm của các ngành nông lâm nghiệp
- Không sử dụng hóa chất.
- Phế thải sau khi nuôi trồng nấm được dùng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ hỗn hợp.
Lịch trình thực hiện dự án
Bảng 3.6 Bảng tiến độ thực hiện.
TT Nội dung công việc
1 Sửa chữa, xây dựng thiết bị nhà xưởng x x
2 Tuyển chọn chuẩn bị giống sản xuất x
4 Chào hàng sản phẩm và khảo sát x
5 Nhận đặt hàng sản phẩm x
Khu nhà hấp, khử trùng mùn cưa 15m 2
Khu phòng cấy, ươm sợi
TỔ CHỨC NHÂN SỰ VÀ TIỀN LƯƠNG CỦA DỰ ÁN
Loại hình tổ chức
Loại hình tổ chức ở đây là doanh nghiệp tư nhân Sử dụng lao động thuê ngoài.
Bảng 4.1 Bảng chi phí nhân công theo tháng. ĐVT: Triệu đồng
STT Nhân viên Số lượng
Tiền lương(Triệu đồng/người/tháng)
Nhiệm vụ Thời gian làm việc
Chịu trách nhiệm về kỹ thuật nuôi trồng và bệnh cho nấm
Hỗ trợ kỹ thuật viên, thực hiện các công việc chính
3 Bảo vệ 1 2.9 An toàn cho khu vực trang trại
4 Quản lý và bán hàng 2 2.5
Bán hàng, tiếp thị, tìm đầu ra cho sản phẩm
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN
Dự tính tổng mức đầu tư
Bảng 5.1: Tổng chi phí đầu tư ban đầu của dự án ĐVT: Triệu đồng
Máy móc thiết bị chính (Đầu tư TSCĐ) 82
Xây dựng cơ bản (Đầu tư TSCĐ) 143
Máu móc thiết bị phụ, công cụ dụng cụ ( Đầu tư TSLĐ) 84.325
Vốn đầu tư tài sản lưu động được thu hồi vào năm cuối dự án được ước tính thu hồi còn 40% giá trị tài sản lưu động ban đầu.
Dự tính chi phí hoạt động thường xuyên
Bảng 5.2: Tổng chi phí hoạt động thường xuyên của dự án ĐVT: Triệu đồng
Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm
5 Chi phí nguyên vật liệu 89.32 93.786 98.4753 103.3990
2 Tổng chi phí hoạt động thường xuyên 385.52 415.30
Các khoản chi phí phát sinh khác, bao gồm phòng chống dịch bệnh cho nấm, phòng chống thiên tai và hỏa hoạn, sẽ được tính vào chi phí khác Mỗi năm, chi phí này được dự trù là 10 triệu đồng.
Khấu hao tài sản cố định
TSCĐ khấu hao theo phương pháp đường thẳng, dự án thanh lý vào đầu năm 6.
Bảng 5.3 Bảng khấu hao tài sản cố định. ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu Giá trị Tuổi thọ KH trong kỳ
Máy móc thiết bị chính 82 10 8.2
Tổng khấu hao hàng năm 22.5
Vòng đời của dự án chỉ kéo dài 5 năm, do đó, giá trị tài sản cố định chưa được khấu hao sẽ được thu hồi vào năm cuối cùng của dự án.
Doanh thu hoạt động thường xuyên
Giá mỗi ký nấm tươi là 20.000 đồng/kg Mỗi năm giá nấm sẽ tăng 5% so với năm trước đó.
Doanh thu ở mức công suất tối đa ở năm đầu tiên: 20,000 x 1.5 x 8000 x
Bảng 5.4 Bảng doanh thu dự kiến ĐVT: Trđ
Năm Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
Thuế
UBND tỉnh Bình Định đã quyết định miễn thuế thu nhập cho các trang trại và hợp tác xã sản xuất nấm tươi, nấm sấy khô Các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và tiêu thụ nấm sẽ được miễn thuế thu nhập trong 2 năm đầu và được giảm 50% thuế trong những năm tiếp theo.
Thuế sử dụng đất nông nghiệp được miễn hoàn toàn trong vòng đời dự án.
Theo Điều 19, Nghị định: 51/1999/NĐ-CP.
Bảng kết quả kinh doanh
Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
Lợi nhuận trước thuế 268.98 323.94 383.12 446.74 515.04 Thuế thu nhập doanh nghiệp
Dòng tiền
Bảng 5.5 Bảng dòng tiền của Dự án. ĐVT: Trđ
Doanh thu hoạt động thường xuyên
Chi phí hoạt động thường xuyên (chưa kể khấu hao)
Với tỷ suất chiết khấu tự cho của dự án là 15% ( lớn hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng hiện nay là 7,2%/năm).
Thu nhập khác đề cập đến khoản thu từ việc bán phân hữu cơ được sản xuất từ phế thải sau khi thu hoạch nấm sò, với mức tăng trưởng hàng năm là 5%.
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ, XÃ HỘI
Đánh giá hiệu quả kinh tế
Vì lãi suất hiện tại không thể được chọn làm r do ảnh hưởng của lạm phát và tình hình kinh tế khó khăn, nên cần chọn một mức lãi suất r% cố định trong thời gian dài, đảm bảo an toàn về mặt tài chính.
Theo tính toán trên bảng excel ta có:
Kết luận: NPV > 0, dự án khả thi
IRR > 15% , dự án khả thi.
Đánh giá hiệu quả xã hội
Trồng nấm là một ngành nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, khác biệt so với nhiều ngành khác Ngành này không gây ô nhiễm môi trường do không tạo ra khói bụi và hạn chế sử dụng máy móc, chủ yếu dựa vào sức lao động của con người.
Thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển:
Địa điểm đầu tư của nhóm là một vùng nông thôn nghèo, do đó, dự án sẽ mang lại lợi ích to lớn cho cộng đồng địa phương.
Dự án sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động địa phương, giúp tận dụng thời gian rảnh rỗi của người lao động nông thôn, từ đó tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho cộng đồng, đặc biệt khi dự án được mở rộng với quy mô lớn.
Tận dụng được nguồn phế thải nông nghiệp, thủ công nghiệp, tạo phụ thu nhập cho người dân.
Tận dụng và nâng cao giá trị đất nghèo ở địa phương.
Làm thay đổi bộ mặt kinh tế của địa phương, tạo đà cho phát triển nghề trồng nấm ở địa phương.
Nâng cấp, tăng cường cho cơ sở hạ tầng ở địa phương.
Tác động đến nền kinh tế:
Làm tăng tiết kiệm, tăng thu ngoại tệ.
Góp phần tạo sự cân bằng về nhu cầu thực phẩm mà cụ thể là nấm.
Đóng góp một phần vào ngân sách nhà nước.
Góp phần làm phong phú cho ngành trồng nấm (khi dự án mở rộng, đa dạng hóa sản phẩm).
Đặc biệt là hạn chế mức xuất khẩu nguyên liệu (mùn cưa, rơm, rạ,…) Và giảm nhập khẩu nấm vào Việt Nam.
Tác động đến các ngành khác:
Ngành dịch vụ, du lịch:
Tham quan trại nấm, học hỏi mô hình.
Ngành trồng trọt: Tận dụng được hỗn hợp sau khi trồng nấm có tác dụng rất tốt để bón cây trồng.
Ngành dược phẩm: Nấm không chỉ là thực phẩm, rau sạch hay thịt sạch, mà còn được coi là dược liệu quý giá Với giá trị dinh dưỡng cao và các hoạt tính sinh học tích cực, nấm thực sự là một loại thực phẩm thuốc hữu ích.
Đánh giá tác động đối với môi trường
Nước ta có ngành công nghiệp phát triển, với cây cao su được trồng chủ yếu ở Tây Nguyên và Đồng Nai, đóng góp quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu cho ngành trồng nấm.
Hỗn hợp trong bịch sau khi trồng nấm không gây ô nhiễm môi trường mà còn được sử dụng làm phân bón hữu ích cho cây trồng Do đó, phế thải từ ngành trồng nấm là rất ít và dễ dàng xử lý Bịch chứa hỗn hợp này cũng được làm sạch để tái sản xuất.
NHỮNG VẤN ĐỀ XẢY RA TRONG QUÁ TRÌNH TRỒNG NẤM SÒ
Nấm chỉ xuất hiện xung quanh khu vực cấy giống
Nguyên nhân có thể là do sợi nấm chưa phát triển sâu vào toàn bộ bao mùn cưa, mà chỉ tập trung quanh miệng lỗ Cần kiểm tra độ sâu của sợi nấm, đảm bảo mùn cưa có đủ độ ẩm và xác định chất lượng giống nấm.
Năng suất thấp do
Sợi nấm phát triển kém.
Các vi sinh vật phá hoại giống nấm trước khi giống phát triển.
Cần phải giữ vệ sinh thật sạch sẽ trong khi tra giống vào lỗ.
Các loại nấm dại phát triển, cạnh tranh dinh dưỡng của sợi nấm thật.
Các loại sâu bệnh xâm nhập vào thân gỗ từ nguồn nước tưới không đảm bảo sạch
Xuất hiện một số loại nấm mốc màu trắng
Màu vàng kèm theo mùi hôi thối xuất hiện do môi trường nuôi trồng quá ẩm thấp và vệ sinh kém, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển mạnh Để khắc phục, cần rửa nền nhà bằng nước vôi đặc và không để nước đọng trong nhà quá lâu.
Xuất hiện các loại nấm lạ
Do các bào tử nấm dại xâm nhập vào lỗ khoan (khi cấy giống).
Côn trùng (kiến, ve, nhện, mối…) phá hoại
Dùng thuốc phun để đuổi diệt chúng Các loại thuốc thông dụng như heptachlore, malathion hoặc sevin… sau khi phun xong để phôi nghỉ 10-15 ngày.
Trồng nấm như thế nào để có năng suất cao
Năng suất nấm lệ thuộc bởi nhiều yếu tố, bao gồm:
Điều kiện nuôi ủ và chăm sóc.
Giống nấm (meo giống)
Muốn nâng năng suất nấm sò, trước tiên phải có nguồn giống cung cấp tin cậy, còn lại là tùy thuộc kỹ thuật người trồng.
Liên quan đến loại mạt cưa và thành phần dinh dưỡng bổ sung, có thể cung cấp ngay từ lúc trộn nguyên liệu hoặc trong giai đoạn phát triển của quả thể Dinh dưỡng có thể là phân bón hóa học, đường ăn, hoặc khoáng chất như Kali, Phosphat, và Magnê Nhiều loại phân bón lá như N-P-K, Komix, Bimix, HVP cũng có thể được sử dụng để tưới bổ sung cho nấm Urê là một lựa chọn tốt nhưng cần ngưng ngay khi có dấu hiệu bệnh, đặc biệt là mốc Quan trọng nhất vẫn là khâu chế biến và ủ nguyên liệu, vì nguyên liệu chuẩn bị tốt sẽ đảm bảo năng suất cao.
7.9 Điều kiện nuôi ủ và chăm sóc.
Để nâng cao năng suất nấm, việc kiểm soát nhiệt độ trong quá trình ủ tơ là rất quan trọng Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp có thể ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả nuôi trồng, đặc biệt khi thiếu oxy, dẫn đến tình trạng tơ bị ngộp và năng suất giảm nhanh Do đó, bịch nuôi ủ cần được để thoáng, với mật độ vừa phải và có cửa sổ để gió lùa vào, giúp giảm nhiệt độ mà không để ánh nắng chiếu trực tiếp Khi tơ đã lan đầy bịch, cần chuyển sang giai đoạn tưới đón nấm, giai đoạn này đòi hỏi giải quyết nhiều vấn đề quan trọng.
- Nên treo bịch hay xếp kệ?
- Rạch bịch như thế nào?
- Lúc nào bắt đầu tưới và tưới ra sao
- Nấm như thế nào thì thu hái được?
7.10 Những nguyên nhân thất bại khi trồng nấm sò.
Nấm sò, giống như các lĩnh vực nông nghiệp khác như chăn nuôi và trồng trọt, có thể dẫn đến thất bại nếu không có kiến thức và sự chuẩn bị đầy đủ.
Nguyên nhân thất bại có thể do các lý do sau.
- Giống thoái hoá, nhiễm tạp, tai nấm nhỏ, năng suất kém Do đó, tốt nhất nên chọn nơi có nguồn giống tin cậy để mua.
Nguyên liệu khử trùng kém, điều kiện ủ không đảm bảo vệ sinh, và việc cấy giống vào bịch khi còn nóng có thể dẫn đến tỷ lệ hư hỏng cao.
Trong giai đoạn ủ tơ, việc để bịch phôi chồng lên nhau hoặc ở nơi không thông thoáng có thể dẫn đến tình trạng bí hơi, làm nhiệt độ tăng cao và gây ra hiện tượng tơ đổ mồ hôi, tiết nước vàng Ngoài ra, đường rạch trên bịch quá dài và việc tưới nước với giọt lớn cũng là nguyên nhân làm giảm năng suất nấm và rút ngắn tuổi thọ của bịch.
Dịch bệnh có thể gây thất thu trong quá trình trồng trọt Nếu cây trồng được treo ở nơi nóng và khô, cùng với việc tưới nước chậm, sẽ dễ dẫn đến sự phát sinh của bệnh trứng (nhện mạt hay mites) Ngoài ra, việc không vệ sinh nhà trồng hoặc ủ, hoặc đặt gần trại gà, trại heo cũng có thể tạo điều kiện cho dịch bệnh phát sinh và lây lan.
Trồng nấm là một hoạt động nông nghiệp tương đối nhàn hạ hơn so với chăn nuôi và trồng trọt, tuy nhiên, để đạt được kết quả tốt nhất, người trồng cần có những kiến thức nhất định.
Dự án này có tính khả thi cao nhờ vào việc phân tích hiệu quả kinh tế và xã hội, đồng thời hứa hẹn mang lại công việc và thu nhập ổn định cho người lao động.
Trong quá trình làm bài không tránh khỏi sai sót Mong cô góp ý và bổ sung để bài làm của nhóm được hoàn thiện hơn Cám ơn cô!!!
Cám ơn các bạn trong nhóm đã tham gia và thực hiện tốt dự án này.
NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ
Quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước Số: 51/1999/
Ngành, nghề thuộc các lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư
Khai thác và tận dụng đất trống cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp là một chiến lược quan trọng Theo Điều 19, các dự án thuộc Mục I Danh mục A sẽ được miễn thuế sử dụng đất trong suốt thời gian thực hiện Điều 21 quy định về thời hạn miễn và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực này.
Dự án đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 15 Nghị định này sẽ được miễn thuế trong hai năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp cho hai năm tiếp theo.
(Điều 15 Điều kiện ưu đãi đầu tư
Dự án đầu tư đáp ứng một trong các điều kiện sau đây được ưu đãi đầu tư:
1.Đầu tư vào các ngành, nghề quy định tại Danh mục A phụ lục ban hành kèm theoNghị định này.)