Cùng với việc ra đời tổng đài điện báo điện tử Telex Alpha, Trạm vệtinh mặt đất Intelsat, tổng đài điện tử E10B và mạng thông tin viba số, Hà Nội đã thực hiện chiến lược tự động hoá, s
Trang 1Mục lục
Chương 1: Tổng quan về Viễn thông Hà Nội
1.1.Giới thiệu về Viễn thông Hà Nội
1.1.1.Lịch sử phát triển
1.1.2.Cơ cấu tổ chức
1.1.3 Nghành nghề kinh doanh
1.2 Giới thiệu về Công ty Điện thoại Hà Nội 1
1.2.1.Tổng quan về công ty Điện thoại Hà Nội 1
1.2.2 Cơ cấu tổ chức
1.2.3.Chức năng – Nhiệm vụ
1.2.4.Thành tựu – sản phẩm của công ty
1.2.4.1.Dịch vụ Điện thoại truyền thống 1.2.4.2.Dịch vụ Điện thoại dùng thẻ
1.2.4.3.Dịch vụ Đường dây thuê bao số đa dịch vụ ISDN
1.2.4.4.Dịch vụ Đường dây số không đối xứng ADSL (AsymmetricDigital Subscriber Line)
1.2.5.Giới thiệu về Đài Ứng dụng Tin học – Cơ sở thực tập
1.3.Định hướng đề tài
1.3.1.Tình hình tin học hóa của Công ty điện thoại Hà Nội 1
1.3.2.Tình hình quản lý nhân sự công ty và đưa ra đề tài
Chương 2: Một số vấn đề phương pháp luận và công cụ cần thiết để xây dựng phần mềm quản lý nhân sự tại Công ty Điện thoại Hà Nội 1
2.1 Cơ sở phương pháp luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản về phần mềm
2.1.1.1.Khái niệm phần mềm
2.1.1.2.Vòng đời phát triển của phần mềm
Trang 22.1.2.Nền tảng thiết kế phần mềm trong sản xuất phần mềm
2.1.2.1.Thiết kế phần mềm
2.1.2.2.Vai trò của thiết kế phần
2.1.2.3.Tiến trình thiết kế
2.1.2.4.Phương pháp thiết kế
- Khái niệm Module hoá
- Phương pháp thiết kế Top Down
- Phương pháp thiết kế Bottom Up
2.1.3.Các quy trình của công nghệ phần mềm áp dụng vào để xây dựngphần mềm quản lý nhân sự tại công ty
2.2 Các công cụ cần thiết
2.2.1.Sơ đồ chức năng kinh doanh – BFD
2.2.2.Sơ đồ luồng thông tin – IFD
2.2.3.Sơ đồ luồng dữ liệu – DFD
2.2.3.1.Các ký pháp của sơ đồ luồng dữ liệu – DFD
2.2.3.2.Trình tự lập sơ đồ luồng dữ liệu – DFD
2.3.Ngôn ngữ lập trình Visual Basic 6.0
2.3.1.Tổng quan về Visual Basic 6.0
2.3.2.Các thành phần chính của Visual Basic 6.0
2.4 Công cụ làm báo cáo Crytal Report
Trang 3Chương 3:Xây dựng phần mềm quản lý nhân sự tại Công ty Điện thoại Hà Nội 1
3.1.Xác định yêu cầu
3.1.1.Khảo sát thực tế
3.1.2.Phân tích yêu cầu
3.1.3.Yêu cầu với phần mềm
3.1.4.Yêu cầu với hệ thống
3.2.Các sơ đồ
3.2.1.Sơ đồ ngữ cảnh
3.2.2.Sơ đồ chức năng kinh doanh – BFD
3.2.3.Sơ đồ luồng dữ liệu – DFD
3.3.Phân tích thiết kế
3.2.1.Thiết kế kiến trúc hệ thống
3.2.2.Thiết kế cơ sở dữ liệu
3.2.3.Thiết kế giải thuật
3.2.4.Thiết kế giao diện
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Công nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật phát triển, được ứng dụngnhiều vào trong công việc và đời sống nhằm phục vụ cho nhu cầu ngày càngcao của con người Từ những công việc đơn giản đến phức tạp đều có sựgóp mặt của công nghệ thông tin và công nghệ thông tin đã chứng tỏ vai tròquan trọng không thể thiếu của mình
Quản lý nhân sự là một thủ tục hành chính rất quan trọng và cần thiếtcủa mọi cơ quan và tổ chức Hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệthông tin, việc quản lý nhân sự cũng dễ dàng hơn nhờ được tin học hóa, cụthể là dùng phần mềm thay cho sổ sách giấy tờ lưu kho Đưa tin học vàotrong việc quản lý nhân sự đã giúp cho việc quản lý nhân viên của từngphòng ban bộ phận trở nên đơn giản hơn
Đáp ứng nhu cầu đó, em đã lựa chọn đề tài cho chuyên đề thực tập tốt
nghiệp là : “Xây dựng phần mềm quản lý nhân sự tại Công ty Điện thoại
Hà Nội 1 – Viễn thông Hà Nội” Hy vọng đề tài này sẽ được ứng dụng và
đáp ứng tốt các nhu cầu quản lý nhân sự tại Công ty Điện thoại Hà Nội 1hiện nay
Trang 5Chương 1: Tổng quan về Viễn thông Hà Nội
1.1.Giới thiệu về Viễn thông Hà Nội
Mạng lưới thông tin đầu tiên xuất hiện ở Hà Nội
Cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 19, người Pháp đã xây dựng ở Hà Nội một
hệ thống thông tin tương đối đầy đủ bao gồm cả điện báo, điện thoại.Lúc đó, thông tin điện báo đã được thiết lập giữa Hà Nội với Sài gòn,Vinh, Huế, Đà Nẵng Hệ thống đường dây hữu tuyến đã được xây dựng
để giữ liên lạc giữa Hà Nội – Sài gòn và Hà Nội – Hải Phòng Mục đíchxây dựng các công trình thông tin này trước hết là để phục vụ cho việcbình định và đàn áp nhân dân ta, nên mọi đường dây và trang thiết bịđều được bố trí ở các đồn binh, khu vực quân sự quan trọng, sở cảnhsát, mật thám, các công sở, cơ quan đầu não của người Pháp Sau 7thập kỷ kể từ khi người Pháp đến Việt Nam (1884 – 1954), mạng lướithông tin ở Hà Nội chỉ bao gồm: 1 tổng đài điện thoại cộng điện (có dunglượng 1500 số và gần 600 thuê bao); một mạng cáp ngầm với đườngdây nổi khoảng 1200 đôi; một số máy điện báo, máy vô tuyến điện côngsuất nhỏ và rất lạc hậu so với thế giới
Trang 6Mạng lưới thông tin Hà Nội thời kỳ sau thành lập Bưu điện TP Hà Nội
Ngày 10/10/1954, Thủ đô Hà Nội được giải phóng Chính trong ngàynày, những người làm công tác thông tin liên lạc cách mạng đã đượctiếp quản Bưu điện Hà Nội trong đó có mạng lưới thông tin do ngườiPháp để lại Sau này ngày 10/10/1954 được coi là ngày thành lập Bưuđiện TP Hà Nội Ngay sau khi tiếp quản, mặc dù phải đối mặt với rấtnhiều khó khăn từ cơ sở vật chất đến nhân lực, Bưu điện Hà Nội đãtừng bước cùng nhân dân thủ đô bắt tay vào việc hàn gắn vết thươngchiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định sản xuất Bưu điện Hà Nội trởthành trung tâm thông tin liên lạc của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,phục vụ nhân dân và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chi việncho miền Nam và nước bạn Lào, chống chiến tranh phá hoại của giặc
Mỹ
Trong thời kỳ những năm đầu thập kỷ 70, Hà Nội bị đánh phá ác liệt,mạng lưới thông tin bị thiệt hại nhiều Mặc dù vậy, thông tin phục vụchiến đấu vẫn được đảm bảo thường xuyên, góp phần không nhỏ vàonhững chiến công của quân và dân ta trong sự nghiệp giải phóng dântộc
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước(30/4/1975), việc đẩy mạnh phát triển kinh tế trở thành nhiệm vụ hàngđầu, đòi hỏi mạng lưới ngành Bưu điện, đặc biệt là mạng điện thoại phảiphát triển nhanh để phục vụ Trong khi đó, mạng lưới thông tin ở Hà Nộiphần lớn xây dựng từ thời Pháp thuộc, chất lượng đã xấu lại trải quanhiều lần bị đánh phá hư hại nên càng xuống cấp nghiêm trọng, khi đóBưu điện Hà Nội phải đối mặt với muôn vàn những khó khăn và thửthách mới
Trang 7 Từ năm 1975 đến 1990, Bưu điện Hà Nội vừa khắc phục hậu quảchiến tranh, vừa từng bước bắt tay vào xây dựng cơ sở vật chất, kỹthuật cho mạng lưới Sau những năm chuyển đổi cơ chế quản lý, thựchiện đường lối đổi mới của Đảng theo tinh thần nghị quyết Đại hội lần VI(12/1986), trải qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, bằng những nỗ lựctrong công tác tiếp cận công nghệ mới, Bưu điện Hà Nội đã vượt quanhững khó khăn trì trệ và khủng hoảng của thời kỳ bao cấp Ngày15/11/1990 tại Hà Nội đã diễn ra lễ khánh thành và đưa vào hoạt độngtổng đài điện thoại điện tử E10B giai đoạn 1 dung lượng 15.000 số Đây
là công trình có ý nghĩa to lớn không chỉ có dung lượng lớn mà còn ởtính chất hiện đại, không chỉ cải thiện cơ bản hệ thống thông tin nội hạt
mà còn thực hiện được tự động hoá hoàn toàn việc liên lạc liên tỉnh vàquốc tế
Cùng với việc ra đời tổng đài điện báo điện tử Telex Alpha, Trạm vệtinh mặt đất Intelsat, tổng đài điện tử E10B và mạng thông tin viba số,
Hà Nội đã thực hiện chiến lược tự động hoá, số hoá mạng viễn thôngcủa ngành, tạo bước ngoặt làm thay đổi chất lượng hoạt động thông tin,đáp ứng một phần các yêu cầu thông tin trong nước và quốc tế
Mạng viễn thông Hà Nội từ 1990 đến nay:
Kể từ năm 1990, những bước đi đột phá của ngành Bưu điện đã làmthay đổi toàn diện hệ thống thông tin liên lạc Việt Nam Đặc biệt tại HàNội, nhiều thiết bị hiện đại, nhiều loại hình dịch vụ mới được đưa vàomạng lưới Trải qua 2 giai đoạn tăng tốc lần thứ nhất 1990 – 1995, vàlần thứ hai 1996 – 2000, đội ngũ những người làm công tác viễn thôngtrong Bưu điện Hà Nội đã kịp thời từng bước tháo gỡ những vướng
Trang 8mắc, hoàn toàn làm chủ các thiết bị thông tin vừa đảm bảo thông tin liênlạc để phục vụ tốt, vừa kinh doanh tốt Năm 1993, Bưu điện Hà Nội làđơn vị thử nghiệm mạng điện thoại di động GSM đầu tiên trong cả nước(Mobifone), và năm 1996 tiếp tục khai trương mạng điện thoại di độngthứ 2 (Vinaphone) Tiếp đó vào tháng 12/1997 dịch vụ Internet ra đời.Sau các giai đoạn tăng tốc, mạng lưới viễn thông Hà Nội vẫn giữ vữngnhịp độ tăng trưởng không ngừng về số lượng thuê bao điện thoại cácmạng và sản lượng các cuộc điện thoại Nếu như năm 1990, Hà Nội chỉphát triển được 1200 máy điện thoại, thì đến hết năm 1999 đã phát triểnđược 56.700 máy, tăng 47 lần so với năm đầu tiên thực hiện chiến lượctăng tốc Chính vì vậy, doanh thu của Bưu điện TP Hà Nội cũng tăng lênrất nhanh: từ 25 tỷ đồng năm 1990 lên tới 1510 tỷ đồng năm 1999, gấphơn 60 lần so với năm đầu thực hiện chiến lược tăng tốc
Năm 2006, để phù hợp với đặc điểm tình hình phát triển của nền kinh
tế đất nước, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thành lập và phêduyệt điều lệ tổ chức hoạt động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thôngViệt Nam Sau đó Thủ tướng cũng quyết định về việc tổ chức kinh doanhmạng viễn thông nội hạt của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Namtrên địa bàn Hà Nội
Đến hết năm 2007, mặc dù chịu sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắtcủa các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn, mạng lưới viễn thông củaBưu điện TP Hà Nội đã có gần 1 triệu thuê bao điện thoại cố định, hơn
100 ngàn thuê bao MegaVNN và MeagaWan, hàng trăm ngàn thuê baocityphone, truyền số liệu… Doanh thu của Viễn thông Hà Nội vẫn chiếm
tỷ trọng lớn trong Bưu điện TP Hà Nội: 2465 tỷ đồng/ tổng doanh thu
2662 tỷ đồng Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học côngnghệ, xu thế hội nhập giữa viễn thông – tin học – truyền thông và xu thế
Trang 9toàn cầu hoá dịch vụ vừa là cơ hội, vừa là những thách thức lớn đặt racho Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam cũng như tập thể nhữngngười làm công tác viễn thông ở Bưu điện TP Hà Nội Nhiệm vụ pháttriển một mạng viễn thông bền vững, đủ sức cạnh tranh trong thời kỳ hộinhập kinh tế quốc tế và tiếp tục hiện đại hoá mạng lưới đòi hỏi Tập đoànBưu chính Viễn thông phải có phương án đổi mới tổ chức hoạt độngkinh doanh để phù hợp với đặc điểm nền kinh tế của đất nước trong giaiđoạn hội nhập kinh tế quốc tế
Viễn thông Hà Nội chính thức được thành lập:
Ngày 6/12/2007, Hội đồng Quản trị Tập đoàn Bưu chính Viễn thôngViệt Nam đã có quyết định số 625/QĐ-TCCB/HĐQT về việc chính thứcthành lập Viễn thông Hà Nội
Theo đó, Viễn thông Hà Nội là doanh nghiệp được chia tách từ Bưuđiện TP Hà Nội (cũ) Sau hơn nửa thế kỷ thành lập và phát triển, kể từngày 1/1/2008 Bưu điện TP Hà Nội (cũ) đã chính thức được chia táchthành 2 pháp nhân mới, đó là Bưu điện TP Hà Nội (mới) và Viễn thông
Hà Nội Đây là kết quả của tiến trình đổi mới tổ chức tại Tập đoàn Bưuchính Viễn thông Việt Nam theo chủ trương của Nhà nước về việc tổchức mô hình Tập đoàn và chia tách bưu chính viễn thông, nhằm tạođiều kiện cho kinh doanh bưu chính, viễn thông cùng phát triển, kịp thờithích ứng với môi trường cạnh tranh, hội nhập
Theo quyết định phê duyệt của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông ViệtNam, Viễn thông Hà Nội là đơn vị kinh tế trực thuộc hạch toán phụ thuộcTập đoàn, có chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh và phục vụchuyên ngành viễn thông – công nghệ thông tin : đó là tổ chức xây
Trang 10dựng, quản lý vận hành, lắp đặt, khai thác, bảo dưỡng, sửa chữa mạngviễn thông- công nghệ thông tin; cung cấp dịch vụ viễn thông hệ 1; tổchức phục vụ thông tin đột xuất theo yêu cầu của cấp ủy Đảng và chínhquyền địa phương; tư vấn khảo sát, thiết kế các công trình viễn thông-công nghệ thông tin; kinh doanh vật tư, thiết bị viễn thông- CNTT; kinhdoanh các ngành nghề khác trong phạm vi được Tập đoàn BC-VT VNcho phép và phù hợp với quy định của Pháp luật Bộ máy tổ chức củaViễn thông Hà Nội bao gồm 7 đơn vị sản xuất trực thuộc (3 trung tâm, 4công ty), các phòng ban chức năng và Phòng Viễn thông Hệ 1 - đơn vịchuyên đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ lãnh đạo Thành phố Hà Nội
Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang ngày càng khẳng định vịthế của mình trên Thế giới, khi mối liên kết, giao lưu giữa Việt Nam vàcác nước trên thế giới đang ngày càng được thắt chặt, thì Viễn thôngThủ đô càng trở thành một mắt xích liên lạc quan trọng giữa Việt Namvới bạn bè quốc tế Hơn thế nữa, Viễn thông Thủ đô còn là nhịp cầu nốitình cảm không thể thiếu của nhân dân Hà Nội với nhân dân khắp cácmiền đất nước Viễn thông Hà Nội hôm nay càng nhận thức rõ nhiệm vụtrọng yếu trong kinh doanh và phục vụ của mình Sự kiện chính thứcthành lập Viễn thông Hà Nội đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọngtrong sự phát triển của Viễn thông Thủ đô Với vị trí hoạt động độc lậpnhư hiện nay, Viễn thông Hà Nội có khả năng nhận biết rõ hơn thếmạnh, hạn chế của mình để tìm ra những giải pháp cụ thể, sát với điềukiện kinh doanh trong môi trường cạnh tranh - đó chính là cơ hội đểđược cạnh tranh lành mạnh, hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển củanền kinh tế nước ta hiện nay
Tiếp nối truyền thống anh hùng của Bưu điện TP Hà Nội hơn nửa thế
kỷ qua, Viễn thông Hà Nội hôm nay đang bước những bước đi đầu tiên
Trang 11nhưng không hề chập chững Tập thể Cán bộ và Công nhân viên Viễnthông Hà Nội vinh dự, tự hào vì được kế thừa và phát huy những thànhquả to lớn của Bưu điện Thủ đô hơn nửa thế kỷ qua Với tiềm năng tolớn đó, bằng sự năng động, sáng tạo của mỗi người, bằng sức mạnhcủa sự đoàn kết, tập thể CBCNV Viễn thông Hà Nội đang quyết tâm xâydựng mạng lưới viễn thông Thủ đô phát triển hiện đại và bền vững, gópphần đưa Thủ đô Hà Nội xứng ngang tầm với Thủ đô các nước trongkhu vực và trên thế giới.
1.1.2.Cơ cấu tổ chức
LÃNH ĐẠO VIỄN THÔNG HÀ NỘI
UV HĐQT Tập đoàn BC-VT Việt Nam, Giám đốc: Ông Trần MạnhHùng
Phó giám đốc: Ông Nguyễn Xuân Quang
Phó giám đốc: Ông Nguyễn Bá Đức
Phó giám đốc: Ông Nguyễn Quốc Cường
ĐẢNG ỦY, CÔNG ĐOÀN, ĐOÀN THANH NIÊN
Chủ tịch Công đoàn: Ông Nguyễn Xuân Quang
Phó Chủ tịch Công đoàn: Ông Nguyễn Hữu Chỉnh
Phó Chủ tịch Công đoàn: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Trang 12o Chánh Văn phòng: Ông Nguyễn Thanh Hải
o Phó Chánh Văn phòng: Ông Lê Hữu Phiếu
o Phó Chánh Văn phòng: Ông Vũ Khắc Khả
o Phó Chánh Văn phòng - Trưởng Trạm Y tế: Ông Đào Quảng An
Phòng tổ chức cán bộ lao động
o Trưởng phòng TCCB - LĐ: Ông Hà Thế Lãng
o Phó phòng TCCB - LĐ: Ông Nguyễn Tài Trung
Phòng Kế hoạch Kinh doanh
o Phó phụ trách phòng Kế hoạch Kinh doanh: Ông Lê Quang Hà
o Phó phòng Kế hoạch Kinh doanh: Ông Vũ Bá Hưởng
Phòng Đầu tư Xây dựng cơ bản
o Trưởng phòng ĐT - XDCB: Ông Đào Văn Hà
o Phó phòng ĐT - XDCB: Ông Lê Đức Lâm
Phòng Kế toán thống kê tài chính
o Kế toán trưởng kiêm Trưởng phòng KTTK - TC: Bà Ngô Thị KimThanh
o Phó phòng KTTK - TC: Ông Phạm Đăng Minh
o Phó phòng KTTK - TC: Ông Võ Thăng Long
Phòng Phát triển thị trường
o Trưởng phòng Phát triển thị trường: Ông Lương Cao Chí
Trang 13 Phòng Thanh tra
o Trưởng phòng Thanh tra: Ông Đỗ Mạnh Hiền
CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ TRỰC THUỘC VIỄN THÔNG HÀ NỘI
Công ty Điện thoại Hà Nội 1
Công ty Điện thoại Hà Nội 2
Công ty Điện thoại Hà Nội 3
Công ty Dịch vụ Viễn thông Hà Nội
Công ty Dịch vụ Vật tư
Ban quản lý các dự án công trình thông tin
Trung tâm Tin học
Trung tâm Dịch vụ Khách hàng
Trung tâm Điều hành Thông tin
Ban quản lý các dự án công trình kiến trúc
Ban quản lý các dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh với NTTV (BCC)
Trang 14Cơ cấu tổ chức của Viễn thông Hà Nội được thể hiện qua sơ đồ sau
:
Viễn thông
Hà Nội
Khối Sản xuất
Trang 151.1.3.Nghành nghề kinh doanh
Viễn thông Hà Nội - đơn vị kinh tế trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễnthông Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 652/ QĐ-TCCB/ HĐQTngày 06-12-2007 của Hội đồng quản trị Tập đoàn Bưu chính Viễn thông ViệtNam, có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật trongphạm vi quyền hạn và nhiệm vụ của mình
Ngành nghề kinh doanh: Viễn thông Hà Nội có chức năng hoạt động sảnxuất kinh doanh và phục vụ chuyên ngành Viễn thông - Công nghệ thông tin,
- Khảo sát, tư vấn, thiết kế, lắp đặt, bảo dưỡng các công trình Viễnthông - Công nghệ Thông tin
Kinh doanh dịch vụ quảng các, dịch vụ truyền thông
Kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng
Tổ chức phục vụ thông tin đột xuất theo yêu cầu của cấp ủy Đảng,Chính quyền địa phương và cấp trên
Công ty DV Vật tưKhối Chức năng
Khối Trung tâm
Trung tâm Tin học
Trung tâm DV Khách hàng
Trung tâm Điều hànhThông tin
Ban Quản lý
BQL các dự án công trình thông tin
BQL các dự án công trình kiến trúc
BQL các dự án hoạt động hệ thống kinh doanh với NTTV
Trang 16 Kinh doanh các nghành nghề khác trong phạm vi được Tập đoàn Bưuchính Viễn thông Việt Nam cho phép và phù hợp với quy định của phápluật.
1.2 Giới thiệu về Công ty Điện thoại Hà Nội 1
1.2.1.Tổng quan về công ty Điện thoại Hà Nội 1
Địa chỉ liên hệ
Công ty Điện thoại Hà Nội 1
811 Đường Giải phóng - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội - Việt nam
Tel: 84.4.6646464 - Fax: 84.4.6645678
Năm 2003, Bưu điện Hà Nội vừa thành lập Công ty Điện thoại Hà Nội
1 và Công ty điện thoại Hà Nội 2 trên cơ sở tổ chức lại Công ty Điện thoại
Hà Nội Công ty điện thoại Hà Nội 1 được thành lập từ một phần của Công
ty Điện thoại Hà Nội và sát nhập thêm bộ phận viễn thông được tách ra từcác Bưu điện huyện Sóc Sơn, Đông Anh và Gia Lâm
Công ty Điện thoại Hà Nội 1 là đơn vị với chức năng kinh doanh dịch vụ điệnthoại và các dịch vụ viễn thông khác trên mạng điện thoại cố định do Công tycung cấp tại địa bàn các quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, một phần cácquận Ba Đình, Đống Đa, Thanh Xuân và Tây Hồ, các huyện Gia Lâm, ĐôngAnh, Sóc Sơn Song song với việc luôn tăng cường nâng cấp mạng lưới,Công ty điện thoại 1 chủ động chuẩn bị mặt bằng, trang thiết bị, nhân lực đểtăng cường phục vụ kinh doanh tiếp thị và chăm sóc khách hàng Năm
2005, sau quá trình đào tạo nghiệp vụ cho các giao dịch viên Công ty điện
Trang 17thoại 1 mở thêm 04 điểm giao dịch tại : 27 Hàng Hành, 22 Cửa Đông, 193Đại La và 171 Mai Hắc Đế Tại đây khách hàng sẽ được tiếp nhận yêu cầu
về dịch vụ điện thoại cố định như: lắp đặt, chuyển dịch, đăng ký các dịch vụgia tăng
Phòng Tổ chức Lao động Tiền lương
Phòng Quản lý Kỹ thuật - Nghiệp vụ
Phòng Kinh doanh - Tiếp thị
Phòng Kế toán - Tài chính
Phòng Hành chính - Quản trị
Các Đơn vị Sản xuất:
Đài Ứng dụng Tin học Đài Điện thoại Giáp Bát
Đài KT Chuyển mạch - Đài Điện thoại Gia Lâm
Trang 18Đài Điện thoại Trâu Quỳ
Đài Điện thoại Yên Phụ Đài Điện thoại Đông
Anh
Đài Điện thoại Bờ Hồ Đài Điện thoại Sóc Sơn
Đài Điện thoại TrầnKhát Chân
Trang 19Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, một phần các quận Ba Đình, Đống Đa, ThanhXuân và Tây Hồ, các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn.
- Quản lý, vận hành, lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa và khai thác mạngviễn thông trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, một phần các quận
Ba Đình, Đống Đa, Thanh Xuân và Tây Hồ, các huyện Gia Lâm, Đông Anh,Sóc Sơn
- Tổ chức phục vụ thông tin đột xuất theo yêu cầu của cấp uỷ Đảng,Chính quyền địa phương và cấp trên
- Kinh doanh vật tư, thiết bị viễn thông liên quan đến dịch vụ do Công
ty cung cấp
- Kinh doanh các ngành nghề khác khi được Tổng Công Ty cho phép
1.2.4.Thành tựu – sản phẩm của công ty
Qua các bước hình thành và phát triển, công ty đã thành công pháttriển ứng dụng các dịch vụ sau :
1.2.4.1.Dịch vụ Điện thoại truyền thống
- Dịch vụ điện thoại nội hạt: là dịch vụ thông tin liên lạc bằng mạng điệnthoại cố định được thiết lập trong phạm vi địa giới hành chính của một Tỉnh/Thành phố Để sử dụng điện thoại nội hạt trong Thành phố Hà Nội, kháchhàng chỉ cần quay đủ 8 chữ số đăng ký của thuê bao: XXXXXXX
- Dịch vụ điện thoại liên tỉnh: là cuộc gọi điện thoại được thiết lập giữa mộtmáy điện thoại thuộc một tỉnh hoặc thành phố này đến một máy điện thoại
Trang 20thuộc một tỉnh hoặc thành phố khác và ngược lại, thông qua mạng viễnthông liên tỉnh là cuộc gọi điện thoại được thiết lập giữa một máy điệnthoại thuộc một tỉnh hoặc thành phố này đến một máy điện thoại thuộc mộttỉnh hoặc thành phố khác và ngược lại, thông qua mạng viễn thông liêntỉnh.
- Dịch vụ điện thoại Quốc tế bao gồm:
+ Dịch vụ điện thoại quay số trực tiếp: muốn sử dụng dịch vụ điện thoạiquay số trực tiếp đi quốc tế, khách hàng bấm theo công thức: 00 + CC +
AC + SN
+ Dịch vụ điện thoại Quốc tế gọi số: người gọi quay trực tiếp đến số 110 vàyêu cầu điện thoại viên quốc tế tiếp thông đến một số máy điện thoại dongười gọi định rõ ở một số nước khác trên thế giới
+ Dịch vụ điện thoại Quốc tế tìm người a: là dịch vụ mà khách hàng muốnliên lạc với một người tại số máy điện thoại đã biết trước ở một nước cụthể , thì chỉ cần quay số 110 gặp điện thoại viên và yêu cầu tiếp thông vớingười được chỉ định tên cụ thể, tại một số máy ở một nước cụ thể
+ Dịch vụ điện thoại Quốc tế Collect-call : khách hàng quay số 110 gặpđiện thoại viên và yêu cầu tiếp thông với người tên cụ thể, tại một số máy
cụ thể ở một nước có đăng ký sử dụng dịch vụ này và báo cho điện thoạiviên biết là cước phí của cuộc đàm thoại do người được gọi thanh toán và
đã được người được gọi đồng ý thanh toán cước phí Điện thoại viên sẽhoàn tất thủ tục tiếp thông để khách hàng đàm thoại
Trang 21+ Dịch vụ giới hạn thời gian đàm thoại Quốc tế: khách hàng quay số 110gặp điện thoại viên và đăng ký với giao dịch viên là muốn hạn chế thời giancuộc đàm thoại, điện thoại viên sẽ chủ động làm thủ tục ngắt cuộc gọi theothời gian mà khách hàng yêu cầu
+ Dịch vụ điện thoại hội nghị Quốc tế: dịch vụ điện thoại mà trong đó mộtcuộc điện thoại bao gồm tối thiểu 03 máy thuê bao được kết nối với nhauthông qua một cầu nối mạch, trong đó có ít nhất 01 máy ở nước ngoài thamgia đàm thoại Thông thường có loại điện đàm hội nghị: Điện đàm hai chiều
Một cuộc điện đàm hội nghị có thể kết hợp cả hai loại điện đàm này
+ Dịch vụ điện thoại giấy mời Quốc tế: dịch vụ điện thoại giấy mời quốc tếcho phép người ở nước ngoài mời người Việt Nam không có điện thoại nhàriêng tới buồng đàm thoại công cộng để tiếp chuyện, người được mời phảiđược chỉ định bằng họ tên địa chỉ rõ ràng
+ Dịch vụ điện thoại HCD (Home Country Direct): là dịch vụ điện thoạiquốc tế cho phép người nước ngoài đến Việt Nam gọi thẳng về tổng đàinước mình để đăng ký và thiết lập cuộc gọi
1.2.4.2.Dịch vụ Điện thoại dùng thẻ
Trang 22Khách hàng có thể mua thẻ điện thoại tại các bưu cục, đại lý bưu điện,đại lý Ðiện thoại Thẻ Mỗi khi dùng máy sẽ trừ dần tiền cước cho đến hết giátrị của thẻ Khách hàng có thể sử dụng thẻ để gọi trong nước hoặc quốc tế
1.2.4.3.Dịch vụ Đường dây thuê bao số đa dịch vụ ISDN
Dịch vụ ISDN là đường truyền điện thoại số đa dịch vụ với khả năngkết nối đa dạng cho nhiều thiết bị
Dịch vụ ISDN là dịch vụ viễn thông đáp ứng được yêu cầu thực hiệnnhiều loại hình thông tin thông qua một đường truyền có chất lượng và tốc
độ cao trong cùng một thời điểm Dịch vụ này có thể ứng dụng vào hội nghịtruyền hình, đào tạo từ xa
Dịch vụ điện thoại số hoá đa dịch vụ ISDN có phần giống như dịch vụthuê bao kênh riêng (leased-line) trên internet Mặc dù hình thức cung cấpphương tiện sử dụng tương tự nhưng ISDN có giá thuê bao đường truyềnthấp hơn so với leased-line Hiện tại có đường truyền ISDN2 cho phép sửdụng 2 số điện thoại trên một đường dây với tốc độ 128Kbps và thuê bao160.000đ/tháng; có thể chia làm hai kênh riêng với tốc độ 64KB
Còn đường truyền ISDN30 lại cho phép bố trí 30 số điện thoại với tốc
độ tương đương 2Mbps gồm 30 kênh tốc độ 64Kbps; thuê bao1.950.000đ/tháng Sau khi đăng ký ISDN, khách hàng có thể sử dụng kếthợp nhiều loại dịch vụ khác nhau như điện thoại, fax, video (hội nghị truyềnhình), truyền số liệu, Bên cạnh đó là các dịch vụ gia tăng: hiển thị số gọiđến và cấm hiện số gọi đi, hiển thị cước, điện thoại hội nghị, giữ và chờcuộc gọi đến, Khách hàng sẽ sử dụng đồng thời công cụ điện thoại vàinternet trên cùng một đường dây điện thoại
Trang 231.2.4.4.Dịch vụ Đường dây số không đối xứng ADSL (Asymmetric Digital Subscriber Line)
Dịch vụ này cho phép khách hàng truy nhập Internet với tốc độ caodựa trên công nghệ đường dây thuê bao số bất đối xứng ADSL
Truy cập Internet bằng công nghệ ADSL vượt trội các hình thức truycập Internet gián tiếp thông thông thường ở mọi khía cạnh:
- Luôn luôn sẵn sàng (always on): vì số liệu truyền đi độc lập với việc gọiđiện thoại/Fax, đường vào Internet của ADSL luôn sẵn sàng
- Dễ dùng, không còn phải quay số, không vào mạng/Ra mạng, khôngphải trả cước nội hạt
- Ưu điểm về tốc độ kết nối: Tốc độ là 2Mbps cho đường tải dữ liệu xuống
và 640Kbps cho đường đưa dữ liệu lên mạng phù hợp hơn với người sửdụng phải thường xuyên khai thác thông tin trên Internet
- Công nghệ ADSL có thể phục vụ cho các ứng dụng đòi hỏi phải truy cậpInternet với tốc độ cao như: Giáo dục và đào tạo từ xa, xem video theoyêu cầu, trò chơi trực tuyến, nghe nhạc, hội nghị truyền hình, …
- Tránh được tình trạng vẫn phải trả cước khi quên ngắt kết nối
- Không tín hiệu bận, không thời gian chờ
- Vẫn có thể nhận và gọi điện thoại khi đang truy nhập Internet
- Giá rẻ, dùng đến đâu trả đến đó Vẫn có địa chỉ Email
Hiểu một cách đơn giản nhất, ADSL là sự thay thế với tốc độ cao chothiết bị Modem hoặc ISDN giúp truy nhập Internet với tốc độ cao và nhanh
Trang 24hơn Các biểu đồ sau chỉ ra các tốc độ cao nhất có thể đạt được giữa cácdịch vụ cung cấp
1.2.5.Giới thiệu về Đài Ứng dụng Tin học – Cơ sở thực tập
Đài Ứng dụng Tin học là 1 phòng ban của Công ty Điện thoại Hà Nội1,có nhiệm vụ sản xuất và đảm bảo sự liên kết mạng giữa các phòng ban
và các đài khác của công ty,ngoài ra còn có hỗ trợ khách hàng
Trang 25Đài gồm các chức năng chính sau:
- Mạng và phần cứng: đài đề xuất ra các mô hình mạnghợp lý cho các trung tâm viễn thông và chịu trách nhiệmlắp đặt, ngoài ra còn đề xuất phần cứng và mua sắm luôncác phần cứng đó, ngoài ra còn có thể sửa chữa khi cóvấn đề
- Phần mềm: phát triển các phần mềm quản lý hay cácphần mềm ứng dụng để phục vụ cho quá trình điều hànhsản xuất của công ty
- Hỗ trợ khách hàng XDSL gồm :
+ Hỗ trợ trực tiếp : đối với các khách hàng vip có chế độ
ưu đãi đặc biệt
+ Hỗ trợ gián tiếp : đối với các trung tâm viễn thông nóichung và khách hàng nói riêng có thể đến tận nơi để tiếnhành lắp đặt, sửa chữa, bảo trì
1.3.Định hướng đề tài
1.3.1.Tình hình tin học hóa của Công ty điện thoại Hà Nội 1
Trang 26Công tác tin học quản lý trong công ty thời gian qua đã đạt được một
số thành tựu đáng kể
Nhờ có tiềm năng về tài chính và công nghệ thông tin, công ty đã xâydựng hệ thống phần mềm quản lý và đồng bộ và ứng dụng thành công tinhọc hóa quản lý nội bộ Qua thực tế tại cho thấy, việc ứng dụng công nghệthông tin đồng bộ và tổng thể đã giúp các nhà quản lý sử dụng có hiệu quảcác nguồn lực của công ty, đảm bảo tính tra cứu thuận tiện, lưu trữ lâu dài
và vẹn toàn của thông tin rút ngắn thời gian thống kê báo cáo Ngoài ra
có tính bảo mật khá cao, bởi vì tính chất quan trọng của các thông tin nội
bộ trong công ty nên mỗi nhân viên có một tài khoản riêng và chỉ có thểđăng nhập tại chính công ty
Công ty có một bộ phận công nghệ thông tin riêng là Đài Ứng dụngTin học nên xây dựng được một hệ thống mạng đồng bộ, tư vấn thiết kếhoạt động tốt giúp cho việc triển khai chất lượng hoạt động tốt
Tuy nhiên công ty cũng có một số mặt khó khăn và đang từng bướckhắc phục là một số cán bộ chuyên trách có trình độ sử dụng máy tính cònhạn chế và quá trình tập huấn triển khai phần mềm chưa được cụ thể,chưa chi tiết cho nên gặp rất nhiều khó khăn khi sử dụng phần mềm Vàcông ty do là thuộc bên sản xuất nên không có trang web riêng, việc quảngcáo giới thiệu dịch vụ và hỗ trợ khách hàng chưa được thuận tiện
Mục tiêu trong tương lai của công ty là:
-Tăng cường công tác quản lý hoạt động của công ty dựa trên cơ sởquản lý khoa học và hiệu quả của hệ thống quản lý áp dụng tin học, tăngcường năng lực hoạt động của cán bộ dựa trên việc áp dụng kỹ thuật cao
Trang 27- Giúp cho người quản lý nắm được các thông tin nhanh, chính xác,bất cứ lúc nào, tránh được quan liêu, hiệu chỉnh ngay được các sai sót vàđiều chỉnh hoạt động kịp thời Thông qua các dữ liệu và thông tin, ngườiquản lý có thể đưa ra được những kế hoạch phù hợp và giúp cho việc điềuhành thực hiện kế hoạch một cách nhanh chóng.
- Giúp đơn giản hoá các thủ tục hành chính, loại bỏ bớt các hoạtđộng trung gian, tạo điều kiện cho các dịch vụ phát triển toàn diện
- Tăng cường chất lượng thông tin của công ty và thống nhất dữ liệucho hoạt động quản lý phòng ban
1.3.2.Tình hình quản lý nhân sự công ty và đưa ra đề tài
Công ty Điện thoại Hà Nội 1 trực thuộc Viễn thông Hà Nội vừa đượctách riêng ra với Bưu điện Hà Nội, nên công ty đang sử dụng phần mềmquản lý nhân sự giống với các bưu điện đang sử dụng, phần mềm này có
ưu điểm là thân thiện với các nhân viên, dễ sử dụng
Là một trong những ngành có tính chất quan trọng trong đời sống xã
hội, Công ty Điện Thoại Hà Nội 1 đã và đang đem đến cho khách hàng
những sản phẩm và dịch vụ viễn thông rất tiện lợi và nhanh chóng Công ty
có hàng trăm nhân viên được chia làm nhiều Chi nhánh và Đại lý được ủyquyền Đa số là các nhân viên cơ hữu làm việc hành chính tuy nhiên nhiềuchi nhánh, do mức độ công việc lớn và áp lực cao nên được chia làm nhiều
ca nên có cả các nhân viên làm part-time Từ trước tới nay việc chi trảlương cho nhân viên chủ yếu là nhận tiền mặt thông qua kế toán Nhưngtheo chính sách của nhà nước khuyến khích các Công ty trong và ngoàiQuốc Doanh nên chuyển từ trả trực tiếp mà trả qua hình thức thẻ ATM Yêu
Trang 28cầu đề ra đối với Công ty lúc này là phải có một phần mềm Quản lý nhân
sự chuyên biệt giúp cho việc quản lý, thống kê và tra cứu thông tin nhân
viên trên toàn địa bàn Thành Phố của Công ty một cách nhanh nhất
Với nhu cầu đó của công ty Điện thoại Hà Nội 1, em chọn đề tài thực
tập của mình là : “ Xây dựng phần mềm quản lý nhân sự tại Công ty Điện thoại Hà Nội 1”.
Chương 2: Một số vấn đề phương pháp luận và công cụ cần thiết để xây dựng phần mềm quản lý nhân sự tại Công ty Điện thoại Hà Nội 1 2.1 Cơ sở phương pháp luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản về phần mềm.
Trang 292.1.1.1.Khái niệm phần mềm
- Khái niệm phần mềm và các giai đoạn phát triển của phân mềm
Phần mềm tin học đã trở thành phần tử chủ chốt của các hệ thống dựatrên máy tính Trong công nghệ phần mềm thì phần mềm được hiểu theođịnh nghĩa như sau: (Theo định nghĩa của nhà tin học người Mỹ RogerPressman: )
Phần mềm là một tổng thể bao gồm 3 yếu tố:
Các chương trình máy tính
Các cấu trúc dữ liệu sử dụng trong các chương trình ấy
Tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềmCác giai đoạn phát triển của phần mềm:
Thời gian thực
Bắt đầu có PMthương mại
Hệ phântán
Hiệu quảthươngmại hoá
HT để bàn
Hệ thôngminh
Quy mô CN
- Cấu hình phần mềm và đặc trưng phần mềm
Trong CNPM người ta đưa ra khái niệm cấu hình phần mềm tươngthích với khái niệm cấu hình phần cứng Cấu hình phần mềm chính làquá trình phát triển một phần mềm Cấu hình phần mềm gồm các thànhphần được biểu diễn theo hình vẽ sau:
Trang 30 Nó không bị khấu hao theo thời gian
Nó có khả năng dễ dàng được nhân bản
Nó dễ dàng được chuyển giao, vận chuyển
2.1.1.2.Vòng đời phát triển của phần mềm
Mỗi phần mềm từ khi ra đời phát triển đều trải qua 1 chu kì trong côngnghệ phần mềm gọi là vòng đời phát triển của phần mềm Vòng đời pháttriển của phần mềm được biểu diễn bằng mô hình gọi là mô hình thác nước
Trang 31Trong quy trình này, mỗi giai đoạn ở phía trước tác động tới tất cả cácgiai đoạn ở phía sau Tức là công nghệ hệ thống giai đoạn đầu tiên và nótác động đến 5 giai đoạn còn lại Đến lượt mình công đoạn phân tích chịutác động của công đoạn công nghệ hệ thống nhưng nó lại bao trùm, tácđộng lên 4 công đoạn còn lại.
Nghiên cứu để hiểu rõ từng giai đoạn và có biện pháp thích hợp để tácđộng vào từng giai đoạn đó nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm
Quá trình phân tích: Nhu cầu về ứng dụng, sự cần thiết và mục tiêu
của hệ thống được tâp hợp thông qua trao đổi với người dùng hệ thống
Thiết kế: Quá trình thiết kế hệ thống có thể được phân thành thiết kế
phần cứng và phần mềm
Mã hoá: Trong giai đoạn này, các thiết kế phần mềm được mã hoá
thành một hoặc nhiều chương trình máy tính
Trang 32Thiết kế
Kiểm thửLập trình
Mô hình
chức năng
Mô hình thông tin
Kiểm thử: Các phân hệ chương trình được tích hợp và thực hiện kiểm
thử toàn bộ hệ thống để đánh giá các yêu cầu phân tích đó có thoả mãn haykhông Sau quá trình kiểm thử, phần mềm sẽ được giao cho khách hàng
Bảo trì: Hệ thống được cài đặt và được đưa vào ứng dụng thực tế.
Đây là giai đoạn dài nhất trong vòng đời phát triển của phần mềm
2.1.2 Nền tảng thiết kế phần mềm trong sản xuất phần mềm
2.1.2.1.Thiết kế phần mềm
Thiết kế phần mềm là khâu trung tâm trong quy tâm trong sản xuất
một phần mềm công nghiệp và được dùng để chỉ chung cho cả ba quy trình:
Trang 33Hình : Mô hình khâu thiết kế phần mềm.
2.1.2.2.Vai trò của thiết kế phần mềm
Hiện nay, khi việc sản xuất phần mềm đã trở thành một ngành công nghiệp thì chất lượng và sự ổn định của phần mềm sẽ quyết định đến uy tín của nhà sản xuất cũng như giá trị sử dụng của bản thân phần mềm đó Chính vì lý do này mà khâu thiết kế có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất phần mềm
Đối với những phần mềm được thiết kế đầy đủ thì sẽ không có những biến động lớn khi xảy ra những biến động nào đó về dữ liệu Trong khi đó với những phần mềm không được thiết kế một cách đầy đủ thì tính ổn định của nó rất thấp Không những thế, chỉ cần có một biến động nhỏ về dữ liệu hoặc tác động của môi trường cũng làm cho hoạt động của phần mềm bị biến dạng, thậm chí có thể dẫn đến phá huỷ phần mềm
Ngoài ra, với những phần mềm có một bản thiết kế hoàn chỉnh thì dựavào đó chúng ta có thể dễ dàng sửa chữa, bổ sung, tiếp tục phát triển thêm các chức năng cho phần mềm
Như vậy, chúng ta có thể thấy được vai trò không thể thiếu của thiết
kế trong sản xuất phần mềm Nó là cơ sở, là nền tảng đảm bảo chất lượng
và tính ổn định của phần mềm
Trang 34Thiết kế kiến trúc Thiết kế dữ liệu Thiết kế thủ tục Thiết kế giao diện
Thiết kế sơ bộ Thiết kế chi tiết
Quản lý
Kỹ thuật
2.1.2.3 Tiến trình thiết kế
Theo quan điểm quản lý dự án, thiết kế phần mềm được tiến hành theo hai bước thiết kế sơ bộ và thiết kế chi tiết Trong khi thiết kế sơ bộ quan tâm tới việc dịch các yêu cầu thành kiến trúc dữ liệu và phần mềm, thì thiết kế chi tiết lại tập trung vào việc làm mịn biểu diễn kiến trúc để dẫn tới cấu trúc dữ liệu chi tiết và biểu diễn thuật toán cho phần mềm Ngoài ra, trong phạm vi thiết kế sơ bộ và thiết kế chi tiết cũng xuất hiện một số hoạt động thiết kế khác nhau
Tiến trình thiết kế trong công nghệ phần mềm được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau Xuất phát từ quan điểm quản lý dự án thì quy trình thiết
kế phần mềm tiến hành theo hai bước là thiết kế sơ bộ và thiết kế chi tiết Còn xét ở góc độ kỹ thuật thì quy trình thiết kế phần mềm bao gồm bốn côngđoạn:
- Thiết kế kiến trúc
- Thiết kế dữ liệu
- Thiết kế thủ tục
- Thiết kế giao diện
Hai khía cạnh quản lý và kỹ thuật của quy trình thiết kế có mối quan hệmật thiết với nhau và được biểu diễn trong hình vẽ tổng quát dưới đây:
Trang 35
M22 M21
M13 M12
M11
M131
Hình vẽ biểu diễn mối quan hệ hữu cơ của một quá trình thống nhất nhưng
bao gồm hai mảng: quản lý và kỹ thuật
2.1.2.4 Phương pháp thiết kế
- Khái niệm module hoá
Module là một khái niệm cơ bản của phương pháp lập trình cấu trúc.Mỗi module có thể coi như một đơn thể chương trình độc lập có thể lắpghép với nhau Tư tưởng chính của module hoá là phân chia bài toán lớnthành các bài toán nhỏ hơn, ngày càng cụ thể và chi tiết hơn theo sơ đồ cấutrúc hình cây:
Trong sơ đồ trên, module chính M được phân chia thành hai moduleM1 và M2 Module M1 lại được chia thành ba module nhỏ là M11, M12,M13, module M2 chia thành M21, M22 Module con M13 lại chia thànhM131, M132, M133
Trang 36Mỗi module giải quyết một vấn đề nhỏ riêng rẽ, độc lập với cácmodule khác và do một lập trình viên đảm nhận.
- Phương pháp thiết kế từ trên xuống (Top down design)
Đây là một phương pháp thiết kế giải thuật dựa trên tư tưởng modulehoá Nội dung của phương pháp:
Trước hết người ta tiến hành giải quyết các vấn đề cụ thể, sau đó trên
cơ sở đánh giá mức độ tương tự về chức năng của các vấn đề này trongviệc giải quyết bài toán người ta gộp chúng lại thành từng nhóm cùng chứcnăng từ dưới lên trên cho đến module chính Sau đó thiết kế thêm một sốchương trình làm phong phú hơn, đầy đủ hơn chức năng của các phân hệ
và cuối cùng là thiết kế một chương trình làm nhiệm vụ tập hợp các modulethành một hệ chương trình thống nhất hoàn chỉnh
Minh hoạ cho phương pháp này, chúng ta xét bài toán thiết kế hệthống quản lý nhân viên tại công ty Điện thoại Hà Nội 1
Phân tích bài toán:
Số liệu ban đầu
Tên trường Kiểu dữ
liệu
Kích thước Ghi chú
ThoiHanHD Number Long Interger Giá trị
HSLuong Number Long Interger Hệ số lương
- Các phép toán xử lý
- Vào số liệu cho tệp phòng ban: Tìm kiếm, hiển thị, xoá , sửa nhân viên
Trang 37Phần mềm quản lý nhân sự
Quản lý danh mục Cập nhật Lập báo cáo
- Module chính được chia làm 3 phần:
+ Module quản lý danh mục +Module cập nhật
+Module lập báo cáo
- Phác thảo tổng quan
-Phương pháp thiết kế từ dưới lên (Bottom up design)
Tư tưởng của phương pháp này ngược với phương pháp Top downdesign Trước hết ngừời ta xác định các vấn đề chủ yếu nhất mà việc giảiquyết bài toán yêu cầu, bao quát được toàn bộ bài toán Sau đó phân chianhiệm vụ cần giải quyêt thành các nhiệm vụ cụ thể hơn, tức là chuyển dần
từ module chính đến các module con từ trên xuống dưới, do vậy phươngpháp có tên gọi là thiết kế từ đỉnh xuống
Trang 382.1.3.Các quy trình của công nghệ phần mềm áp dụng vào để xây dựng phần mềm quản lý nhân sự tại công ty.
Xây dựng một phần mềm quản lý gồm 6 quy trình:
1) Quy trình 1: Xây dựng hợp đồng phần mềm
2) Quy trình 2: Xác định yêu cầu
3) Quy trình 3: Phân tích thiết kế phần mềm
4) Quy trình 4: Lập trình
5) Quy trình 5: Test
6) Quy trình 6: Triển khai
1)Quy trình 1: Xây dựng hợp đồng phần mềm
+ Mục đích: Nghiên cứu, đề xuất giải pháp kỹ thuật, tiến hành xây
dựng hợp đồng với khách hàng, theo dõi tiến trình thực hiện hợp đồng, tổchức thanh lý, thanh toán hợp đồng và lập hồ sơ tổng quát về quy trình hợpđồng phần mềm
+ Dấu hiệu:
- Xây dựng hợp đồng phần mềm với khách hàng
- Theo dõi thực hiện hợp đồng với khách hàng
- Thanh toán thanh lý hợp đồng phần mềm
Trang 39Thanh toán thanh lý hợp đồng
Báo cáo quy trình 1
Kết thúc
2) Quy trình 2: Xác định yêu cầu phần mềm
Mục đích: Sau khi đã có hợp đồng phần mềm với khách hàng, hợp
đồng được chuyển sang để xác định nhu cầu của khách hàng về sản phẩmtương lai Yêu cầu đặt ra là phải lượng hoá các dạng mô hình
Dấu hiệu:
- Phân tích nghiệp vụ chuyên sâu
- Lập mô hình hoạt động của hệ thống
Trang 40Bắt đầu
Lập kế hoạch xác định yêu cầu
Xác định yêu cầu người sử dụng
Phân tích nghiệp vụ
Lập mô hình hệ thống
Báo cáo quy trình 2 Quản trị viên dự án duyệt Không duyệt
Kết thúc
Duyệt
Lưu đồ quy trình 2: Xác định yêu cầu khách hàng
Các công cụ được sử dụng tiến hành phân tích mô hình hoạt động hệthống: BFD, IFD, DFD…