LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Trong triết học, con người là một đề tài lớn, nghiên cứu vấn đề con người có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của thế giới, là vấn đề được các nhà triết gia của mọi thời đại bao gồm cả phương Đông và phương Tây quan tâm nghiên cứu. Trong các hệ thống tư tưởng đó, vấn đề con người trong triết học Mác – Lê nin được nghiên cứu và trình bày một cách bao quát, đặc sắc và mang tính khoa học nhất. Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã kết luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà con người còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của sự tiến bộ xã hội. Đặc biệt khi xã hội loài người ngày càng phát triển và đạt đến trình độ văn minh cao cấp như hiện nay. Đối với một quốc gia bất kỳ, trong các điều kiện và nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội. Nhân tố con người (nguồn nhân lực) luôn giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển đó. Nguồn nhân lực có dồi dào, có đủ mạnh về tri thức… để thúc đẩy sự phát triển hay không? Trên thế giới, các quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước Tây Âu… Đều là những quốc gia có nhân tố con người có trình độ tri thức rất cao để đáp ứng nhu cầu phát triển công ngiệp và hiện đại hóa đất nước. Với các quốc gia chậm phát triển và đang phát triển thì nhân tố con người càng có vai trò quan trong hơn nữa trên tiến trình CNH – HĐH đất nước. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và đang thực hiện mạnh mẽ quá trình CNH và HĐH đất nước. Với đà phát triển như vậy thì việc chú trọng nghiên cứu nhân tố con người là một yêu cầu và nhiệm vụ cấp bách mà Đảng và Nhà nước ta phải thực hiện. Con người Việt Nam với rất nhiều tố chất và năng lực tốt đẹp đã được chứng minh trong lịch sử dân tộc và cho đến ngày nay. Với những lý luận về vấn đề con người được trình bày khoa học trong triết học Mác – Lê nin và được đúc kết sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề đặt ra là phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện nay. 2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của tiểu luận Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận: quan điểm của Triết học Mác – Lê nin về con người và con người trong sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam hiện nay Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu quan điểm các nhà kinh điển Mác – Lênin về con người và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản về con người và phát triển con người 3. Mục tiêu, nhiệm vụ của tiểu luận Mục tiêu của tiểu luận là làm rõ quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người và vấn đề con người trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với mục tiêu đó, tiểu luận phải thực hiện các nhiệm vụ sau: Trình bày quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người Trình bày quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam Ý nghĩa đối với sinh viên 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó tác giả cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: Phương pháp phân tích; Phương pháp tổng hợp; Phương pháp so sánh; Phương pháp thống kê... 5. Kết cấu của tiểu luận Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết.
KHÁI QUÁT QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜ I
QUAN ĐIỂ M C Ủ A TRI Ế T H Ọ C MÁC - LÊNIN V Ề CON NGƯỜ I VÀ B Ả N CHẤT CON NGƯỜI
1.1.1 Nguồn gốc của con người
Theo C Mác, con người là sinh vật xã hội có trình độ phát triển cao nhất của giới tự nhiên và lịch sử, là chủ thể sáng tạo ra tất cả các thành tựu của văn minh và văn hóa Trong quan hệ sinh học, con người là thực thể sinh vật, sản phẩm của giới tự nhiên, và là động vật xã hội, điều này chứng tỏ con người sinh ra từ tự nhiên và tuân theo các quy luật tự nhiên Bản thân sự kiện con người xuất phát từ giới động vật đã quyết định rằng con người không bao giờ hoàn toàn thoát khỏi những đặc tính vốn có của con vật.
1.1.2 Bản chất của con người
1.1.2.1 Con người là thực thể sinh học - xã hội
Con người cần tìm kiếm thức ăn và nước uống để sinh tồn, nhưng bản tính con người không chỉ giới hạn ở sự đấu tranh sinh tồn thể xác Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, con người là một thực thể xã hội nhận thức rõ rằng sinh học và xã hội không thể tách rời, mà chúng cùng tương tác quyết định bản chất toàn diện của con người.
Con người là một bộ phận của giới tự nhiên và cũng là "thân thể vô cơ" của chính mình Để tồn tại, con người cần có cơ thể sống, vốn là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên Chính vì vậy, con người phải đối mặt với các quy luật sinh tồn và chịu sự chi phối của tự nhiên Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn giữa con người và các loài vật tự nhiên chính là khả năng tư duy, sáng tạo và kiểm soát môi trường sống của mình.
1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.20, tr.146
L08-NHÓM 8 10 khác dựa vào đặc điểm con người có thể biến đổi tự nhiên và chính bản thân mình dựa trên các quy luật khách quan
Con người là một thực thể xã hội với các hoạt động xã hội đa dạng, trong đó hoạt động lao động sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất Nhờ lao động, con người vượt qua giới hạn của loài động vật, tiến hóa và phát triển thành chủ thể sáng tạo, cải tạo tự nhiên để thỏa mãn nhu cầu và nâng cao chất lượng cuộc sống Lao động không chỉ giúp con người trở thành thực thể xã hội mà còn là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của con người, biến họ thành các chủ thể có lý tính và “bản năng xã hội” Chính nhờ hoạt động lao động, con người đã cải tạo bản năng sinh học, giúp phát triển năng lực và đặc trưng nhân loại Do đó, có thể khẳng định rằng lao động là điều kiện thiết yếu, then chốt trong quá trình hình thành và tiến bộ của con người.
Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố tự nhiên và xã hội, trong đó hai mặt này vừa đối lập nhau vừa có mối quan hệ bổ sung, quyết định sự hình thành và phát triển của con người Mặt tự nhiên đóng vai trò quyết định sự tồn tại của con người, trong khi mặt xã hội quyết định bản chất và đặc điểm riêng biệt của con người trong xã hội Sự tương tác giữa tự nhiên và xã hội là nền tảng quan trọng để hiểu rõ về bản chất và sự phát triển của con người trong cuộc sống hàng ngày.
1.1.2.2 Con người khác biệt với con vật ngay từkhi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình
Con người bắt đầu phân biệt mình với động vật từ khi bắt đầu sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt, đánh dấu bước tiến do tổ chức cơ thể quy định Việc sản xuất ra những tư liệu này không chỉ phù vụ nhu cầu sống mà còn gián tiếp hình thành chính đời sống vật chất của con người.
Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người và xã hội loài vật nằm ở khả năng sản xuất của con người, trong khi các loài vật chỉ hái lượm Chính sự sáng tạo và năng lực sản xuất này tạo ra sự phát triển vượt bậc của xã hội loài người Điều này làm nổi bật vai trò của trí tuệ và khả năng tư duy trong việc xây dựng nền văn minh và tiến bộ xã hội Không có sự sản xuất, xã hội loài người sẽ không thể tiến hành các hoạt động phức tạp như hiện nay.
2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.29
L08-NHÓM 8 11 theo những điều kiện tương ứng - các quy luật của các xã hội loài vật sang xã hội loài người” 3
Theo triết học Mác - Lênin, sự khác biệt cơ bản giữa con người và các loài động vật khác xuất phát từ nền tảng của sản xuất vật chất Lao động, quá trình sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, không chỉ tạo ra của cải mà còn định hình và phát triển con người cũng như xã hội Ph Ăngghen nhấn mạnh rằng, khả năng lao động và sản xuất của con người là nét đặc trưng quyết định, chi phối các đặc điểm khác của con người so với động vật Quan niệm này thể hiện tính duy vật lý luận của triết học Mác - Lênin về nguồn gốc và bản chất của nhân loại.
Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người 4
1.1.2.3 Con người là sản phẩm của lịch sử và của chính bản thân con người
Con người là sản phẩm của lịch sử và quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên, không phải do ý muốn cá nhân mà dựa trên những điều kiện đã được định hình bởi quá khứ Trong đó, con người vừa là kết quả của sự phát triển tự nhiên, vừa là sản phẩm của lịch sử xã hội và bản thân của chính họ Theo chủ nghĩa Mác, các con người hiện thực đang hoạt động, lao động sản xuất và tạo dựng lịch sử của chính mình chính là tiền đề của lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đặc biệt, khác với các động vật khác, con người không thụ động trước lịch sử mà còn là chủ thể chủ động của quá trình phát triển lịch sử.
3 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.34, tr.241
4 Xem C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.20, tr.641-823
1.1.2.4 Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử
Lịch sử là quá trình đan xen, nối tiếp của các sự kiện với những bảo tồn và biến đổi qua thời gian Nó phản ánh hoạt động có ý thức của con người trong việc xây dựng và phát triển xã hội Con người bước vào lịch sử khi biết chế tạo công cụ lao động, từ đó tự thoát khỏi sự phụ thuộc vào tự nhiên và tách mình khỏi thế giới động vật để chuyển sang thế giới loài người.
Con người tồn tại và phát triển trong một hệ thống môi trường xác định, bao gồm các điều kiện tự nhiên và xã hội không thể thiếu để đảm bảo sự sống và tiến bộ của xã hội Con người là một phần của giới tự nhiên, phụ thuộc vào các nguồn lực tự nhiên để duy trì cuộc sống và phải tuân theo các quy luật, quy trình tự nhiên như cơ học, vật lý, hóa học, sinh học và tâm sinh lý Để tồn tại và phát triển, con người cần lao động, tạo ra của cải vật chất, đó là bản chất đặc trưng của hoạt động sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu và cải thiện đời sống Hoạt động lao động không chỉ là điều kiện sống mà còn là phương thức biến đổi xã hội và tạo dựng giá trị vật chất, tinh thần Nhờ đó, con người trở thành chủ thể sáng tạo các giá trị xã hội và là động lực thúc đẩy các cuộc cách mạng xã hội, góp phần vào sự tiến bộ của nhân loại.
1.1.2.5 Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội
Con người vượt trội so với thế giới loài vật ở nhiều khía cạnh khác nhau như quan hệ với tự nhiên, xã hội và chính bản thân Trong đó, quan hệ xã hội giữa con người với nhau là yếu tố nền tảng và bao trùm tất cả các mối quan hệ khác Chính nhờ các mối quan hệ xã hội này, con người có khả năng xây dựng xã hội, phát triển văn hóa và nâng cao cuộc sống Vì vậy, việc hiểu rõ và phát huy mối quan hệ xã hội là yếu tố then chốt để con người phát triển toàn diện và bền vững.
C.Mác khẳng định rằng bản chất con người không phải là một khái niệm trừu tượng của cá nhân riêng biệt, mà là tổng hòa các quan hệ xã hội trong thực tế Ông nhấn mạnh rằng, để hiểu đúng về bản chất con người, cần xem xét nó trong tính hiện thực của các yếu tố cấu thành, không thể tách rời khỏi điều kiện lịch sử và xã hội cụ thể Con người luôn sống trong các mối quan hệ xã hội xác định, qua đó mới thể hiện và phát triển bản chất thực sự của mình Các quan hệ xã hội hình thành và chi phối các khía cạnh khác của đời sống, khiến con người không còn là sinh vật thuần túy mà trở thành sinh vật xã hội, bởi vì bản chất xã hội của con người đã được định hình từ chính các mối quan hệ này Như vậy, bản chất con người đích thực không tách rời khỏi môi trường xã hội và các điều kiện sinh thái, trong đó yếu tố sinh vật luôn đóng vai trò tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của thực thể xã hội.
1.1.3 Vị trí, vai trò của con người Ở quá khứ, con người đã bắt đầu thể hiện vai trò quan trọng của mình trong lịch sử xã hội nhưng vẫn còn phụ thuộc nhiều vào tác động và quy luật tự nhiên Cho đến ngày nay, con người khẳng định vai trò của mình một cách rõ rệt Những tác động của tự nhiên đến thì đều được con người giảm tới mức thấp nhất, con người hầu như độc lập với thiên nhiên Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì tương lai với sựra đời của robot, vai trò quan trọng của con người trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội có thể bị lung lay vì có khảnăng con người bị thay thế hoàn toàn bởi robot
Con người là chủ thể quyết định lịch sử xã hội, bởi vì cuộc sống dựa trên nguyên tắc chúng ta làm gì thì phải chịu trách nhiệm đó Để duy trì vị trí của con người trong lịch sử xã hội, cần có những biện pháp hợp lý và đúng đắn Tuy nhiên, nếu chính bản thân lạm dụng quá mức, chúng ta sẽ phải chịu hậu quả nghiêm trọng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chính chúng ta và xã hội.
5 C.Mác và Ph.Angghen (1995) Toàn t ậ p, t.3, Nxb Chính tr ị Qu ố c gia, Hà N ộ i,tr.11
6 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.200
Vậy nên chúng ta phải biết can thiệp kịp thời để không ảnh hưởng đến sựbước tiếp của loài người.
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ HIỆN TƯỢNG THA HÓA
1.2.1 Hiện tượng tha hóa con người a Khái niệm
Hêghen giải thích sự tha hoá theo kiểu duy tâm, cho rằng đó là sự "tha hoá của ý niệm tuyệt đối" trong giới tự nhiên và con người, thể hiện qua quá trình chuyển hóa cùng bản chất trong các giai đoạn phát triển Trong khi đó, Phoiơbắc xem tha hoá là sự tha hoá của bản chất con người vào Thượng đế C.Mác không coi tha hoá là hiện tượng chung chung, trừu tượng, mà xuất phát từ các con người cụ thể trong các quan hệ xã hội và điều kiện lịch sử của một thời đại nhất định Theo Mác, tha hoá xuất phát từ sự phụ thuộc của tư bản vào lao động, nơi các sản phẩm và thuộc tính của con người trở thành độc lập, chi phối con người và biến thành những lực lượng chống lại chính họ Thấp hơn nữa, tha hoá còn là hiện tượng các quan hệ xã hội trở thành cái gì khác với bản chất ban đầu, trở thành mục đích và lực lượng chi phối con người Tóm lại, tha hoá là quá trình con người mất đi những năng lực bản chất của chính mình, biến thành một thực thể khác, và chủ yếu diễn ra qua hoạt động lao động bị tha hoá, khi mà hoạt động và sản phẩm của con người trở thành lực lượng đối lập, chống lại và kiểm soát chính con người.
Theo C.Mác, hiện tượng tha hóa con người là một thực thể có thật và phản ánh sâu sắc thực trạng xã hội hiện nay Hiện tượng này xuất phát từ cơ sở kinh tế và các mối quan hệ xã hội, dẫn đến con người mất đi giá trị nhân bản, trở thành công cụ trong hệ thống tư bản Tha hóa con người thể hiện rõ nét qua các hoạt động lao động, các mối quan hệ xã hội và cảm xúc cá nhân bị bóp méo, biến dạng Hiểu rõ về bản chất của tha hóa theo Marx giúp nhận diện các nguyên nhân và tìm kiếm giải pháp khắc phục hiệu quả trong xã hội hiện nay.
Lao động bị tha hóa là một hiện tượng kinh tế đặc trưng của xã hội có phân chia giai cấp, nơi quá trình lao động và sản phẩm của lao động không còn phục vụ con người để phát triển mà trở thành lực lượng đối lập, nô dịch và thống trị con người Nguyên nhân chính của hiện tượng này xuất phát từ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, đặc biệt rõ nét trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nơi phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, gây ra tình trạng một số ít người trở thành tư sản sở hữu toàn bộ tài sản và đa số người lao động rơi vào tình trạng vô sản Hiện tượng tha hóa của con người là một quá trình lịch sử đặc thù chỉ diễn ra trong xã hội có giai cấp và góp phần phản ánh sự bất công và bất bình đẳng của hệ thống kinh tế đó.
Người vô sản buộc phải làm thuê cho các nhà tư sản, dẫn đến việc bị bóc lột và sự tha hóa lao động bắt nguồn từ đó Lao động bị tha hóa chính là nội dung cốt lõi, là nguyên nhân và thực chất của quá trình tha hóa của con người trong bối cảnh này.
Tha hóa lao động là hiện tượng xuất hiện từ lâu trước khi có chủ nghĩa tư bản
Nó là hiện tượng gắn liền với các xã hội nơi con người tạo ra các điều kiện sống chính của xã hội nhưng lại được hưởng rất ít từ chính những điều kiện đó Theo C.Mác, chỉ đến chủ nghĩa tư bản, hiện tượng tha hóa lao động mới trở nên phổ biến, rõ ràng và biểu hiện một cách đầy đủ nhất C.Mác nhấn mạnh rằng trong mâu thuẫn này, lĩnh vực kinh tế chính trị phản ánh rõ bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là của lao động làm thuê, bị tha hóa khỏi bản thân, và sản phẩm của lao động lại đối lập với người lao động Ngoài ra, trong chủ nghĩa tư bản, không chỉ sản phẩm lao động bị tha hóa là tất yếu mà cả hành vi lao động cũng vậy, với mối quan hệ nhân quả rõ ràng giữa tha hóa hình thái lao động và tha hóa sản phẩm lao động; tha hóa hình thái lao động là nguyên nhân, còn tha hóa sản phẩm là hệ quả tất yếu của nó.
Lao động tha hóa khiến con người bị mất đi bản chất vốn có, trở nên xa lạ với chính mình và người khác trong cộng đồng Khi lao động bị cưỡng bức và ép buộc bởi điều kiện xã hội, con người không còn thực hiện hoạt động sáng tạo, phát triển phẩm chất của mình mà chỉ nhằm duy trì sự tồn tại thể xác, biến hoạt động của con người trở thành hoạt động mang tính bản năng, giống như của động vật Điều này thể hiện rõ ràng sự tha hóa của con người, khi họ chỉ làm việc để đảm bảo sự sống mà không còn khả năng phát triển nhân cách, sáng tạo hay thỏa mãn lý tưởng cao đẹp của con người Chính vì vậy, sự khác biệt giữa hoạt động lao động tự do và tự nguyện với hoạt động cưỡng bức là biểu hiện rõ nét nhất của sự tha hóa con người trong xã hội.
Lao động bị tha hóa khiến con người trở nên què quặt, phiến diện và thiếu khuyết trên nhiều phương diện Quá trình này dẫn đến sự phát triển không toàn diện, hạn chế khả năng phát huy sức mạnh bản chất của con người Tha hóa trong lao động làm giảm khả năng hoàn thiện nhân cách, gây ra những tổn thương về tinh thần và thể chất, làm suy yếu năng lực sáng tạo và khả năng thích nghi của mỗi cá nhân trong xã hội.
Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tập trung các tư liệu sản xuất vào tay của một số nhà tư bản, dẫn đến quá trình người lao động cưỡng bức tự nguyện bán sức lao động để tồn tại Quá trình bóc lột và tha hóa trong lao động đã làm biến đổi bản chất xã hội của con người, khiến họ mất dần khả năng hoạt động như một thành viên của cộng đồng loài người Khi con người trở nên cá nhân hóa, tính loài và tính người dần bị tiêu biến, đặt ra yêu cầu cấp thiết về vấn đề giải phóng con người khỏi sự áp chế của chế độ tư bản.
1.2.2 Vấn đề giải phóng con người
1.2.2.1 “Vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi ách bóc lột, ách áp bức”
Giải phóng con người là mục tiêu cốt lõi của chủ nghĩa duy vật trong triết học Mác – Lênin, nhằm xóa bỏ sự bóc lột, sự tha hóa và giải phóng xã hội Xây dựng quan niệm duy vật về con người giúp làm rõ bản chất sinh học – xã hội, vị trí và vai trò của con người trong lịch sử nhân loại Mục đích không chỉ là xây dựng lý luận về con người mà còn nhằm thúc đẩy sự tự do và phát triển bản tính chân chính của con người Đấu tranh giai cấp để thay thế chế độ sở hữu tư nhân và phương thức sản xuất tư bản là yếu tố then chốt trong tiến trình giải phóng con người về mặt chính trị Đồng thời, quá trình này còn tập trung khắc phục sự tha hóa của con người và lao động, biến lao động sáng tạo thành chức năng thực sự của con người, góp phần thúc đẩy sự tự do và phát triển toàn diện của xã hội.
Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, việc giải phóng con người là mục tiêu hướng tới giải phóng giai cấp, dân tộc và toàn thể nhân loại, đảm bảo phát triển toàn diện về mọi mặt của con người, cộng đồng và xã hội Trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản, con người vẫn chưa thực sự được giải phóng về chính trị, kinh tế và văn hóa do tư liệu sản xuất còn thuộc sở hữu của giai cấp tư sản Vì vậy, để thực hiện giải phóng thực sự, cần xóa bỏ chế độ tư hữu tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, qua đó phá vỡ sự thống trị của giai cấp tư sản và loại bỏ điều kiện bị áp bức của con người C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng, việc giải phóng phải diễn ra trong thế giới hiện thực và bằng những phương tiện hiện thực, nhằm khắc phục sự tha hóa của con người do phân công lao động xã hội và chế độ sở hữu tư nhân gây ra.
Quá trình giải phóng con người chính là phần của đấu tranh giai cấp nhằm khắc phục sự tha hóa về mặt xã hội và loại bỏ chế độ áp bức, bóc lột Giai cấp vô sản, những người không sở hữu tư liệu sản xuất và phải bán sức lao động cho tư bản, đứng lên đấu tranh để xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xây dựng chế độ công hữu Mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội của giai cấp vô sản là thiết lập một nền chuyên chính vô sản nhằm đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân lao động C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng giai cấp công nhân chỉ có thể tự giải phóng chính mình bằng việc giải phóng toàn bộ xã hội, qua đó thể hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản trong việc xây dựng một xã hội công bằng, xã hội chủ nghĩa.
1.2.2.2 “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”
Theo Karl Marx, con người không phải là sinh vật trừu tượng ẩn náu ngoài thế giới mà chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội Ông nhấn mạnh rằng con người là thể thống nhất hoàn chỉnh, gồm cả yếu tố sinh học và xã hội, hình thành từ hai mặt tự nhiên và xã hội, chúng thống nhất trong bản chất con người Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội vô cùng quan trọng, khi xã hội sản xuất ra con người như thế nào thì cũng đồng thời sản xuất ra xã hội đó; sự tự do của cá nhân thể hiện trình độ giải phóng xã hội, là động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội Con người tự giải phóng chính mình để thúc đẩy sự phát triển của xã hội, và sự thống nhất giữa cá nhân, giai cấp, dân tộc cùng nhân loại phản ánh bản chất của con người trong tổng thể các mối quan hệ xã hội.
Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự phát triển tự do của toàn bộ xã hội Để đạt được tự do cá nhân, con người cần thoát khỏi sự tha hóa và nô dịch do chế độ tư hữu các tư liệu sản xuất gây ra Việc xóa bỏ khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, cũng như giữa lao động trí óc và chân tay, là yếu tố quan trọng nhằm xây dựng một xã hội công bằng và tự do hơn.
L08-NHÓM 8 19 lao động chân tay không còn, khi con người không còn bị trói buộc bởi sự phân công lao động xã hội
Quan niệm của C.Mác về phát triển tự do xã hội nhấn mạnh rằng sự phát triển tự do của con người là tiêu chí chính để đánh giá sự tiến bộ của xã hội Trong bối cảnh toàn cầu đầy biến động, tính đa dạng trong các hình thức phát triển xã hội ngày càng thể hiện rõ nét trong cộng đồng quốc tế Dù các quốc gia hay khu vực theo những hướng phát triển khác nhau, tất cả đều phải hướng tới giá trị nhân văn cốt lõi, đó là sự phát triển toàn diện của con người.
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI, VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN VÀ LÃNH TỤ TRONG LỊCH SỬ
NHÂN VÀ XÃ HỘI, VỀ VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN VÀ LÃNH
1.3.1 Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
1.3.1.1 Khái niệm cá nhân và xã hội a Khái niệm cá nhân
Triết học Mác - Lênin nhấn mạnh rằng con người là sự thống nhất biện chứng giữa mặt sinh vật và mặt xã hội, trong đó mặt sinh vật chỉ là tiền đề vật chất tự nhiên, còn mặt xã hội quyết định bản chất con người C.Mác khẳng định rằng “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội,” thể hiện rõ rằng bản chất xã hội không chung chung mà biểu hiện cụ thể trong mỗi cá nhân Chính vì vậy, con người tồn tại và phát triển thông qua các cá nhân riêng biệt, phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa cá nhân và xã hội.
Cá nhân là một con người cụ thể mang nhân cách, vừa mang tính cá biệt vừa mang tính phổ biến, là chủ thể của lao động, quan hệ xã hội và nhận thức Khái niệm cá nhân xác định điều kiện đầu tiên để nghiên cứu về con người, đồng thời phản ánh khả năng cụ thể hóa đặc điểm về chất của con người thông qua các khái niệm nhân cách và cá tính.
Xét về mặt xã hội, cá nhân là một thực thể xã hội được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử, đóng vai trò là chủ thể của lao động và các quan hệ xã hội Cá nhân còn là chủ thể của nhận thức, thể hiện sự hoàn chỉnh trong sự thống nhất của con người.
L08-NHÓM 8 20 nhấn mạnh về những khả năng riêng có của mỗi cá nhân phù hợp với chức năng xã hội mà họ đảm nhận Trong mối quan hệ với xã hội, mỗi người thể hiện như một chỉnh thể độc đáo, có vai trò chủ thể trong quá trình lịch sử Việc phát huy khả năng cá nhân góp phần xây dựng và phát triển cộng đồng một cách hiệu quả và bền vững.
Ngoài những đặc điểm chung của con người, mỗi cá nhân đều có sự khác biệt đáng kể, đặc biệt qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Sự đa dạng đó bắt nguồn chính từ phương thức sinh sống của từng cá nhân, theo quan điểm của Karl Marx Ông nhấn mạnh rằng phương thức sản xuất chính là hoạt động chủ đạo của cá nhân, phản ánh cách họ sinh sống và làm việc Do đó, hình thái, hành vi và đặc điểm của cá nhân phù hợp và phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện vật chất của hệ thống sản xuất mà họ tham gia Chính những điều kiện vật chất ấy quyết định cách họ hoạt động và, từ đó, hình thành nên những đặc điểm riêng biệt của từng cá nhân qua các thời đại lịch sử.
Mỗi người là một thực thể sinh học mang đặc điểm chung của loài "người" nhưng lại có cấu tạo cơ thể và đặc điểm riêng biệt Những khác biệt này chủ yếu do yếu tố di truyền, với từng cá thể sở hữu bộ "gien" riêng quyết định hình dạng, thể chất, kiểu thần kinh và mức độ nhạy cảm với môi trường Ngoài ra, sự đa dạng giữa các cá nhân còn bị ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế gia đình, môi trường giáo dục, kỹ năng giao tiếp và khả năng tham gia các hoạt động xã hội.
Mỗi cá nhân góp phần vào quá trình sáng tạo lịch sử của cộng đồng dựa trên vị trí, chức năng, vai trò và năng lực sáng tạo của mình Dù mức độ và phạm vi khác nhau, mỗi người đều để lại dấu ấn riêng trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc.
Mỗi cá nhân với tư cách là một thực thể có tâm lý, ý thức đều sở hữu một bản sắc độc đáo phản ánh qua nhân cách riêng biệt Bản sắc này thể hiện rõ nét trong nhận thức và hành xử của mỗi người, góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú của xã hội Khái niệm xã hội giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, đồng thời nhấn mạnh vai trò của từng cá nhân trong việc xây dựng và phát triển xã hội.
Khái niệm “xã hội” được hiểu theo các bình diện rộng và hẹp khác nhau Trong bình diện rộng nhất, xã hội là thuật ngữ để chỉ cộng đồng nhân loại toàn cầu, phân biệt rõ ràng với giới tự nhiên Trong khi đó, trên bình diện hẹp hơn, xã hội đề cập đến một cộng đồng dân cư sinh sống ổn định trong cùng một phạm vi lãnh thổ, có những đặc điểm chung về văn hóa, lối sống và các mối quan hệ xã hội.
L08-NHÓM 8 21 chính trị, kinh tế, văn hóa, ví dụ như là xã hội Việt Nam, xã hội Trung Quốc, xã hội Anh, xã hội Mỹ, v.v…
Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, xã hội là một bộ phận của tự nhiên và phản ánh trình độ phát triển cao nhất của thế giới vật chất Sự xuất hiện của xã hội loài người trên trái đất là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên Xã hội phân biệt với tự nhiên nhờ hoạt động có ý thức của con người và sự hình thành các mối quan hệ xã hội, chuyển đổi từ cộng đồng mang tính bầy đàn sang một xã hội mới về chất Quá trình này thể hiện sự chuyển biến từ vận động sinh học sang vận động xã hội, phản ánh sự phát triển của các quan hệ giữa người với người trong xã hội.
Xã hội là hình thức vận động cao nhất của vật chất, dựa trên mối quan hệ giữa con người và sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân, tạo thành nền tảng của các cấu trúc xã hội Theo Karl Marx, xã hội không ngừng phát triển thông qua các mâu thuẫn và xung đột giữa các giai cấp, phản ánh quá trình vận động của vật chất và lịch sử nhân loại Vì vậy, hiểu rõ về các mối quan hệ xã hội và tác động qua lại này rất quan trọng để phân tích sự phát triển của xã hội hiện đại.
Xã hội không chỉ là tập hợp các cá nhân riêng lẻ mà là tổng thể các mối liên hệ và quan hệ giữa các cá nhân với nhau Theo thư của Mác gửi Annencôp ngày 28-12, xã hội thể hiện qua các liên kết xã hội và cách các cá nhân tương tác, tạo thành một hệ thống phức hợp và động Hiểu rõ bản chất của xã hội giúp nhận biết cách các mối quan hệ xã hội ảnh hưởng đến hành vi và xu hướng chung của cộng đồng.
Xã hội là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa con người, bất kể hình thức nào Các hoạt động xã hội bao gồm lao động sản xuất, tái sản xuất xã hội, quản lý xã hội và giao tiếp, tạo nên sự hình thành và phát triển của xã hội Ngoài ra, an ninh môi trường đối ngoại liên quan đến các mối quan hệ giữa các cộng đồng khác nhau, góp phần duy trì hòa bình và ổn định trong xã hội.
1.3.1.2 Mối quan hệ cá nhân và xã hội
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, trong bất cứ giai đoạn nào, các mối quan hệ cá nhân và xã hội luôn gắn bó chặt chẽ và không thể tách rời, phản ánh sự phát triển liên tục của xã hội Quan hệ cá nhân – xã hội luôn vận động, đổi thay để phù hợp với sự biến đổi của các hình thái kinh tế - xã hội qua các thời kỳ Sự thay đổi trong các hình thái kinh tế - xã hội thể hiện rõ nét qua sự chuyển đổi của các cấu trúc xã hội, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của nhân loại.
C.Mác viết “Trong tỉnh hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội" Điều đó cũng có nghĩa, trong sự tác qua lại giữa người với người sẽ tạo ra một hệ thống các mối giao lưu và quan hệ xã hội Hệ thống quan hệ xã hội đó quy định cuộc sống đối với từng cá nhân Trong toàn bộ quan hệ xã hội, quan hệ giữa người với người trong sản xuất là quan hệ quyết định xét đến cùng Do đó, phương thức sinh sống và hoạt động của cá nhân sẽ hình thành lối sống của họ, mà lối sống đó phụ thuộc vào phương thức sản xuất của xã hội Trong “Hệ tư tưởng Đức", C.Mác vạch ra rằng